1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GỐM CHU ĐẬU TRONG LỊCH SỬ GỐM VIỆT

135 370 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số đề xuất, kiến nghị mang tính định hướng phát triển trong hoạt động sản xuất và kinh doanh gốm sứ Chu Đậu hiện đại ...121 PHẦN KẾT LUẬN ...127 TÀI LIỆU THAM KHẢO:...130 Phụ lục 1:

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12

7 Bố cục luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ GỐM SỨ VIỆT NAM 14

1.1 Gốm sứ - vấn đề tên gọi và phân loại 14

1.1.1 Tên gọi 14

1.1.2 Phân loại 21

1.2 Khái quát về sự phát triển của gốm sứ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 23

1.2.1 Gốm Việt thời tiền sử và sơ sử 24

1.2.2 Gốm Việt thời kỳ các triều đại quân chủ phong kiến 32

1.2.3 Gốm Việt giai đoạn từ 1945 đến nay 45

1.3 Một số kỹ thuật cơ bản của gốm sứ truyền thống Việt Nam 54

1.3.1 Nguyên liệu sản xuất 54

1.3.2 Gia công Phối liệu 57

1.3.3 Men và cách pha chế 58

1.3.4 Khuôn thạch cao và cách chế tạo ….60

1.3.5 Kỹ thuật Nung đốt 61

1.3.6 Các công đoạn sản xuất gốm truyền thống 66

Trang 2

Chương 2: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA GỐM

CHU ĐẬU 74

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của gốm Chu Đậu 74

2.2 Những đặc trưng của gốm Chu Đậu 80

2.2.1 Kỹ thuật chế tác 81

2.2.2 Nghệ thuật trang trí 86

2.3 Mối quan hệ giữa gốm Chu Đậu và các trung tâm gốm khác 90

2.4 Gốm cổ Chu Đậu xuất khẩu và con đường hải thương nước Việt 94

2.5 Một số loại hình sản phẩm đặc biệt của đồ gốm Chu Đậu 104

2.6 Chân dung các nghệ sĩ gốm Chu Đậu 108

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GỐM CHU ĐẬU TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY - BÀI HỌC VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 114

3.1 Khuynh hướng đa nguyên của gốm sứ hiện đại thế giới 114

3.2.Thực trạng hiện nay của gốm sứ Việt Nam 118

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị mang tính định hướng phát triển trong hoạt động sản xuất và kinh doanh gốm sứ Chu Đậu hiện đại 121

PHẦN KẾT LUẬN 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 130 Phụ lục 1: Các hình vẽ và hình ảnh minh họa phần nội dung luận văn

Phụ lục 2: Hình ảnh một số tác phẩm gốm sứ nghệ thuật và Tham luận Hội thảo:

“Gốm Đồng Nai và các vùng phụ cận, từ truyền thống đền hiện đại“ của tác giả luận văn

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia có nền văn minh lúa nước, thuộc khu vực địa lý Đông

Nam Á, người Việt Nam luôn tự hào về bề dày truyền thống nghề gốm lâu đời Trong môi trường thuận lợi các cơ tầng văn hóa Việt, nghề gốm hình thành và phát triển, đạt nhiều thành tựu rực rỡ, đồ gốm đã hiện diện trong hầu hết các lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Kho tàng to lớn của di sản văn hóa Việt Nam có nhiều công sức đóng góp của những thợ gốm Việt tài hoa với những sáng tạo nghề gốm hết sức độc đáo về kiểu dáng, sắc men, họa tiết hoa văn mang hồn cốt văn hóa dân tộc rất riêng, bình dị và gần gũi với những tâm hồn Việt

Việt Nam cũng được quốc tế thừa nhận là một trong những quốc gia thực hiện xuất khẩu thành công các sản phẩm gốm của mình sớm nhất trong khu vực Các sản phẩm gốm thuần Việt có chất lượng cao đã trở thành những món đồ quý giá được nâng niu, trân trọng như báu vật trong các bộ sưu tập của các cá nhân, các bảo tàng danh tiếng, khi chúng theo chân các thương đoàn cả của người Việt và người nước ngoài tỏa ra khắp thế giới

Theo dòng lịch sử phát triển, các đại diện điển hình của gốm Việt đã quy tụ vào

ba trung tâm gốm lớn ứng với ba vùng văn hóa, văn minh thời đại kim khí của đất nước: một là vùng văn hóa Đông Sơn, hai là vùng văn hóa Sa Huỳnh và ba là vùng văn hóa Óc Eo Trong các vùng văn hóa tiêu biểu ấy, gốm mang những nét đẹp đặc sắc điển hình với kỹ thuật và nghệ thuật chế tác riêng, có quá trình và tốc độ phát triển khác nhau Đặc biệt phát triển và có nhiều thành tựu là các dòng gốm tại vùng văn hóa Đông Sơn: Cách nay khoảng 4 000 năm, những đại diện đầu tiên của gốm vùng đồng bằng sông Hồng đã hình thành, tồn tại và phát triển trên một vùng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa của các con sông trong hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Từ những đại diện đầu tiên này, văn hóa gốm Việt đã phát triển, lan tỏa và trải rộng ảnh hưởng của nó tới các vùng miền khác của đất nước trong suốt chiều dài lịch sử

Nghề gốm là một nghề tiêu biểu của lĩnh vực thủ công mỹ nghệ truyền thống Việt Nam Từ thời kỳ tiền sử, sơ sử, phong kiến đến thời kỳ hiện đại, gốm Việt với nhiều

Trang 4

chủng loại, nối tiếp nhau xuất hiện Gốm cổ truyền Việt Nam ngày nay được nhắc tới nhiều là các loại gốm đất nung thời đồ đồng, gốm Hán - Việt, gốm men ngọc, gốm hoa nâu thời Lý - Trần, gốm hoa lam, gốm men rạn chạm đắp nổi, gốm tam thái, ngũ thái thời Lê Sơ - Mạc Các loại hình gốm đó không những là những hiện vật ghi nhận dấu

ấn thời đại, quá trình phát triển của dân tộc, mà chúng còn là những tài liệu minh chứng sinh động, phản ánh đặc trưng nghệ thuật tạo hình của từng thời kỳ phát triển của lịch sử gốm Việt

Khi nghiên cứu về gốm, ngoài những vấn đề về kỹ thuật và mỹ thuật mang tính chất đặc trưng chuyên môn của hoạt động nghề, chúng ta còn có thêm điều kiện nghiên cứu nhiều vần đề khác mang giá trị biểu hiện phương diện văn minh của dân tộc trong thời kỳ lịch sử đó như kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, phong tục tập quán và mối quan hệ của nghệ thuật gốm với các loại hình nghệ thuật khác như: Điêu khắc; Hội họa; Kiến trúc Vì vậy, cũng có thể coi gốm chính là một thứ niên biểu lịch sử

Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước hào hùng và bi tráng của mình, người Việt luôn phải đối mặt với những cuộc chiến khốc liệt, phải gồng mình lên chịu đựng nhiều

hy sinh mất mát, đổ nát hoang tàn Biết bao nhiêu những cung điện đền đài, vàng bạc châu báu, của ngon vật lạ, những sản phẩm tinh hoa của người thợ thủ công, đã bị hủy diệt bởi sự tàn bạo chiến tranh và chìm sâu dần vào sự quên lãng của quá khứ Trong một hoàn cảnh lịch sử như vậy, tưởng như đã thất truyền, gốm Chu Đậu - một dòng gốm cổ quý giá của người Việt - đã rũ bụi thời gian, bất ngờ phát lộ rạng ngời Bắt đầu

từ sự phát hiện tình cờ bởi một nhà ngoại giao người Nhật, khi ông nhìn thấy một bình gốm sành trắng hoa lam nghi là có nguồn gốc Việt Nam, đang được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Topkapi của Thổ Nhĩ Kỳ và được bảo hiểm tới hơn 1 triệu USD

Tiếp theo, là một hành trình với những nỗ lực không ngừng của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để tìm kiếm tông tích, dấu vết vùng đất Nam Sách cổ xưa của Việt Nam, địa chỉ gắn liền với lai lịch bí hiểm của chiếc bình gốm mới được phát hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ Thành công từ những khai quật thực địa, cả trên đất liền và dưới đáy đại dương đã làm hiển hiện một dòng gốm Việt lừng lẫy một thời, xứng đáng là niềm

tự hào chung của tất cả mọi người con Việt, mỗi khi nhắc tới Gốm cổ Chu Đậu trở

Trang 5

thành tâm điểm và là đối tượng tranh giành với số tiền hàng nghìn, hàng triệu USD cho các sản phẩm của nó tại nhiều sàn đấu giá quốc tế là những minh chứng sống động khẳng định chân giá trị của dòng gốm cổ Chu Đậu

Không chỉ có giá trị to lớn về vật chất, gốm cổ Chu Đậu còn mang nhiều giá trị quý giá về tinh thần, qua sự biểu hiện một cách tuyệt vời các yếu tố đặc trưng về văn hóa, kỹ thuật, mỹ thuật trở thành nguồn cung cấp thông tin hết sức có giá trị về Việt Nam trong giai đoạn các thế kỷ XIV - XVI Gốm cổ Chu Đậu đã tạo nên một dấu ấn đậm nét trong bức tranh phát triển chung của lịch sử nghề gốm Việt Nam và có những ảnh hưởng không nhỏ tới một số trường phái gốm Nhật Bản trong lịch sử cận đại của quốc gia này

Là một nghệ sĩ, trong các nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật của mình, gốm là mảng đề tài quan trọng mà tôi dành cho nó nhiều thời gian và tâm huyết Các tác phẩm của tôi có được sự thành công nhất định chính bởi những cảm hứng khởi phát trên nền tảng tiếp thu, học hỏi các thành tựu từ di sản gốm Việt nói chung và gốm Chu Đậu nói riêng mà tiền nhân để lại Nghiên cứu về nghệ thuật gốm Việt cũng là cách lựa chọn một đối tượng, một đề tài nghiên cứu nền mỹ thuật Việt để các nghệ sỹ ngày nay có thêm lòng tự hào về truyền thống nghệ thuật dân tộc, từ đó phát huy những sáng tạo nghệ thuật hiện đại của cá nhân mình

Lựa chọn gốm Chu Đậu làm đề tài nghiên cứu, tác giả muốn dựa trên các thế mạnh sẵn có của mình là người con sinh ra trên quê hương Chu Đậu, có nhiều ưu thế trong các quan hệ để nắm bắt nhiều nguồn thông tin về dòng gốm này Tiếp nữa, bản thân tác giả cũng là người có thời gian dài từng trực tiếp tham gia sản xuất gốm sứ, sưu tập cổ vật và sáng tác các tác phẩm nghệ thuật gốm, nên đã tích luỹ được ít nhiều các hiểu biết về nghề gốm nói chung và gốm Chu Đậu nói riêng Hy vọng những điều

kể trên cộng với tình yêu mãnh liệt của cá nhân tác giả với nghệ thuật gốm sẽ góp phần giúp tác giả luận văn có được những thành công như kỳ vọng Đề tài nghiên cứu

về gốm cổ Chu Đậu cũng rất phù hợp với các nội hàm của chuyên ngành Việt Nam Học, vì vậy nó là một trong những lý do để tôi lựa chọn làm đề tài luận văn cao học của mình

Trang 6

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Tại Việt Nam hiện nay, khá nhiều các đầu sách, các bài viết về gốm Việt nói chung và gốm Chu Đậu nói riêng đã được thực hiện và công bố, xuất bản Tác giả luận văn xin lựa chọn liệt kê và trình bày tóm lược, khái quát nội dung chính một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trong và ngoài nước mà mình được hạnh ngộ và chú ý quan tâm nhiều vì có nhiều điểm tương đồng với hướng nghiên cứu chính của đề tài luận văn như sau:

2.1 Nhóm thứ nhất: Các nghiên cứu chung về gốm sứ Việt

- Sách: Nghề gốm cổ truyền của tác giả Bùi Văn Vượng, nội dung khẳng định:

Gốm Việt Nam là một nghề thủ công cổ truyền đặc sắc và rất độc đáo của dân tộc Các sản phẩm gốm Việt Nam có hình thức đẹp, chất lượng tốt, được người tiêu dùng ưa chuộng Không ít các sản phẩm gốm sứ được làm ở một trình độ kỹ thuật cao và nổi tiếng thế giới Trong suốt nhiều thế kỷ, đồ gốm Việt Nam cũng đã ảnh hưởng nhất định đến một số nước, đặc biệt là Nhật Bản Người Nhật rất ca ngợi đồ gốm Việt Nam, những thợ gốm giỏi ở Nhật Bản thừa nhận rằng, suốt từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế

kỷ XIX, việc bắt chước kỹ thuật gốmViệt Nam là một thành công lớn đối với họ Họ coi đồ gốm Việt Nam là một tiêu chuẩn để xét trình độ khéo léo và tài nghệ của các

thợ gốm Nhật Bản.[53]

- Bài viết: “Về đồ gốm Chu Đậu” của tác giả Bùi Ngọc Tuấn, nội dung khẳng định: Dân tộc Việt Nam có một ngành nghệ thuật thuần nhất, phong phú, kéo dài nhiều

trăm năm và rất được yêu chuộng bởi các nhà sưu tập trên thế giới Những món đồ

gốm rất đặc biệt Việt Nam, rất đẹp, rất hiếm có Giá trị tuyệt vời của nghệ thuật tạo hình cổ truyền Việt Nam, vừa nghệ thuật, vừa giàu kỹ thuật sáng tạo, lại vừa chứa đựng cả dòng diễn tiến của văn hóa nhà Từ đó, tác giả hy vọng rằng một ngày gần đây

đa số chúng ta biết đến những nét đẹp của những món đồ Chu Đậu, đồ Lý trắng, Lý nâu để càng thêm hiểu và yêu thêm cái tâm tình thuần Việt được thể hiện qua bàn tay người nghệ sỹ Việt nhiều trăm năm trước Để qua những hình tượng nghệ thuật được thể hiện trên những món đồ gốm ấy, chúng ta sẽ thấy rõ ông cha chúng ta nhìn

đời sống xung quanh mình như thế nào.[49]

Trang 7

- Sách: Nghệ thuật gốm Việt Nam của tác giả Trần Khánh Chương, nội dung

khẳng định: Gốm Việt có truyền thống từ lâu đời với sự đa dạng về chất liệu, kiểu

dáng và nghệ thuật trang trí độc đáo Trải qua gần một vạn năm phát triển, nghệ thuật

gốm Việt Nam đã có được một kho tàng vô cùng phong phú với nhiều chủng loại, nhiều phương thức biểu hiện sáng tạo, độc đáo, mới lạ Nghệ thuật gốm Việt Nam có nhiều ảnh hưởng đến tâm thức người Việt và là hiện vật phản ánh các đặc trưng nghệ thuật tạo hình của thời đại Nghệ thuật gốm còn là một trong những loại hình tiêu biểu

của nghệ thuật truyền thống Việt Nam.[2]

- Sách: Gốm Việt Nam - từ đất nung đến sứ của tác giả Trần Khánh Chương là tập

hợp các bài viết nghiên cứu Nội dung phản ánh từ các khái niệm – thuật ngữ đến sự khác biệt của vật liệu, kỹ thuật chế tác trong tạo hình và nung đốt, nghệ thuật trang trí các loại hình gốm sứ Diễn tiến quá trình phát triển của gốm Việt gắn liền với những thay đổi căn bản về hình thức và chất lượng, từ đó phát sinh sự thay đổi về tên gọi gắn liền với bản chất về công năng và thẩm mỹ của sản phẩm qua mỗi thời kỳ lịch sử Tác giả trình bày quan điểm cá nhân trong cách phân loại đồ gốm gắn liền với các yếu tố

cơ bản của nghề gốm như vật liệu, kỹ thuật tạo hình, kỹ thuật nung đốt gắn liền với diễn tiến các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển qua các thời kỳ lịch sử Tác giả giới thiệu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề của gốm Việt Nam từ trước tới nay, với nhiều tư liệu, nhận định giúp cho những người yêu thích và quan tâm tìm hiểu về gốm Việt Nam có một tài liệu tham khảo quý, phong phú và đáng tin

cậy.[3]

- Bài viết: “2000 năm gốm Việt Nam“ của các tác giả Nguyễn Đình Chiến và Phạm Quốc Quân giới thiệu: Các dòng gốm Việt Nam với các loại hình tiêu biểu theo niên đại qua các triều đại chính của lịch sử Việt Nam. Gốm Việt Nam gắn liền với

cuộc sống người Việt qua các triều đại như một nhân chứng, phát triển theo dòng lịch

sử dân tộc, lúc thịnh, lúc suy Mỹ thuật gốm Việt đã phát triển rực rỡ, đóng góp trong nền văn minh của nhân loại, sự sáng tạo kỹ thuật men nhiều loại độc đáo, có vị trí, phong cách trong ký ức phát triển nghệ thuật gốm sứ của nhân loại với lịch sử gốm

2000 năm.[3]

Trang 8

- Bài viết: “Đồ gốm Việt Nam và căn cước văn hóa: Bằng chứng từ nhà Lý và nhà Trần” của tác giả là Ts John S Guy - Phụ tá Quản thủ phòng Ấn Độ, Bảo tàng Victoria and Albert, London trình bày các nghiên cứu phân tích: Danh biểu trang trí của họa kiểu đồ gồm trong thời nhà Lý - Trần, và lập luận rằng sự lựa chọn và giải thích các chủ đề được nhận thấy trên các sản phẩm đồ gốm của thời kỳ này cấu thành các sự phát biểu có ý thức về căn cước văn hóa Việt Nam Lịch sử đồ gốm Việt Nam, nói một cách tổng quát, song hành với sự tiến hóa của đồ gốm Trung Hoa từ thời nhà Hán trở đi, về mặt hình dáng và thể điệu Tuy nhiên, các nhà làm đồ gốm Việt Nam đã đem lại sự biểu lộ các thành tố của căn cước văn hóa mang bản chất Việt Nam Sự kiện này được nhận thấy trong sự vận dụng độc đáo các hình dáng đồ gốm và, đáng kể hơn, trong sự phát triển danh biểu trang trí nhằm hội nhập các chủ đề và phần tử họa

tiết không có trong truyền thống Trung Hoa.[33]

- Bài viết: “Về sự xuất hiện và phát triển của bàn xoay gốm cổ“ của tác giả Hán Văn Khẩn Nội dung bài viết, tác giả quan tâm đến sự xuất hiện và phát triển mang tính bước nguặt trong kỹ thuật tạo hình bằng bàn xoay của các trung tâm sản xuất gốm

cổ Việt Nam đã mang lại những lợi thế lớn về năng suất và tính hoàn thiện sản phẩm,

từ đó mà có thể đáp ứng những đơn hàng nội địa hay xuất khẩu cần khối lượng lớn và

nhanh của khách hàng.[24]

2.2 Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về gốm Chu Đậu

- Bài viết: “Công trình nghiên cứu Gốm Chu Đậu 30 năm sau nhìn lại“ của P.Gs

Ts Tăng Bá Hoành - nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử tỉnh Hải Dương Tác giả nêu rõ: Cách đây 30 năm, khi nói đến Chu Đậu người ta thường nghĩ đến một làng nghề dệt chiếu cói cổ truyền hay một trạm bơm điện Nay nói đến Chu Đậu, không chỉ người trong nước mà nhiều học giả nước ngoài, biết ngay đó là một trung tâm sản xuất gốm mỹ nghệ nổi tiếng đất nước xưa và nay Từ kết quả nghiên cứu gốm Chu Đậu mà biết được tình hình hàng hải, ngoại thương, thủ công nghiệp của Việt Nam ở thế kỷ XV- XVI, vấn đề mà sử liệu nước nhà rất mờ nhạt Đặc biệt là vai trò của Nữ tài Bùi Thị Hý, một nhân vật nổi tiếng trên cả 4 lĩnh vực: Trí thức; Mỹ thuật; Hàng hải và Ngoại thương Chỉ từ vài hiện vật có minh văn ban đầu, sau 30 năm đã nghiên cứu hoàn chỉnh một vấn đề quan trọng trong lịch sử dân tộc, có ý nghĩa và giá trị lớn trên

Trang 9

nhiều phương diện: Lịch sử; Kinh tế; Văn hoá; Điển hình là Nghệ thuật; Kỹ thuật; Ngoại thương; Hàng hải Sự hoàn thiện của vấn đề có giá trị rộng lớn và lâu dài mà khi bắt đầu nghiên cứu tưởng như đáy biển mò kim, dẫn đến sự khó tin của một vài người là điều dễ hiểu, nhưng vấn đề đã được chứng minh khá đầy đủ bằng hiện vật và minh văn không thể đảo ngược.[21]

- Sách: Gốm Chu Đậu của P.Gs Ts Tăng Bá Hoành – nguyên Giám đốc Bảo tàng

Lịch sử tỉnh Hải Dương Qua tác phẩm, tác giả khẳng định: Các giá trị của gốm Chu Đậu, đặc biệt và chủ yếu là gốm hoa lam, cực kỳ tinh xảo Từ dáng vẻ, nước men đến màu sắc và họa tiết trang trí trên đồ gốm này đều đẹp đến mức hoàn hảo lạ thường Khá nhiều đồ gốm rất đẹp của Chu Đậu đã được nhiều bảo tàng lớn, không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước ngoài sưu tầm, bảo quản và giới thiệu rộng rãi Gốm Chu Đậu đã đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật và kỹ thuật gốm hoa lam, một biểu hiện đặc sắc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam Sách dày 160 trang khổ 21cm x 28cm, viết bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh và Nhật, trong đó có khoảng 120 trang hình ảnh và họa đồ Nội dung sách giới thiệu chi tiết và công phu các nghiên cứu về các sản phẩm chủ yếu cùng công cụ và phương pháp sản xuất của một trung tâm gốm nổi tiếng thế kỷ XV – XVI qua 7 lần khai quật Hiện vật giới thiệu trong sách là hiện vật trong các hố khai quật từ phế tích của những lò gốm cổ tại làng Chu đậu – Mỹ Xá – Hải Dương.[20]

- Bài viết: “Đồ gốm sứ trên các con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam“ của tác giả

Gs Ts Nguyễn Đình Chiến, nguyên Viện trưởng Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số tháng 3 năm 2005 Tác giả phác họa tổng thể bức tranh về xuất khẩu gốm cổ Việt Nam nhờ những phát hiện mới qua việc nghiên cứu các cổ vật gốm sứ được khai quật từ những con tàu đắm ở Cù Lao Chàm, ở Phú Quốc là các vùng biển nằm trên con đường hải thương xuất khẩu gốm sứ phía nam

Việt Nam.[7]

- Sách: Làng nghề Thủ công Mỹ nghệ miền Bắc của tác giả Trương Minh Hằng

Nội dung thể hiện sự nghiên cứu bao quát các làng nghề sản xuất Thủ công Mỹ nghệ miền Bắc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, trong đó có phần viết rất kỹ và chi tiết

Trang 10

về làng nghề sản xuất gốm cổ Chu Đậu và các sản phẩm của nó với những giá trị hết

sức đặc sắc và tiêu biểu cho nghệ thuật truyền thống Việt Nam.[16]

- Bài viềt: “Về đồ gốm Chu Đậu” của tác giả Bùi Ngọc Tuấn với nội dung: Chu Đậu và Bát Tràng hoạt động gần như cùng thời Gốm Chu Đậu đẹp hơn Bát Tràng Gốm Chu Đậu thường được xuất cảng, Bát Tràng để dùng trong nước Sau khi Chu Đậu tàn lụi thì Bát Tràng vẫn tiếp tục và được một số nghệ gia từ Chu Đậu tới cùng làm gia tăng mức độ sản xuất và giá trị của Bát Tràng Đồ gốm Chu Đậu vào thời đó được người Nhật gọi là đồ Shimamono (đảo vật) hay Namban (An-Nam) không những chỉ được ưa chuộng bởi những nhà quyền quý, mà còn được người Nhật bắt chước làm theo Bài viết như là cất một bước đầu tiên để mong rằng nhiều người trong và ngoài nước sẽ sưu tầm, sẽ tìm hiểu và sẽ nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về đồ gốm Chu Đậu của Việt Nam, về văn hóa Việt Nam Tác giả hy vọng rằng chúng ta sẽ mãi mãi tự hào rằng văn hóa Việt Nam không phải là một nền văn hóa tràn đầy ảnh hưởng Trung Hoa,

mà chính là một nền văn hóa thuần nhất, độc đáo và giá trị, như những câu thơ lục bát

thuần Việt của ca dao, của Nguyễn Du…[49]

2.3 Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật - công nghệ sản xuất gốm sứ

- Sách: Công nghệ sản xuất gốm sứ của tác giả là Nguyễn Văn Dũng - Khoa Hóa

Kỹ thuật - Đại học Bách khoa Hà Nội Nội dung đi sâu giới thiệu về: Các vấn đề vật

liệu, kỹ thuật và công nghệ sản xuất gốm sứ hiện đại Các khái niệm, thuật ngữ chuyên

nghành, cách phân loại gốm sứ dưới lăng kính khoa học- kỹ thuật.[11]

- Sách: Công nghệ sản xuất chất màu gốm sứ của các tác giả là Lê Văn Thanh và Nguyễn Minh Phương Nội dung đi sâu giới thiệu về: Các vấn đề về công nghệ sản

xuất chất màu gốm sứ hiện đại.[50]

Trong quá trình thực hiện đề tài, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu liên quan hữu duyên có được, kết hợp với các ghi chép học hỏi từ thực tế và kinh nghiệm, nhận thức cá nhân trong quá trình làm nghề của bản thân đã giúp tôi có được nền tảng

cơ sở lý luận để triển khai đề tài luận văn cao học của mình Tôi cũng vô cùng biết ơn những tác giả của những nghiên cứu đi trước đã cho tôi những tham khảo quý báu để tiếp tục phát triển sâu hơn đề tài của mình

Trang 11

3 Mục đích và giới hạn nghiên cứu

Thứ nhất: Trình bày các phân tích nghiên cứu, nhận định đánh giá và kết luận thể

hiện quan điểm của các học giả trong nước và ngoài nước và góc nhìn cá nhân tác giả

về các vấn đề chung của nghề gốm truyền thống Việt Nam như: khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành, quy trình sản xuất, kỹ thuật và công nghệ, phân loại

Thứ hai: Làm sáng tỏ các giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển với nhiều

thành tựu của gốm Việt qua các thời kỳ từ sơ sử đến hiện đại, tác giả khoanh vùng giới hạn các vấn đề nghiên cứu của luận văn tại vùng văn hóa lớn, trọng tâm và điển hình của văn hóa Việt là vùng văn hóa Đông Sơn bắt đầu từ thời đại kim khí

Thứ ba: Giới thiệu các nghiên cứu về gốm cổ Chu Đậu với những nét đặc trưng

- Về khả năng giao thương quốc tế

Thứ tư: Nghiên cứu thực trạng của gốm Việt hiện nay và đề xuất một số kiến

nghị xây dựng chiến lược phát triển mang bản sắc riêng của gốm Chu Đậu hiện đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Gốm Việt nói chung và gốm Chu Đậu nói riêng

- Phạm vi nghiên cứu: Các giá trị về kỹ thuật và nghệ thuật, văn hóa, xã hội và lịch sử cùng với những ảnh hưởng lan tỏa của gốm cổ Chu Đậu trong sự phát triển chung của lịch sử gốm Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp hệ thống cấu trúc; Phương pháp so sánh; Phương pháp phân tích tổng hợp và thông qua cách tiếp cận hệ thống, cách tiếp cận liên ngành về Mỹ thuật học, Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học, Lịch sử, Kỹ thuật công nghệ và Nghệ thuật

Thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài luận văn được thu nhận bởi các nguổn:

Trang 12

- Các nghiên cứu về gốm của nhiều tác giả qua các thư tịch cổ, sách, báo, tạp chí

và các văn bản quản lý nhà nước qua các thời kỳ

- Các kênh thông tin truyền thông hiện đại như các website, các bản tin, phóng sự – phim tài liệu truyền hình, các video clip

- Thông tin từ các Bảo tàng, phòng trưng bày Triển lãm, các bộ sưu tập cổ vật của các cá nhân, hiện vật gốm còn lưu giữ tại các công trình kiến trúc lịch sử

- Tham vấn các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân, các nghệ sỹ, các nhà sưu tập và các nhà quản lý lĩnh vực sản xuất và kinh doanh sản phẩm gốm

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn thể hiện sự nghiên cứu tâm huyết của tác giả về gốm Việt nói chung và gốm Chu Đậu nói riêng

Các giá trị nghiên cứu của luận văn cùng với các nghiên cứu khác của những nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài hy vọng sẽ tạo nên những đóng góp tích cực trong việc khẳng định Bản sắc Văn hóa với bề dày truyền thống đầy tự hào của người Việt được minh chứng qua một góc nhìn đặc biệt: góc nhìn nghệ thuật gốm Việt Nam với lịch sử hình thành và phát triển đạt nhiều thành tựu rực rỡ từ tiền sử, sơ sử cho đến các triều đại phong kiến, từ đó góp thêm tiếng nói củng cố quyết tâm tạo dựng chân giá trị mới của nghệ thuật gốm Việt Nam hiện đại với tinh thần: kế thừa Truyền thống, khẳng định Tương lai

7 Bố cục luận văn

Với mục đích và phạm vi nghiên cứu như đã nêu, ngoài phần Kết luận; Tài liệu tham khảo và các Phụ lục Nội dung của luận văn được chia thành các chương như sau:

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ GỐM SỨ VIỆT NAM

Nội dung chương này đi sâu phân tích các vấn đề chung của gốm sứ Việt Nam:

- Gốm sứ - vấn đề tên gọi và phân loại

- Khái quát về sự phát triển của gốm sứ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

- Một số kỹ thuật cơ bản của gốm sứ truyền thống Việt Nam

Trang 13

Chương 2: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA GỐM CHU ĐẬU

Nội dung chương này đi sâu phân tích các vấn đề đặc trưng của gốm cổ Chu Đậu:

- Quá trình hình thành và phát triển của gốm Chu Đậu

- Những đặc trưng của gốm Chu Đậu

- Mối quan hệ giữa gốm Chu Đậu và các trung tâm gốm khác

- Gốm cổ Chu Đậu xuất khẩu và con đường hải thương nước Việt

- Một số loại hình sản phẩm đặc biệt của đồ gốm Chu Đậu

- Chân dung các nghệ sĩ gốm Chu Đậu độc lập

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GỐM CHU ĐẬU TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY - BÀI HỌC VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ

- Khuynh hướng đa nguyên của gốm sứ hiện đại thế giới

- Thực trạng hiện nay của gốm sứ Việt Nam

- Một số đề xuất, kiến nghị mang tính định hướng phát triển trong hoạt động sản xuất

và kinh doanh gốm sứ Chu Đậu hiện đại

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ GỐM SỨ VIỆT NAM

Đồ gốm là các sản phẩm của nghề gốm, là các loại đồ dùng và vật liệu rất phổ biến, gần gũi, thân thuộc, là những hiện vật được coi như tấm gương phản ánh nhiều khía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần trong cuộc sống con người

Người thợ gốm quan niệm: một sản phẩm gốm như một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ, trong đó kết hợp hài hòa Ngũ hành (五行) là: Kim (金), Mộc (木), Thuỷ (水), Hoả (火) và Thổ (土) Sự vận động để phát triển của nghề gốm được xem như là sự hanh thông của Ngũ hành, mà sự hanh thông của Ngũ hành lại phụ thuộc quá trình lao động sáng tạo của người thợ với những quy trình kỹ thuật chặt chẽ, chuẩn xác kết hợp hài hòa trạng thái thăng hoa của cảm xúc

Đồ gốm - Nghề gốm là một thành tựu sáng tạo to lớn của văn minh loài người, nó chứng minh khả năng tư duy vượt trội của con người trong việc khẳng định các tiến bộ

về công nghệ - kỹ thuật, năng lực tổ chức làm việc và ý thức tiêu dùng

1.1 Gốm sứ - vấn đề tên gọi và phân loại

1.1.1 Tên gọi

Khi nghiên cứu về gốm sứ, việc cần làm đầu tiên là làm rõ các khái niệm, tên gọi

để tạo cơ sở tiền đề xác định những đặc điểm về vật liệu, kỹ thuật chế tác, giá trị sử dụng, định vị niên đại thời điểm khai sinh của một loại gốm, một dòng gốm Việc này,

dù hết sức quan trọng nhưng lại khó tìm được tiếng nói thống nhất chung vì tính chất phức tạp của nó, bởi mỗi nhà nghiên cứu lại có cách nhìn, cách đánh giá và cách đặt tên khác nhau, phụ thuộc vào tiêu chí riêng trên quan điểm nghiên cứu chuyên sâu một vấn đề mà mình quan tâm Trong luận văn này, tác giả lựa chọn đưa ra giới thiệu các khái niệm, các định nghĩa, các thuật ngữ, cách gọi tên các loại gốm từ các công trình nghiên cứu khá chuyên sâu của các tác giả tiêu biểu và sau cùng là quan điểm cá nhân của mình, như một kết luận cuối cùng Và, cũng xin phép dài dòng về nội dung của phần này một chút vì vai trò quan trọng và cần thiết của nó

Trang 15

Theo Ts Trương Thị Minh Hằng, thuật ngữ “đồ gốm” được hiểu là: “Tên gọi chung của các sản phẩm được làm từ đất sét, sau khi nung qua lửa ”[15,tr.125] Còn

theo Hoàng Phê, gốm là: “Tên gọi chung sản phẩm chế từ đất sét và hỗn hợp đất sét nung, như đồ đất nung, sành, sứ, vv…”[32,tr.411] Hai tác giả Trần Anh Dũng và

Đặng Kim Ngọc cho rằng: “ Gốm là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả những sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn của sành “[10,tr.38] Với nhà nghiên cứu Mộ Thanh thì: “thuật

ngữ “đồ gốm” vừa được dùng để chỉ các sản phẩm của họ nhà gốm nói chung (có công dụng như là vật liệu hay là vật dụng) có men và không có men, vừa để chỉ riêng những sản phẩm chưa đạt, hoặc gần đạt tới tiêu chuẩn của “đồ sứ “[47, tr.224 - 234]

Trong cuốn sách Gốm sành nâu ở Phù Lãng, Trương Thị Minh Hằng phân chia đồ

gốm thành 5 loại với các tên gọi: “1 Đất nung, 2 Sành nâu, 3 Sành xốp, 4 Sành trắng, 5 Sứ “[15, tr 80 - 83] Theo tác giả, đây là 5 loại hình gốm chính ra đời kế tiếp nhau và cùng tồn tại cho tới ngày nay Cách phân loại dựa trên hai tiêu chí: Một là, dựa vào đặc điểm xương gốm Hai là, dựa vào niên đại

Cách gọi tên các loại gốm ở một số quốc gia khác trên thế giới có nhiều sự tương đồng về lịch sử nghề gốm với Việt Nam thì: Ở Nhật Bản, theo Ts Noritake Tsuda gốm Nhật được phân làm 4 loại: “1 Doki (Thổ khí): Đất nung; 2 Toki (Đào khí): Đất nung

có men; 3 Sekki (Thạch khí): Sành và 4 Jiki (Từ khí): Sứ“[51, tr.220 - 225] Ở

Trung Quốc, theo Gs Kiều Thu Hoạch [26, tr.30 – 35] gốm cổ cũng được phân thành

4 loại như Nhật Bản Ở Thái Lan, theo Pariwat Thammapreechakorn và Kritsada Pinsri gốm chia làm 4 loại: ”1 Terra Cotta ( Độ nung 8500C ), 2 Earthenware (Độ nung 8800C – 11500C), 3 Stonware (Độ nung 11500C -13000C ), 4 Porcelain (Độ nung 13000C – 14500C)”[36,tr.171- 182] Tiêu chí để phân loại dựa trên sự khác biệt

của vật liệu xương gốm và độ nung sản phẩm

Với các nhà khảo cổ, các nhà sưu tập gốm cổ thì các thuật ngữ “gốm hoa lam”,

“gốm hoa nâu”,“gốm men ngọc”… được hiểu là tên gọi các dòng gốm gắn với các

dòng men Và, vì cách hiểu này không phản ánh thành phần và tính chất của xương gốm nên đôi khi, trong một số “bối cảnh”, để cụ thể hơn, người ta lại phải dùng một

thuật ngữ khác thay thế Ví dụ, “gốm hoa nâu” còn được gọi là “gốm sành xốp hoa

Trang 16

nâu”, hoặc “gốm đàn hoa nâu”, với nghĩa xương của nó là loại sành xốp (đàn) Cũng

như vậy, “gốm hoa lam” còn được gọi là “gốm sành trắng hoa lam”, hoặc gốm Biên Hoà còn được gọi là “gốm sành xốp Biên Hoà” v.v…

Hai loại gốm xuất hiện sớm nhất là Đất nung (niên đại khoảng 10 000 năm) và

Sành (niên đại khoảng 2 000 năm), cách phân biệt giữa chúng tương đối rành mạch

(cũng có thể do chúng là những loại gốm có thành phần và công nghệ chế tác tương

đối đơn giản) Riêng đồ Sành được phân chia thành hai loại: Sành cứng (còn gọi là

Sành mịn) và Sành mềm (còn gọi là Sành xốp hay là “đồ Đàn” theo cách gọi dân gian)

Gọi là sành cứng hay sành mịn là bởi xương đất khi nung ở nhiệt độ cao đã bắt đầu nóng chảy (thiêu kết), tạo kết dính hạt mịn và rắn chắc như đá, không còn ngấm nước

(có lẽ vì vậy mà người Nhật và người Trung Hoa gọi chúng là Thạch khí ) Loại Sành

cứng còn có thể chia thành: Sành nâu (do xương gốm làm từ loại đất sét thường) và Sành trắng (do xương gốm làm từ loại đất sét trắng) Còn Sành xốp do xương đất mới

kết dính nhưng chưa thật chín nên “bở”, “xốp” và vẫn bị ngấm nước Độ cứng và

thành phần của xương gốm Sành xốp không ổn định

Khi Sành trắng và sau đó là Sứ ra đời thì vấn đề trở nên phức tạp Thực tế, Sành

trắng và Sứ không chênh lệch nhau nhiều về độ nung, mà khác nhau chủ yếu về độ

trong Dù cùng được làm từ chủ yếu là đất sét trắng, nhưng Sành trắng và Sứ khác nhau ở chỗ xương của Sứ đã hoàn toàn kết tinh, soi lên ánh sáng thấy thấu quang Tuy

nhiên phải có cao lanh, tràng thạch và nung ở nhiệt độ trên 13000C mới thành Sứ thấu quang được, nung chưa đến độ lửa vẫn còn là Sành trắng; hoặc Sành trắng dù nung ngang độ lửa của Sứ vẫn chỉ là Sành nếu xương không có thành phần cao lanh, tràng thạch Có lẽ do những yêu cầu của công nghệ chế tác Sứ quá cao nên thực tế đã nảy sinh ra một dạng sản phẩm “nằm dở dang” giữa Sành và Sứ; thành phần nguyên liệu

và độ nung đạt tiêu chuẩn của Sứ nhưng chưa thấu quang Gs Nguyễn Văn Y gọi chúng là loại “bán Sành bán Sứ”, ông viết: “Những đồ Sứ cổ của ta và cả của Trung Quốc thường thuộc loại này, dù vẫn được gọi là Sứ nhưng chưa thấu

quang”[58, tr.174 - 225] Còn đa số các nhà khảo cổ học nước ta gọi chúng là Sành Sứ

hoặc Gốm Sứ (với nghĩa “demi” sứ) Chính vì giữa Sành trắng và Sứ có thể lẫn lộn nên ỏ Trung Quốc, một số cuốn từ điển đã giải thích Sành trắng là Sứ thô

Trang 17

Gs Nguyễn Văn Y đã chia “ họ nhà gốm ” thành 3 loại chính: “1 Đất nung, 2

Sành, 3 Sứ”[59, tr.223 - 224] Trên cơ sở lấy chất liệu và độ nung của xương đất làm

tiêu chí Chất liệu và độ nung của 3 loại này tương đối khác biệt một cách rạch ròi Ví

dụ: Đất nung được làm từ đất sét thường (đất thó), độ nung 6000C - 7000C, cao nhất

là 9000C; Sành được làm từ đất sét thường (để cho loại sành nâu) hoặc từ đất sét trắng

(cho loại sành trắng hoặc sành xốp), độ nung từ 1 0000

C – 1 1000C, thậm chí 1 2500

C tuỳ theo cấu tạo của lò nung và thành phần của xương đất chịu được lửa cao hay thấp

Còn Sứ, trong thành phần nguyên liệu ngoài đất sét trắng phải có thêm cao lanh, thạch anh, trường thạch và một số chất khác Độ nung Sứ phải đạt từ 1 2800C – 1 3500C, thậm chí 1 4500C

Trong thực tế lịch sử, khi công nghệ chế tác Sứ đạt tới những tiêu chí cao nhất về

độ trắng sáng, độ cứng, độ trong, độ bóng, độ thấu quang v.v…thì người ta không

muốn cho Sứ vào họ nhà Gốm để Sứ dễ được đề cao trên thị trường Gs Nguyễn Văn

Y đã giải thích hiện tượng này và đưa ra lời tổng kết: “Gốm là tiếng gọi chung nhất của mấy loại trên Nhưng trên thị trường, người ta muốn tách Sứ ra khỏi Gốm, bởi cái dạng bóng bẩy của nó khác các loại trên Một phần nữa còn do nguyên nhân lịch sử:

Sứ ra đời rất muộn so với họ nhà Gốm ổn định từ lâu Nếu ở Việt Nam thường gọi

“Gốm và Sứ”, ở châu Âu thường gọi “Cẻramique et Pocelaine” là đều do thói quen hoặc có dụng ý, hoặc vô tình Nhưng về mặt khoa học, Sứ trước sau chỉ là một loại của Gốm”[58,tr.32 - 45]

Vấn đề niên đại của Sứ, theo Gs Nguyễn Văn Y: “ đồ Sứ Việt Nam liên quan mật

thiết và chịu ảnh hưởng của đồ Sứ Trung Quốc, bởi Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới “phát minh” ra Sứ Theo một số nghiên cứu đã công bố thì Sứ Trung Quốc có

từ đời Tam Quốc huặc lâu hơn là từ đời Ân - Thương, mặc dù khi đó Sứ chưa thể

“thấu minh” do độ nung còn thấp “[59, tr.224]

Việc giải thích ý nghĩa và nguồn gốc ra đời của thuật ngữ Sứ tại Việt nam cũng

có nhiều cách khác nhau Vương Hồng Sển - nhà sưu tầm cổ vật nổi tiếng Sài Gòn xưa

giải thích chữ Sứ trong sách Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa như sau: “Gọi là đồ Sứ vì đồ

này do triều đình nhà Nguyễn phái Sứ bộ sang Trung Quốc đặt làm, và đồ này được

Trang 18

Sứ đoàn mang về nên gọi là đồ Sứ…”[38, tr 124] Sau này, trong một bài viết của Ts

Trần Đức Anh Sơn đăng trên báo Thừa Thiên – Huế cũng đưa ra cách giải thích tương

tự: “Sứ là chất liệu cao cấp hơn Sành và Gốm, hay Sứ là Sứ bộ, Sứ đoàn, Sứ giả? Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh chỉ có một chữ Sứ và chú giải: người vâng mệnh đi làm một việc gì – tên quan ngoại giao ra trú ở nước ngoài…”[41, tr.5].Và tác giả khẳng định: “ Như vậy không có nghĩa chữ Sứ trong Việt ngữ nghĩa là vật nung từ đất

“[41, tr.5]

Cách lý giải của Nguyễn Anh Huy có vẻ hợp lí và thuyết phục hơn với nhiều người: “Chữ Sứ xuất phát từ người Trung Quốc, họ gọi những đồ vật này là “Từ khí” (theo âm Hán Việt) Chữ “Từ” phiên âm của người Trung Quốc là /Cí/, phát âm giống như âm đọc chữ “Sứ” của người Việt Còn chữ “Sứ” (Sứ giả), phiên âm của người Hoa là /Shi/ và phát âm cũng giống như chữ “Sứ” của Việt Nam Như vậy, chữ “Từ” (trong Từ khí) và chữ “Sứ” (trong Sứ giả, đại sứ) của người Trung Quốc phát âm nghe như nhau “[27, tr 68 - 70] Nguyễn Anh Huy cho rằng, có lẽ đây là một dạng đồng

âm dị nghĩa nên mới dẫn đến cách hiểu nhầm lẫn của hai tác giả trên

Theo tư liệu của Gs Nguyễn Văn Y: “người châu Âu lần đầu tiên biết tới “Đồ Sứ”

do việc nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc Họ đặt tên cho nó là “Porcelaine” với nghĩa nguyên thuỷ là “xà cừ” (tên cúng cơm của con trai biển) nhằm dụng ý ca tụng sự trong suốt, óng ánh của nó Và cho tới nay, một số từ điển tiếng Anh vẫn giải thích thuật ngữ “Đồ Sứ” với hai nghĩa: “Porcelaines” và “Chines” Theo cách đặt tên của người châu Âu, để được gọi là “Đồ Sứ” thì phải “thấu minh” chứ không chỉ vì trong xương đất có chất cao lanh là đủ “[59, tr.325]

Như vậy vấn đề thấu quang có phải là điều kiện tiên quyết để khẳng định một món

“Đồ Sứ” không? Nhà viết sử mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh nhận định: “Nước Việt

Nam trong bao nhiêu thời đại đã biết làm đồ gốm, nhưng chưa khi nào sản xuất đồ sứ mịn Những lọ và bát đĩa đẹp trong các thời đại trước đã xác nhận là của Việt Nam

cũng chỉ là loại sành tốt mà thôi” [18, tr.145] Theo ông: “ đồ sứ mới xuất hiện ở Việt

Nam vào thời Nguyễn, đó là những đồ “kí kiểu” được triều đình Huế đặt làm tại lò

Trang 19

Cảnh Đức Trấn bên Trung Quốc (được gọi bằng nhiều tên: đồ sứ Huế, đồ gốm men lam Huế, đồ kiểu v.v…)”[18, tr.148]

Họa sỹ Trần Khánh Chương cũng có quan điểm tương tự: “Đồ sứ là loại gốm nung ở nhiệt độ cao, xương đất chảy, trắng, bóng, có thể từ phía trong nhìn thấy hình

vẽ, hoạ tiết ở mặt ngoài Ngày xưa, người ta thường nhắc tới sứ Giang Tây, loại sứ mang dấu ấn Nội phủ mà triều đình Nguyễn đặt mua ở Trung Quốc, hoặc loại sứ mỏng

có hình cô tiên của Nhật Bản… Không ai nói đến đồ sứ của Việt Nam Nước ta chỉ có

đồ đất nung, đồ đàn, đồ sành trắng cao hơn nữa thì cũng chỉ có loại “bán sành bán sứ” Ông cho rằng: “niên đại của sứ Việt Nam được đánh dấu vào thời điểm ra đời của nhà máy sứ Hải Dương, năm 1960.”[3, tr.101]

Trương Minh Hằng cho rằng: “đã là sứ phải đạt tiêu chuẩn thấu quang hoặc ít ra cũng là “bán thấu quang”[15, tr.181] Những điều tra khảo sát khảo cổ di chỉ Hoàng

thành Thăng Long cuối năm 2002 và những kết quả được công bố cho thấy: rất nhiều

hiện vật gốm trắng thời Lý đã thấu quang nhưng vẫn không được ai gọi chúng là “Đồ

Sứ” cả Do vậy, có thể thấy thấu quang chỉ là một điều kiện để xem xét đánh giá một

sản phẩm gốm có đạt tiêu chuẩn là “Sứ” không mà thôi

Mộ Thanh nhấn mạnh: “Gốm được gọi là Sứ khi có 4 tiêu chuẩn cơ bản, đó là: trong như gương, trắng như ngọc, mỏng như giấy, kêu như chuông”[47, tr.145]

Trong dịch thuật các nghiên cứu về gốm quốc tế, những thuật ngữ về gốm bằng Việt ngữ đề cập ở trên đều có tên gọi tương đương trong “danh mục từ loại” bằng tiếng Anh, tiếng Pháp :

– Gốm, Đồ gốm, Vật liệu gốm: Porttery / Ceramic / Ceramicque

– Đất nung: Terra cotta / Terre cuite

– Đất nung tráng men: Terre cuite émaillé

– Sành: Stoneware, (Stone ware) / Earthen ware

– Sành trắng: Grés

– Sành xốp: Majolique / Faience (Majolique và Faience là tên 2 địa danh ở vùng Tiểu Á và Ý chuyên sản xuất mặt hàng

– Sứ: Porcelain / Chine

Trang 20

Việc dịch các thuật ngữ chuyên ngành là một vấn đề khó, trong một số tư liệu,

thuật ngữ “Earthen ware” khi thì được dịch sang tiếng Việt là “Sành xốp” để phân biệt với thuật ngữ “Stone ware” thường được dịch là “Sành” như cách phân loại trong cuốn “Ceramic Art in Thailand” đã nói tới ở trên, khi thì được dịch là “Đất nung” như

trong cuốn “Gốm hoa lam Việt Nam” của hai tác giả Bùi Minh Trí và Kerry-Nguyen

Long xuất bản năm 2001 Cũng như vậy, thuật ngữ “ Gốm hoa lam” – một dòng gốm nổi tiếng được sản xuất ở rất nhiều nơi trên thế giới có một thuật ngữ quốc tế là “Blue

and White Ceramics”, nhưng trong cuốn “Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ”, Trần

Khánh Chương dịch “Gốm hoa lam” là “Blue pattern glaze”; cũng như vậy, “Gốm hoa

nâu “ là “Brown pattern glaze” Có ý kiến cho rằng, cách dịch của Trần Khánh

Chương chuẩn xác hơn Nhưng ý kiến khác lại cho rằng, dịch như vậy, các học giả

nước ngoài sẽ tưởng “Blue and White” và “Blue pattern glaze” là 2 dòng gốm khác

nhau Các nghiên cứu về gốm sứ Việt Nam của các học giả nước ngoài, chưa khi nào

thấy xuất hiện thuật ngữ “Gốm Sành nâu” Còn Trần Khánh Chương, trong cuốn

“Nghệ thuật gốm Việt Nam” xuất bản năm 1990 đã dành hẳn một mục lớn có tiêu đề

là “Gốm Sành nâu”, và trong “Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ” xuất bản năm 2001

đã dịch thuật ngữ “Gốm Sành nâu” sang tiếng Anh là :“Brown earthenware”

Theo Gs Nguyễn Văn Y gốm“Sành nâu” còn được gọi là “Đồ Cang”, như những

sản phẩm của các lò Hương Canh (Vĩnh Phúc), lò Ngoạ Cương (Quảng Bình) Ông viết: “Từ “Cang” có lẽ xuất xứ từ một địa danh làm đồ “Sành nâu”, mà hiện nay chưa

rõ nơi nào”[59, tr.206] Cách gọi sản phẩm theo địa danh sản xuất như trên giống như

cách gọi tên loại gốm Sành xốp: người châu Âu gọi là Faience (Faienca là tên một địa danh ở Ý nổi tiếng về sản phẩm này), còn người Việt gọi theo lối dân gian là “Đàn”

(Đàn là tên một làng làm gốm sành xốp xưa kia ở tỉnh Hải Dương)

Trong những thuật ngữ của nghề gốm Việt cổ truyền, “Cang” là một từ tối cổ Xuất

phát từ những tư liệu nghiên cứu của mình, Gs Nguyễn Văn Y cho rằng: “Chắc chắn

từ “Cang” có mối liên quan nào đó với từ “Sành nâu” Ví dụ: Hiện tại, nghề làm gốm

“Sành nâu” ở Hương Canh từ lâu đã không còn hoạt động, nhưng trong làng vẫn còn một xóm nhỏ có tên gọi là “Lò Cang” Còn ở các làng làm gốm “Sành nâu “vùng Kinh Bắc, chỉ còn Thổ Hà là sử dụng từ này nhưng theo một ý nghĩa khác; và cũng chỉ thấy

Trang 21

nó còn xuất hiện trong các văn bản cổ của địa phương Ví dụ, văn bia đình Thổ Hà ghi: “Làng có nghề Cang gốm rất phát đạt…”[59, tr.316]

Như vậy, nếu như người nước ngoài chưa hề sản xuất loại gốm này và nó chưa có thuật ngữ quốc tế tương đương thì không có nghĩa là chúng ta không thể định danh cho một loại hình sản phẩm đã ra đời từ rất lâu trong lịch sử và đóng một vai trò quan

trọng trong đời sống văn hoá người Việt Chúng ta vẫn có thể coi “Sành nâu” là một

thuật ngữ riêng của nghề gốm truyền thốngViệt Nam

Trên đây tác giả luận văn đã trình bày những quan niệm, những tên gọi, những khái niệm khác nhau khá phức tạp của các thuật ngữ nghề gốm với những tiêu chí khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu gốm có uy tín trong và ngoài nước

So với nhiều loại hình nghệ thuật và nhiều loại hình sản phẩm, Gốm / Đồ Gốm có

một niên đại sớm (thậm chí rất sớm) với một chặng đường phát triển dài lâu và hầu như không bị đứt đoạn Qua mỗi giai đoạn trong lịch sử, chúng đều lưu lại một dấu ấn riêng và có thể định vị một tên gọi riêng Sự phong phú, đa dạng các loại hình trong lịch trình phát triển chính là nguyên nhân (và là điều không thể tránh khỏi) dẫn đến sự chưa thể thống nhất những thuật ngữ xung quanh “ họ nhà Gốm” Khi trình bày về vấn

đề này, tảc giả luận văn cố gắng lược thuật những ý kiến, những quan điểm của các

học giả khác nhau với mục đích dàn cảnh “Phả hệ Gốm” trên một mặt bằng tổng quan

chung của nghề gốm Việt Nam Việc hệ thống và chuẩn hoá các khái niệm, các thuật ngữ cũng như các tiêu chí phân loại gốm để thuận tiện cho nghiên cứu, khảo sát là việc làm cần thiết nhưng không đơn giản Tảc giả luận văn không có tham vọng giải quyết một cách triệt để những vấn đề đã được nêu ở trên mà chỉ trình bày nội dung phần này như là một cách dẫn đề

1.1.2 Phân loại

Cách phân loại gốm sứ trong thực tế thường dựa trên việc đáp ứng các mục đích

sử dụng cụ thể trên cơ sở xem xét tính chất đặc thù của từng loại gốm sứ

- Gốm sứ gia dụng: Bao gồm các loại vật dụng, đồ dùng phục vụ nhu cầu thiết

yếu trong sinh hoạt thường nhật của con người Với mục đích phục vụ ăn uống có các

loại tô, chén, bát, tước (hay bôi), bình trà, nậm rượu, nồi, âu Với mục đích dùng để

Trang 22

chứa đựng có các loại bình hoa, lu vại, vò, chậu Với mục đích đựng nước hay làm công cụ trong sản xuất tương, nước mắm, mắm có các loại bình hoa, lu vại, chum

- Gốm sứ mỹ nghệ và nghệ thuật: Bao gồm các loại sản phẩm mỹ nghệ hay tác

phẩm nghệ thuật Các hình thức điêu khắc gốm dưới dạng tượng tròn, phù điêu Các loại vật dụng có tính nghệ thuật như bình vôi, điếu bát, chân đèn, lư hương, bình hoa, mâm, đỉnh dùng với mục đích trang trí trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, trong các công trình tôn giáo hay là các tác phẩm sáng tạo nghệ thuật độc lập thể hiện quan điểm riêng trong nhân sinh quan, thế giới quan về về mỹ học, triết học của các nghệ

sỹ Chúng cũng có thể là các phụ kiện trang sức trong lĩnh vực thời trang như vòng

tay, mặt nhẫn, dây chuyền, chi tiết trang trí quần áo, túi xách, giày dép

- Gốm sứ kỹ thuật: Là các loại sản phẩm mang đặc trưng chất liệu gốm sứ được

nhìn nhận và sử dụng dưới hình thức các loại vật liệu sử dụng trong các hoạt động của lĩnh vực kỹ thuật Đó là:

+ Vật liệu kiến trúc - xây dựng: Bao gồm các loại gạch, ngói dùng để ốp lát trang

trí bề mặt hụăc trở thành chi tiết các thành phần cấu tạo trong các công trình kiến trúc Các loại gạch, tấm kê chịu lửa dùng để xây dựng hay là các phụ kiện sản xuất của các

lò nấu thủy tinh, lò nung gốm sứ Thiết bị vệ sinh các loại như bồn tắm, chậu rửa, vỏi nước, bồn cầu, bồn tiểu, vòi máy nước nóng lạnh

+ Vật liệu y học: Dùng để chế tạo các bộ phận cơ thể như răng giả, xương

+ Vật liệu mài: Các loại đá mài

+ Vật liệu cách điện: Các bộ phận cách điện như ổ cắm cách điện, tụ cách điện,

vỏ công tơ đo điện

+ Vật liệu bán dẫn, từ tính: Các chi tiết trong các thiết bị bán dẫn hay điện tử + Vật liệu phủ kim loại: Làm vật liệu tráng phủ lên bề mặt kim loại, từ đó tạo ra

các hình thái vật liệu mới như Pháp lam (phủ men gốm lên cốt làm bằng vật liệu đồng), sắt tráng men

+ Vật liệu hóa học: Các trang thiết bị dùng trong các phòng thí nghiệm, các nhà

máy hóa chất

1.2 Khái quát về sự phát triển của gốm sứ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Trang 23

Theo các kết quả nghiên cứu khảo cổ học gần một thế kỷ qua, đặc biệt là mấy thập niên gần đây, lịch sử phát triển gốm Việt dần hiện hình rõ nét, theo đó có thể đánh dấu được các mốc chuyển biến quan trọng của quá trình liên tục phát triển trong dòng chảy chung các ngành nghề thủ công truyền thống của đất nước

Văn hóa Việt khởi nguồn độc lập và song song với văn hóa Trung Hoa Nền văn hóa Hòa Bình (8 000 năm tr.CN ), Bắc Sơn (6 000 năm tr.CN ), Phùng Nguyên (2 000 năm tr.CN) và Đông Sơn (1 000 năm tr.CN) của người Việt cổ đã rất phát triển từ trước khi có những giao tiếp giữa hai dân tộc Việt – Hoa

Gốm cổ truyền Việt Nam đã sớm xuất hiện cách đây hàng vạn năm trải qua những thời kỳ đồ đá cũ và mới của văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Hạ Long, rồi trải qua thời kỳ Phùng Nguyên, giai đoạn Đồng Đậu và giai đoạn Gò Mun, tới thời kỳ đồ kim khí Đông Sơn, cho đến giai đoạn hiện nay là cả một quá trình lâu dài của sự phát triển, từ sơ khai đến đỉnh cao

“ Các đồ gốm Việt Nam tượng trưng cho sự biểu lộ tinh tế và bền bỉ nhất của Nghệ

thuật đồ gốm tại Đông Nam Á Lịch sử đồ gốm Việt, song hành với sự tiến hóa của đồ gốm Trung Hoa từ thời nhà Hán trở đi Tuy nhiên, đồ gốm Việt đã sớm biểu lộ các thành tố của căn cước văn hóa mang bản chất Việt Nam của riêng mình Điều này thể hiện trong sự vận dụng độc đáo các kiểu dáng đồ gốm và, đáng kể hơn, trong sự phát triển các mô típ trang trí với các chủ đề và họa tiết không có trong truyền thống Trung Hoa Nhiều đề tài vay mượn được tái giải thích với một sự tự tin và tinh tế, tạo ra các kết quả thấm nhuần với một sự vẻ tươi mát và năng lực không hề có trong nguyên bản Trung Hoa Ý chí chống lại sự kiểm soát chính trị và Hán hóa văn hóa là một chủ đề thường trực của lịch sử Việt Nam Trong khi các sự phân kỳ văn hóa được coi trọng sâu xa và được nhấn mạnh một cách công khai, tự nó đã thiết chế các sự khẳng định

của Việt Nam về một căn cước văn hóa có bản chất Đông Nam Á.”[33]

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc phát triển sớm của nhân loại với lịch sử dựng nước và giữ nước hơn bốn ngàn năm, bắt đầu từ thời vương quốc Văn Lang với nền văn minh đồ đồng Đông Sơn rực rỡ Mỹ thuật trang trí đồ đồng là đoạn nối tiếp từ nghệ thuật đồ gốm được phát triển song hành phục vụ đời sống người Việt

Trang 24

Mỗi vùng miền, mỗi giai đoạn lịch sử, gốm Việt lại có những nét đẹp đặc trưng riêng, tùy theo vật liệu, tùy theo kỹ thuật và nghệ thuật chế tác

Nghệ thuật gốm Việt đã có những đóng góp to lớn cho nền văn minh của nhân loại với những thành tựu sáng tạo độc đáo, từ đó tạo dựng vị trí, phong cách xứng đáng của mình trong ký ức phát triển Nghệ thuật gốm sứ của nhân loại

Nghệ thuật gốm Việt chính là căn cước văn hóa, là cầu nối văn hóa của người Việt với các dân tộc, các quốc gia, các nền văn minh khác trên thế giới

1.2.1 Gốm Việt thời tiền sử và sơ sử

Đây là bước chuyển thứ nhất của gốm Việt, thể hiện giai đoạn đầu tượng hình nghề gốm của người Việt Với một cơ tầng văn hoá Hòa Bình, Bắc Sơn, Phùng Nguyên và Đông Sơn khá bền vững và chắc chắn đã được tạo dựng, dựa vào đó các

cư dân Việt cổ đã có đủ bản lĩnh và điều kiện tiếp nhận và phát triển nghề gốm du nhập từ đế chế Đông Hán, đi theo cùng đội quân và chính quyền xâm lược nhằm giải thể cấu trúc văn hóa truyền thống của các tộc Việt phương Nam Quy trình công nghệ làm gốm mới mẻ được du nhập trong bối cảnh ấy với: Kỹ thuật làm khuôn, gắn chắp các thành phần sau đổ khuôn, cách đắp lò nung và cách làm tăng nhiệt độ nung gốm lên tới trên 1 000oC… đã được người Việt tiếp nhận với một tinh thần cởi mở Trên trình độ và truyền thống làm gốm sẵn có, người Việt cổ nhanh chóng tiếp thu công nghệ mới, tạo nên một sự đổi thay toàn diện, cắm một mốc son đầu tiên trong lịch sử phát triển gốm Việt Gốm Việt ở những thế kỷ trước Công nguyên khá phong phú về loại hình, mẫu mã, mang nhiều sự dung hòa với gốm bản địa gốc Hán Những kết quả nghiên cứu khảo cổ được thực địa ở Tam Thọ (Thanh Hoá), Thanh Lãng (Vĩnh Phúc), Bút Tháp (Bắc Ninh)… đã cung cấp nhiều thông tin khẳng định đó là những di vật gốm Hán trộn lẫn nhiều thành tố văn hóa bản địa Đông Sơn - Nam Việt

Sự chuyển biến và đổi thay của nghề gốm trong giai đoạn này được thể hiện với hàng loạt trung tâm sản xuất có quy mô lớn được tổ chức tốt đã ra đời, phân bố bên cạnh những con sông để tiện việc cung cấp nguyên liệu và vận chuyển các thành phẩm, đồng thời dựa vào độ dốc của những triền sông để tận dụng sức gió cho việc đốt

lò Kết quả nghiên cứu ở Tam Thọ (Thanh Hoá) phác họa được một quy trình trong

Trang 25

việc tổ chức sản xuất với sự phân công lao động rõ ràng trong các quan hệ: chủ – thợ, thợ chính – thợ phụ, thợ Trung Hoa – thợ bản địa… Đây chính là tiền đề để hình thành một ngành nghề mà ở những giai đoạn sau, mức độ chuyên môn hoá ngày càng cao

Khi đã tạo được một ngành nghề với nhiều trung tâm sản xuất quy mô lớn với sản phẩm số lượng ngày một dồi dào, khiến cho việc tiêu thụ thế nào phải được đặt ra Với lợi thế phân bố ở các bến sông, gần các thương cảng, vì thế hàng hoá là các sản phẩm gốm Việt giai đoạn này đã vươn xa, không chỉ tới các địa phương trong vùng địa hạt Cửu Chân nước Việt, mà tới tận kinh đô Trà Kiệu của vương quốc Champa Từ nhiều phát hiện những di vật gốm giai đoạn này ở lòng biển Hội An mấy năm gần đây, cho phép hình dung đến một sự vươn xa hơn nữa của hàng hoá Việt qua một thực tiễn trước đó, người Việt thời văn hóa Đông Sơn đã đưa trống đồng của mình ra tận các đảo xa ngoài Thái Bình Dương, và điều đó cũng khá phù hợp với con đường tơ lụa trên biển đã được giới nghiên cứu lưu tâm trong gần một thế kỷ qua

Đánh giá bước chuyển biến thứ nhất này của nghề gốm, không thể phủ nhận những tác động mang tính khách quan, thông qua sự du nhập kỹ thuật của người Trung Quốc tới phương Nam Song, nếu như sự du nhập ấy vào một mảnh đất không

có truyền thống, con người ở đó không có bản lĩnh, thì hệ quả tất yếu, nó có thể giải thể và làm triệt tiêu những yếu tố bản địa, tạo nên một giá trị mới mẻ hoàn toàn Nghề làm gốm của người Lạc Việt, giống như các giá trị văn hoá, xã hội, đời sống đã không chịu chung số phận bị đồng hoá như đa số các nhóm tộc Việt phương Nam khác, vì đã biết tiếp thu có chọn lọc những yếu tố bên ngoài và kết hợp sáng tạo với những thành

tố bản địa, làm cơ sở cho sự tồn tại văn hóa Việt trải qua suốt nghìn năm Bắc thuộc, để rồi toả sáng khi giành được độc lập, tự chủ

Gốm Việt, từ Đông Sơn, ngược lên nối với Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Hoa Lộc, Thiệu Dương, Gò Mun… phát triển mở đầu thời kỳ văn hoá đồng bằng lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả rất cụ thể về kiểu dáng, hoa văn với các mã văn hóa riêng

đã góp phần quan trọng vào quá trình tạo dựng văn hóa, văn minh, hình thành nhà nước Văn Lang – nhà nước đầu tiên của người Việt cổ

Trang 26

Trên lưu vực sông Hồng, văn hóa Tiền Đông Sơn với 3 giai đoạn phát triển liên tục là văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu và văn hóa Gò Mun được biểu hiện khá rõ trên trên các kiểu dáng và hoa văn đồ gốm Có thể nói đây là giai đoạn đỉnh cao của gốm Việt nguyên thủy thời tiền sử

Gốm Phùng Nguyên ra đời khoảng 2 000 năm tr.CN với các di chỉ trải trên một vùng rộng lớn thuộc lưu vực sông Hồng, từ Tràng Kênh - Hải Phòng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh đã đạt trình độ khá phát triển, với số lượng lớn các hiện vật được tìm thấy Cốt gốm sử dụng đất sét ít tạp chất, pha thêm cát nhỏ, giúp cho nguyên liệu dẻo và làm tăng độ chịu lửa đến khoảng 7000C, nên kết chắc Các sản phẩm được tạo hình bằng bàn xoay kết hợp với phương pháp bàn đập hòn kê và nặn bằng tay nên

có kiểu dáng, chủng loại phong phú: Nồi nấu có đủ loại to nhỏ, nông sâu, miệng loe, miệng khum, miệng thành dày thành mỏng, bụng tròn bụng dẹt Bát có miệng loe rộng, chân đế cao hoặc thấp, có những kiểu chân cao dạng mâm bồng Bình có loại miệng loe như hình ống nhổ Đặc biệt có chiếc bình miệng vuông đáy tròn khá độc đáo chưa đâu có Bên cạnh đồ gốm gia dụng có công năng rõ ràng, còn xuất hiện một loại đồ chưa xác định được tên gọi và công dụng, tạm thời gọi là chạc gốm Chạc gốm gồm phần hình phễu ở trên nối với phần chân đế đặt đứng được và một nhánh phụ ở cao hơn, song cũng có chạc gốm chân đế được uốn cong không đặt đứng được, và nhánh phụ có cái được uốn cong tròn như một cái quai Nếu đặt úp các chạc gốm này,

có cảm giác giống một bộ đồ uống rượu thời nguyên thủy

Gốm Phùng Nguyên có hoa văn trang trí được khắc vạch theo băng dải, kết hợp in chấm, in lăn với kết cấu nhiều họa tiết uốn lượn lặp đi lặp lại, dấu đệm nằm trong các phần trống tạo ra những phức hợp giữ được cân đối, hài hoà Họa tiết hình chữ S cong đều sắp xếp thành từng lớp, từng dải, có nhịp điệu theo chiều ngang trên thân gốm Chữ S được thể hiện với nhiều biến thể, tất cả nằm ngang, móc và nối liền nhau chạy quanh đồ đựng, những vệt in chấm đều đặn ở bên trong các khung đệm làm cho đường nét hoa văn được nổi bật lên, bố cục tuân thủ theo nguyên tắc đối xứng gương và đối xứng trục bậc 2 Kiểu trang trí theo hình tam giác đối xứng hoặc ngược chiều nhau cũng rất phổ biến Trong văn hóa Phùng Nguyên, gốm đã trở thành một đối tượng thể hiện nghệ thuật hết sức quan trọng, sau này trên trống đồng vẫn thấy các mô-típ chữ S

Trang 27

và tam giác, chứng tỏ thẩm mỹ quan Đông Sơn có thừa kế truyền thống Phùng Nguyên

Người Hoa Lộc (Thanh Hoá) giai đoạn hậu kỳ đồ đá mới và sơ kỳ kim khí

có nghề làm gốm phát triển với trình độ trội hơn các nhóm di tích cùng thời Chất liệu làm gốm là loại đất sét tốt pha cát Gốm được nung ở nhiệt độ cao khá cao, số lượng sản xuất lớn, phong phú về loại hình Trong cách tạo dáng, bằng những đường nét độc đáo, sự cân xứng đều đặn, cư dân Hoa Lộc đã sáng tạo ra những loại bát miệng vuông, bình hình mai rùa, bình có miệng nhiều cạnh và hàng loạt những bình có hình dáng phức tạp khác Trang trí trên gốm Hoa Lộc là những nét khắc hình học thể hiện cái đẹp mang tính khái quát và những quy luật nhất định của thiên nhiên và đời sống xung quanh, biểu hiện những quan sát tinh tế Những họa tiết không phải chỉ đẹp mà còn mang những ý nghĩa nhất định với nhiều nội dung đầy bí ẩn Người Hoa Lộc đã tạo nên tiền đề cho một thứ “chữ viết” đơn giản và thô sơ nhất của người Việt cổ dưới dạng những hoa văn kỷ hà với nhiều mô típ và đồ án được tạo ra bằng cách khắc vạch,

in, ấn lõm, đập, trổ thủng, khắc chìm, đắp nổi, các hình bọ gậy, giọt nước, vẩy cá, khuông nhạc, cánh nhạn, con tôm, vòng tròn chấm giữa, chữ S nằm ngang, bông lúa, sóng nước…Đặc biệt, họ đã biết chế tạo ra những con dấu bằng đất nung để in dập hoa văn Những dấu in này bề mặt thường phẳng hoặc hơi cong lồi, có núm để cầm, khắc sâu các loại hình hoa văn mang những yếu tố trang trí khác nhau Trong lịch sử phát triển của người Việt cổ, đồ gốm không chỉ là vật dụng trong cuộc sống thường nhật

mà chúng còn được sử dụng trong tế lễ và cả trong việc đưa tiễn người chết sang thế giới bên kia

Bước sang giai đoạn văn hóa Đồng Đậu, cốt gốm cứng và thành dày hơn, phần lớn có màu xám và kích thước đồ gốm lớn hơn các thời kỳ trước Hoa văn mang phong cách rất riêng, hầu như không còn loại hoa văn khắc vạch kết hợp chấm giải tạo thành các đồ án hình chữ S, hình tam giác biến thể đối xứng nữa, mà thay vào đó là văn kiểu khuông nhạc song song trái chiều hoặc cắt nhau đều đặn hoặc văn khuông nhạc xòe ra kiểu nan quạt hay bu gà, văn hình sóng nước uốn khúc liên tục chải thành các đồ án từ đơn giản đến phức tạp Văn thừng bện cũng là loại thường gặp, có loại bện tương đối chặt, có loại bện không chặt, giữa các đường xoắn có các lỗ hổng to nhỏ

Trang 28

khác nhau Đồ gốm giai đoạn văn hóa Đồng Đậu có bước tiến khá rõ về chất lượng và công nghệ sản xuất, song về góc độ mỹ thuật, thì kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí, gốm thời này không đẹp bằng gốm Phùng Nguyên Đây không phải là bước thụt lùi trong kỹ thuật sản xuất gốm, mà là phản ảnh xu hướng thực dụng hóa đối với đồ gốm, lấy giá trị sử dụng làm mục tiêu chính Đến các giai đoạn sau xu hướng này càng thể hiện rõ, nhất là trong văn hóa Đông Sơn

Tiếp theo giai đoạn văn hóa Đồng Đậu là giai đoạn văn hóa Gò Mun Gốm thời này có bước tiến đáng kể nữa về kỹ thuật, tuy vẫn là gốm thô, nhưng được nung với nhiệt độ cao khoảng 800 – 9000

C, gốm cứng gần như sành, gõ vào tiếng kêu đanh Gốm có thành dày vừa phải, màu xám, sắc độ đồng đều, kiểu dáng có phần thanh mảnh hơn gốm Đồng Đậu Nếu như từ Phùng Nguyên chuyển qua giai đoạn Đồng Đậu về mặt tạo hình không có biến đổi gì lớn, thì từ Đồng Đậu qua Gò Mun có bước tiến bộ trong khâu tạo hình Người thợ gốm ở đây đã sử dụng bàn xoay ở một trình độ thuần thục để làm ra những nồi, vò có độ gãy góc dứt khoát và sắc nét ở phần miệng

và vai, hay những đồ đựng lớn có thân tròn hình cầu cân đối đẹp mắt Về loại hình, vẫn là đồ đun nấu, đồ đựng nhưng loại nào cũng có những biến đổi trong chi tiết, tạo nên đặc trưng riêng của gốm Gò Mun Đặc điểm nổi bật nhất của gốm Gò Mun là sự phổ biến của gốm miệng loe với những mức độ khác nhau, từ loe cong, loe xiên, loe lõm lòng máng đến loe ngang, loe gãy Bản miệng cũng có to nhỏ rộng hẹp khác nhau, trên mặt trang trí các vòng hoa văn khắc vạch, chấm giải, cuống rạ Tuy số lượng không nhiều, song cũng đáng chú ý là đến giai đoạn này xuất hiện loại vò có vai gãy, đánh dấu một bước tiến trong khâu tạo hình Bình bát thường gắn chắp chân đế có hình vành khăn và choãi thấp tương đối xiên Hoa văn gốm Gò Mun vẫn được tạo nên bằng các phương pháp truyền thống như dập lăn, in ấn, đắp nổi và khắc vạch, nhưng phong cách và vị trí cũng có những điểm khác trước Văn thừng tương đối thô, văn khắc vạch có phần giản đơn, mang đậm nét kỷ hà Nhiều đồ án chỉ là sự kết hợp của những đoạn thẳng, vạch ngắn, vòng tròn cuống rạ, đường gấp khúc, chấm giải, hình chữ V, mang tính chất hình học Hoa văn chủ yếu trang trí trên mặt bản miệng Gốm các thời kỳ văn hóa Tiền Đông Sơn lưu vực sông Hồng tuy có 3 - 4 giai đoạn phát triển với phong cách riêng, song vẫn cho thấy nhiều điểm chung: Đó là sự

Trang 29

phong phú của gốm văn thừng trong giai đoạn sớm cũng như muộn và văn thừng ngày càng thô hơn, chất lượng gốm ngày càng cứng hơn, gốm xám ngày càng chiếm số lượng lớn, gốm mịn tăng dần Từ giai đoạn Phùng Nguyên, hoa văn trang trí gốm ngày càng giảm bớt về số lượng và đồ án, kiểu dáng các loại chân chạc, chân đế bình, bát có

xu hướng thấp dần Bên cạnh đồ gốm thực dụng bắt đầu xuất hiện một số tượng động vật kích thước nhỏ, làm bằng đất nung cùng phong cách: nặn theo khối lớn, bỏ qua chi tiết, tư thế các con vật rất sinh động (tượng con bò đang ở tư thế tấn công, tượng gà trống có mào, đầu ngẩng cao, tượng gà mái đuôi vễnh cổ ngắn chân thấp v.v ) Đây là những sản phẩm tạo hình tượng đất nung vào loại sớm nhất của gốm Việt

Gốm thời kỳ văn hóa Đông Sơn là dòng chảy liên tục, được phát triển kế tiếp các thời kỳ văn hóa trước đó, mang đậm phong cách Văn Lang, Âu Lạc và đã đạt đến chất lượng khá cao, được dùng nhiều trong cung đình Nam Việt cổ

Trên lưu vực sông Hồng, gốm thời kỳ văn hóa Đông Sơn so với các giai đoạn trước, có sự tiến bộ đáng kể về kỹ thuật chế tác cũng như chất liệu Gốm được làm từ loại đất sét tốt, ít tạp chất hữu cơ và qua sàng lọc nên gốm tương đối mịn, lượng cát pha ít và kích thước hạt cát nhỏ, nên mặt gốm mịn trơn nhẵn Gốm nung ở nhiệt độ cao khoảng trên 9000C nên cứng, chắc đanh có màu trắng mốc Các sản phẩm thường

có kích thước nhỏ, mỏng, có mầu vàng nhạt, trắng ngà hoặc xám nhạt Hoa văn trang trí đơn giản với các hình chữ S, hình thoi, phên đan, chim, nước, cá, vòng tròn tiếp tuyến kiểu trống đồng Hoa văn điển hình là văn thừng thô in dập cắt chéo nhau thành hình mắt lưới ô trám, thường trang trí trên nồi, niêu, bình cùng vài đường chỉ chìm vòng quanh cổ thân bình, bát,v.v Nhìn chung gốm thời kỳ văn hóa Đông Sơn

có phần đơn điệu trong kiểu dáng so với các giai đoạn trước Loại hình chủ yếu là đồ nấu và đồ đựng sử dụng hàng ngày, phổ biến là loại nồi vò miệng loe khum lòng máng, cổ ngắn, tạo sự phân biệt rõ giữa phần thân và miệng Tuy cùng thuộc loại miệng loe khum lòng máng, nhưng độ cong, độ dài thành miệng và cả hình dáng mép miệng cũng rất đa dạng Chân đế phần lớn thuộc loại chân đế thấp hình vành khăn hoặc hơi choãi

Gốm Việt thời kỳ Bắc thuộc, kiếu dáng và hoa văn trang trí cũng như màu men không hoàn toàn giống với đồ gốm thời Hán, Lục Triều và Tùy Đường bên Trung Hoa

Trang 30

với 2 dòng gốm song song phát triển và có ảnh hưởng qua lại suốt trên một ngàn năm Điều này phản ảnh sức sức sống của truyền thống gốm dân tộc đã được hình thành từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn luôn tìm cách chống lại sự bành trướng của văn hóa phương Bắc:

- Một là dòng gốm thô tiếp nối truyền thống gốm văn hóa Đông Sơn, cho đến nay phát hiện được chưa nhiều nên ít được mọi người chú ý Dù bị nhà Hán xâm lược, thống trị, văn hóa Đông Sơn vẫn tồn tại và phát triển theo một hướng mới, nhất là đồ gốm, một loại hiện vật mang đậm tính chất dân gian Trong một số di chỉ cư trú hay

mộ táng văn hóa Đông Sơn giai đoạn muộn thỉnh thoảng vẫn bắt gặp một số vò gốm thô màu hồng nhạt, mà kiểu dáng và hoa văn trang trí rất Đông Sơn là các loại hình đồ gốm như: âu, bát, bình, ấm, chậu, chân đèn, chén hai tai (nhữ bôi), cốc đốt trầm, nồi, đĩa chân đèn

Về chất liệu, gốm thô thời Bắc thuộc, tuy vẫn pha thêm cát mịn nhưng với số lượng rất ít, nên các nhà nghiên cứu gọi loại gốm này là gốm thô mịn, có nghĩa là nó vừa thô vừa mịn Về trang trí, chủ yếu vẫn là văn thừng và vài đường văn khắc vạch, đơn giản hơn nhiều so với gốm văn hóa Đông Sơn Về màu sắc, gốm thời Bắc thuộc thường có màu hồng nhạt và một số có màu đỏ gạch Về chủng loại, gồm các loại đồ đun nấu và đồ đựng thường dùng hàng ngày như nồi, niêu, vò, bình, bát,v.v với các kiểu miệng loe, chân đế choãi hình vành khăn cao tháp to nhỏ khác nhau

Đáng chú ý là đồ gốm tùy táng trong các mộ gạch kiểu Hán có vòm cuốn, những

đồ gốm có mặt ở đây số lượng dù không nhiều, nhưng kiểu dáng và hoa văn trang trí khá độc đáo Các sản phẩm phần lớn được tạo thành với nguyên tắc cấu trúc: “Thể chính“ là phần lớn nhất (phần thân); “Thể phụ” là các phần nhỏ hơn (miệng và đế), rất

ít dùng; “ Thể phụ thêm” là các chi tiết đơn thuần để trang trí Tiêu chí tạo dáng bám sát yêu cầu thực dụng, và từ thực dụng mà có được hình dáng đa dạng Trang trí chủ yếu sữ dụng các hoa văn hình học, lấy nét chìm làm phương tiện thể hiện chính Các hoa văn sắp xếp thành những dải đồ án theo lối nhắc lại đối đầu hay xen kẽ các mô típ tạo nên nhịp điệu riêng của từng đồ án Các đồ án này lại được trang trí trên thân sản phẩm thành một vòng tròn nối liền nhau

Trang 31

Hai chiếc ấm đất có nắp đậy, được các nhà khảo cổ phát hiện trong một ngôi mộ gạch ở vùng Thủy Nguyên (Hải Phòng) thuộc dòng gốm thô mịn màu hồng nhạt, thành mỏng, miệng khum, vai xuôi rộng, bụng nở tròn dẹt, đáy bằng Một chiếc trên vai gắn một đôi đầu trâu, đáy có ba chân thấp, thân không trang trí hoa văn Chiếc kia, không có chân, trên vai gắn một đôi quai dọc, toàn thân trang trí các vành kiểu chấm răng lược và văn chải dọc Đây là hai chiếc ấm khá đẹp về kiểu dáng cũng như hoa văn Đáng chú ý là trong ngôi mộ Nam Việt Vương, cháu Triệu Đà ở Quảng Châu bên Trung Quôc cũng phát hiện được hai chiếc ấm gốm về kiểu dáng và phong cách hoa văn khá gần gũi vớí hai chiếc ấm này Rất có thể hai chiếc ấm trong mộ Nam Việt Vương cũng là ấm của người Việt

- Dòng gốm mang phong cách Trung Hoa là những đồ gốm cao cấp được sản xuất phục vụ cho cuộc sống của tầng lớp quan lại người Hán sống trên đất Việt So với gốm bản địa thì dòng gốm này được sản xuất với công nghệ tiến bộ hơn Chúng được làm từ loại đất sét trắng, sàng lọc tạp chất kỹ càng nên cốt gốm rất mịn Tạo hình trên bàn xoay nhanh, nên sản phẩm có độ dày mỏng đều đặn, kiểu dáng tròn trặn và được nung trong lò gần hình trỏn có ống khói nhỏ, gọi là lò “màn thầu”, độ nung cao nên gốm cứng, gõ vào tiếng nghe đanh Gốm trang trí đơn giản, thường chỉ sử dụng vài đường chỉ chìm chạy quanh thân hoặc vài đường văn sóng nước Hoa văn đặc trưng cho loại gốm này là văn in hình học như văn in ô vuông, văn in ô trám lồng, văn in chữ mễ, văn in hình sống lá trong đó đẹp nhất là văn in ô vuông Đáng chú ý và cũng

là tiêu biểu cho sự tiến bộ của công nghệ chế tác đồ gốm là kỹ thuật làm men và phủ men Có thể nói, đây là loại gốm men ra đời đầu tiên trên đất nước ta Những đồ gốm này được phủ men màu trắng ngà và đọng men màu xanh lục, về kiểu dáng cũng như màu sắc men giống với đồ gốm thời Đông Hán phỏng đồ đồng cùng thời ở Trung Quốc Một số để mộc trơn, không trang trí gì rồi tráng men, số khác vừa trang trí hoa văn vừa tráng men, trên khá nhiều đồ gốm thuộc dòng này có vết men đọng Những vết đọng đó có cái là do pha lê hóa, có cái là do kỹ thuật tráng men còn thô vụng

Về loại hình và kiểu dáng khá phong phú: Bình kiểu con tiện, miệng rộng kiểu miệng đấu, cổ cao, vai xuôi, bụng tròn giữa có một vành gờ nổi cao và cán tay cầm ngang, có loại còn có một vòi dài hình đầu gà, ba chân đế dẹt và choãi, gọi là “hồ”

Trang 32

Bát sâu lòng có chân đế choãi cao, thân có vài đường chỉ chìm Chén có dáng hình bầu dục, hai tai dài hai bên, nông lòng Số lượng nhiều nhất là vò miệng loe, bụng thon cong đều xuống, đáy bằng, trang trí văn in ô vuông hoặc trám lồng, chữ mễ với đủ loại kích thước, có chiếc cao tới 60cm, có chiếc chỉ cao 20cm

Trước đây, dựa vào đặc điểm chất liệu, màu men cũng như kiểu dáng, hoa văn và xuất xứ gốm thời Bắc thuộc đều phát hiện được trong các mộ gạch xây vòm cuốn kiểu Hán nên mọi người nghĩ là chúng được sản xuất từ bên Trung Quốc, được mang sang Việt Nam để quan lại Trung Quốc hoặc quan lại Việt Nam làm đồ tùy táng sau khi chết Nhưng những phát hiện tại khá nhiều di chỉ lò gốm ở Cổ Loa (Hà Nội ), Đại Lải, Luy Lâu (Bắc Ninh), Thanh Lãng, Đồng Đậu, Lũng Hòa (Vĩnh Phúc), Tam Thọ (Thanh Hóa) những mảnh gốm phế liệu có niên đại từ thời Đông Hán, Lục Triều đến Tùy Đường, các nhà nghiên cứu gốm cho rằng những đồ gốm này được sản xuất ngay tại các lò gốm xây dựng trên đất Việt Nam

Sự có mặt của hai dòng gốm trên cho thấy sức sống mạnh mẽ của truyền thống gốm dân tộc đã được hình thành từ thời dựng nước đủ sức chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang, đồng thời cũng chi thấy văn hóa gốm Việt Nam không đóng kín,

mà luôn mở rộng tiếp thu những nhân tố tiến bộ để phát triển, tạo điều kiện cho sự bùng nổ mạnh mẽ vào thời kỳ các triều đại phong kiến độc lập tự chủ Việt Nam

(Xem Phụ lục 1 Hình 1,2,3,4,5,6,7)

1.2.2 Gốm Việt thời kỳ các triều đại quân chủ phong kiến

Gốm Việt phát triển mạnh mẽ, đa dạng và vô cùng phong phú khi bước vào thời kỳ các triều đại quân chủ phong kiến độc lập, tự chủ Những người thợ gốm Việt đã sáng tạo nên những đồ gốm với dáng kiểu, sắc men và hoa văn, thể hiện một tinh thần khoáng đạt và phong phú với bản sắc rất riêng không thể thấy được ở văn hoá Trung Hoa vốn nhiều khuôn khổ gò bó

Đây là bước chuyển biến thứ hai trong lịch sử gốm Việt, bắt đầu khởi sắc từ thời Đinh – Tiền Lê, thực sự quyết liệt vào thời Lý – Trần và thăng hoa vào thời Lê Sơ – Mạc – Lê Trung Hưng Đây là thời kỳ chuyển biến được các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá mệnh danh là “thời kỳ phục hưng Văn minh Đại Việt” Sự chuyển biến lớn

Trang 33

lao ở giai đoạn này, từ kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng, khá rõ rệt, nên đã có rất nhiều sự đổi thay của nghề gốm, do tác động của những chuyển biến kinh tế – xã hội giai đoạn này đưa lại Như vậy, nếu ở giai đoạn trước, bước chuyển của nghề gốm được nhìn nhận như là một sự tác động khách quan là chủ yếu, thì ở giai đoạn này, lại

là những yếu tố chủ quan quyết định

Gốm thời Đinh - Tiền Lê, giai đoạn 938 - 1009

Sau khi Ngô Quyền dựng lại nền độc lập, các triều đại Đinh - Tiền Lê của cư dân Việt cổ Mán Bạc tiếp nối bắt đầu mở mang đất nước, chọn Hoa Lư (Ninh Bình) làm kinh đô, kiến trúc xây dựng rất phát triển và gốm bắt đầu có một vai trò lớn, khởi đầu cho một nền tảng mỹ thuật Việt Đến nay, qua các khai quật khảo cổ đã phát hiện ở độ sâu 1,15m nhiều dấu vết các tường bao, các sàn nền lát gạch và hệ thống móng của 9 cung điện, nhiều dấu vết các khu lò gốm lớn, rộng hàng trăm mét vuông tại các vùng đất thuộc cố đô Hoa Lư xưa Đồ gốm đất nung phát lộ với hình thức rất đa dạng: Từ gạch để xây thành kích thước lớn 47cm x 47cm khắc chìm hoa sen tám cánh, phù điêu đầu thú, cho đến các sản phẩm dùng để trang trí cung điện như các loại gạch hoa lát nền, ngói mũi sen lợp mái, ống dẫn nước ngầm, mô hình tháp, các tượng uyên ương,

sư tử Nhiều hình thức gốm ở cố đô Hoa Lư còn được tiếp tục sản xuất và sử dụng ở kinh đô Thăng Long thời Lý - Trần, đã được phát hiện trong các khai quật khảo cổ gần đây

Gốm thời Lý - Trần, giai đoạn thế kỷ X - XIV

Khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La, đổi tên thành Thăng Long, ra sức xây dựng thành trì, cung điện làm nơi ở mới, tôn sùng Phật giáo làm Quốc giáo thì nhu cầu cung ứng rất nhiều các chủng loại đồ gốm bắt đầu diễn ra Theo gót dời đô, những

cơ sở sản xuất gốm ở khắp nơi hoặc dọn về gần kinh thành, hoặc tăng mức sản xuất Với tinh thần tự hào dân tộc mạnh mẽ cộng với sự ảnh hưởng to lớn của Phật giáo độc tôn, Thăng Long nhanh chóng trở thành trung tâm đô hội bốn phương tụ hợp Kinh thành được mở rộng xây dựng đại quy mô với hàng trăm cung điện, đền chùa, lầu các, dinh thự to lớn và lộng lẫy Những lò gốm có điều kiện thuận lợi phát triển mạnh mẽ,

Trang 34

bừng nở rực rỡ với sự ra đời các chủng loại gốm men Việt có chất lượng cao trong quyết tâm phục hưng văn hóa dân tộc, đưa gốm Việt lên một tầm cao mới

Trong khung cảnh hứng khởi của nền tự chủ, từ sự khởi đầu đơn giản với các món

đồ còn đôi chút ảnh hưởng phong cách gốm nhà Tống, gốm thời Lý vươn mình thăng hoa, bừng bừng sức sống mãnh liệt với những sáng tạo đầy tài hoa của những người thợ Đại Việt, mà ngày nay chúng ta còn như nhìn thấy sự phóng khoáng của bàn tay nghệ sĩ trên bàn xoay, hay trên nét vẽ nhanh, thoát như gió thổi, nước trôi với các sắc men thấm đẫm hồn cốt dân tộc Trong nhiều hiện vật gốm thời Lý được khai quật tại Hoàng Thành Thăng Long, có khuôn đúc dùng trong sản xuất đồ gốm sứ và phế phẩm kết dính thành từng chồng, chứng tỏ nơi đây đã có những lò sản xuất gốm lớn từng hoạt động Nhiều hiện vật gốm còn ghi rõ niên hiệu chế tạo như: “Đại Việt quốc quân thành chuyên” hay “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên” Các nghệ nhân gốm thời Lý đã phát huy sự sáng tạo, thúc đẩy nghề làm gốm đạt tới trình độ khéo léo

và tài nghệ cao cả về kỹ thuật lẫn nghệ thuật Kỹ thuật xử lý men cho thấy thợ gốm Việt đã hoàn toàn làm chủ, biết cách biến đổi chất men pha theo ý muốn của mình Những dấu con kê và đôi khi thấy có vành men cạo trên đồ gốm là phát kiến kỹ thuật mới dùng để tránh cho các sản phẩm không bị dính vào nhau trong lò nung Những trung tâm sản xuất gốm thời Lý thường khôn khéo tìm cách xây dựng ở nơi thị dân đô hội, hay dọc ven sông nơi có sẵn nguyên liệu sản xuất, lại thuận tiện chuyên chở tiêu thụ hàng hóa như Thăng Long (cùng một số vùng phụ cận như Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng) và Thanh Hoá

Thời Lý được coi là thời kỳ mở màn cho sự “lên ngôi” của nghệ thuật gốm men Đại Việt, với các dòng men tiêu biểu:

Đồ Lý men ngọc (celadon): Gốm men ngọc thời Lý chất đất được lọc kỹ, xương gốm mịn chắc và nặng được phủ lớp men dày có màu xanh dịu, trong và bóng tạo nên nhiều sắc độ long lanh giống như màu ngọc bích (nên gọi là men ngọc) Đồ Lý men ngọc chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo nên sử dụng nhiều đề tài trang trí với những

mô thức cánh sen, hoa cúc Hoa văn được khắc chìm sâu vào cốt gốm (ám hoạ chìm), tráng men phủ trùm lên, rồi mới đem nung Đôi khi có ảnh hưởng hoa văn đồ gốm nhà Tống nhưng đã Việt hóa (ám họa hình ảnh vài ba em bé trai chơi trong một vườn hoa,

Trang 35

ám họa hình hai lực sĩ đấu vật…) Đồ gốm gia dụng, ngoài những bát, chén và đĩa còn thấy có nhiều tước (bôi), bình trà, nậm rượu Có những đĩa men ngọc kích thước lớn (đường kính 35 - 40cm), chạm nổi hình hai con cá chép đang bơi Có những nậm rượu hình quả bầu, kích thước nhỏ (cao 11 - 12cm), dùng chứa rượu trong thờ cúng Gốm men ngọc thời Lý có cốt và nước men khá dầy, sử dụng nguyên liệu đất sét trắng pha cát, cầm trên tay thấy nặng, âm thanh tiếng gõ đục độ ngân ngắn và nhỏ (Đồ men ngọc thời Tống men mỏng, nhẹ, tiếng vang trong và ngân rất dài vì làm bằng đất sét trắng pha tràng thạch)

Đồ Lý men trắng: Được sản xuất nhiều và phổ biến là đồ gốm gia dụng như các loại ấm, bát, bình, chén, đĩa, hũ, liễn và đồ gốm dùng trong trang trí kiến trúc như gạch tháp men trắng, khắc nổi hình vũ nữ Kiểu dáng bình, ấm rất đẹp, thường cao khoảng 16 – 22cm, tạo hình quả dưa, quả bầu, hình con tôm càng cưỡi trên lưng cá chép…các quai cầm chỉ mang tính trang trí, không thực dụng Bát, chén cùng các bình, ấm có màu men trắng ngà óng mượt hay trắng thoáng ẩn sắc xanh dương, đôi khi

có phác họa một vài cánh hoa mầu xám nhạt thanh nhã Có loại chén nhỏ, lòng chén tráng men trắng, bên ngoài lại tráng men nâu Có những tô men trắng ám họa hình ảnh của văn hóa Ả Rập, với trăng lưỡi liềm và các vì sao cùng với 2 đoản đao bắt chéo…Có những bát, trong lòng toàn là biểu tượng Phật giáo như chữ Vạn, bát bửu, hay những chén, đĩa trong lòng là một bông hoa sen, hoa cúc đang nở Có những lu nhỏ cao 25cm, đường kính phần thân rộng 18cm, mà nắp lu là cả một bông sen và miệng lu cũng chạm nổi những cánh sen đang nở…Có tô đường kính 12cm, đáy tô là một bông cúc nở, quanh lòng tô là những nhành lá và hoa cúc

Đồ Lý men nâu: Xuất hiện như một dấu ấn đặc biệt của các loại đồ gốm men thời

Lý Dù gọi chung là gốm hoa nâu, nhưng ở đây mầu nâu có rất nhiều sắc độ, từ nâu nhạt đến nâu đậm gần như là đen Ngay trên cùng một món, men nâu cũng pha nhiều sắc Có những bát, chén men nâu có gờ miệng không tròn nhẵn mà lại gẫy cạnh như đầu cánh hoa cúc, trong lòng bát là những ám họa hoa cúc khác, sử dụng làm chén thờ chứ không phải để dùng trong đời sống hàng ngày Bát thường có đường kính miệng lớn bằng 3 lần đường kính trôn bát (miệng 18cm, trôn 6cm) Có những thứ bát men nâu da báo, nước men nâu khi ướt được nhỏ lên vài giọt nước đây đó, làm cho men

Trang 36

chảy thành những đốm loang lổ như da con báo Bình, ấm men nâu rất đặc sắc, có nhiều bình men nhoè (sau khi tráng xong men nâu, ngươì ta tưới lên bình một sắc men nâu đậm hơn, rồi để cho tự chảy loang lổ, hoặc sau khi tráng men xong họ tạt nước lên cho men chảy nhoè) Nước men trên bát, chén men nâu mỏng, nước men trên bình men nâu dầy, bóng sáng mịn, độ dầy mỏng của nước men trên bình cũng không đều, tạo ra nhiều sắc đậm nhạt khác nhau Có nhiều kiểu dáng nậm rượu trang trí hình chân chim (do bút tre vạch lên nên men sau khi tráng), nhiều bát trang trí hình chạm nổi từ khuôn đúc ám họa biểu tượng nhà Phật như hoa cúc, hoa sen…bình, ấm hình dạng thay đổi từ tròn sang bầu hay hình con nghê…Với một phong cách riêng biệt, gốm hoa nâu giai đoạn này mang đậm chất Thiền qua cách biểu hiện màu sắc và hoa văn, chịu ảnh hưởng rõ nét của thời đại mà Phật giáo độc tôn Và, cũng qua những mảng hoa văn trang trí sinh động, mang đậm chất tả thực, có thể nhận thấy những sản phẩm ấy ra đời trong cảnh đất nước thanh bình, thịnh vượng Gốm hoa nâu thời Lý thực sự có ý nghĩa tiêu biểu cho một bước chuyển mang tính cách mạng cả về công nghệ, kỹ thuật, loại hình kiểu dáng và hoa văn trang trí trong lịch sử gốm Việt

Đồ Lý men lục: Dòng gốm men xanh lục rất biến hoá với các mầu men xanh cánh trả trong biếc, màu xanh hơi ngả vàng hoặc biếc xanh rất độc đáo nước men mỏng,

ám họa nổi Bình men lục rất đẹp với hoa văn nhành rêu, vòi rót hình đầu makara Bát, đĩa, bình, ấm men lục cũng có nhiều sắc, hoặc xanh biếc, hoặc xanh rêu, hoa văn trên bát đĩa là biểu tượng của nhà Phật như hoa cúc, hoa sen hay hình cá chép theo kiểu song ngư Đĩa thường có đường kính khoảng từ 14 - 20cm, chén có đường kính 10 - 14cm Gốm men xanh lục thẫm tìm thấy ở Hoàng Thành – Thăng Long điển hình là nắp một ang tròn đường kính 18,5cm trang trí đặc sắc: một hình rồng lớn vờn ngọc ở giữa tâm, uốn lượn từ to đến nhỏ 18 khúc (kiểu thắt túi), phụ hoạ là các dải mây, hai đường tròn tiếp tuyến bao quanh, vòng ngoài trang trí đường diềm nổi hình sóng nở hoa đuổi nhau Đường tiếp tuyến phía ngoài là những chấm tròn nổi làm cho bố cục trang trí nắp hộp thêm hài hoà Men xanh lục phủ lên hình khối trang trí ở độ nông, sâu khác nhau tạo nhiều độ đậm nhạt, sắc men ánh lên sinh động, quyến rũ

Gốm đất nung thời Lý phục vụ cho xây dựng các công trình kiến trúc rất phát triển về số lượng cực lớn, vô cùng phong phú về kiểu loại với nhiều đề tài trang trí độc

Trang 37

đáo, có phần ảnh hưởng nhiều của văn hóa Champa như: Hình tượng người có vũ nữ; Hình tượng linh thú có Rồng, Phượng; Hình tượng các con vật có cá, chim, hổ; Hình tượng hoa lá có hoa sen, hoa cúc, hoa phù dung, lá đề; Hình tượng sóng nước có sóng hình sin hay sóng ba lớp chồng nhau như ba ngọn núi (còn gọi là sóng tam sơn) Tất

cả đều được đơn giản hoá, đường nét giản dị mộc mạc mà sinh động, chất đất thô, các hình tượng được khắc chìm kết hợp đắp nổi Các loại hình sản phẩm có: Gạch xây, ngói lợp, ngói bò ốp trên bờ nóc, ngói đầu mái, hoặc gạch dùng để lát nền, trang trí bề mặt tường trong các kiến trúc cung điện, chùa tháp với hình dáng kích thước khác nhau, hoa văn trang trí là những hình tượng khắc chìm hoặc đắp nổi trên bề mặt Trên mặt tròn đầu mũi ngói ống có ấn nổi hình hoa sen, hoa cúc, hoa thị, có khi hình mặt con thú, hổ phù Những trang trí trên mặt gạch áp dụng lối in khuôn dập lên mặt gạch khi đất còn mềm trước khi để khô và nung Thường có các đường chỉ gờ viền nổi xung quanh các bố cục trang trí có hình vuông, chữ nhật, hình tròn, hình lá đề, hình đa giác Bên trong các hình đó có các hình hoa sen, hoa cúc dây, hoa thị hay hình Rồng, Phượng uốn lượn được sắp xếp theo nguyên tắc bố cục trang trí đăng đối Nhiều sản phẩm gốm đất nung có kích thước to lớn và rộng, phải sử dụng thủ pháp gắn ghép nhiều mảng nhỏ với nhau, dùng để gắn trang trí trên bờ nóc, diềm mái, đầu đao của kiến trúc và được đắp, nặn, chạm trổ các hình chim Phượng, hình Rồng uốn mình chầu ngọc, đầu Rồng có mào bờm, chim Phượng mỏ dài quặp lại, có mào, hai cánh uốn cong, đáp ứng một cách linh hoạt tính chất phức tạp và đa dạng của nhiều loại công trình kiến trúc khác nhau Gốm đất nung thời Lý có độ nung già, để mộc có màu

đỏ gạch, hoặc đỏ nghệ, tuy to nặng nhưng khi kết hợp gắn kết hài hoà vào kiến trúc, chúng góp phần không nhỏ tôn vinh các nét đẹp độc đáo của những công trình kiến trúc kinh đô nhà Lý được xây dựng rất quy mô và hoành tráng

Gốm Đại Việt thời Trần do phát triển kế thừa trực tiếp từ gốm thời Lý, nên cơ bản phong cách giống nhau cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí Cũng chính vì đặc thù này nên việc phân tách giữa gốm thời Lý và gốm thời Trần là điều không phải

dễ dàng Tuy nhiên, dựa vào một số kết quả nghiên cứu kỹ thuật tạo chân đế, bước đầu

đã có thể phân biệt được sự khác nhau giữa gốm Lý và gốm Trần Nhìn chung, kỹ thuật tạo chân đế của gốm thời Trần thường không được làm kỹ như gốm thời Lý Về

Trang 38

hoa văn trang trí cũng vậy, mặc dù có cách bố cục hoa văn như thời Lý, nhưng về chi tiết gốm thời Trần đơn giản hơn, không tinh xảo và cầu kỳ như gốm thời Lý Đặc biệt đối với gốm men độc sắc, bên cạnh loại gốm trang trííam họa hoa văn khắc chìm và nồi, thời Trần còn phổ biến loại gốm có hoa văn in khuôn trong Đây là loại hoa văn rất phát triển ở thời Trần và nó có sự phong phú, đa dạng hơn nhiều về hình mẫu so với gốm thời Lý Thời Trần có thêm sự xuất hiện của dòng gốm hoa lam - một dòng gốm có vị trí đặc biệt quan trọng và được xem là một sự tiến bộ, có nhiều thành tựu của gốm cổ truyềnViệt Nam Đồ gốm thời Trần hiện diện tuy cũng khá phong phú, nhưng cho đến nay khảo cổ học mới tìm được dấu vết của số ít các trung tâm sản xuất nằm rải rác quanh Thăng Long (Đông Kinh), bao gồm một số vùng thuộc nội, ngoại thành Hà Nội ngày nay như vùng Ngọc Hà – Đại Yên, quanh khu vực Quần Ngựa, cũng như Kim Lan, Đa Tốn (Gia Lâm) và quanh phủ Thiên Trường (Nam Định), quê hương của nhà Trần Tuy nhiên, những phát hiện, dù còn ít ỏi, cũng cho phép nhận ra những trung tâm sản xuất này khá quy mô và có tổ chức, theo đó, sản phẩm làm ra không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn vươn khá xa, tới tận Nhật Bản Những ghi chép của sử sách, cùng những phát hiện khảo cổ học ở cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) cho thấy, sản phẩm gốm Đại Việt thời Trần dường như là mặt hàng quan trọng trong xuất khẩu Tính tập trung, chuyên biệt là tiền đề cho gốm Việt giai đoạn này mang giá trị hàng hoá cao, bắt đầu có sức cạnh tranh trong khu vực

Gốm gia dụng phủ men thời Trần có ba loại:

Một là gốm men ngọc: Thường có dáng chắc khoẻ, cân đối, men dầy và chảy không đều, đôi khi còn ngấn đọng thành giọt Hoa văn ám họa khắc chìm hoặc đắp nổi, với các họa tiết trang trí là hoa sen, hoa cúc, hình xoắn ốc Gốm men ngọc thường có chữ viết dưới trôn để mộc như “Thiên Trường phủ chế”, hoặc bôi nâu ở trôn

đế Sự chuyển biến về chất của nghề gốm thời Trần, đó là sự hình thành trung tâm sản xuất phục vụ cho cung đình, hoàng tộc Với những sản phẩm gốm men ngọc, đáy có ghi 4 chữ Hán “Thiên Trường Phủ chế”, là minh chứng thuyết phục cho sự xuất hiện bước đầu của hình thức gốm “lò Quan” chuyên biệt ở vùng Thiên Trường, với sự coi sóc chuyên môn của một vị quan từ Trung ương cử về Sự ra đời và tồn tại tuy chỉ diễn

Trang 39

ra trong thời gian ngắn của khu lò Thiên Trường cũng đủ chứng tỏ nghề gốm thời Trần được coi trọng và có một vị trí xứng đáng trong đời sống cung đình

Hai là gốm hoa nâu: Phát triển mạnh với nhiều kiểu dáng, cốt gốm thô dày và xốp, phủ men trắng ngà hay vàng nhạt, hoa văn men nâu Thạp có nhiều loại, nhiều cỡ khác nhau, dáng to mập, có thể tích chứa đựng lớn Các loại liễn thường có dáng cao, thân thẳng, miệng hơi thu nhỏ, vai bằng và xung quanh vai đắp nổi nhiều cánh sen tròn mập, có bốn núm tai ngang, chạy quanh miệng và chân liễn khắc vẽ hoa thảo cách điệu, thân liễn vẽ năm con chim Có các loại liễn thấp thành, chân đế chạm thủng, vòng quanh vai và chân liễn đắp nổi hình vòng cánh hoa sen Hoặc có liễn trên thân chia bổ ô, trang trí xen kẽ hình chim, cá, tôm nét khắc vẽ đơn giản Các loại bình, ấm

có hoa văn vẽ thành đường viền, dùng màu nâu tô vẽ, khắc chìm tô nâu hoặc để mộc Dùng trong thờ cúng, tế lễ có tháp gốm cao 1m50, phần trên có hình tượng hai sừng tê vắt chéo, tượng Kim Cương ở bốn cửa, tượng Phật ngồi xếp bằng bên trong Các hình thức trang trí quanh miệng và chân đế các thạp, liễn, bình, ấm thường đắp nổi cánh sen, hình khắc tô màu nâu Đề tài họa tiết trang trí có nhiều loại như: hình hoa lá cách điệu, hình chim cò, voi, hổ, tôm, cá, hình hai võ sĩ đang đấu kiếm, hình Tiên dâng hoa

Ba là gốm hoa lam: Với nhiều kiểu dáng, cốt đất màu trắng xám, phủ men trong với kỹ thuật nhúng men khá đều, độ lửa nung cao Đồ gốm hoa lam (trừ số ít bình, lọ) thì bát, chén vẫn chiếm số lượng nhiều Có nhiều loại bát lòng sâu: vòng đế cao, với các cỡ khác nhau, nhưng theo một tỷ lệ chung: chiều cao chân đế bằng 1/4 chiều cao thân, đường kính vòng đế bằng 1/2 đường kính vòng miệng Trang trí trên gốm được tiến hành sau khi đã tạo dáng xong, nghệ nhân dùng bút lông mềm chấm màu lam vẽ hoa văn, họa tiết trực tiếp trên gốm một cách phóng khoáng, lưu loát và chủ động Các

đề tài trang trí thường là: hoa, lá, cỏ, sen, cúc, mây tản Đồ gốm hoa lam với những đặc điểm độc đáo về tạo dáng, trang trí trang nhã, thanh đẹp, đáp ứng tốt các yêu cầu

sử dụng thường nhật của nhiều loại đối tượng

Tóm lại, gốm thời Lý - Trần là một trong các giai đoạn thăng hoa của nghệ thuật gốm cổ truyền Việt Nam, với nhiều thành tựu đáng ghi nhận Số lượng rất nhiều, đủ

Trang 40

mọi thứ loại, đủ mọi sắc men, đủ mọi hoa văn tạo nên một thời cực thịnh của nền văn hóa gốm dân tộc

(Xem Phụ lục 1 Hình 8.9)

Gốm thời Lê Sơ - Mạc, giai đoạn thế kỷ XV- XVII

Gốm thời Lê Sơ – Mạc được sản xuất tại nhiều trung tâm lớn như: Bát Tràng

(Thăng Long), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Chu Đậu (Nam Sách - Hải Dương), Đức Thọ (Thanh Hoá) Các phương pháp trang trí gốm chủ yếu dùng lối vẽ trực tiếp lên mặt gốm, ngoài ra còn dùng cả lối vẽ vạch hoặc chạm khắc và đắp nổi Lối vẽ trực tiếp lên gốm trước khi nung, tạo nên những hình vẽ có được những nét màu thanh thoát, thoải mái sinh động (có hiệu quả gần như là vẽ trên giấy) Đề tài vẽ trang trí là: Những hoa văn hình kỷ hà, đường chỉ đôi, đường dây xoắn như tay mướp leo, dải hoa dây; Các loại hoa văn hình mây lửa, sóng nước; Các loại hoa văn tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng; Các loại hoa sen, hoa cúc, hoa chanh hoặc muông thú như chim, cua,

cá, tôm, ngựa ; Hoặc dùng chữ Hán viết thảo làm trang trí trên gốm Bên cạnh các loại gốm men gia dụng các loại, còn có nhiều loại gốm dùng trong xây dựng kiến trúc

là các loại gạch xây, gạch lát nền để mộc, gạch trang trí với hoa văn nổi hay trổ thủng hình hoa chanh, hình dập nổi, tráng men màu da lươn dùng để cẩn ghép làm đẹp bề mặt tường nhà, lan can, tường hoa Hình Rồng trang trí trên gạch, loại đặt nằm ngang thì thân rồng uốn khúc không đều, có hướng giãn rộng ra, khúc giữa uốn võng lưng Loại đặt trong khung tròn thân rồng uốn cong thành bốn khúc, đầu rồng quay vào chính tâm Các đồ gốm trang trí kiến trúc làm bằng đất nung già, để mộc không tráng men, dùng để đặt trên các bờ nóc, tầu mái, đầu đao, diềm mái, trong hình tròn các đầu ngói ống ở các cung điện, chùa chiền ở Thăng Long hay ở khu Lam Kinh (Thanh Hoá)

có ngói mũi hài, mũi ngói cong, ngói giọt gianh mũi thẳng trang trí hình lá sòi, hoa sen, hoa cúc, hình Rồng, Phượng Cuối dốc mái, ở đầu ống máng thoát nước mưa đổ xuống có chi tiết bằng gốm hình cá chép hoặc đầu Rồng miệng há to Đặc điểm các con vật trong nghệ thuật gốm thời này mang đậm sắc thái dân gian: Rồng thường đầu nhỏ, có hai sợi râu mép dài uốn lượn và duỗi ra phía trước, thân chắc lẳn uốn mềm mại, lưng võng; Chim Phượng có lông đuôi dài, hai cánh xoè rộng và uốn mình như múa; Hổ nằm phủ phục, đầu quay ra phía sau, đuôi uốn cong

Ngày đăng: 27/03/2017, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. David G. Marr and A. C. Milner (1986), Southeast Asia in the 9 th to 14 th Centuries, Research School of Pacific Studies, Australian National University và Institute of Southeast Asian Studies, Singapore.Tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Southeast Asia in the 9 th to 14 th Centuries
Tác giả: David G. Marr, A. C. Milner
Nhà XB: Research School of Pacific Studies, Australian National University
Năm: 1986
1. Thế Anh - Ngọc Mai (2007), “Sự phát triển của làng nghề ở đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Xưa & Nay, số 293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của làng nghề ở đồng bằng sông Hồng”, "Tạp chí Xưa & Nay
Tác giả: Thế Anh - Ngọc Mai
Năm: 2007
2. Trần Khánh Chương (1990 ), Nghệ thuật Gốm Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Gốm Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
3. Trần Khánh Chương (2001), Gốm Việt Nam, từ đất nung đến sứ, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm Việt Nam, từ đất nung đến sứ
Tác giả: Trần Khánh Chương
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2001
4. Trần Khánh Chương (2001 ), Gốm Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm Việt Nam
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
5. Nguyễn Đình Chiến (1999), Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có văn minh Thế kỷ XV- XIX, Nxb Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có văn minh Thế kỷ XV-XIX
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Nhà XB: Nxb Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Năm: 1999
6. Nguyễn Đình Chiến & Phạm Quốc Quân (2005), 2000 năm gốm Việt Nam, Nxb Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2000 năm gốm Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến & Phạm Quốc Quân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
7. Nguyễn Đình Chiến (2005), “Đồ Gốm Sứ trên các con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam“, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ Gốm Sứ trên các con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam“, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Năm: 2005
8. Nguyễn Đình Chiến (2001), “Gốm Việt Nam một truyền thống riêng biệt”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm Việt Nam một truyền thống riêng biệt
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Nhà XB: Tạp chí Văn hoá nghệ thuật
Năm: 2001
9. Nguyễn Viết Cường (2013), ”Gốm hoa lam Việt nam trên tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam)”, Tạp chí Khoa học Trường ĐHKHXH&NV, số tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Trường ĐHKHXH&NV
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2013
10.Trần Anh Dũng, Đặng Kim Ngọc (1985), “Nghiên cứu về gốm Việt”, Tạp chí Khảo cổ học, số 3 & 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về gốm Việt
Tác giả: Trần Anh Dũng, Đặng Kim Ngọc
Nhà XB: Tạp chí Khảo cổ học
Năm: 1985
11. Nguyễn Văn Dũng (2005), Công nghệ sản xuất gốm sứ, Nxb Đại học Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sản xuất gốm sứ
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Bách khoa
Năm: 2005
12. Nguyễn Đình (2007), “Phù Lãng có gốm Nhung“, Tạp chí Thế gi i Ảnh, số 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phù Lãng có gốm Nhung“, "Tạp chí Thế gi i Ảnh
Tác giả: Nguyễn Đình
Năm: 2007
13. Hoàng Xuân Chinh ( 12 / 12 / 2011 ), “Tiến trình gốm sứ Việt Nam“, http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/tien-trinh-gom-su-viet-nam-ky-1, 21.3.2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình gốm sứ Việt Nam
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Năm: 2011
14. Trương Minh Hằng (2005),”Gốm: Vấn đề tên gọi và sự phân loại“, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn hóa dân gian
Tác giả: Trương Minh Hằng
Năm: 2005
15. Trương Minh Hằng (1998), Gốm sành nâu ở Phù Lãng, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm sành nâu ở Phù Lãng
Tác giả: Trương Minh Hằng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
16. Trương Minh Hằng (2006), Làng nghề Thủ công Mỹ nghệ miền Bắc, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Thủ công Mỹ nghệ miền Bắc
Tác giả: Trương Minh Hằng
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2006
21. Tăng Bá Hoành, “Công trình nghiên cứu gốm Chu Đậu 30 năm sau nhìn lại“, http://sovhttdl.haiduong.gov.vn/baotanggom/Pages/chitiettin.aspx?newsId=319da4a6-4e03-4eb7-946f-afcbfba834dd,17.8.2015 Link
40. Trần Đức Anh Sơn , “Gốm Chu Đậu trong các di chỉ khảo cổ ở Đông Nam Á và Nhật Bản“, https://giaovn.blogspot.com/2016/01/gom-chu-au-phat-hien-o-nhat-ban-bai.html, 21.6.2016 Link
49. Bùi Ngọc Tuấn, “ Về đồ gốm Chu Đậu “, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8186&rb=0202, 23.2.2016 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w