1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn các biện pháp sư phạm nhằm phát triển tư duy học sinh trong dạy học bài “phong trào dân chủ 1936 139” (lịch sử 12 – chương trình chuẩn)

35 353 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 434,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này thể hiện rõ ràng nhất khi biết năm học nào không thi môn sử thì nhiều trường cho học nhanh môn sử để dành thời gian cho các môn học khác; Đó là do trong một bộ phận cán bộ quản

Trang 1

CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC

SINH TRONG DẠY HỌC BÀI: “PHONG TRÀO DÂN CHỦ

1936-1939” (Lịch sử 12 – Chương trình Chuẩn)

6

III CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH 7

1 Trình bày miệng sinh động, gây hứng thú học tập qua đó phát triển

tính tích cực của tư duy học sinh

6 Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa 30

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học là để nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần hình thành và phát triển toàn diện về: đức, trí, văn, thể, mỹ cho học sinh Hiện nay nền giáo dục-đào tạo nước nhà đang có những bước chuyển mình rõ rệt sau ba năm thực hiện cuộc vận động hai không với bốn nội dung Chúng ta đang cố gắng để xây dựng cho từng môi trường sư phạm thật trong lành, thân thiện và mỗi nhà giáo của chúng ta cũng đang phấn đấu để trở thành tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo Trên con đường phát triển của đất nước, sự đổi mới của nền giáo dục-đào tạo để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa chắc chắn không thể thiếu sự đổi mới

và sáng tạo các phương pháp và phương tiện trong quá trình dạy học của mỗi thầy, cô giáo chúng ta Vì đó chính là trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp Phát biểu về điều này Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ giáo dục-đào tạo Nguyễn

Thiện Nhân đã nói: “đã đến lúc chúng ta không thể để giáo viên đơn độc và tự

bơi trong quá trình đổi mới Phải cụ thể hoá khái niệm “dạy tốt” và xem lại việc công nhận giáo viên dạy giỏi như hiện nay Không thể đạt danh hiệu

“giáo viên dạy giỏi” chỉ qua giờ lên lớp của một cuộc thi nào đó Giáo viên giỏi trong cách nhìn nhận mới chắc chắn phải là tấm gương về đổi mới phương pháp dạy học.”

Bên cạnh đó, Nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần thứ hai, khóa VIII đã

khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối

truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của học sinh Từng bước

áp dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học

Trang 3

sinh” Xuất phát từ nội dung trên, việc dạy học lịch sử trong thời gian vừa qua

đã có nhiều thay đổi quan trọng về nội dung, phương pháp dạy học; song hiệu quả chưa cao, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ trong tình hình mới Nguyên nhân của thực trạng trên là tổng hợp của nhiều yếu tố, đó là chúng ta chưa đặt đúng vị trí, chức năng của môn Lịch sử trong hệ thống các môn học ở phổ thông, khiến học sinh có xu hướng coi nhẹ môn Lịch sử Điều này thể hiện rõ ràng nhất khi biết năm học nào không thi môn sử thì nhiều trường cho học nhanh môn sử để dành thời gian cho các môn học khác; Đó là

do trong một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên vẫn còn quan niệm môn Lịch sử là môn học phụ; Đó là do nội dung sách giáo khoa còn nặng nề và quá khô khan, thiên về quan điểm áp đặt đối với học sinh hơn là tính trung thực, khách quan của lịch sử và cuối cùng với lối dạy "như sách" thiếu sinh động của một số thầy cô giáo với lối truyền thụ một chiều, nặng về đọc – chép, khiến đa số học sinh chán học môn sử…Vì vậy việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học Lịch sử là một việc làm thường xuyên, liên tục, bao gồm nhiều khâu, nhiều việc, có liên quan đến nhiều người Trước hết đòi hỏi sự nổ lực để tìm phương thức giải quyết hợp lý, có hiệu quả của bản thân giáo viên trên nhiều mặt: cải tiến một bước về sử dụng ngôn ngữ nói, cách trình bày bảng, sử dụng đồ dùng dạy học, kiểm tra – đánh giá…

Đổi mới phương pháp dạy học là thể hiện sự sáng tạo của mỗi giáo viên, do đó đổi mới phương pháp dạy học là một hoạt động mang tính liên tục

và sẽ không bao giờ có điểm cuối Trong quá trình sáng tạo đó giáo viên cần phải có sự quan tâm và hỗ trợ đắc lực của các cấp quản lý giáo dục

Để nâng cao chất lượng dạy – học bộ môn Lịch sử ở trường trung học trong thời gian đến, các nhà quản lý giáo dục, giáo viên cần nhận thức đúng hơn về vai trò của bộ môn Lịch sử trong trường phổ thông

Trang 4

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài: “Các biện pháp sư

phạm nhằm phát triển tư duy học sinh trong dạy học bài: “Phong trào dân chủ 1936-139” (Lịch sử 12 – Chương trình Chuẩn)” làm đề tài sáng kiến kinh

nghiệm của bản thân trong năm học 2013-2014 Trong quá trình thực hiện khó tránh khỏi những hạn chế, kính mong nhận được sự góp ý của quý đồng nghiệp để bài viết ngày càng hoàn thiện hơn

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự kết hợp giữa các biện pháp giáo dục trong giảng dạy trong một bài lịch sử cụ thể với bài “ PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936-1939”

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Các phương pháp dạy học và những vấn đề lịch sử liên quan đến phong trào dân chủ giai đoạn 1936-1939, lịch sử 12-chương trình chuẩn

2.3 Nhiệm vụ của đề tài

Sử dụng các biện pháp sư phạm trong bài phong trào dân chủ

1936-1939 nhằm giúp giáo viên đạt hiêụ quả cao hơn trong việc tích hợp các phương pháp dạy học để bài dạy sinh động, hấp dẫn hơn

Qua đó, khơi dậy trong học sinh niềm hứng thú, say mê đối với bộ môn lịch sử

3 Đóng góp của đề tài

Qua việc nghiên cứu các phương pháp dạy học và áp dụng vào một bài dạy cụ thể sẽ giúp cho bản thân cũng như quý đồng nghiệp thành công hơn trong việc giảng dạy bài này

Trên cơ sở đó, đề tài sẽ giúp cho bản thân cũng như đội ngũ giáo viên

sẽ có nhiều sáng tạo hơn trong việc soạn giảng

Trang 5

Ngoài ra, nhằm giáo dục lòng yêu quê hương, đề tài đã sử dụng một số tài liệu lịch sử địa phương diễn ra trên địa bàn hai huyện Đức Cơ và Chưprông

đó là những sự kiện về phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân ở đồn điền chè Bàu Kạn trong giai đoạn này Qua đó, sẽ cho học sinh thấy được mối liên

hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử cả nước Từ đó, các em sẽ thấy được trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng đất nước, giữ gìn và phát triển những thành quả mà cha ông đã tạo dựng

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được kết cấu thành 4 phần:

I MỤC TIÊU BÀI HỌC

II THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC

III CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH

IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

Trang 6

Phần nội dung CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI: “PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936-1939”

(Lịch sử 12 – Chương trình Chuẩn)

I MỤC TIÊU BÀI HỌC: Sau khi học xong bài này yêu cầu học sinh cần

nắm và hiểu được:

1 Về kiến thức: học sinh cần nắm vững các nội dung cơ bản:

- Hiểu rõ thời kì thứ hai trong cuộc đấu tranh giành chính quyền do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo (1936-1939) Đây là phong trào đấu tranh khác hẳn thời kì 1930-1931 về mục tiêu, khẩu hiệu, hình thức và phương pháp đấu tranh

- Phong trào 1936-1939 diễn ra dưới tác động của yếu tố khách quan rất lớn, nhất là nghị quyết của Đại hội lần thứ VII Quốc tế cộng sản (7/1935) và sự kiện Chính phủ Mặt trận Nhân dân lên cầm quyền ở Pháp

- Đặc biệt có những hình thức đấu tranh, phong trào đấu tranh mới mẻ, lần đầu tiên được Đảng tiến hành

- Kết quả thu được rất to lớn, chính quền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách của quần chúng

- Phong trào dân chủ 1936-1939 đã để lại cho Đảng nhiều bài học kinh nghiệm quý báu

2 Giáo dục tư tưởng:

- Bồi dưỡng lòng nhiệt tình cách mạng của công dân trong thời kì mới

- Nâng cao nhiệt tình cách mạng, tham gia các cuộc vận động cách mạng

dưới sự lãnh đạo của Đảng vì lợi ích của đất nước, của nhân dân

Trang 7

- Các hồi kí, văn học về thời kì 1936-1939

III CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH:

1 Trình bày miệng sinh động, gây hứng thú học tập qua đó phát triển tính tích cực của tư duy học sinh

Trình bày có hình ảnh không chỉ là điểm tựa của nhận thức cảm tính,

mà còn là cơ sở cho tư duy trong việc hiểu bản chất và đánh giá sự kiện lịch

sử Để phát triển tư duy học sinh trước hết phải xây dựng cho các em hứng thú học tập lịch sử Hứng thú học tập lịch sử của học sinh được biểu hiện trước hết

ở sự tập trung, chú ý của học sinh vào đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu Khi các

em đã chú ý, tập trung nghe giảng, quan sát, tư duy…sẽ dần dần hình thành được biểu tượng lịch sử Chính biểu tượng lịch sử là yếu tố đầu tiên góp phần phát triển hứng thú học tập lịch sử cho học sinh

Hứng thú học tập lịch sử còn được biểu hiện ở tính tích cực của tư duy học sinh Nếu các em chú ý, tập trung nghe giảng, chủ động tích cực tham gia vào quá trình nhận thức lịch sử sẽ tạo ra hứng thú học tập bộ môn cho các em Ngược lại, từ chỗ hứng thú với môn học các em ngày càng tích cực, tự giác tìm tòi, khát khao nhận thức về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, luôn muốn khám phá kiến thức mới của bộ môn mà mình ưa thích, từ đó các thao tác tư duy của các em được rèn luyện và phát triển

Muốn phát triển tư duy học sinh, đặc biệt là tư duy lịch sử, trước hết giáo viên phải tạo biểu tượng chân xác, sinh động về các sự kiện và nhân vật lịch sử, để học sinh có được những hình ảnh của quá khứ Chính biểu tượng

Trang 8

lịch sử là biểu hiện sinh động của nhận thức cảm tính, đó là loại biểu tượng

gián tiếp được hình thành trong óc học sinh thông qua quá trình tri giác và

tưởng tượng tái tạo, từ đó các em sẽ ghi nhớ sự kiện Trên cơ sở tạo biểu

tượng, bằng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, nhận xét, đánh giá, hệ thống hoá, khái quát hoá,… để hình thành khái niệm,

nêu quy luật và rút bài học lịch sử Khái niệm, quy luật…là các hình thức biểu hiện của nhận thức lý tính, của tư duy trừu tượng Việc rút bài học kinh nghiệm cho cuộc sống ngày nay chính là quá trình đi từ tư duy trừu tượng trở

về với thực tiễn Có nhiều biện pháp và thủ pháp sư phạm khác nhau để tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút bài học trong dạy học lịch sử, trong đó sử dụng nhóm phương pháp trình bày miệng đóng vai trò quan trọng

Trong giờ học lịch sử, để khôi phục quá khứ lịch sử, người thầy phải sử dụng nhóm phương pháp trình bày miệng để kể chuyện, miêu tả, tường thuật, giải thích… Lời nói giúp cho học sinh tạo được những biểu tượng rõ ràng, cụ thể về một sự kiện, một biến cố lịch sử nào đó và giúp cho học sinh nhanh chóng đi đến nhận thức khái niệm lịch sử, nhằm tìm hiểu bản chất sự vật, quy luật của quá trình phát triển của lịch sử Trong dạy học lịch sử, giáo viên căn

cứ vào chương trình, mục tiêu, nội dung bài học để lựa chọn sử dụng các cách của phương pháp trình bày miệng phù hợp: khi nào thì sử dụng các đoạn tường thuật, miêu tả; trường hợp nào thì kể chuyện, nêu đặc điểm; trường hợp nào thì giải thích hay thông báo…

Trong giảng dạy, ngôn ngữ (lời giảng) của giáo viên phải giàu hình ảnh, sinh động, phải làm sống lại quá khứ lịch sử, phải có âm thanh và nhạc tính;

có âm độ, trường độ và cường độ phù hợp với những tình huống cụ thể của nội dung bài giảng Giáo viên phải biết kết hợp hợp lý giữa lời nói với phong cách biểu hiện của thái độ, hành vi Muốn lời giảng được sinh động, giàu hình

Trang 9

ảnh, giáo viên có thể biên tập lại một số đoạn tường thuật miêu tả nhưng vẫn đảm bảo tính trung thực lịch sử hoặc sử dụng các đoạn tài liệu tham khảo

Một điều lưu ý, nhóm phương pháp trình bày miệng không chỉ do giáo viên tiến hành, mà cần định hướng cho học sinh sưu tầm, xây dựng và sử dụng các đoạn tường thuật, miêu tả…trong tự học ở nhà hay trình bày trên lớp

Tóm lại, sử dụng nhóm phương pháp trình bày miệng trong dạy học lịch

sử có tác dụng to lớn trong việc phát triển tư duy học sinh Nó góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng chân xác, sinh động để khôi phục quá khứ lịch

sử Thông qua việc tạo biểu tượng, học sinh sẽ hình dung, tưởng tượng về các

sự vật, nhân vật, các sự kiện đã diễn ra như thế nào, từ đó trong óc học sinh sẽ

có hình ảnh về quá khứ, đó là dạng tưởng tượng tái tạo, học sinh được rèn luyện kĩ năng ghi nhớ sự kiện Trên cơ sở hình ảnh của quá khứ, với các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, hệ thống hoá, khái quát hoá…để hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử

Ví dụ, để trình bày thông báo tới học sinh một cách sinh động, hấp dẫn

về các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong phong trào dân chủ 1936-1930 (mục 2), giáo viên kết hợp giới thiệu hình 31 trong sách giáo khoa

“Mít tinh kỉ niệm ngày quốc tế lao động(1-5-1938)tại khu Đấu Xảo (nay thuộc khu vực Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội)” và biên tập đoạn lược

thuật với nội dung như sau: “Đây là bức hình được chụp lại từ bộ ảnh tư liệu

trưng bày tại bảo tàng cách mạng Việt Nam Bức ảnh chụp toàn cảnh buổi mít tinh ngày 1/5/1938 ở khu Đấu Xảo – Hà Nội

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương, phong trào dân chủ 1936-1939 đã diễn ra với nhiều hình thức phong phú: phong trào dân sinh, dân chủ, đấu tranh nghị trường, báo chí công khai…Trong phong tào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, bên cạnh các cuộc đấu tranh của công-nông, cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân ở các đô thị cũng phát triển Tiêu

Trang 10

biểu là những cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội, Sài Gòn nhân ngày Quốc tế lao

động 1-5-1938 Đây là cuộc mít tinh do nhóm “ Tin tức”( Nhóm cộng sản hoạt động công khai của Đảng) đã vận động chi nhánh Đảng Xã hội của

Quốc tế thứ hai đứng ra xin phép thực dân Pháp cho tổ chức Chiều 1-5-1938,

các đoàn thể quần chúng đại diện cho các ngành nghề, tầng lớp xã hội: thợ máy, thanh niên, trí thức, phụ nữ…gồm 25 000 người, hàng ngũ chỉnh tề,

có người phụ trách từng nhóm, từng đoàn tập trung ở địa điểm quy định Mỗi người đều có huy hiệu trước ngực và khẩu hiệu cài trên mũ, nón Các đoàn tuần hành qua các phố, hô vang khẩu hiệu và lôi cuốn them nhiều người tham gia Họ tiến vào khu vực nhà Đấu Xảo Trước lễ đài, cuộc mít tinh có nhiều khẩu hiệu lớn “ Ủng hộ Mặt trận Bình dân Pháp”, “Đi tới Mặt trận Dân chủ Đông Dương”, “ Tự do dân chủ”, “Chống phát xít và đấu tranh chống nạn sinh hoạt đắt đỏ”…

Cuộc mít tinh khai mạc, sau bài Quốc ca Pháp, quần chúng hát vang bài Quốc tế ca Tiếp đó, 12 lá cờ khổ lớn của 12 đoàn thể nhân dândược gương cao, chào đón những đại biểu lên phát biểu ý kiến: Trần Văn Lai, Muytê, Capuýt (đại biểu Đảng Xã hội Pháp), Trần Huy Liệu đại biểu nhóm cộng sản hoạt động công khai, nhóm “Tin tức”, Nguyễn Văn Hòe đại biểu thợ máy, Mai Khắc Thổ đại biểu nông dân, Nguyễn Thị Thảo đại biểu phụ nữ…Xen vào các bài phát biểu, máy truyền thanh lại phát bài Quốc tế ca và mọi người hưởng ứng hát theo”[3,98-99]

Để trình bày được đoạn lược thuật trên, ngoài việc xây dựng bài nói sinh động, giàu hình ảnh, đương nhiên giáo viên phải xây dựng và sử dụng tổng hợp hệ thống thao tác sư phạm Ở đây, thao tác về mắt, thầy phải thể hiện cái nhìn trong sáng, tin tưởng và ủng hộ tinh thần đấu tranh của quần chúng

nhân dân Giọng thầy phải truyền cảm, nhấn mạnh những từ ngữ như: các đoàn thể quần chúng đại diện cho các ngành nghề, tầng lớp xã hội: thợ

Trang 11

máy, thanh niên, trí thức, phụ nữ…gồm 25 000 người, hàng ngũ chỉnh tề…

có người phụ trách từng nhóm, từng đoàn tập trung ở địa điểm quy định Mỗi người đều có huy hiệu trước ngực và khẩu hiệu cài trên mũ, nón Các đoàn tuần hành qua các phố, hô vang khẩu hiệu và lôi cuốn them nhiều người tham gia Kết hợp với việc phân tích và mô tả không khí cách mạng

của phong trào đấu tranh Điều này sẽ gây sự chú ý, lôi cuốn học sinh vào bài

học, qua đó tạo biểu tượng sinh động trong óc học sinh về phong trào đấu

tranh của quần chúng nhân dân trong những năm 1936-1939

Qua đó, giáo viên có thể giúp các em rút ra kết luận khái quát như:

mặc dù cuộc mít tinh chỉ diễn ra trong vài tiếng đồng hồ nhưng qua đó đã thể hiện được sự đúng đắn trong việc Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo cách mạng cũng như khẳng định được khả năng lãnh đạo của Đảng và Đảng

đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân Để minh họa rõ

cho kết luận trên, giaó viên nhấn mạnh: Mặc dù cuộc mít tinh chỉ kéo dài mấy

tiếng đồng hồ song đã thu hút được quần chúng tham gia một cách đông đảo

và được tổ chức bài bản, rất trật tự Đại diện các đảng phái và đại biểu của công nhân, nông dân, phụ nữ, tiểu thương, trí thức đều được lên phát biểu Chính điều đó đã làm cho thực dân Pháp rất căm tức nhưng chúng đành bất lực trước cuộc mít tinh khổng lồ, được tổ chức chặt chẽ, quy mô

Mặt khác, lúc này trong óc học sinh cũng có thể nảy sinh tư duy so sánh

phong trào đấu tranh trong giai đoạn 1930-1931

Hoặc, khi dạy học mục I: “Tình hình thế giới và trong nước”, giáo viên

có thể sử dụng một số số liệu như: Một số chính sách cụ thể của chính quyền

thực dân trong thời kỳ này đã làm cho cuộc sống của công nhân, viên chức và dân chúng bản xứ thêm khốn khó: năm 1937 tổng số công nhân ở Việt Nam ước chừng chỉ 150.000 người và số người thất nghiệp có đăng ký chính thức

là hơn 40.000 người [9,183]; giá cả các mặt hàng sinh hoạt thiết yếu bị đẩy

Trang 12

lên từ 20% đến 50%, thậm chí tới 70% hoặc trên 100%[9,49-51]; các chính

sách nói trên của chính quyền thực dân cũng làm cho cuộc sống của giới tiểu

tư sản thành thị điêu đứng Tiểu chủ, tiểu thương tiếp tục phá sản hoặc kinh doanh lay lắt, cầm chừng Công chức và tư chức, giáo viên cũng vẫn phải hưởng đồng lương đã bị cắt giảm từ 30% đến 70% từ thời kỳ khủng hoảng Ngay cả giới tư sản, địa chủ bản xứ cũng vẫn cảm thấy môi trường kinh doanh còn quá ngột ngạt, vận mệnh bấp bênh, nhất là khi chính phủ tiếp tục chính sách bảo vệ lợi ích của bọn tài phiệt và mặc sức thả nổi doanh nghiệp nhỏ và vừa, mặc cho họ phải vật lộn trong cuộc cạnh tranh với một môi trường không lành mạnh

Tình hình trên cho thấy nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn

1936-1939, tuy đã dần dần khôi phục lại sau khủng hoảng, nhưng sự phục hồi chậm chạp, không chắc chắn Thêm vào đó, các chính sách kinh tế của chính quyền thuộc địa chỉ chú trọng việc bảo hộ quyền lợi của giới tài phiệt, tiếp tục là nguyên nhân khiến cho cuộc sống của nhân dân lao động bản xứ lâm vào cùng quẫn, trong khi đó tình cảnh của các tầng lớp trung gian và thượng lưu cũng vẫn tiếp tục bị đe doạ Do đó, một yêu cầu cấp thiết nhất đối với các giai cấp, tầng lớp Việt Nam lúc bấy giờ đó là vấn đề đòi quyền tự do, dân chủ, cơm áo,

hòa bình

Như vậy, sử dụng các số liệu trên kết hợp phân tích, giáo viên đã tạo

biểu tượng chân thực, sinh động trong óc học sinh về đời sống khốn cùng của

người các giai cấp Việt Nam trước chính sách bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp… từ đó giúp các em hiểu rõ vì sao đa số nhân dân lại đứng dậy đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương

Trang 13

2 Khai thác triệt để việc sử dụng đồ dùng trực quan để phát triển tư duy học sinh

Đồ dùng trực quan giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong dạy học lịch

sử, nó không chỉ là phương tiện dạy học mà còn là một kênh thông tin và nguồn kiến thức vô cùng quan trọng đối với việc nhận thức lịch sử

Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học lịch sử

do nhiều yếu tố quyết định, như chất lượng của bài học, tranh ảnh lịch sử, phương pháp sử dụng, kĩ năng và năng lực sư phạm của giáo viên Ở đây chúng tôi đề cập đến biện pháp khai thác, sử dụng đồ dùng trực quan như thế nào để phát triển tư duy học sinh

Đồ dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát, hứng thú, hình dung, tưởng tượng Đồ dùng trực quan có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vũng chắc trong trí nhớ là hình ảnh thu nhận được bằng trực quan và những hình ảnh đó sẽ giúp học sinh

nhớ kĩ, hiểu sâu được bài học lịch sử Cùng với việc góp phần tạo biểu tượng

và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cho các em Nhìn vào bất cứ loại đồ dùng trực quan nào, học sinh cũng thích nhận xét, phán đoán, hình dung quá khứ lịch sử được phản ánh như thế nào Các em sẽ đào sâu suy nghĩ

và tìm cách diễn đạt bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua

Trang 14

Ví dụ như, ở bài này, giáo viên sử dụng bức tranh “Mít tinh kỉ niệm ngày quốc tế lao động(1-5-1938)tại khu Đấu Xảo (nay thuộc khu vực Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội)”

Để sử dụng đồ dùng trực quan một cách có hiệu quả, giáo viên không chỉ đơn thuần giới thiệu cho học sinh quan sát đồ dùng trực quan mà phải kết hợp với miêu tả, tường thuật, phân tích và bằng những lời nói sinh động với những câu hỏi phát vấn, gợi mở để khai thác đồ dùng trực quan đang sử dụng, qua đó phát huy được tính tích cực, hoạt động nhận thức và sự sáng tạo của học sinh Tất cả những đồ dùng trực quan trên, giáo viên đều phải phóng to treo trên bảng hoặc trình chiếu trên Power Poin cho học sinh quan sát, phải chọn thời điểm sử dụng loại đồ dùng trực quan đúng lúc cho phù hợp với nội dung bài giảng

Cụ thể, giáo viên sử dụng bức tranh:“Mít tinh kỉ niệm ngày quốc tế lao

động(1-5-1938)tại khu Đấu Xảo (nay thuộc khu vực Cung Văn hóa Hữu nghị

Hà Nội)”, cho học sinh quan sát và đặt ra câu hỏi: “Em có nhận xét gì về bức

tranh này?” Qua tri giác đối tượng (quan sát bức tranh), học sinh sẽ hình

dung, phán đoán, tưởng tượng và nhận thấy có nhiều người tham gia, được tổ

chức công khai với quy mô chưa từng có Giaó viên hướng dẫn học sinh quan sát, gợi ý sau đó nhận xét và nhấn mạnh : Đây là cuộc biểu dương lực lượng lớn nhất trong thời kì Mặt trân dân chủ, đánh dấu uy tín và nghệ thuật tổ chức của những người cộng sản Sự kiện này đã được Nguyễn Ái Quốc đánh giá “

Ngày đó thật là to lớn và đối với Đông Dương có thể nói là vĩ đại”

Tóm lại, để việc khai thác tranh ảnh có hiệu quả, phát huy được tính tích cực của tư duy học sinh, giáo viên cần tuân thủ các bước sau:

Bước 1: Cho HS quan sát tranh ảnh để xác định một cách khái quát nội dung tranh ảnh cần khai thác

Trang 15

Bước 2: GV nêu câu hỏi, nêu vấn đề, tổ chức hướng dẫn HS tìm hiệu nội dung tranh ảnh

Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh ảnh sau khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của giáo viên và tìm hiểu nội dung trong bài học

Bước 4: GV nhận xét, bổ sung HS trả lời, hoàn thiện nội dung khai thác tranh ảnh cung cấp cho học sinh

Hoặc, khi dạy học mục 2: “Phong dân chủ 1936-1939”, giáo viên sử phiếu bài tập yêu cầu học sinh so sánh chủ trương của Đảng trong Hội nghị trung ương (7-1936) với chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1930-1931 để

tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm qua đó cho các em thấy được đường lối của Đảng 1936-1939:

Kẻ thù

Nhiệm vụ (khẩu hiệu)

Mặt trận

Hình thức,phương pháp đấu tranh

Lực lượng tham gia

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, chốt ý và hoàn thiện niên biểu với nội dung như sau:

Kẻ thù Đế quốc và phong kiến Thực dân Pháp phản động, tay

sai, phát xít Nhiệm vụ

(khẩu

hiệu)

Chống đế quốc giành độc lập, chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày

Chống phát xít và chiến tranh.Chống thực dân phản động Đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình

Trang 16

Hợp pháp, nửa hợp pháp, công khai hay nửa công khai

Nhận xét:

Sự khác nhau giữa phong trào 1930-1931 và phong trào dân chủ

1936-1939 cho thấy do hoàn cảnh thế giới và trong nước khác nhau,nên chủ trương sách lược, hình thức tập hợp lực lượng và hình thức đấu tranh phải khác nhau mới phù hợp

Chủ trương của Đảng trong thời kỳ 1936-1939 chỉ có tính chất sách lược nhưng rất kịp thời và phù hợp với tình hình mới, tạo ra cao trào đấu tranh sôi nổi Qua đó chứng tỏ Đảng ta đã trưởng thành, có khả năng đối phó với mọi tình huống, đưa cách mạng tiến lên không ngừng

Như vậy, qua sử dụng viên sử phiếu bài tập, các thao tác tư duy của học

sinh được rèn luyện Các em có cái nhìn hệ thống về phong trào dân chủ

1936-1939, biết so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các đấu tranh nói trên; các

em bước đầu biết nhận định đánh giá và rút ra những kết luận có tính chất

Trang 17

khái quát về hình thức đấu tranh, mục tiêu đấu tranh, tính chất và quy mô của

Để phát triển tư duy học sinh, khi xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Xác định câu hỏi trọng tâm, chủ đạo cho cả bài hay từng phần, từng đơn vị kiến thức

- Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở giúp giải quyết từng phần cho câu hỏi trọng tâm

- Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của kiến thức bài học để xây dựng các loại câu hỏi theo các mức độ nhận thức khác nhau của học sinh

- Xây dựng câu hỏi vừa sức, sát đúng với học sinh, phù hợp với nội dung bài học, chú ý phát triển năng lực tư duy của học sinh trong học tập lịch

Ngày đăng: 10/02/2017, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp Hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai ( 2010) : Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
2. Nguyễn Thị Côi(2008), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB. ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB. ĐHSP
Năm: 2008
3. Nguyễn Thị Côi(chủ biên)- Nguyễn Mạnh Hưởng – Nguyễn Thị Thế Bình (2010), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12 , NXB Đại Học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12
Tác giả: Nguyễn Thị Côi(chủ biên)- Nguyễn Mạnh Hưởng – Nguyễn Thị Thế Bình
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2010
4. Nguyễn Văn Chiến ( 11-2000), “Phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền Bàu Cạn”, tạp chí Lịch sử Đảng ( số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền Bàu Cạn"”, tạp chí Lịch sử Đảng
5. Đỗ Ngọc Đạt(1997), Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
6. I.F. Kharlamov(1978), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F. Kharlamov
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
7. O. Kon. Những cơ sở của dạy học nêu vấn đề (bản dịch)(1976), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của dạy học nêu vấn đề
Tác giả: O. Kon. Những cơ sở của dạy học nêu vấn đề (bản dịch)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1976
8. M.N. Sác đa cốp(1970), Tư duy học sinh, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy học sinh
Tác giả: M.N. Sác đa cốp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1970
9. Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ (2006), Đại cương Lịch sử Việt Nam – Tập 2, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt Nam – Tập 2
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2006
10. Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng (Chủ biên)(1999), Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử ở THCS, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử ở THCS
Tác giả: Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
11. Phan Ngọc Liên(chủ biên)- Vũ Dương Ninh- Trần Bá Đệ (2007), Sách giáo khoa Lịch sử 12 (Chương trình Chuẩn), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Lịch sử 12
Tác giả: Phan Ngọc Liên(chủ biên)- Vũ Dương Ninh- Trần Bá Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
12. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) - Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi(2007), Phương pháp dạy học Lịch sử,Tập I và II, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên (Chủ biên) - Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w