Nếu có một sự thôi thúc, thì ấy là sự thôi thúcbởi tình cảm của một người yêu mến văn hoá, văn học Chăm, mong muốn được nhìnthấy văn học Chăm hiện diện trong các bộ lịch sử văn học của V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ LỚP LỊCH SỬ VIỆT NAM K32
µ
-Chuyên đ ề
LỊCH SỬ VĂN MINH CHĂMPA
Bài tiểu luận
VÀI NÉT VỀ VĂN HOÁ VÀ VĂN HỌC CHĂMPA
GVHD: TS Thành Phần SVTH: Nguyễn Văn Hậu MSSV: 0664140
TP Hồ Chí Minh, Tháng 06 - 2009
Trang 2Mục Lục
Trang
Lời mở đầu 1
1 Sơ lược lịch sử vương quốc Chămpa 1
2 Chứng tích của vương quốc Chămpa 5
3 Lịch sử Champa là một bộ phận của lịch sử Việt Nam 15
3.1 Nước Champa trải qua hai giai đoạn phát triển và diệt vong 16
3.2 Champa trong quá trình mở mang của nước Việt 17
4 Văn hoá Champa là một bộ phận của văn hoá Việt Nam 19
5 Văn học Champa là một bộ phận không chia cắt của văn học Việt Nam 24
Kết Luận 32
Trang 3Lời mở đầu
Bài viết này được thực hiện không phải là kết quả của sự thôi thúc bởi những pháthiện mới về văn hoá và văn học Chăm Nếu có một sự thôi thúc, thì ấy là sự thôi thúcbởi tình cảm của một người yêu mến văn hoá, văn học Chăm, mong muốn được nhìnthấy văn học Chăm hiện diện trong các bộ lịch sử văn học của Việt Nam Bởi vì, chođến nay, sau hơn 30 năm đất nước và dân tộc đã thống nhất và toàn vẹn, chúng ta vẫnchưa nhìn thấy hình bóng của nền văn học Chăm trong một bộ lịch sử văn học ViệtNam thống nhất và toàn vẹn Đã đến lúc chúng ta cần khôi phục lại nền văn học này,cần nghiên cứu nền văn học này, và cần trả lại cho nền văn học này vị trí thích đángcủa nó trong lịch sử văn học dân tộc Để thấy được văn học Champa đang ở đâu, có lẽtrước hết cũng cần phải thấy được lịch sử và văn hoá Champa đang ở đâu
1 Sơ lược lịch sử vương quốc Chămpa
Trên dải đất Việt Nam ngày nay vào thời xưa đã từng tồn tại ba quốc gia Về đại thểthì miền bắc là lãnh thổ Đại Việt, miền trung là địa bàn của vương quốc Chămpa vàmiền nam là một phần lãnh thổ của vương quốc Phù Nam Các kết quả nghiên cứu vềkhảo cổ học, dân tộc học, sử học… ngày càng chứng minh rõ ràng hơn về cội nguồn của
ba quốc gia cổ đại ấy Có thể nói một cách khái quát là văn minh Đại Việt bắt nguồn từvăn hóa Đông Sơn, văn minh Chămpa phát triển từ văn hóa Sa Huỳnh, văn minh PhùNam mà một phần quan trọng là văn hóa Óc Eo có nguồn gốc từ văn hóa Đồng Nai Vàothời ấy cương vực, bờ cõi, biên giới giữa các quốc gia cổ đại luôn là vấn đề không baogiờ rành mạch rõ ràng Tuy vậy nếu theo phân bố hành chánh ngày nay thì có thể coi cáctỉnh ven biển miền Trung – từ Quảng Bình đến Bình Thuận– và các tỉnh khu vực TâyNguyên là thuộc địa bàn của vương quốc Chămpa cổ xưa
Trong quá trình phát triển vương quốc Chămpa được ghi chép trong các biên niên sửvới các tên gọi Lâm Ấp, Hoàn Vương, từ thế kỷ IX là Chămpa (hay Chiêm Thành).Vương quốc Chămpa có nhiều thành phần tộc người, xuất hiện từ đầu công nguyên Tạikhu di tích Mỹ Sơn (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) có một tấm bia của vuaPaksadarma Vikrantavarma I (nửa đầu thế kỷ VII) ghi lại truyền thuyết về sự hình thànhvương quốc Chămpa Theo đó thì đã có một người Ấn Độ tên là Kaudinay (có nghĩa là
Trang 4người Bàlamôn vĩ đại nhất) đến và lấy nữ chúa Soma, con gái vua rắn Naga và sáng lập
ra một vương triều Đây là một huyền thoại phổ biến ở khu vực Đông Nam Á – như sựhình thành vương quốc Phù Nam cũng là một người Kaudinay lấy nữ chúa Liễu Diệp –huyền thoại thể hiện truyền thống văn hóa bản địa mang đậm tính chất Mẫu hệ có từtrước khi nền văn minh phụ hệ/ phụ quyền từ Ấn Độ ảnh hưởng đến khu vực này Lịch
sử vương quốc Chămpa qua sử liệu các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Đại Việt,Khmer, Java… phản ánh những nét khái quát như sau Thư tịch cổ của Trung Quốc đãghi chép những cuộc nổi dậy của nhân dân huyện Tượng Lâm (huyện cực nam vùng đất
mà nhà Hán chiếm đóng những năm đầu công nguyên) Đến năm 192 nhân lúc nhà HậuHán loạn, nhân dân Tượng Lâm nổi dậy giết huyện lệnh, giành tự chủ Người đứng đầucuộc khởi nghĩa là Khu Liên (có thể tên này là ghi âm lại từ kurung của ngôn ngữ cổĐông Nam Á, có nghĩa là tộc trưởng – vua) Theo sách Thủy kinh chú quốc gia mớithành lập này có tên Lâm Ấp, “phía nam giáp nước Phù Nam… lợi dụng núi non hiểmtrở, họ không chịu quy phục Trung Quốc” như Tấn thư chép khoảng năm 280 Lương sử(khoảng đầu thế kỷ VII) còn ghi lại phổ hệ những ông vua Chămpa sau Khu Liên nhưPhạm Hùng, Phạm Dật, Phạm Văn, Phạm Tư Đạt… đều là những tên gọi phiên âm ratiếng Hán từ chữ Ấn Độ cổ Những kết quả nghiên cứu mới nhất của nhiều học giả trong
và ngoài nước thì vương quốc Chămpa được hình thành bởi một hệ thống gọi là mandalahay là một vương quốc bao gồm một liên minh/ liên lập của nhiều tiểu quốc có địa bàn
kề cận nhau và tương đồng về văn hóa tộc người Thuật ngữ mandala được các nhànghiên cứu dùng để diễn tả một hệ thống chính trị – kinh tế được phát hiện ở hầu hết cácvương quốc cổ ở Đông Nam Á Trong mỗi tiểu quốc của mandala có một vị tiểu vươngthường được thần linh hóa và tự xưng là thủ lĩnh của các tiểu vương khác – mà trên lýthuyết là những chư hầu của họ Như đã nói ở trên, địa bàn vương quốc Chămpa ở miềnTrung, khu vực địa hình hẹp chiều ngang tây – đông mà kéo dài theo chiều bắc – nam,lại bị chia cắt bởi các đèo cắt ngang do núi ăn lan ra biển Song song với những con đèonày là những dòng sông bắt nguồn từ dãy Trường Sơn chảy xuôi ra biển theo hướng tây– đông Những dòng sông này và chi lưu của nó là những đường giao thông chủ yếutrong từng khu vực Vùng hạ lưu hình thành dải đồng bằng tuy nhỏ hẹp nhưng là cơ sởcủa nền kinh tế nông nghiệp, cửa sông rộng nối với biển Đông hình thành các bến cảng– đầu mối liên hệ với các tiểu vùng khác bằng đường biển Địa hình này tạo thành
Trang 5những tiểu vùng – tiểu quốc tập hợp thành vương quốc Chămpa Những chuyến điền dãcủa giáo sư Trần Quốc Vượng và cộng sự tại miền Trung trong suốt thập kỷ 90 của thế
kỷ XX đã phát hiện mô hình một tiểu quốc Chămpa dựa trên trục quy chiếu là các dòngsông lớn ở mỗi tiểu vùng địa hình Theo mô hình này thì mỗi tiểu quốc phải có ba thiếtchế – ba trung tâm, tính theo dòng chảy của sông từ núi (tây) ra biển (đông) là: trungtâm tôn giáo, hay là thánh địa, thường ở phía thượng nguồn các dòng sông – trung tâmchính trị, hay là thành cổ, thường ở vùng đồng bằng hạ lưu và ở phía nam dòng sông –trung tâm kinh tế thương nghiệp, thường là các cảng nơi cửa sông, cửa biển Điển hìnhnhư tiểu quốc Amavarati vùng Quảng Nam, với dòng sông Thu Bồn ta thấy có thánh địa
Mỹ Sơn, thành cổ Trà Kiệu và cảng thị Đại Chiêm – Đại Chiêm hải khẩu (Hội An) Dođịa hình chung của cả vương quốc như vậy nên mỗi tiểu vùng – tiểu quốc phát triểntương đối độc lập và luôn tranh giành ảnh hưởng và địa vị đứng đầu cả vương quốc.Tiểu quốc và vị Tiểu vương nào hùng mạnh hơn sẽ có ảnh hưởng bao trùm và trở thànhtrung tâm và Quốc vương đứng đầu cả vương quốc Tiểu vùng Amavarati lớn mạnh hơn
cả có lẽ nhờ thương cảng Đại Chiêm hải khẩu Chămpapura, đã tập hợp được các tiểuquốc thành vương quốc, đặt kinh đô đầu tiên ở thành phố Sư tử Trà Kiệu Simhapura và
Mỹ Sơn Srisambhubhadresvara là thánh địa Đây là một trong những trung tâm quy mô
và quan trọng nhất của vương quốc Chămpa Các trung tâm lớn – tiểu vùng quan trọng –khác là Bình Định (Vijaya), Phú Yên – Khánh Hòa (Kauthara) và Ninh Thuận - BìnhThuận (Panduranga) 1
Vương quốc Chămpa cổ từng có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng Họ tôn thờ Nữ Thần Mẹcủa vương quốc là Pô Inư Nagar theo truyền thống tín ngưỡng Mẫu hệ lâu đời của cưdân Đông Nam Á Tín ngưỡng này còn tồn tại khá đậm nét trong xã hội người Chămhiện nay Từ khi tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa – văn minh Ấn Độ ngườiChăm cổ theo Ấn Độ giáo, quốc vương là người quyết định tôn giáo chính thống củavương quốc Tôn giáo chính của người Chăm là Ấn Độ giáo, thờ một hay cả ba vị Thầncủa Tam vị nhất thể là Brahma – Visnu – Siva Tuy nhiên người Chăm cổ tôn sùng thầnSiva hơn cả Các văn bia cổ bằng chữ Phạn (Sanskrit) trong khu Mỹ Sơn đã tôn Siva làChúa tể của muôn loài, là cội rễ của nước Chămpa Thần Siva thường được thờ bằngngẫu tượng sinh thực khí nam giới Ngoài ra người Chăm cổ còn theo cả Phật giáo với
1 Trần Quốc Vượng (1998), Miền Trung Việt Nam và văn hóa Chămpa (một cái nhìn địa văn hóa) Việt
Nam cái nhìn địa văn hóa NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội
Trang 6trung tâm Đồng Dương (Quảng Nam) phát triển cực thịnh hồi thế kỷ IX – X Bên cạnhviệc tiếp nhận tôn giáo Ấn Độ, người Chăm cổ đã tiếp thu cả mô hình tổ chức chínhquyền nhà nước mà nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra đặc trưng chủ yếu là vương quyền kếthợp với thần quyền, các quốc vương Chămpa thường được đồng nhất với thần Siva.Người Chăm cổ có nền kinh tế đa thành phần, đó là nông nghiệp đa canh: trồng lúa,dâu tằm, bông, hoa màu… Lâm nghiệp: khai thác gỗ và hương liệu quý… Ngư nghiệp:đánh bắt thủy hải sản và thủ công nghiệp: làm gốm, thủy tinh, rèn sắt, chế tác đồ trangsức và mỹ nghệ vàng bạc… Đặc biệt người Chăm cổ giỏi nghề buôn bán bằng đườngbiển và đường sông Để thích ứng với vùng đất gần như quanh năm khí hậu khô hạn,người Chăm cổ đã có những hệ thống thủy lợi từ việc lợi dụng những mạch nước chảy
từ núi, đồi gò mà xây dựng giếng, hồ đập… Sự phong phú và đa dạng của những di tích
di vật Chămpa còn lại đến nay cho thấy một xã hội rất phát triển trên cơ sở một nền kinh
tế có cơ cấu thích hợp mà nổi bật là tính hướng biển Vương quốc Chămpa nổi tiếngtrong lịch sử cổ trung đại với hệ thống cảng thị phục vụ cho việc đánh cá ngoài khơi xa,buôn bán, trao đổi giao lưu với những quần đảo ở biển Đông và xa hơn, đến Trung Quốc
và Ấn Độ do nằm trên trục giao thông đường biển quan trọng nối liền hai trung tâm vănminh lớn của thế giới Truyền thống văn hóa bản địa của cư dân cổ Đông Nam Á ngoàivăn hóa nông nghiệp (lúa cạn và lúa nước) còn có văn hóa thương nghiệp đường biểncủa những tộc người cư trú ven biển và trong các quần đảo trongtrong đó có ngườiChăm
2 Chứng tích của vương quốc Chămpa
Từ nhiều thế kỷ trước công nguyên, người Trung Hoa và người Ấn Độ đã vượt biển
đi buôn bán trao đổi với nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có vùng Đông Nam Á
Vì vậy dấu tích của họ để lại khá rõ nét trong nhiều nền văn hóa ở khu vực này.Trên
cơ sở nền tảng là văn hóa Sa Huỳnh, vương quốc Chămpa những thế kỷ đầu khi mớigiành được độc lập cũng chịu khá nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa mà chứng tích
để lại là những đồng tiền Ngũ Thù thời Tây Hán (từ 206 trước công nguyên đến năm 25sau công nguyên), tiền Vương Mãng triều Tân từ năm 8 - 25 sau công nguyên, sưu tậpgương đồng tìm thấy ở khu vực miền Trung có niên đại thế kỷ I – III, nhiều tượng Phật,mảnh gốm men ngọc, men màu, vũ khí sắt… trong một khung niên đại khá dài Tư liệulịch sử còn ghi chép việc các vua Chămpa “xây cung điện theo kiểu Trung Quốc, có
Trang 7những buồng những cột, cách đào hào đắp lũy để bao bọc lấy thành thị, cách đóng xedùng trong trận mạc và nhiều loại vũ khí, dạy cho thợ làm nhạc khí…” Những đầu ngóiống trang trí mặt hề, động vật tìm thấy tại những di tích thành cổ Chămpa được coi là cónguồn gốc từ văn hóa Hán.
Những yếu tố của văn hóa Ấn Độ hiện diện rất sớm trên địa bàn của vương quốcChămpa Đó là những đồ trang sức và kỹ thuật chế tác đồ trang sức bằng mã não, thủytinh, đá ngọc trong các mộ chum thuộc văn hóa Sa Huỳnh Trong các di tích thuộc vănhóa Sa Huỳnh giai đoạn muộn chuyển sang văn hóa Chămpa sớm ở Trà Kiệu, còn tìmthấy loại đồ gốm ở miền Đông Ấn Độ có niên đại từ thế kỷ III trước công nguyên đếnthế kỷ I sau công nguyên Từ khi giành được độc lập thì những mối quan hệ giao lưukinh tế – văn hóa với Ấn Độ càng được tăng cường bằng phương thức khá hòa bình làtheo những đoàn thương gia và tu sĩ truyền đạo nên được cư dân bản địa dễ dàng tiếpthu và chấp nhận Vì vậy, ảnh hưởng nhiều mặt của văn minh Ấn Độ đã hầu như trởthành chủ đạo trong vương quốc Chămpa
Sử liệu chữ viết về vương quốc Chămpa có niên đại sớm nhất là tấm bia Võ Cạnh(Nha Trang) được xác định niên đại thế kỷ III
Nhưng những chứng tích phong phú và đa dạng, phản ánh khá toàn diện về vươngquốc Chămpa thì thể hiện tập trung tại các khu di tích đền tháp Chămpa.Khu vực QuảngBình – Quảng Trị – Thừa Thiên Huế: hiện biết khoảng 30 di tích văn hóa Chămpa, tậptrung thành từng nhóm ở bờ nam sông Gianh tiêu biểu là thành Cao Lao Hạ, nhữngminh văn trong hang động Phong Nha ở Quảng Bình Nhóm ven sông Thạch Hãn củađồng bằng Quảng Trị có Cổ thành, tháp Hà Trung Nhóm ở đồng bằng Thừa Thiên Huế:thành Lồi, tháp Liễu Cốc, tháp Vân Trạch Hòa, tháp Mỹ Khánh…
Khu vực Quảng Nam – Quảng Ngãi: đây được xem là vùng trung tâm của vươngquốc Chămpa Tại đây tập trung những di tích quan trọng và lớn nhất, với nhiều loạihình di tích nhất Đó là khu di tích Trà Kiệu (xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnhQuảng Nam), ở đây còn dấu tích của thành cổ, nơi cư trú… được các nhà nghiên cứucho rằng đây là kinh thành Sư Tử Sinhapura Xung quanh Trà Kiệu gần đây đã phát hiện
và khai quật nhiều di chỉ cư trú hay phế tích kiến trúc như Gò Cấm, Chùa Vua, TriềnTrang, Chiêm Sơn Đông, Chiêm Sơn Tây Thánh địa Mỹ Sơn – trung tâm tôn giáo lớnnhất của người Chăm – là một khu đền tháp tập trung trong một thung lũng, cách Trà
Trang 8Kiệu khoảng 20km về phía Tây Hiện nay khu di tích này còn khoảng 70 đền tháp khánguyên vẹn và rất nhiều đền tháp bị hư hỏng do thời gian và chiến tranh Trung tâm Phậtgiáo Đồng Dương và là kinh thành Indrapura của vương quốc Chămpa trong thế kỷ IX –
X Tại đây còn dấu tích tường thành, đền tháp, di tích cư trú, nhiều tượng Phật giáo Tạiđây còn dấu tích tường thành, đền tháp, di tích cư trú, nhiều tượng Phật giáo bằng đồngnổi tiếng đã được phát hiện tại đây
Ngoài các trung tâm trên, khu vực Quảng Nam - Quảng Ngãi còn có các di tích:Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bằng An (Quảng Nam), thành Châu Sa, di tích Chánh Lộ,Khánh Vân, An Tập, Cổ Lũy… phần lớn còn lại là phế tích (Quảng Ngãi)
Khu vực Bình Định: Là một kinh đô của người Chăm trong gần 5 thế kỷ, từ thế kỷ
XI – XV, vì vậy ở đây có tới 4 di tích thành cổ (Thị Nại, Thành Tra, Đồ Bàn, ChánhMân), hàng chục đền tháp khá nguyên vẹn như khu tháp Bánh Ít, Dương Long, HưngThạnh… và nhiều phế tích đền tháp khác Ngoài ra, Bình Định còn nổi tiếng với trungtâm sản xuất gốm Gò Sành
Khu vực Phú Yên – Khánh Hòa: Các di tích ở hạ lưu sông Đà Rằng thuộc đồng
bằng Tuy Hòa là Tháp Nhạn và Thành Hồ cùng với hàng chục phế tích khác Nổi tiếng
là khu tháp Pô Nagar ở Nha Trang – được coi là thánh địa phía Nam của Chămpa và đếnnay vẫn còn thờ Thiên Yana – một tín ngưỡng cổ của người Chăm
Khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận: có nhiều di tích từ niên đại sớm đến muộn,
như Hòa Lai, Pô Klaung Garai, Pô Romê ở Ninh Thuận; Pô Dam, Phú Hài ở BìnhThuận… Nơi đây hiện là địa bàn cư trú chính của người Chăm nên các khu đền tháp vẫn
là nơi để người Chăm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo
Khu vực Tây Nguyên có một số di tích đền tháp và phế tích Chămpa ở Đắc Lắc, GiaLai, Kon Tum nhưng niên đại khá muộn 2
Chứng tích phổ biến và tiêu biểu nhất của vương quốc Chămpa là những kiến trúcđền tháp có mặt ở tất cả các khu vực và trong mọi giai đoạn lịch sử Trải qua hàng chụcthế kỷ nhiều nhóm đền tháp đã trở nên hoang phế, không còn đầy đủ các công trình tạolập thành một tổng thể như khi mới khởi dựng, mà hầu như chỉ còn lại một công trìnhđứng đơn lẻ, nhất là các di tích ven biển miền Trung Thật ra các nhóm đền thápChămpa bao giờ cũng có một nhóm, một tổng thể hoàn chỉnh phản ánh vũ trụ quan Ấn
2 Hà Văn Tấn chủ biên, Khảo cổ học Việt Nam, tập 3, NXB Khoa học xã hội, 2002.
Trang 9Độ Theo đó vũ trụ có hình vuông, chung quanh có núi và đại dương bao bọc, chính giữa
là một trục xuyên đến mặt trời Đền thờ Ấn Độ giáo thể hiện rõ vũ trụ quan này vớikhuôn viên được quy định vuông vắn, tường bao quanh xây cao, vuông góc với nhautượng trưng là núi (Tuy nhiên do địa hình nên nhiều khi không hoàn toàn tuân thủnguyên tắc này) Các công trình trong tổng thể được bố cục theo một đường trục chạygiữa, hướng chính là hướng đông – hướng của thần thánh, của sự sinh sôi nảy nở Cũng
do hạn chế về địa hình nên có nhóm tháp quay về hướng khác như nhóm Pô Dam quay
về phía tây nam, các nhóm A, G, E, F ở Mỹ Sơn quay về phía tây – còn được coi là quay
về phía ngôi đền đá B1, trung tâm của thánh địa
Trung tâm của một nhóm đền tháp bao giờ cũng là một đền thờ lớn kalan được xâydựng lớn nhất, quy mô nhất Kiến trúc này có mặt bằng cơ bản hình vuông, bốn hướng
có 4 cửa, nhưng chỉ có một cửa ra vào mở theo hướng chính của cả nhóm đền tháp làhướng đông, còn các cửa khác là cửa giả xây nhô ra trên mặt các bức tường Một Kalanthường có ba phần: đế, thân và mái tượng trưng cho ba thế giới: trần tục (bhurloka), tâmlinh (Bhurvaloka) và thần linh (Svarloka) Các tầng và các mặt tường kalan được trangtrí bởi nhiều đề tài, mô típ trang trí ngay trên gạch xây dựng hoặc bằng đá sa thạch Phầnchân đế trang trí các đồ án hoa lá, hình voi, sư tử, những vòm cuốn nhỏ chạm hình tượngkala - makara hoặc các cảnh vũ nữ apsara và nhạc công Trước thế kỷ X phần chân đếkalan hoàn toàn bằng gạch Những kalan có niên đại muộn hơn thường gắn ốp các thànhphần bằng đá sa thạch
Phần thân kalan: bề mặt ngoài trang trí bằng những trụ áp tường, mỗi mặt tườngthường có 5 trụ áp tường mà trụ chính giữa bị cửa giả che khuất Trong ô cửa giả baogiờ cũng có phù điêu hình người đứng cầu nguyện với hai tay chắp trước ngực hay cầmmột bông sen Tiếp giáp thân và mái là diềm mái là những đường gờ cong lồi hoặc lõmchạm khắc các băng hoa dây Bốn góc diềm mái gặp nhau gắn những vật trang trí gócbằng đá hình ngọn lửa hay hình tượng makara, apsara
Mái kalan có ba tầng và một đỉnh, tầng trên là thu nhỏ của tầng dưới với đầy đủ cácthành phần như cửa giả, trụ áp tường, diềm mái… Trên tầng mái có đặt nhiều tượng,phù điêu đá tạo hình các con vật cưỡi của các vị thần Ấn Độ giáo (ngỗng thần Hamsa,chim thần Garoda, bò thần Nandin…) Các góc của tầng thứ nhất và thứ hai dựng bốntháp góc Tầng cuối cùng không có tháp trang trí góc mà đỡ một chóp đá lớn (àmalaka)
Trang 10tượng trưng cho đỉnh núi Kailàsa – nơi cư ngụ của thần Siva Trước kia các chóp đá nàythường dát bọc vàng bạc để chứng tỏ lòng thành kính và sự tôn quý.
Khác biệt với kiến trúc nhiều tôn giáo khác, đền thờ Ấn Độ giáo có nội thất nhỏ kiểumật thất Tường Kalan cũng như những đền tháp Chămpa khác nói chung rất dàykhoảng 1m Mặt tường trong của phần thân tháp xây phẳng, 3 phía Bắc, Nam, Tây cónhững khám nhỏ để đèn Phần vòm mái được hình thành bởi các viên gạch xây so le nhô
ra nhô dần ra để thu lại ở đỉnh nóc Kiểu mái vòm này được coi là một sáng tạo trong kếtcấu gạch của người Chăm cổ Nội thất kalan chỉ vừa đủ để một đài thờ bằng đá ở chínhgiữa, có khi là tượng một vị thần nhưng phổ biến là bộ linga – yoni Đài thờ có 3 phần:
đế – bệ yoni – và linga, đây là biểu tượng chính của thần Siva
Các kalan Chămpa phần lớn ảnh hưởng các đền tháp ở miền nam Ấn Độ với các tầngtrên là sự thu nhỏ của tầng dưới Ngoại lệ có một số nhóm mang phong cách miền bắc
Ấn Độ như nhóm tháp Bằng An (Quảng Nam), Hưng Thạnh (Bình Định), Dương Long(Bình Định) có hình vòm cong
Ngoài kalan chính trong khuôn viên vòng tường bao còn có các kalan nhỏ ở 4 góc, làđền thờ các vị thần phương hướng Các đền tháp hướng đông, tây, bắc là sự thu nhỏ vềkích thước, quy mô và cấu trúc của kalan chính Đền tháp phía nam đặc biệt hơn cả, nó
có mặt bằng hình chữ nhật, nội thất rộng rãi, có tường ngăn chia làm 2 phòng Đây làkho lễ vật và có thêm chức năng là nơi chuẩn bị thức ăn dâng cúng trong lễ hội nên gọi
là tháp hỏa hay tháp bếp Cửa ra vào của tháp này bao giờ cũng mở về hướng bắc (lệch
về tây) – hướng của thần tài lộc Mặt tường đông và tây có cửa sổ có những chấn songbằng đá hình con tiện Mặt tường phía nam của tháp này xây kín, trang trí bằng các trụ
áp tường Đền tháp phía nam có 2 tầng nhưng phần mái cong hình thuyền với hai mũithuyền vươn cao, trang trí đẹp khiến nó trở thành một kiến trúc được chú ý hơn nhữngđền tháp góc còn lại Mặt khác, trên thực tế hầu như các đền tháp góc khác đã bị hưhỏng chỉ còn lại đền tháp phía nam
Nằm ở bức tường phía đông và thẳng với trục kalan chính là tháp cổng có hai cửađối diện, tuy hình thức tương tự kalan nhưng đơn giản hơn vì chức năng là cổng chínhdẫn vào khu đền thờ Thẳng trên trục này và nằm ngoài tường bao còn có tháp nhà, mộtkiến trúc hình chữ nhật khá dài Đây là nơi tĩnh tâm cầu nguyện của tín đồ trước khi vàohành lễ trong khu đền tháp chính Vì vậy tháp nhà có nội thất rộng rãi và thoáng, cửa mở
Trang 11hai hướng đông tây, tường phía bắc nam trổ nhiều cửa sổ Mái lợp bằng ngói trên cấukiện gỗ Ở một số nhóm đền tháp lớn còn có tháp bia, mặt bằng hình vuông, mở cửa ravào ở cả 4 phía, có chức năng che một tấm bia đá.
Tuy nhiên vẫn có một số nhóm đền tháp có bố cục khác, như nhóm Chiên Đàn,Khương Mỹ (Quảng Nam), Dương Long (Bình Định), Hòa Lai (Ninh Thuận) Mỗinhóm có 3 kalan chính lớn gần bằng nhau, đứng cạnh nhau theo trục bắc Nam, cửa vẫn
mở về hướng đông Đây là những nhóm đền tháp thờ cả 3 vị thần Brama, Visnu và Siva.Phế tích và dấu vết còn lại cho biết các nhóm đền tháp này cũng có các công trình phụtrợ như trên 3
Di vật trong văn hóa Chămpa vô cùng phong phú và đa dạng về chất liệu và loạihình Từ những tác phẩm điêu khắc trên đá sa thạch, trên gạch, gốm, những bức tượngđồng đến những đồ thờ cúng và trang sức bằng vàng bạc… Tuy nhiên, gắn liền một cáchhữu cơ với kiến trúc đền tháp là những tác phẩm điêu khắc trên đá, trên gạch xây dựng,thể hiện dưới hai loại hình: 1- các tác phẩm điêu khắc độc lập dùng để trang trí hay thờcúng; và 2- các tác phẩm điêu khắc mang chức năng liên kết tham gia vào công trìnhkiến trúc tháp (tấm lá nhĩ, trụ cửa, mi cửa) Kiến trúc đền tháp quy định nội dung vàhình thức thể hiện của điêu khắc, ngược lại, điêu khắc góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa củaviệc xây dựng các công trình đền tháp Điêu khắc Chămpa phổ biến trên chất liệu đáSilic màu xám, độ cứng cao, bề mặt thô và đá Granit màu xám xanh, thớ mịn Kíchthước hiện vật thường lớn Phần lớn di vật điêu khắc Chămpa là dạng phù điêu nổi caogần như tượng tròn, dù thể hiện nội dung, hình tượng nào thì vẫn mang tính hiện thựcsâu sắc, nghệ thuật tả chân dung sinh động, tượng người và động vật đạt trình độ cao vềgiải phẫu sinh học, đề cao đặc điểm nhân chủng trong tượng người và các vị thần đượcnhân hóa Điêu khắc Chămpa còn phản ánh hiện thực xã hội từ cuộc sống sinh hoạt đờithường đến những nghi lễ tôn giáo của vương quốc Chămpa
Xác định niên đại và phong cách nghệ thuật cho di tích kiến trúc và tác phẩm điêukhắc Chămpa là một vấn đề cho đến nay chưa có sự nhất trí hoàn toàn giữa các nhàChămpa học Những nhà nghiên cứu phải dựa vào sự phát triển nghệ thuật kiến trúc vàđiêu khắc Chămpa, đồng thời phải so sánh đối chiếu với các nền nghệ thuật có liên quannhư Ấn Độ, Môn, Khmer, Đại Việt, Java… để có thể định niên đại và phân chia giai
3 Nguyễn Hồng Kiên (2000), Đền tháp Chămpa, Trùng tu di tích, số 7, Trung tâm Tu bổ di tích – Bộ
VHTT.
Trang 12đoạn cho kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc Chămpa từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV Vì vậycho đến nay có nhiều cách phân chia những giai đoạn và phong cách của nghệ thuậtChămpa, những cách này có khác nhau đôi chút về tên gọi và niên đại Theo nhà nghiêncứu Trần Kỳ Phương, dựa vào kết quả nghiên cứu của P Stern, theo nghệ thuật trang trí,bình đồ kiến trúc cùng với sự phân tích kỹ thuật xây dựng của từng giai đoạn kiến trúc,đồng thời so sánh với những biến cố lịch sử có liên quan đến sự hưng vong của cácvương triều Chămpa, dựa trên những minh văn liên quan đến từng di tích, quá trìnhchuyển hóa của nghệ thuật Chămpa, có thể sắp xếp phế tích đền tháp Chămpa theonhững giai đoạn và phong cách một cách chi tiết như sau.
Phong cách Trà Kiệu sớm – cuối thế kỷ VII Đây là giai đoạn và phong cách cổ
nhất của nghệ thuật Chămpa Hiện vật hầu hết tìm thấy từ Quảng Bình đến QuảngNam, tiêu biểu là đài thờ Trà Kiệu niên đại cuối thế kỷ VII, hiện đang trưng bày ởBảo tàng điêu khắc Chămpa (Đà Nẵng) Phong cách này chịu nhiều ảnh hưởngcủa miền Amavarati (Nam Ấn Độ)
Phong cách An Mỹ – đầu thế kỷ VIII Tiêu biểu là sưu tập các bức tượng bán thân
các vị thần Ấn giáo phát hiện ở An Mỹ (Tam Kỳ, Quảng Nam) Bên cạnh sự ảnhhưởng của nghệ thuật Ấn Độ, nghệ thuật Môn (miền trung Thái Lan) phong cáchnày mang yếu tố bản địa Chămpa rõ hơn
Phong cách Mỹ Sơn E1 – thế kỷ VIII - IX Hiện vật của phong cách này tìm thấy
ở nhiều nơi nhưng tập trung trong khu Mỹ Sơn Tác phẩm tiêu biểu là đài thờ và
mi cửa kalan E1 và pho tượng Ganesa đứng ở E5 Mỹ Sơn Giai đoạn này ảnhhưởng Ấn Độ mờ dần, mối liên hệ với khu vực láng giềng như Môn, Khmer đượctăng cường, tính chất bản địa ngày càng khẳng định
Phong cách Đồng Dương – nửa cuối thế kỷ IX – đầu TK X: Phần lớn hiện vật
thuộc phong cách này tìm thấy ở Đồng Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) và ởkhu Mỹ Sơn, trong đó có tấm bia tìm thấy tại Đồng Dương có niên đại năm 875nói về việc xây dựng một Phật điện lớn Phong cách này đạt đến đỉnh cao củanhững yếu tố bản địa, nhất là trong việc bộc lộ nội tâm con người
Phong cách Khương Mỹ – thế kỷ X Phong cách này kế thừa phong cách bản địa
trước đó và có thêm ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer Các tác phẩm diễn tả chânthực, mộc mạc, mang vẻ đẹp hiện thực
Trang 13 Phong cách Trà Kiệu muộn – cuối thế kỷ X Phong cách này thể hiện sự hiền
hòa, duyên dáng, tiêu biểu là các vũ nữ Trà Kiệu trên các bệ thờ tại đây Đây làgiai đoạn đạt đỉnh cao của nghệ thuật Chămpa cùng với giai đoạn Đồng Dương,nhưng phong cách Trà Kiệu muộn còn có sự tiếp thu yếu tố của nghệ thuật Java
và Khmer
Phong cách Chánh Lộ – thế kỷ XI Đây là khu phế tích kiến trúc, các hiện vật tìm
thấy ở đây mang những đặc điểm bảo lưu và kế thừa của phong cách Trà Kiệumuộn Trong giai đoạn này có các nhóm tháp Chiên Đàn (Quảng Nam), Pô Nagar(Nha Trang), Bánh Ít, Tháp Bạc, Bình Lâm (Bình Định),Tháp Nhạn (Phú Yên),một số tháp trong khu Mỹ Sơn
Phong cách Tháp Mẫm – thế kỷ XII đến XIII Chủ yếu thể hiện trên các nhóm
tháp và tác phẩm tìm thấy từ Quảng Ngãi đến Bình Định Nổi bật là tính hoànhtráng và những đặc trưng thống nhất dễ nhận biết bở các tác phẩm Tấm bia ởnhóm G khu Mỹ Sơn có niên đại năm 1157 xác định niên đại cho phong cáchnày Ngoài ra có thể nhận thấy ảnh hưởng của nghệ thuật Bayon, Angkor Vat, vànghệ thuật Đại Việt thời Lý trong phong cách này
Phong cách Pô Klaung Garai – cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XVI Đây là
phong cách cuối cùng của nghệ thuật Chămpa, thể hiện ở vùng Ninh Thuận –Bình Thuận và Tây Nguyên Sau giai đoạn này nghệ thuật Chămpa dần dần maimột Có thể tham khảo thêm cách một phân chia phong cách nghệ thuật Chămpatrong một công trình nghiên cứu gần đây:
Phong cách Mỹ Sơn E1: phong cách cổ, thế kỷ VIII
Phong cách Hòa Lai: cuối thế kỷ VIII – giữa thế kỷ IX
Phong cách Đồng Dương: Giữa thế kỷ IX – đầu thế kỷ X
Phong cách Mỹ Sơn A1: Thế kỷ X
Phong cách Chiên Đàn: Thế kỷ XI – XII
Phong cách Bình Định: Thế kỷ XII, XIII, XIV.- Phong cách Pô Klaung Garai:Thế kỷ XIV – XVI 4
Những năm gần đây loại hình di tích thành cổ Chămpa đã được phát hiện và khaiquật ở nhiều tỉnh miền Trung nước ta Người Chăm đã xây đắp nhiều tòa thành cổ có
4 Trần Kỳ Phương – Shigeeda Yutaka ( 2002), “Phế tích Chămpa, khảo luận về kiến trúc đền tháp”, Tạp chí
Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên – Huế, số 2.
Trang 14chức năng quân sự và làm trung tâm chính trị của từng tiểu vương quốc cũng như của cảvương quốc Chămpa Các tòa thành cổ được ghi chép trong sử liệu cũng như được pháthiện trên thực địa đều có một số đặc điểm chung:
- Thành thường được xây dựng ở vị trí trọng yếu của các đồng bằng lớn ven biểnmiền trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… ven cáccon sông lớn Thu Bồn, Trà Khúc, Sông Côn, Đà Rằng…
- Quy mô các thành khá lớn, quy chỉnh hình vuông hay chữ nhật, có hệ thống hàonước bao quanh tạo thành căn cứ vững chắc
- Kỹ thuật xây thành tương đối giống nhau, đắp đất và xây gạch bên ngoài
RằngTrải qua nhiều giai đoạn lịch sử những tòa thành ấy đã mất dần vai trò quantrọng của chúng Do chiến tranh hay thiên nhiên phá hủy rồi dần bị lãng quên, hay đượcthời sau sử dụng lại nên ở nhiều di tích thành cổ yếu tố văn hóa Chămpa không cònnhiều mà thường bị phủ một lớp văn hóa muộn hơn
3 Lịch sử Champa là một bộ phận của lịch sử Việt Nam.
Do nhiều nguyên nhân, khiến những hiểu biết về vương quốc Champa vẫn còn khá
mơ hồ đối với phần đông người Việt Nam, trong đó có cả nhiều nhà nghiên cứu vănhọc Thậm chí, nhiều người không hề có một ý niệm thật rõ ràng về vương quốc này
Có chăng, theo một vài tài liệu ít ỏi, người ta cũng chỉ có một vài hiểu biết sơ sài về nó.Nhưng điều quan trọng là, người ta không thấy được vai trò thật sự của nó trong việchình thành nên nước Việt Nam hôm nay Điều đó là hết sức có hại cho việc nhận thứctính toàn vẹn của lãnh thổ Việt Nam cũng như tính toàn vẹn của văn hoá và văn họcViệt Nam
Vương quốc Champa hình thành từ cuối thế kỷ II, trên cơ sở nền văn hoá Sa Huỳnhtrải dài từ nam đèo Hải Vân cho tới miền đông Nam Bộ Địa giới đầy biến động củavương quốc này kéo dài từ Quảng Bình cho tới Đồng Nai Trung tâm hành chính củaquốc gia Champa nằm ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay Từ thế kỷ XI đếnthế kỷ XVIII, Champa suy yếu dần và từng bước bị các triều đại Lý, Trần, Lê rồi triềuNguyễn thôn tính và sáp nhập vào Việt Nam 5
5 Quốc sử quán triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư T I, II, III, NXB Khoa học xã hội, H 1972, 1973
Trang 15Ở đây, cần lưu ý rằng, lịch sử nước Champa luôn gắn liền với lịch sử của nước ViệtNam hôm nay Đứng ở một góc độ nhất định, Champa là một bộ phận của quá trìnhhình thành nên nược Việt Nam Năm 111 tr CN, nhà Tây Hán sau khi thôn tính nướcNam Việt của Triệu Đà, đã mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam Phần địa giới của NamViệt thuộc nước ta ngày nay được chia thành ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và NhậtNam Quận Nhật Nam bao gồm 5 huyện Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung, vàTượng Lâm Tượng Lâm gồm các vùng đất Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay, vàTượng Lâm chính là vùng đất phát tích của quốc gia Champa Cuối thế kỷ II, khoảng từnăm 190 – 193, nhân dân Tượng Lâm dưới sự lãnh đạo của Khu Liên nổi lên khởinghĩa, giết huyện lệnh nhà Hán, lập nước Lâm ấp Các vị vua đầu tiên của Lâm ấp làKhu Liên 6, Phạm Hùng, Phạm Dật, Phạm Văn… Tên nước Champa xuất hiện lần đầutiên trong văn bia của vua Sambhuvarman Chumnik (595–629) 7
3.1 Nước Champa trải qua hai giai đoạn phát triển và diệt vong:
* Giai đoạn phát triển từ cuối thế kỷ II đến thế kỷ X, biên giới phía bắc giáp Hà Tĩnhngày nay, gồm các thời kỳ:
- Thời kỳ Sinhapura (từ đầu – 190 - đến khoảng 750): Vương triều SinhapuraSinhapura trải qua 8 triều vua, đóng đô ở “Thành phố Sư Tử” Trà Kiệu (Quảng Nam)
Thời kỳ Virapura (khoảng 750 – 850): Vương triều Virapura tồn tại qua 6triều vua, kinh đô có thể là ở vùng Phan Rang ngày nay
Thời kỳ Indrapura (khoảng 850 – 982): Vương triều Indrapura gồm 12 triềuvua, đóng đô ở Đồng Dương (Quảng Nam)
* Giai đoạn khủng hoảng và dần dần bị thôn tính từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII.Trong giai đoạn này, thấy rõ nhất 2 thời kỳ:
6 Có ý kiến cho rằng Khu Liên không phải là tên người, mà là từ dùng để chỉ người đứng đầu bộ lạc
7 Champa là tên một loài hoa ngọc lan đẹp (champaca linace) Trong bài viết này chúng tôi sử dụng khái niệm Champa để chỉ đất nước, quốc gia, khái niệm Chăm để chỉ con người hay dân tộc, và không sử dụng khái niệm Chàm, Hời, cũng là những khái niệm chỉ nước Champa, người Chăm, vì có ý kiến cho rằng các khái niệm Chàm, Hời là cách gọi “thiếu tôn trọng” đối với người Chăm Tuy nhiên, theo sự giải thích của nhà thơ Inrasara với chúng tôi, thì người Chăm không hề có ý phân biệt “cao thấp” đối với các khái niệm đó.
Trang 16Thời kỳ tiếp tục phát triển, mâu thuẫn nội bộ, bị Đại Việt và Chân Lạp xâmlấn (thế kỷ XI – XIV)
Thời kỳ khủng hoảng, dần dần bị Đại Việt thôn tính (từ thế kỷ XV – XVIII)
3.2 Champa trong quá trình mở mang của nước Việt
Nước Champa là một vương quốc nằm ở miền trung Việt Nam Trong quá trình bịĐại Việt thôn tính, lãnh thổ Champa dần dần bị đẩy lui vào phía nam, đến tận miềnĐông Nam Bộ Sự tiêu vong của quốc gia Champa chính là một mặt của quá trình mởmang bờ cõi của nước Việt Nam 8 Quá trình đó được đánh dấu bởi những sự kiện nổibật sau đây
Cuộc nam chinh đầu tiên của Đại Việt diễn ra dưới triều vua Lê Đại Hành, vào năm
982 Lê Đại Hành đã đánh chiếm phần lớn lãnh thổ của Champa, bao gồm toàn bộ phíabắc Champa (Bình - Trị - Thiên), vùng Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định).Vua Champa là Indravarman IV phải lui về miền nam, giữ vùng Panduranga (KhánhHoà) Nhiều sử gia đánh giá rằng cuộc nam chinh của Lê Đại Hành cuối thế kỷ X đã
mở ra quá trình đưa Champa sáp nhập vào Đại Việt Tuy chỉ mới thoát khỏi Bắc thuộc,mới lập quốc, và vận nước hết sức rối bời như dây quấn 9, nhưng Lê Đại Hành đã tiếnhành một hoạt động quân sự quyết đoán, đánh bại một quốc gia hùng cường ở phía nam
có lịch sử phát triển tới 800 năm Năm 983, sau khi thôn tính Champa, Lê Đại Hành rútquân về nước, cử một viên võ tướng là Lưu Kế Tông ở lại Đồng Dương làm “giámquốc” bên cạnh vua Champa Indravarman IV Theo Tống sử, năm 986, sau khi vuaIndravarman IV chết, Lưu Kế Tông đã tự lập làm vua Champa Nhiều nhà nghiên cứurất quan tâm tới sự kiện một người Đại Việt làm vua Champa này, vì cho đến nay các
sử liệu vẫn còn nhiều mâu thuẫn và không sáng tỏ Năm 989, cũng theo Tống sử, sau
8 Tham khảo các tài liệu:
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam: Lịch sử Việt Nam, T I, NXB Khoa học xã hội, H 1971
- Lịch sử Việt Nam, Bản thảo Đề tài độc lập cấp Nhà nước, PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc làm Chủ nhiệm,
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, 2005;
- Tìm hiểu về Chiêm Thành Việt sử Viện Việt học http://viethoc.com/forums
- Nguyễn Đức Hiệp: Lâm ấp, Champa và di sản http://vietsciences.net/lichsucacnuoc/champavadisan.htm
- Lương Ninh: Vương quốc Phù Nam Lịch sử và văn hoá NXB Văn hoá Thông tin, H 2005;
-Thông tin Hội thảo khoa học “Văn hoá Óc Eo và vương quốc Phù Nam”,
http://ulletin.vnu.edu.vn/Vietnamese
9 Mượn ý thơ của nhà sư Đỗ Pháp Thuận trả lời vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước lúc bấy giờ (khoảng năm 982) như thế nào, sư thưa: “Quốc tộ như đằng lạc” (Vận nước như dây leo quấn quýt)
Trang 17khi Lưu Kế Tông chết, người Champa suy tôn vua mới là vua Harivarman II lên ngôi.Vua Harivarman II đã khôi phục lại chủ quyền toàn bộ lãnh thổ Champa 10.Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cất quân chinh phạt Champa, bắt được vua Champa làChế Củ, cùng nhiều tù binh, thu về nhiều của cải, nhiều cung tần mỹ nữ của vuaChampa, nhiều người thợ khéo, và nhiều nhà sư Trong số này có một nhà sư ngườiQuảng Đông là Thảo Đường sang truyền đạo ở Champa cũng bị bắt về Thăng Long,sau đó trở thành người sáng lập Thiền phái Thảo Đường của Phật giáo thời Lý, và LýThánh Tông là một trong những môn đồ đầu tiên của vị sư này Vua Champa phải dângcác châu Bố Chính, Đại Lý, và Ma Linh (đất Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) để xinhoà Đây là lần mở mang bờ cõi đầu tiên của Đại Việt.
Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Chân cho vua Champa là ChếMân Để đổi lại, vua Chế Mân cắt các vùng đất Châu Ô, Châu Rí (nay thuộc ThừaThiên - Huế) dâng cho vua Trần Vua Trần Anh Tông đổi tên các châu này thànhThuận Châu và Hoá Châu
Năm 1470, vua Lê Thánh Tông cất quân đi đánh Champa, đến năm 1471 thì chiếmđược thành Chà Bàn (đất Bình Định ngày nay) Bờ cõi nước Việt được mở rộng đếngiáp vùng Phú Yên ngày nay Nước Champa chỉ còn địa giới nhỏ hẹp ở Nam TrungBộ
Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đánh chiếm nước Champa, lập ra phủ Phú Yên, chiaPhú Yên làm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hoà
Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần tiếp tục đánh chiếm nước Champa, chiếm cứvùng đất mới, lập nên phủ Thái Ninh, sau đổi thành phủ Diên Khánh, ngày nay thuộc
về Khánh Hoà
Sau này, các vua Champa chỉ còn rất ít quyền lực, rất ít thần dân và rất ít đất đai, bị
lệ thuộc hoàn toàn vào nhà Nguyễn Những vị vua cuối cùng và những vùng lãnh thổ
10 Xem thêm Hồ Văn Châm: “Chuyện một người Việt Nam làm vua Chiêm Thành” Anhngoc.de, (10/4/2004) Nhưng cũng có tài liệu cho rằng Lưu Kế Tông (hay Lưu Ký Tông) không phải là võ quan của Lê Đại Hành, mà chỉ là một người Việt cướp quyền vua Chiêm, cai trị rất hà khắc, đánh lại Lê Đại Hành khi ông này dẫn quân vào Chiêm Thành.
Trang 18nhỏ bé cuối cùng bị nhà Nguyễn thôn tính và khuất phục hoàn toàn vào cuối thế kỷXVIII.
Sự tồn tại của Champa gắn liền với các vương triều Champa, với các địa danh tồn tạicủa các vương triều, biến dịch từ bắc vào nam Nó gắn liền một phần với lịch sử “namtiến” của quốc gia Đại Việt, quá trình mở mang lãnh thổ của nước Việt Nam Đó là mộtquá trình được xem là có tính tất yếu trong thời trung đại, mà kết quả của nó là đem lạivinh quang cho dân tộc này đồng thời đem lại đau đớn cho dân tộc khác 11
4 Văn hoá Champa là một bộ phận của văn hoá Việt Nam
Văn hoá Việt Nam được tạo dựng nên bởi ba nền văn hoá đại diện cho ba miền Bắc,Trung và Nam, đó là văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh và văn hoá Óc Eo Nói tớivương quốc Champa là nói tới văn hoá Sa Huỳnh Trung tâm của văn hoá Sa Huỳnh làvùng Quảng Ngãi ngày nay Những nghiên cứu gần đây cho thấy nó có một phạm vịảnh hưởng rộng lớn từ nam đèo Hải Vân cho tới tận miền Đông Nam Bộ Các di tíchcủa văn hoá Sa Huỳnh được phát hiện tại các vùng gò đồi và cồn cát ven biển, ghi dấu
sự phát triển của cư dân từ thời kỳ đồ đồng đến sơ kỳ thời kỳ đồ sắt, có thời giankhoảng hai nghìn năm trước công nguyên Các di chỉ được khai quật là các mộ chum,
đồ gốm, các loại đồ trang sức, dao, rìu, thuổng… Cư dân văn hoá Sa Huỳnh trồng lúanước, luyện kim, làm đồ gốm, dệt vải, làm nghề rừng và nghề biển…
Trước khi nhà nước Champa ra đời, vùng đất đai của nước Champa có một thời gian
là một “thuộc địa” của nhà Hán, nên cũng có ảnh hưởng ít nhiều văn hoá Trung Hoa.Sau khi vương quốc Champa được thành lập cuối thế kỷ II, nó hấp thu mạnh mẽ vănhoá Ấn Độ và văn hoá vùng Nam Đảo Các thương gia và các nhà truyền giáo người
Ấn đã truyền bá văn hoá, văn minh, cách tổ chức xã hội, các kỹ thuật hàng hải, buônbán, canh tác nông nghiệp… cho người Champa 12
11 Phần này chỉ nói tới quá trình Champa bị Đại Việt thôn tính chứ không nói tới quá trình Champa bị Chân Lạp xâm lược (tiêu biểu là thời gian từ năm 1203 đến 1220, Champa chỉ là một tỉnh của Chân Lạp do một viên Yuvaraja người Chân Lạp cai quản) Cũng không nói tới việc Champa nhiều lần xâm lấn Đại Việt (tiêu biểu là năm 1377 vua Chế Bồng Nga đã đánh chiếm cả kinh thành Thăng Long; các năm 1380, 1382, 1384… đánh chiếm Nghệ An, Thanh Hoá Năm 1389, trong khi tiến quân vào Thăng Long, Chế Bồng Nga bị Trần Khát Chân bắn chết tại địa phận Hưng Yên ngày nay)
12 Tham khảo các tài liệu:
- Lĩnh Nam văn hoá dữ Bách Việt dân phong Quảng Tây Giáo dục xuất bản xã, 1992.
- Inrasara: Văn hoá - xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại Nxb Văn hoá, H 2003.