CHƯƠNG 3CSR CÓ BAO NHIÊU VẤN ĐỀ?Trách nhiệm CSR thuộc về ai? Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của công ty cho thấy hành vi đó là trách nhiệm của các công ty. Nhưng, đâu là động lực cho hành vi trách nhiệm xã hội?Các công ty có nên hành động có trách nhiệm nếu họ bị thuyết phục về lý lẽ đạo đức để làm điều đó (bất kể các tác động tài chính bởi các hành động của họ), hoặc họ phải hành động có trách nhiệm bởi lợi ích của chính họ? Quan điểm của một công ty có trách nhiệm xã hội là gì nếu các bên liên quan chủ chốt không quan tâm hoặc không muốn trả phí bảo hiểm cái thường gắn liền với những hành động như vậy? Như ví dụ của Malden Mills trong Chương 1, các ý định tốt nhất không giúp các bên liên quan của công ty nếu công ty bị phá sản. Lý lẽ đanh thép kinh tế về CSR giả định rằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả nhất khi họ được khuyến khích làm như vậy. Nó giả định rằng các tổ chức bảo thủ rằng họ có nhiều trách nhiệm hơn với kích thích bên ngoài và không sẵn sàng để bắt đầu chủ động thay đổi khi có ít bằng chứng cho thấy hành động của họ sẽ được sự đáp trả xứng đáng trên thị trường. Giả định cho rằng CSR tối đa hóa cả giá trị kinh tế và xã hội khi các mục tiêu của công ty và kỳ vọng của xã hội là phù hợp.
Trang 1CHƯƠNG 3
CSR CÓ BAO NHIÊU VẤN ĐỀ?
Trách nhiệm CSR thuộc về ai? Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của công tycho thấy hành vi đó là trách nhiệm của các công ty Nhưng, đâu là động lực chohành vi trách nhiệm xã hội?
Các công ty có nên hành động có trách nhiệm nếu họ bị thuyết phục về lý lẽđạo đức để làm điều đó (bất kể các tác động tài chính bởi các hành động của họ),hoặc họ phải hành động có trách nhiệm bởi lợi ích của chính họ? Quan điểm củamột công ty có trách nhiệm xã hội là gì nếu các bên liên quan chủ chốt không quantâm hoặc không muốn trả phí bảo hiểm - cái thường gắn liền với những hành độngnhư vậy? Như ví dụ của Malden Mills trong Chương 1, các ý định tốt nhất khônggiúp các bên liên quan của công ty nếu công ty bị phá sản Lý lẽ đanh thép kinh tế
về CSR giả định rằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả nhất khi họ đượckhuyến khích làm như vậy Nó giả định rằng các tổ chức bảo thủ - rằng họ có nhiềutrách nhiệm hơn với kích thích bên ngoài và không sẵn sàng để bắt đầu chủ độngthay đổi khi có ít bằng chứng cho thấy hành động của họ sẽ được sự đáp trả xứngđáng trên thị trường Giả định cho rằng CSR tối đa hóa cả giá trị kinh tế và xã hộikhi các mục tiêu của công ty và kỳ vọng của xã hội là phù hợp
Tuy nhiên, vào năm 1995, cách tiếp cận kinh doanh của ông đã được thử thách khi một vụ hỏa hoạn đã phá hủy nhà máy dệt Malden Mills ở Lawrence, một thị trấn với nền kinh tế đình trệ ở đông bắc tiểu bang Massachusetts Với một khoản viện trợ bảo hiểm gần 300 triệu đô la trong tay, Feuerstein có thể đã chuyển các hoạt động sang một nước có mức lương thấp hơn hoặc có thể đã nghỉ hưu Thay vào đó, ông đã xây dựng lại
Trang 2nhà máy ở Lawrence và tiếp tục trả lương cho nhân viên của mình trong khi nhà máy mới đang được xây dựng
Kết quả là, "ông ấy đã được thần tượng hóa trong giới truyền thông Sự chú ý của quốc gia đối với hành động của Feuerstein đã mang lại nhiều hơn sự tán thưởng của các giáo sư đạo đức kinh doanh - nó đã làm tăng nhu cầu về sản phẩm của ông, Polartec, loại lông cừu nhẹ mà danh mục ngành thích bán "
Ngoài việc trả lương đầy đủ, Feuerstein cũng tiếp tục chi các phúc lợi y tế toàn phần cho toàn bộ nhân viên của mình và đảm bảo cho họ một công việc khi nhà máy đã sẵn sàng để khởi động lại sản xuất Mặc dù về chi phí, quyết định cho Feuerstein là một điều dễ dàng:
Việc xây dựng lại ở Lawrence sẽ tốn hơn 300 triệu đô la trong khi vẫn giữ được 1.400 công nhân bị sa thải khỏi mức lương đầy đủ trong thời gian lên đến 3 tháng sẽ tốn thêm 20 triệu đô la "Tôi có trách nhiệm với người lao động, cả cổ áo màu xanh và cổ áo trắng," Feuerstein sau đó nói.
"Tôi có một trách nhiệm ngang nhau với cộng đồng Sẽ không có lý do để đưa 3.000 người trên đường phố [hai tuần trước lễ Giáng sinh] và mang lại một cú đánh chết người cho các thành phố Lawrence và Methuen Có lẽ trên giấy tờ công ty của chúng tôi [bây giờ] ít có giá trị với Phố Wall, nhưng tôi có thể cho bạn biết nó [thực sự] có giá trị hơn "
Tuy nhiên, nhu cầu gia tăng cho Polartec (http://www.polartec.com/) Các hoạt động của Feuerstein đã được tạo ra không đủ để bù đắp khoản nợ ông đã xây dựng chờ đợi để nhà máy được xây dựng lại:
100 triệu đô la Tình hình này đã kết hợp với sự suy thoái của thị trường, cũng như các giải pháp thay thế lông cừu rẻ hơn làm tràn ngập thị trường Malden Mills nộp đơn yêu cầu bảo hộ phá sản vào tháng 11 năm 2001.
Chương 1 và 2 trình bày lý do chiến lược thuyết phục doanh nghiệp tích hợpquan điểm CSR trong toàn tổ chức Tuy nhiên, hành vi vô kỷ luật, thậm chí khôngquan tâm đến CSR, không phải lúc nào cũng có tác động trực tiếp và ngay lập tức
Trang 3Đôi khi các bên liên quan sẵn sàng bỏ qua hành vi thiếu trách nhiệm về xã hội bởi
vì các vấn đề khác là cấp bách hơn Ví dụ, một công ty có các hoạt động tuyển dụngkhông được chấp nhận mà nhân viên khinh khi, có thể không gặt hái được nhữnghậu quả tiêu cực của các hành động nếu công việc là quan trọng đối với phúc lợicủa cộng đồng địa phương và không có lựa chọn nào khác Nên chăng nếu các công
ty giải thích việc thiếu phản hồi đối với hành động của họ như là một lời mời chào
để duy trì hiện trạng mà không quan tâm đến những mối quan tâm xã hội rộng lớnhơn về hoạt động của họ?
Một câu hỏi khó hơn nảy sinh khi quan điểm của CSR thất bại trong việccân bằng giữa lợi ích của công ty với các bên liên quan Điều gì xảy ra khi các bênliên quan đòi hỏi hành vi không có trách nhiệm xã hội? Ví dụ: nếu người tiêu dùngmuốn mua một sản phẩm không chỉ gây hại cho họ (ví dụ: thuốc lá, rượu , hoặcthức ăn nhanh) nhưng cũng có hại cho xã hội (ví dụ: có sức ảnh hưởng lớn hơn hayảnh hưởng đến nguồn lực), điều gì xảy ra? Điều gì xảy ra khi mà mối quan tâm củangười tiêu dùng chính là giá thấp nhất, trừ những mối quan tâm khác, chẳng hạnnhư các điều kiện trong các nhà máy sản xuất sản phẩm? Nếu các công ty có thểthành công mà không thực hiện một quan điểm về CSR, điều này có nghĩa là CSRkhông quan trọng, hoặc ít nhất là không quan trọng trong mọi thời điểm?
Trọng tâm của nhiều cuộc đối thoại về CSR là thúc giục các công ty hànhđộng một cách chủ động ngoài một nghĩa vụ xã hội hoặc đạo đức Chính thuật ngữCSR tự nói về trách nhiệm xã hội của các tập đoàn, ngoại trừ những suy nghĩ rằngthường thì không có những hậu quả to lớn đối với các doanh nghiệp không hànhđộng có trách nhiệm và ngược lại họ thường được khen thưởng về mặt kinh tế vìkhông theo đuổi CSR Trừ phi kinh doanh của họ bị ảnh hưởng bởi hành động của
họ, liệu các công ty có nên thay đổi?
Thảo luận xung quanh vấn đề CSR tập trung chủ yếu vào trách nhiệm kinhdoanh, đồng thời bỏ qua trách nhiệm của các bên liên quan (đặc biệt là người tiêudùng) đối với yêu cầu hành động từ các doanh nghiệp Có một số bằng chứng chothấy rằng người tiêu dùng muốn sản phẩm có chất lượng cao với mức giá thấp nhất
có thể Nếu những sản phẩm đó mang thông điệp đạo đức thì đó là điều tuyệt vời,nhưng người tiêu dùng (hầu như là tất cả) sẵn sàng biện minh cho sự thiếu hiểu biết
Trang 4nếu điều đó có nghĩa là họ có thể sở hữu đôi giày chơi quần vợt với giá ít hơn 10
đô la:
Tại Anh Quốc, dữ liệu tiêu dùng về đạo đức cho thấy mặc dù hầu hết ngườitiêu dùng quan tâm đến các vấn đề môi trường và xã hội, với 83% ngườitiêu dùng có ý định hành động đạo đức một cách thường xuyên, chỉ có 18%người đôi khi hành động có đạo đức, trong khi chưa tới 5% người tiêu dùngthể hiện hành vi mua bán có đạo đức và vì môi trường nhất định
Mặt khác, nếu người tiêu dùng bắt đầu yêu cầu các tiêu chuẩn tối thiểu cụ thể
từ các công ty và mua ở nơi khác nếu họ không tuân thủ, các công ty sẽ buộc phảithay đổi thực tiễn của họ và thay đổi chúng nhanh chóng Làm thế nào chúng ta cóthể mong đợi các doanh nghiệp hành động có trách nhiệm với xã hội khi làm nhưvậy có nghĩa là họ phải cố gắng giải thích những gì người tiêu dùng cần - quan điểmthường mâu thuẫn với tiêu chí mà những người tiêu dùng tương tự sử dụng để đưa
có thể làm thay đổi triển vọng của công ty Một ví dụ sống động xuất phát từ khủnghoảng kinh tế 2007-2009:
Khủng hoảng Kinh tế 2007-2009
Để theo đuổi lệ phí thủ tục, các nhà môi giới bán những khoản thế chấp cóthể điều chỉnh cho những người không có khả năng chi trả Những khoản vay nàysau đó được gói lại và bán cho các nhà đầu tư (theo đuổi khoản tiền thưởng hàngnăm), những người không hiểu họ hoặc đánh giá cao những rủi ro liên quan Vớixếp hạng AAA, các chứng khoán này đã được phân cấp bởi các cơ quan đánh giátín dụng (theo đuổi phí doanh nghiệp), các khoản thế chấp tiếp tục được bán cho
Trang 5phần lớn dân số Với sự thiếu giám sát của các nhà quản lý, những hành động vôtrách nhiệm xã hội đã được lặp lại trong nhiều năm Khi giá nhà đất sụt giảm và tìnhtrạng vỡ nợ của nhà đất tăng lên, sự thiếu trách nhiệm xã hội của các công ty môigiới, ngân hàng, cơ quan xếp hạng tín dụng và phố Wall dẫn đến hậu quả nghiêmtrọng và phá sản đối với nhiều doanh nghiệp không thực hiện CSR.
Tiêu đề của chương này, " CSR có bao nhiêu vấn đề?" Phản ánh một cuộctranh luận quan trọng trong cộng đồng CSR: Các công ty có thể an toàn bỏ qua cáccuộc kêu gọi cải cách miễn là họ có lợi nhuận? Theo định nghĩa này, lợi nhuận cónghĩa là một công ty đang nâng cao giá trị (nhận thức hoặc thực tế) cho các nhómchủ thể quan trọng, ngay cả khi những nhu cầu đó có những hậu quả tiêu cực lớn?Chương này được thiết kế để giải quyết những câu hỏi này trong khuôn khổ rộnglớn hơn của chiến lược CSR được xây dựng ở các chương 1 và 2 Một câu hỏi chínhlà: trách nhiệm mang lại hành vi trách nhiệm xã hội giữa các doanh nghiệp là củaai? Chúng tôi kiểm tra tại sao các bên liên quan có thể không luôn luôn quan tâmđến CSR hoặc ngay cả khi họ quan tâm, tại sao họ không thể chứng minh mối quantâm đó với hành động của họ Chúng tôi cho thấy CSR có thể không quan trọng,nhưng sự thất bại trong việc nhận thức về trách nhiệm xã hội của các bên liên quan
sẽ có những hậu quả về đạo đức, lẽ phải và kinh tế đối với bất kỳ công ty nào - nhưcuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009 đã tiết lộ
Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 là cuộc khủng hoảng trong nhiềulĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán) diễn ra từ năm 2007 cho đếntận nay Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứcấp Và bản thân nó lại là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu 2007-2010
Trang 6nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế liên quan đến chứng khoán hóa (thay vi 2 loại chủ thếkinh tế là người thế chấp - đi vay và tổ chức tín dụng cho vay - nhận thế chấp nhưgiao dịch tín dụng truyền thống), vì sự xuất hiện của bảo hiểm cho các sản phẩmchứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), vì sự ra đời củacác thể chế như các thể chế mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kếtcấu (SIV) để mua bán MBS và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro hệ thống bao gồm
cả rủi ro đạo đức và lựa chọn trái ý Trong khi đó, mô hình giám sát tài chính củaHoa Kỳ trước khủng hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này
Những rủi ro mang tính hệ thống đã tồn tại và một khi sự cố đối với bongbóng thị trường tài chính xảy ra thì những rủi ro này sẽ làm mất lòng tin ghê gớmcủa các bên liên quan Thêm vào đó, việc thực hành cho vay liên ngân hàng sẽ làmcho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng; một ngân hàng phásản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản Và mất lòng tin ở người gửi tiền gây
ra đột biến rút tiền gửi còn làm cho tình hình thêm nghiêm trọng và diễn ra nhanhchóng hơn
Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giánhà đất giảm và chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và các CDO giảm theo.Rủi ro mang tính hệ thống đã làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ravào tháng 5 năm 2006 khi mà nhiều tổ chức phát hành MBS và CDO cũng như một
số tổ chức tài chính mà trong danh mục tài sản của mình có nhiều MBS và CDOsụp đổ Tiếp theo đó, khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8 năm 2007 khi đếnlượt cả các SPV và SIV cũng sụp đổ, rồi phát triển thành khủng hoảng tài chínhtoàn cầu từ tháng 9/2008 khi cả những tổ chức tài chính khổng lồ như LehmanBrothers sụp đổ
Trang 7sản tịch biên không bù đắp nổi khoản ngân hàng cho vay, khiến các ngân hàng rơivào khó khăn.
Sau khi bong bóng Dot-com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõsau sự kiện 11 tháng 9, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ
để cứu nền kinh tế nước này khỏi suy thoái, đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liênngân hàng Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002,lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn 1,75% Tín dụng thứ cấpcũng giảm lãi suất theo Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản
và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế Trong môi trường tíndụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm kể cả chonhững người nhập cư bất hợp pháp vay Hệ quả là vay và đi vay ồ ạt nhằm mụcđích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở Năm 2005, có tới 28% số nhàđược mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không Năm này, bongbóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ Từ quý IV năm 2005 đến quý Inăm 2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3% Thời điểm đó, tổng giá trị lũy tíchcác khoản tín dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ dollar
Sau khi bong bóng nhà ở vỡ, các cá nhân gặp khó khăn trong việc trả nợ.Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ.Giá nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO - viếttắt của collateralized debt obligations) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thếchấp (MBS - viết tắt của mortgage-backed security) do các tổ chức tài chính pháthành bị giảm giá nghiêm trọng Kết quả là bảng cân đối tài sản của các tổ chức nàyxấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt Cuộc khủnghoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra
Nguyên Chủ tịch Fed Alan Greenspan sau này thừa nhận rằng ông đã khôngnhận thức hết quy mô của thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp
Diễn biến của khủng hoảng
Tình hình phá sản 2007-2008
Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New CenturyFinancial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình
Trang 8trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation.Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiệntượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy cơkhan hiếm tín dụng hình thành Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổra.
Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác Ở Anh quốc, ngân hàngNorthern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mình ra
Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện phápnhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như thực hiệnnghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chínhphủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở ThángChín 2007, Cục Dự trữ Liên bang còn tiến hành giảm lãi suất cho vay qua đêm liênngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống 4,75% Trong khi đó, Ngân hàng Trungương châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar Mỹ vào thị trường tín dụng để nâng cao mứcthanh khoản
Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khinhững báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sảndiễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính Tìnhtrạng đói tín dụng trở nên rõ ràng Hệ thống dự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãisuất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2 năm 2008 nhưng không có hiệuquả như mong đợi
Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu BearSterns, nhưng không nổi Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại vớigiá 10 dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổphiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra Việc Ngân hàng dự trữ liênbang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đivới giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp của chính phủ cứu việncác tổ chức tài chính gặp khó khăn Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy cuộc khủnghoảng lên nấc thang trầm trọng hơn
Trang 9Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loạilớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản Tiếp sau Lehman là một số công tykhác Tháng 9 năm 2008, Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ổn định Kinh tếKhẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ chi tới 700 tỷ USD cứu nềntài chính của nước này bằng cách mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, đặc biệt
là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản
Tác động
Đối với Hoa Kỳ
Chỉ số bình quân công nghiệp Dow-Jones giảm liên tục từ cuối quý III năm2007
Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi vàosuy thoái từ tháng 12 năm 2007 NBER dự đoán đây sẽ là đợt suy thoái nghiêmtrọng nhất ở Hoa Kỳ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Bình quân mỗi tháng từtháng 1 tới tháng 9 năm 2008, có 84 nghìn lượt người lao động Hoa Kỳ bị mất việclàm
Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ vàlâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng Đến lượt nó,tình trạng đói tín dụng lại ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp phảithu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào Thất nghiệpgia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ giađình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa Nhiều doanh nghiệp bịphá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu củaHoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng
ô tô này đã nỗ lực vận động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công.Hôm 12 tháng 12 năm 2008, GM đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máycủa hãng ở khu vực Bắc Mỹ Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giáchung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảmphát
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá Do dollar Mỹ là phươngtiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua
Trang 10dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá Điều nàylàm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại.
Đối với thế giới
Giá dầu (USD/thùng) giảm mạnh từ giữa năm 2008 do lượng cầu giảm khikinh tế thế giới xấu đi
Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tếsuy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướngxuất khẩu ở Đông Á Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore
và Hong Kong rơi vào suy thoái Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại
Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ chịu tác động nghiêmtrọng cả về tài chính lẫn kinh tế Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mứctrở thành khủng hoảng tài chính ở một số nước như Iceland, Nga Các nền kinh tếlớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùngđều giảm tăng trưởng Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tếđầu tiên kể từ ngày thành lập
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ,nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khigiá dầu giảm mạnh Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ
Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏcho sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm Điều này lại làm cho cácnước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy ra đãlàm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng caotrong thời gian cuối năm 2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộckhủng hoảng giálương thực toàn cầu Nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới gặp phải đợt mấtgiá chứng khoán nghiêm trọng Các nhà đầu tư chuyển danh mục đầu tư của mìnhsang các đơn vị tiền tệ mạnh như dollar Mỹ, yên Nhật, franc Thụy Sĩ đã khiến chocác đồng tiền này lên giá so với nhiều đơn vị tiền tệ khác, gây khó khăn cho xuấtkhẩu của Mỹ, Nhật Bản, Thụy Sĩ và gây rối loạn tiền tệ ở một số nước buộc họ phảixin trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tiền tệ khiwon liên tục mất giá từ đầu năm 2008