1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

TIỀM HIỂU ĐẶC SẢN VÙNG TÂY NAM BỘ

77 750 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 153,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song cao hơn nữa ăn uống còn được coi là một nét văn hóa và thể hiện rõ nét nhất thông qua các món đặc sản mang những nét đặc trưng rõ nét của từng vùng miền, từng khu vực.. Văn hóa được

Trang 1

Mục Lục Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài 6

2. Lịch sửu vấn đề 6

3. Mục đích nghiên cứu 7

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5. Phương pháp nghiên cứu 8

6. Cấu trúc niên luận 8

Chương 1: Cơ sở lý luận về đặc sản và các đặc sản của Việt Nam 1.1 Khái niệm văn hóa 9

1.2 Khái niêm đặc sản 12

1.3 Khái niệm về ẩm thực 13

1.4 Khái quát về đặc sản cảu Việt Nam 15

Chương 2: Khái quát về đặc sản vùng Tây Nam Bộ 2.1 Khái quát về vùng Tây Nam Bộ 28

2.1.1 Vị trí địa lý 28

2.1.2 Khí hậu 28

2.1.3 Dân cư 28

2.1.4 Lịch sử hình thành 29

2.1.5 Điều kiện tự nhiên 31

2.2 Đặc sản của vùng Tây Nam Bộ 33

2.2.1 Bưởi 2.2.1.1 Bưởi Năm roi trà Phú Hưu – Hậu Giang 33

2.2.1.2 Bưởi da xanh – Bến Tre 34

2.2.1.3 Bưởi lông cổ cò – Tiền Giang 34

2.2.2 Rượu 2.2.2.1 Rượu Đế Gò Đen – Long An 35

2.2.2.2 Rượu dừa – Bến Tre 35

2.2.2.3 Rượu Phú Lễ - Bến Tre 36

2.2.2.4 Rượu Xuân Thạnh – Trà Vinh 37

2.2.2.5 Rượu Sim Phú Quốc – Kiên Giang 37

Trang 2

2.2.2.6 Rượu mỏ quạ - Kiên Giang 38

2.2.2.7 Rượu Mận Sáu Tia 38

2.2.3 Bánh phồng 2.2.3.1 Bánh phồng tôm Sa Giang – Tiền Giang 39

2.2.3.2 Bánh phồng Phú Mỹ - An Giang 40

2.2.3.3 Bánh phồng Sơn Đốc – Bến Tre 40

2.2.3.4 Bánh phồng tôm Bãi Xàu – Sóc Trăng 41

2.2.4 Mắm 2.2.4.1 Mắm tôm trà Gò Công – Tiền Giang 41

2.2.4.2 Mắm Châu Đốc – An Giang 42

2.2.4.3 Mắm còng Châu Bình – Bến Tre 43

2.2.5 Khóm 2.2.5.1 Khóm Bến Lức - Long An 43

2.2.5.2 Khóm Cầu Đúc – Hậu Giang 43

2.2.5.3 Khóm U Minh – Cà Mau 44

2.2.6 Khô 2.2.6.1 Khô Rắn – An Giang 44

2.2.6.2 Khô cá kèo – Cà mau 45

2.2.7 Sầu riêng 2.2.7.1 Sầu riêng Ngũ Hiệp – Tiền Giang 45

2.2.7.2 Sầu riêng Cái Mơn – Bến Tre 46

2.2.8 Bánh Tráng Mỹ Lồng – Bến Tre 47

2.2.9 Thốt nốt bảy Núi – An Giang 48

2.2.10 Nem Lai Vung – Đồng Tháp 49

2.2.11 Bánh canh Vĩnh Trung – An Giang 49

2.2.12 Lạp xưởng 2.2.12.1 Lạp xưởng ( Tung lò mò ) – An Giang 50

2.2.12.2 Lạp xưởng Cần Giuộc – Sóc Trăng 51 2.2.13 Bún

Trang 3

2.2.13.1 Bún nước lèo – Sóc Trăng 51

2.2.13.2 Bún cá – Kiên Giang 52

2.2.14 Bánh Pía – Sóc Trăng 52

2.2.15 Bánh tét 2.2.15.1 Bánh tét lá cẩm – Cần Thơ 54

2.2.15.2 Bánh tét trà cuôn - Trà Vinh 54

2.2.16 Kẹo dừa – Bến Tre 55

2.2.17 Mật ong rừng U Minh- Cà Mau 56

2.2.18 Hồ Tiêu Phú Quốc – Kiên Giang 57

2.2.19 Nước mắm Phú Quốc – Kiên Giang 58

2.2.20 Dừa sáp – Trà Vinh 59

2.3 Thực trạng khai thác đặc sản vùng Tây Nam Bộ 2.3.1 Bánh Pía 59

2.3.2 Bưởi 60

2.3.3 Kẹo Dừa 62

2.3.4 Tiêu Phú Quốc 63

2.3.5 Nước mắm 64

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển đặc sản của vùng Tây Nam Bộ 3.1 Định hướng phát triển của Việt Nam 66

3.2 Định hướng phát triển của vùng Tây Nam Bộ 67

3.3 Giải pháp phát triển 3.3.1 Tuyên truyền quảng bá thương hiệu 68

3.3.2 Tăng cường kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm 69

3.3.3 Xây dựng các khu buôn bán tập chung 70

3.3.4 Xây dựng các bài thuyết minh giới thệu 70

3.3.5 Điều tra thị trường 70

3.3.6 Bảo tồn những giá trị văn hóa và nghệ thuật của đặc sản 71

Kết Luận 71

Trang 4

Phụ lục 73

Tài liệu tham khảo

LỜI CẢM ƠN

Trang 5

Sau một thời gian nghiên cứu và viết bài, em đã hoàn thành được Niên Luận, một công trình nghiên cứu khoa học đầu tay của chính bản thân mình Để có được sự thành công đó, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ, động viên nhiệt tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Tây Đô các thầy cô bộ môn, gia đình, bạn bè, cũng như các cơ quan chức năng du lịch của vùng Tây Nam Bộ.

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quý thầy cô giảng viên trong trường đã tận tình giảng dạy trong thời gian qua, gia đình và bạn bè luôn giúp đỡ động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em, biệt là cô Lê Thị Mai Hương đã giúp em định hướng đề tài và trực tiếp hướng dẩn chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành Niên luận này.

Do hạn chế về hiểu biết và kinh nghiệm, địa bàn nghiên cứu lại rộng, do đó chắc chắn Niên luận này không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết Vậy em rất mong được ý kiến bổ sung và đóng góp của quý thầy cô cũng như tất cả mọi người

đã và đang quan tâm đến đặc sản của vùng Tây Nam Bộ để bài niên luận của em hoàn chỉnh hơn.

Em xin chân thành cảm ơn !

Cần Thơ, ngày 30 tháng 10 năm 2015

Sinh viên Phan Huỳnh Quyển

Trang 6

Sắc thái văn hóa của mỗi tộc người thể hiện qua trang phục, kiến trúc, lễ hội và đặc sắc là qua ăn uống Văn hóa chính là động lực của sự phát triển, do vậy văn hóa đan xen vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó đặc sản là một thành phần tham gia cấu thành nên nền văn hóa dân tộc, tạo nên bản lĩnh, và bản sắc dân tộc độc đáo.

Ăn uống là nhu cầu đầu tiên và thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại, sự sống của

cơ thể con người Song cao hơn nữa ăn uống còn được coi là một nét văn hóa và thể hiện rõ nét nhất thông qua các món đặc sản mang những nét đặc trưng rõ nét của từng vùng miền, từng khu vực.

Những năm gần đây, các sản phẩm đặc sản của các vùng miền được quan tâm nhiều hơn Cuộc sống của nền kinh tế thị trường đã mở ra nhiều hướng tiếp cần với văn hóa ăn uống và nhất là các món đặc sản, đặc biệt góp phần trong lĩnh vực kinh doanh du lịch Trên khắp mọi miền đất nước các nhà kinh doanh du lịch đã nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của thực khách, của khách du lịch trong và ngoài nước muốn thưởng thức các món đặc sản những kiểu ăn khác nhau của các vùng, miền Sẽ rất thú vị nếu họ được thưởng thức các món ngon vật lạ ngay trên mảnh đất mà họ đặt chân đến để ngao du sơn thủy.

Trong bối cảnh mở cửa hiện nay, đặc sản của Tây Nam Bộ cũng như các vùng , miền khác của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh Vì vậy, việc tìm hiểu bảo tồn và phát triển các đặc sản vùng Tây Nam Bộ là việc quan trọng và cần thiết.

Là một sinh viên theo học ngành Việt Nam học tôi nhận thấy việc tìm hiểu các món đặc sản vùng Tây Nam Bộ là cần thiết góp phần phát huy và bảo những đặc trưng quý giá của vùng Hơn nữa, với mong muốn trao dồi kỹ năng tìm hiểu văn hóa vùng, miền Việc thực hiện Niên luận này sẽ giúp tôi tìm hiểu sâu hơn đời sống của người dân vùng Tây Nam Bộ nhằm xây dựng và triển khai một cách có hiệu quả các tour du lịch về với văn hóa vùng Tây Nam Bộ sau này.

Trang 7

Tuy nhiên, việc nghiên cứu đặc sản ở khía cạnh mỗi vùng, miền là đề tài ít được nhắc đến Tây Nam Bộ vốn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc Đặc sản của vùng là sự pha trộn màu sắc văn hóa của 4 dân tộc anh em : Kinh, Hoa, Khmer, Chăm Trải qua quá trình cộng cư lâu dài nền ẩm thực của các dân tộc đã có nhiều

sự thay đổi lý thú Thế nhưng mỗi vùng ,mỗi dân tộc vẫn còn lưu giữ được các món

ăn truyền thống, riêng biệt góp phần làm cho ẩm thực đồng bằng thêm đa dạng, phong phú “ Tìm hiểu các đặc sản của vùng Tây Nam Bộ” là một đề tài mới.

Thực tế đã cho thấy hầu hết các tác giả chỉ hướng ngòi bút cho vấn đề ẩm thực chung của Việt Nam, cho các món ăn mới lạ mà ít đề cập đến điểm đặc trưng

và nguồn gốc của nó Thực hiện niên luận này, để đưa người đọc đến một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về đặc sản vùng Tây Nam Bộ thông qua việc khai thác đặc sản của các tỉnh trong vùng, kêu gọi ý thức duy trì và phát huy đặc truyền thống của vùng Chú ý việc khai thác đặc sản theo hướng phục vụ cho đời sống nhằm giải quyết vấn đề kinh tế cho người dân bên cạnh việc phát triển kinh tế trong vùng.

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích đầu tiên của niên luận là tìm hiểu nét độc đáo trong cách chế biến bảo quản cũng như gieo trồng các món đặc sản của vùng Tây Nam Bộ Bên cạnh đó góp phần quảng bá các giá trị văn hóa phong tục tập quán của người dân nơi đây.

Mục đích quan trọng nhất là tiềm năng đặc sản của Tây Nam Bộ, đã khai thác

và định hướng phát triển các đặc sản đó cho vùng.

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các món đặc sản của vùng Tây Nam Bộ và cách chế biến, gieo trồng cũng bảo quản của người dân nơi đây Qua đó có thể khai thác phục

vụ cho việc bảo tồn và phát triển Đặc sản của người dân nơi đây, cùng với đó là những biến đổi trong phương thức chế biến trong giai đoạn hiện nay, kết hợp với việc tham khảo các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước qua đó chọn lọc, tổng hợp, các nguồn tư liệu trong vùng.

Phạm vi nghiên cứu là vùng Tây Nam Bộ

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Để thu thập tài liệu thực địa tôi đã tiến hành các chuyến đi thực tế đến từng các địa phương với các kỹ thuật chủ yếu là ghi chép, chụp hình, phỏng vấn quan sát…

Phương pháp tổng hợp các tài liệu báo cáo thống kê, phân tích, so sánh các nguồn tài liệu về đặc sản của vùng Tây Nam Bộ sau đó tổng hợp và soạn thảo thành văn bản.

6 Cấu trúc niên luận

Ngoài phần: Mở đầu, Kết luận, Phụ lục…nội dung của Niên luận trình bày qua

3 chương chính:

Chương 1 Cơ sở lý luận về đặc sản

Chương 2 Khái quát đặc sản của vùng tây nam bộ

Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển đặc sản của vùng Tây Nam Bộ

Trang 9

TÌM HIỂU CÁC ĐẶC SẢN CỦA VÙNG TÂY NAM BỘ

Chương 1 Cơ sở lý luận về đặc sản và các đặc sản của Việt Nam

1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.

“ Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện ” Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Ngay từ năm 1952 , hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học , nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu ) , dân gian học , địa văn hóa học , văn hóa học , xã hội học , và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau.Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều Một trong những cách đó phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây:

+ Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus"

mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người" Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động dành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần".

Trang 10

+ Các định nghĩa miêu tả: nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội.

+ Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa Một trong những định nghĩa

đó là của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng

xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống.

+ Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi “văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, )”.

+ Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Một trong những cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 - 1910), viện sỹ

Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính

là văn hóa, hay văn minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.

+ Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa,

ví dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội”

“Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa”.

+ Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó,

ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa

Trang 11

rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau.

+ Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.

“ Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội ” Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

Trong Tiếng Việt,văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức,lối sống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng,thì văn hóa bao gồm tất cả,từ những sản phẩm tinh vi,hiện đại,cho đến tín ngưỡng,phong tục,lối sống

Theo “Đại từ điển tiếng Việt” của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam

-Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử".

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa :

+ “ Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử -văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá

Trang 12

+ “Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát)”.

+ “Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh” + “Văn hóa còn là cum từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn”.

+ Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó

có văn hóa.

+ Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

+ Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia”.

Như vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa “là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên ”.

1.2.Khái niệm về đặc sản

“Đặc sản là tên gọi chỉ chung về những sản vật, sản phẩm, hàng hóa (thường

là nông sản ) mang tính đặc thù hoặc có nhiều điểm đặc biệt, riêng có mà xuất xứ từ những vùng, miền, địa phương và tạo nên những nét đặc trưng của một vùng, miền hay một địa phương nào đó” Khái niệm đặc sản cũng không nhất thiết chỉ về những sản phẩm, sản vật được ra đời đầu tiên tại vùng, miền hay địa phương nhưng nó mang tính chất thông dụng, phổ biến tại địa phương hay có chất lượng cao hơn hẳn những sản phẩm cùng loại và được nhân dân địa phương coi như sản phẩm truyền thống của địa phương mình.

Trang 13

Trong tiếng Việt, đặc sản thường dùng để chỉ về lĩnh vực ẩm thực đặc biệt là những những món ăn, thức uống, nguyên liệu, hương liệu, gia vị trong ẩm thực mang tính đặc thù của một địa phương, đặc sản thường được dùng là quà biếu trong mỗi chuyến đi, đến từ một vùng miền nổi tiếng về một loại đặc sản nào đó, nó còn có

ý nghĩa trong hoạt động du lịch Ở phương Tây, khái niệm đặc sản (Local food) là một phần của khái niệm mua bán hàng hóa địa phương và nền kinh tế địa phương,

và thường được những chế độ ưu đãi để mua hàng hoá sản xuất trong nước, vùng miền sản xuất Đặc sản cũng không chỉ đơn thuần là một khái niệm địa lý dù những sản phẩm này có chứa những chỉ dẫn địa lý về vùng, miền, quốc gia nó xuất xứ.

Trong ẩm thực, đặc sản có thể là những món ăn, thức uống, thông dụng, phổ biến và có thương hiệu toàn cầu nhưng cũng có thể là những món ăn, thức uống gia truyền, bí truyền hay mang tính độc đáo chẳng hạn như những món ăn từ côn trùng, sâu bọ, ấu trùng hoặc từ những bộ phận, phủ tạng hoặc được chế biến bằng những phương pháp đặc biệt.

"văn hóa tinh thần".

Ngay từ khi những dấu chân đầu tiên của con người in dấu trên Trái Đất, ngay từ thời kì bình minh của nhân loại, việc ăn uống đã được coi như là một nhu cầu cần thiết để duy trì sự sống của sinh vật sống nói chung và con người nói riêng Tuy nhiên, ở thời kì cổ đại đó, thức ăn vẫn còn khan hiếm buộc con người không có quyền lựa chọn thức ăn Sau này, trải qua hàng triệu năm tiến hóa, thế giới ngày một

Trang 14

Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người Việt trên đất nước Việt Nam Tuy hầu như có ít nhiều có sự khác biệt, ẩm thực Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ thông trong cộng đồng người Việt.

1.4 Khái quát về đặc sản của Việt Nam

Bánh gai Tứ Trụ

Ở Thanh Hóa, bánh gai thường được làm để thết đãi khách sau mỗi lần giỗ tết, đình đám Sau khi ăn cỗ người ta mang các loại bánh ra để mời khách “tráng miệng”, Bánh gai còn để cúng tiến trong các ngày lễ tết, ngày hội, ngày giỗ húy nhật của thành hoàng, đặc biệt là ngày “hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”.

Bánh gai làm rất công phu, kỳ công ở tất cả các công đoạn Đòi hỏi người làm bánh phải tỉ mẩn và tinh tế, có những thao tác phải thành thạo, điêu luyện như một thứ gia truyền Lá gai được thu hái tận trong rừng hoặc trồng ở bãi bồi ven sông Chu hái về, rồi tước nhặt bỏ phần cuống lá, gân lá, xơ lá, đem phơi cho thật kỳ khô, gói lại

để trong chum Thường khi xưa đến ngày giỗ chạp, rằm hay tết mới đem ra làm bánh Lá gai khô đem ngâm nước, rửa cho thật sạch rồi bó thành từng bó đổ cho ngập nước đem luộc thật kỹ Vớt ra tiếp tục rửa sạch rồi lại thay nước tiếp tục luộc, thời gian luộc của hai lần chừng 24 tiếng, xong vắt khô kiệt để cho không còn nước,

bỏ vào cối đại giã cho kỳ nhuyễn, giã đến khi nào lấy hai đầu ngón tay xe thấy mát mịn Lá gai giã kỹ bao nhiêu thì bánh ngon hấp dẫn bấy nhiêu Bây giờ để bớt khó

Trang 15

nhọc và để sản xuất được thật nhiều người ta đưa lá vào ép cho kiệt nước rồi đem nghiền Cách làm tân tiến này đỡ phần khó nhọc được cái lợi về số lượng nhưng giảm về chất lượng Để bánh được thơm ngon phải có nhiều lá gai, vì lá gai là nguyên liệu chính nên gọi bánh gai Gọi là bánh gai Tứ Trụ vì nó do người làng Mía làm và được sản xuất tại làng Mía, xã Tứ Trụ – thuộc tổng Diên Hào – một làng cổ có hàng nghìn năm bên bờ sông Chu nay thuộc xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân Làng Mía cách trung tâm huyện Thọ Xuân 9 km về phía Tây, thuộc hữu ngạn sông Chu Chếch

về phía Tây Bắc của xã chừng 1,5 km đường chim bay, về phía tả ngạn là khu di tích lịch sử Lam Kinh, nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn quê hương của Bình Định vương Lê Lợi và của nhiều bậc khai quốc công thần triều Lê Hiện nay xã có 10 thôn (cách chia theo đội sản xuất của HTX Nông nghiệp thời bao cấp), đến giờ mặc

dù ranh giới làng không còn rõ nữa, không còn những mái đình cây đa để níu giữ chân người, nhưng trong tiềm thức người dân ở đây vẫn rạch ròi có 4 làng: làng Mau, làng Mía, làng Quần Đội, làng Quần Lai Tứ Trụ chỉ là một thị tứ nhỏ nằm giữa làng Mau và làng Mía Tứ Trụ thường là nơi bày bán, lưu chuyển đi khắp nơi, từ vùng đất này đến vùng đất khác sản phẩm bánh gai của người làng Mía Đó cũng là một lý do để người đời quen gọi là bánh gai Tứ Trụ.

Nguyên liệu đi cùng với lá gai là gạo nếp, thứ bột gạo nếp được xay bằng cối

đá bắc hoặc cho vào cối đá giã nhỏ rồi dùng rây bột gạn đi những hạt to Thứ gạo để làm bột tốt nhất là nếp nương hoặc nếp hoa cau Nhìn cảnh rây bột kỹ càng, chầm chậm, bột mịn màng trắng nõn nà theo mặt rây nhỏ li ti rơi xuống mát mẻ như mưa xuân, trắng như sữa mới thấy hết được tấm lòng thảo thơm của người làng Mía Phần không thể thiếu được để chiếc bánh thơm ngon là nhân bánh Nhân bánh được làm từ đậu xanh, dầu chuối, đường và thịt lợn nạc Đậu xanh đem cà vỡ đôi vỡ ba, ngâm tróc vỏ đãi sạch, nấu như nấu cơm hoặc đồ lên, không được nấu nhão, và nhớ rắc vào nồi đậu vài hạt muối khi đậu vừa sôi Khi đậu chín, cho vào cối giã cùng với đường sao cho đường và đậu nhỏ mịn thấm đều vào nhau Đây là thành phần chính của nhân bánh; để cho nhân có mùi vị đặc trưng, ngọt thanh, cần có thịt lợn nạc (khoảng từ 200 đến 300 gam cho 100 nhân), một thìa cà phê nước mắm ngon và một

ít dầu chuối Dầu chuối cho đủ độ, nếu nhiều sẽ bị đắng, cho ít quá thì không dậy mùi.

Trang 16

Bột lá gai, bột nếp, trộn cùng mật mía cho thật kỹ đều rồi ủ trong một đêm Người thạo nghề nếu thấy mật loãng thường phải đem cô lại và phải để cho mật nguội tự nhiên mới ngâm ủ Bột đa thành phần tiếp tục đem vào cối giã cho kỳ dẻo sau đó đem luyện sao cho kết dính, hòa thấm vào nhau (khâu này để nhấn mạnh người ta gọi là khâu luyện hay lèn bánh đều đúng) Khâu giã bánh góp phần quyết định chất lượng của bánh Thường khi xưa giã bằng cối đại hai người nhún và một người trực ở cối

đá để đảo trộn cho thật đều Khi giã phải giã liên tục cho thật đều nhịp chày, trộn cho thật kỹ đến khi nào bột nhuyễn, dẻo quánh Người giã khéo léo nhịp nhàng bao nhiêu thì người trực ở cối để trộn càng khéo léo bấy nhiêu Phải trộn thật đều từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên, từ phải qua trái sao cho không bị lõi Khi luyện đã đến độ thử kiểm tra bằng cách xoa đầu ngón tay xem bột mịn chưa, nếu bột mịn mềm dẻo có màu đen bóng, cầm hai đầu kéo mà không đứt hoặc nắm bột bỏ lên lòng bàn tay thấy bột cứ từ từ xệ ra thì mới được Khâu này bây giờ cũng được dùng bằng máy có lắp mô tơ chạy với vận tốc lớn Đây là công đoạn khó, đòi hỏi phải có kinh nghiệm thực tiễn Công đoạn này nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến tình trạng hoặc là nhão quá hoặc là cứng quá, không thành bánh.

Những người làm nghề có kinh nghiệm pha chế mật “non” hoặc “già” còn tùy thuộc vào thời tiết Những người thợ giàu kinh nghiệm thường lấy mắt mà nhận biết Thứ bột này là phần “thịt” của bánh Lấy bột này đem nặn từng cục tròn rồi dàn mỏng trên lòng bàn tay, lấy nhân cho vào giữa, vê lại sao cho nhân nằm gọn giữa lòng chiếc bánh Khi đã xoa cho bánh tròn thì lăn bánh trên mâm đồng đã rải đều hạt vừng Vừng làm bánh phải được đãi sạch, phơi khô, cà nhẹ sao cho tróc lớp lụa ngoài, tránh làm vỡ hạt vừng Vừng không thể thiếu vì tác dụng của vừng không chỉ tạo cho bánh gai ngọt, bùi, béo, mà còn làm cho bánh dễ bóc Vừng sống khi gặp nhiệt độ cao, dầu vừng chảy ra, đủ độ bôi trơn vỏ bánh chứ không làm ướt bánh Dùng lá chuối khô vuốt phẳng gói lại cho khéo thành từng chiếc bánh vuông vắn, quấn một chiếc lạt giang bên ngoài Gói bánh cũng đòi hỏi nghệ thuật Gói bánh gai nhất thiết phải bằng lá chuối khô, nhà cầu kỳ phải lên rừng lấy cho được loại lá chuối tiêu già thì bánh mới thật thơm ngon Lá chuối khô là lá già khô một cách tự nhiên, chứ không phải lấy lá chuối đem phơi nắng hoặc hong cho khô Lá chuối phải được đệm nhiều

Trang 17

lượt một phần để tạo mùi thơm đặc trưng của bánh, một phần để cho bánh định hình Đây cũng là cách tốt nhất để bảo vệ bánh được lâu và giữ được hương vị Người thưởng thức thấy bánh nhiều lá mà hiểu rằng họ độn lá vào cho bánh to để chiêu khách, nói vậy là phụ công người làm bánh nhiều lắm.

Sau cùng là phần hấp bánh (người làng Mía gọi là đồ bánh) cũng là công đoạn đòi hỏi thực tiễn Thứ thực tiễn được trả giá bằng quyết tâm sống chết với nghề Bánh gai hấp không chín, đem hấp lại sẽ không được nữa Người thạo nghề muốn biết bánh chín hay chưa, chỉ cần kiểm tra bằng mắt và ngửi mùi thơm là đủ Thử bằng cách bóc bánh nhanh thấy mặt bánh rỗ đều là bánh đã chín Thời gian để bánh chín thường được căn cứ vào số lượng bánh đồ trong chõ to hay nhỏ, ít hay nhiều, nhiệt độ cao hay thấp Bánh chín được vớt ra nia rồi mở ra (mở chứ không phải bóc) cho ráo, để cho bánh nguội tự nhiên và ráo nước Công đoạn này còn phải làm động tác vuốt lại bánh để bánh nhẵn và đẹp (bánh có hình gộp rùa là đẹp) Khi bánh nguội hẳn dùng lạt giang đã nhuộm phẩm đỏ thay cho lạt khi luộc, gói từng bó 5 chiếc một cho vuông vắn, rồi xếp hai bó loại 5 chiếc lại thành 10 chiếc để tiện lợi khi dùng hoặc khi trao đổi mua bán.

Người làm bánh đã rất công phu, người thưởng thức bánh cũng phải sành điệu Thường ăn bánh sau khi hấp khoảng 10 tiếng đồng hồ Lần lượt nhẹ nhàng bóc hết các lần lá bên ngoài, ở lần lá trong cùng, người ăn phải xé nhỏ từng sợi lá, kiên trì cho đến khi còn lại một phần lá, ta cuốn lại cầm bánh ăn, có như vậy bánh mới không dính vào tay, ăn đến đâu xé và bóc đến đấy cho đến lúc ăn hết Các cụ ta khi xưa dạy “học ăn học nói, học gói học mở” vận vào với bánh gai thật đúng là vậy Khi

ăn người ta ăn từ tốn nhấm nháp, thưởng thức; phần có nhiều nhân bánh người ta nhai chậm, miệng khép, như vậy hương vị của bánh mới có điều kiện lan tỏa, tác động vào khứu giác, tạo cảm giác thú vị khi thưởng thức.

Trang 18

Bánh gai thành phẩm phải mịn và thơm ngon, phải có được vị dẻo thơm của lá gai, của gạo nếp và có được hương thơm ngất ngây của dầu chuối, hương vị tự nhiên khó tả của lá chuối khô, vị ngọt mát của mật mía, mùi thơm thanh dịu của đậu, vị béo ngậy của thịt, mùi thơm thoảng của vừng, ăn một miếng mà dư vị còn đọng nơi đầu môi, chót lưỡi mới đạt

Bánh cáy Thái Bình

Bánh cáy từ bao đời nay đã trở thành một niềm tự hào của tỉnh Thái Bình Từ thành phố Thái Bình, xuôi theo quốc lộ 39 tới huyện Đông Hưng, gặp xã Nguyên Xá, ngửi thấy từ đầu làng mùi thơm ngọt ngào của gạo nếp, của nha, của mứt, khứu giác

tự mách bảo với ta đã đến đất làng Nguyễn – quê tổ món bánh cáy.

Nguyên liệu làm bánh rất tự nhiên Bánh được làm hoàn toàn từ những nông sản của địa phương như gạo nếp, mứt bí, dừa, vừng (mè), lạc (đậu phộng) Sở dĩ bánh có tên là bánh cáy bắt nguồn từ câu chuyện mang tính kỳ thú vẫn được kể lại ở làng Nguyễn Tương truyền rằng, một bà lão quanh năm làm ruộng tự chế biến được một món bánh có tên bánh cay từ gạo nếp, gừng tươi… Bà mang món bánh dâng lên Đức Vua và được ngợi khen, làng Nguyễn từ đó nức tiếng với món bánh cay độc đáo Một đêm bà lão nằm mơ có con cáy đến khóc mình Ít lâu sau, bà qua đời, xác bà khi mang xuống biển, những đợt sóng biển rẽ ra, đón bà vào lòng đại dương Từ đó, tên bánh cáy được đặt cho món bánh ngọt ngon, tưởng nhớ về “cụ tổ” của món bánh quý

Có về làng Nguyễn, tận mắt chứng kiến dây chuyền sản xuất bánh cáy của một gia đình có truyền thống lâu đời, mới thấy hết được cái tâm người ta dành cho món

ăn quê hương Bánh cáy làng Nguyễn được chọn lựa nguyên liệu kỹ càng, gồm có nếp cái hoa vàng tròn mẩy, gấc chín đỏ, lạc, vừng rang vàng, mỡ phần, cơm dừa xắt lát ướp đường, mứt bí dẻo thơm, mạch nha, tinh dầu hoa bưởi Để chứng kiến công đoạn sản xuất bánh cáy trọn vẹn, bạn phải ở làng Nguyễn… nửa tháng Nửa tháng để ướp mỡ phần, cơm dừa trong đường cát trắng cho ngấm Nếp cái hoa vàng phải ngâm nước, trộn gấc chín đồ thành xôi, rồi ép dẻo, xắt hạt lựu lại đem phơi khô (đây chính là “con cáy”) Thóc tẻ bung trong nồi gang, cho xòe cánh thành một thức gọi là

“nẻ”.

Trang 19

Chiên nẻ, “con cáy” trong dầu ăn Nấu nóng chảy mạch nha, cho “con cáy”, nẻ,

mỡ phần, cơm dừa, mứt bí, gừng sợi, thêm hương hoa bưởi vào đảo thật đều tay đến

độ kết dính thích hợp Rắc thêm vừng, lạc đã được rang giòn lên mặt bánh Bánh được ép trong khuôn lúc còn nóng.

Bánh cáy ngon là vừa đủ độ dẻo, ngọt, gạo nếp, lạc vừng dậy mùi Cắn miếng bánh thấy cái lạ miệng khi trong đó có mứt bí, cơm dừa deo dẻo, gừng tươi cay nồng.

Ăn bánh cáy mà uống thêm chén trà nóng là đúng kiểu.

Vì cuộc sống mưu sinh, người Thái Bình có khi phải bôn ba khắp các tỉnh thành trong Nam ngoài Bắc, đi đến đâu họ cũng mang theo phong bánh cáy làm quà, coi như một lời giới thiệu về quê hương Mỗi ngày lễ, tết, cúng giỗ tổ tiên, trên ban thờ trong mỗi gia đình người Thái Bình đều không thể thiếu phong bánh cáy Khi

đã nhang, người trụ cột trong gia đình cắt và chia đều miếng bánh cho mọi người, để con cháu lúc nhâm nhi đặc sản địa phương thêm nhớ cội nguồn của mình là mảnh đất Thái Bình quê lúa…

Chuối ngự

Từ xa xưa chúng ta đã biết chuối ngự là một món ăn đặc sản, quí hiếm dùng để dâng lên Vua Chúa Ở ngoại thành Nam Định, và dọc bờ sông Châu Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự Nhưng ngon nhất, vẫn là chuối làng chiêm trũng Đại Hoàng (Lý Nhân, Hà Nam) Quả chuối mềm nuột, mầu vàng nhạt, cắn một

miếng, lộ ra ruột vàng sậm, thơm nức “Đọc thơ Tú Xương ăn chuối ngự”, đó là câu

truyền ngôn tự hào của người dân thành Nam về quê hương mình Nam Định có Tú xương, ông tổ của thơ ca trào phúng việt Nam, có phủ Dầy, nơi thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng trần và có cả chuối ngự – món quà tiến vua khi xưa.

Chuối ngự là một trong những đặc sản của vùng đất Nam Định thời xa xưa Theo sử sách còn ghi thời vua Trần, từ phủ Thiên Trường đến ngoài thành Nam Định, nhiều vùng là quê hương, thái ấp của vua quan nhà Trần Các vua quan Trần đánh giặc giỏi, trị thủy tài, lại thương dân như con Cảm kích trước công lao to lớn

Trang 20

Với tên gọi sang trọng này chuối ngự đã ngang với ngự bào (áo vua mặc), ngự

mã (xe vua đi), ngự thiện (đồ vua ăn) Phải chăng, vì Nam Định vốn quê hương của các vua Trần nên các đồ ăn thức uống cũng như các sản vật của vùng đất này luôn là món quà đầy ỹ nghĩa với các vua Chuối Ngự Nam Định, quả rất nhỏ, khi chín có màu vàng ướm như tơ tằm, mùi thơm ngát, vị ngọt thanh Không chỉ đẹp về màu sắc, chuối ngự còn được trời cho vẻ đẹp về dáng nữa Trong các chuối thì dáng chuối ngự đẹp nhất, từ buồng, đến nải lẫn quả Với dáng hình thon thả, lá xanh màu ngọc bích, hoa đỏ rực như lửa, quả vàng như tơ tăm, chuối ngự như một nàng thiếu nữ dụi dàng trong nắng mai, vươn đôi tay mềm mại kéo sợi chỉ vàng dệt vải cho quê hương Chuối ngự quả nhỏ, thơm nên ăn rất vừa miệng lại không bị ngấy như chuối tiêu hay chuối gòng

Ngày nay, cứ mỗi độ xuân về, chợ Rồng lại óng ánh sắc vàng của những nải chuối ngự, làm đắm say bao người Chuối ngự đã trở thành một loại quả đặc sản mà

ai cũng muốn có để mang về làm quà cho người thân, là vật không thể thiếu trên mâm ngũ quả của mỗi gia đình khi tết đến xuân sang.

Trang 21

Chuối ngự đã đi vào tâm linh của người dân Nam Định, là thứ quả thiêng để dâng lên các bậc tổ tiên, thần thánh, là nỗi nhớ, niềm thương, sự ngưỡng vọng của lớp lớp người thành Nam về những vị vua linh thiêng của người Việt Và dù thời gian có phủ mờ bao lóp bụi nhưng chuối ngự mãi là một trong những món quà quý

mà trời đất đã ban cho người Nam Định, là cái hồn quê, là nỗi nhớ mênh mang của người dân Thành Nam mỗi khi xa quê, để rồi khi hương chuối thơm phản phất trong gió thoảng cũng là lúc tâm hồn người lữ khách ngồi buồn thơ thẩn nhớ cố hương.

để làm ra được cặp bánh công phu thế nào.

Nhân bánh phải được làm từ đỗ xanh nhưng phải chọn đúng loại đỗ xanh vỏ

đỏ lòng mới tốt, đãi sạch vỏ, sau đó hấp chín, đánh tơi, rồi cho thêm đường trắng, cùi dừa, hạt sen và các hương ngũ vị Bột làm bánh phải được làm từ gạo nếp, xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho ráo nước rồi phơi khô Tới khi nhào bánh phải dùng nước quả dành dành cho vào bột để lấy màu sắc tự nhiên chứ không được pha phẩm màu Muốn cho bánh giòn thì dùng đu đủ xanh, ngâm phèn rồi cắt nhỏ nhào lẫn với bột Khi ăn bánh thực khách sẽ thấy độ dẻo của nếp, độ giòn của đu đủ,

độ ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường tất cả hòa quyện vào nhau làm thành hương vị rất riêng của bánh.

Nhân bánh hình tròn nằm trong vỏ bánh bẻ khuôn hình vuông bằng lá dừa, như biểu tượng vuông tròn của triết lý âm dương Người ta dàn mỏng bột lên khuôn, đặt nhân vào một đầu rồi đắp phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che

Trang 22

chở của tình phu thê Triết lý ngũ hành cũng được thể hiện một cách tinh tế qua năm màu của bánh, đó là màu trắng của bột lọc và cùi dừa, màu vàng của dành dành và nhân đỗ, màu đen của hạt vừng, màu xanh của lá, màu đỏ của lạt buộc Tất cả như biểu tượng cho sự hòa hợp của đất trời và con người Lá gói bánh cũng là lá dong gói bánh chưng, nhưng phải làm kỹ hơn Rửa sạch lá phải để ráo nước, sau đó tước bớt cọng để khi gói bánh được mềm mại Lá lót trong phải là lá chuối tây dẻo luộc chín hong khô chứ không được dùng lá chuối tiêu Người ta còn quét lên lá một lớp

mỡ để khi bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy đặc trưng.

Mỗi nhà đều có một bí quyết làm bánh riêng vì vậy bánh của mỗi nhà đều có hương vị riêng, một nhãn hiệu riêng Tất cả các khâu từ nhào bột, nặn bánh, làm nhân, tước lá, luộc bánh đều phải làm thủ công, tốn nhiều công sức, vì vậy bánh tương đối đắt Giá mỗi cặp bánh từ 15.000 đến 20.000 đồng, thế mà nhiều gia đình làm bánh trong vùng vẫn không làm kịp để bán.

Bánh gói xong được buộc dây rơm nếp, luộc xong, người ta tháo bỏ dây rơm,

úp bụng hai chiếc bánh vào nhau rồi dùng lạt đỏ buộc thành cặp Có lẽ vì vậy mà người đời gọi loại bánh này là bánh phu thê.

Ngày nay kinh tế đã phát triển, mức sống đã cao hơn nhưng bánh phu thê vẫn

là thứ bánh được nhiều người ưa thích Theo chân khách hành hương, bánh phu thê

đã đi khắp trong Nam ngoài Bắc và từng xuất ngoại qua nhiều nước.

Đặc sản dê núi Ninh Bình

Ninh Bình nổi tiếng với cố đô Hoa Lư, thắng cảnh Tam Cốc, Bích Động, nhà thờ

đá Phát Diệm Nhưng nếu du khách đến đây chưa ăn món thịt dê thì coi như chưa biết thấu đáo về Ninh Bình.

Thịt dê Ninh Bình ngon hơn các vùng khác vì hai lẽ: dê ở đây nuôi trên núi đá,

ăn đa dạng các loại lá cây nên thịt săn chắc hơn so với dê thả đồi Thứ hai, người Ninh Bình có bí quyết riêng, biến dê thành món đặc sản nổi tiếng Đặc biệt món tái dê làm rất khéo, thịt ngọt và giòn, ăn với các loại rau thơm như lá đinh lăng, lá mơ, lá sung vị bùi bùi sẽ ngấm vào tận tâm can của người thưởng thức.

Trang 23

Có người hỏi cắc cớ thịt dê với thịt bò, thứ nào tốt hơn? Tính về giá trị dinh dưỡng, thịt dê có hàm lượng chất đạm cao hơn so với các loại thịt heo, bò 100g thịt

dê cung cấp đến 20g chất đạm trong khi lượng đạm được cung cấp từ 100g thịt heo,

bò chỉ khoảng 18g Đạm cao, nhưng hàm lượng chất béo thì lại không cao, nên tổng năng lượng từ thịt dê thấp hơn, khoảng 125 kcalo/100g so với 145 kcalo/100g thịt heo hoặc bò.

Trong thực tế, giá trị dinh dưỡng thật sự của thịt dê lại phụ thuộc vào cách chế biến Món dê nướng thường được ướp thêm dầu mỡ để làm thịt mềm hơn, nên vẫn ưu thế về chất đạm và chất béo, lượng chất khoáng và chất xơ thường không cân đối với mức năng lượng Món lẩu dê được nấu từ nhiều loại thực phẩm khác nhau, cần lưu ý về tỷ lệ chất béo nhất là chất béo no có trong lớp da và mỡ Hàm lượng chất béo này thường không phù hợp cho người bệnh mãn tính như tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch Món nướng nếu bị ám khói sẽ không tốt cho sức khỏe.

Khi đi ngang Ninh Bình, cho dù vội mấy bạn cũng đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức món đặc sản tái dê, nhâm nhi với ly rượu đế Kim Sơn nổi tiếng Món ăn cũng

"nói" lên được rất nhiều về miền đất mà bạn đi qua

Tré Đà Nẵng

Tré là một món ăn dân dã có xuất xứ từ miền Trung , chủ yếu là ở Đà Nẵng , Bình Định Tré - Đà Nẵngcó đặc điểm là rất dễ làm , không mất thời gian và có vị chua chua ngọt ngọt và không ngán như nem nướng và nem rán (chả giò) Món này

ăn rất ngon

Tré là món ăn nổi tiếng của người dân các tỉnh miền Trung như Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định Mỗi miền có cách làm tré khác nhau, nhưng nguyên liệu chính vẫn là: thịt tai, mũi heo (thêm chút bì), riềng, tỏi, thính gạo,lá ổi, và rơm khô để ủ.

Để làm tré, đầu tiên người ta sẽ luộc thịt chín, vớt ra để ráo nước rồi thái chỉ Riềng, tỏi thái mỏng, trộn đều hỗn hợp thịt + riềng + tỏi + thính gạo giã nhỏ Nêm gia

vị muối, tiêu cho vừa miệng ăn Sau đó lót một lớp lá ổi bên ngoài trước khi cho thịt

Trang 24

cà rốt thái sợi, củ kiệu…) chấm nước chấm chua ngọt, hay nước sốt tương ớt.

Vào những dịp vui, hay lễ Tết, tré thường được dọn làm món khai vị Nếu đã từng ăn tré, hẳn bạn sẽ cảm nhận được hương vị thơm, bùi, béo, ngọt không thể lẫn vào đâu được của món ngon, đặc sản nổi tiếng của miền Trung này

Bánh canh cá dầm - Nha Trang

Bánh canh là món đặc sản rất nổi tiếng ở Nha Trang mà hầu như du khách nào đến đây cũng phải một lần thưởng thức.Nếu là người miền Bắc, thoạt đầu, nhìn

tô bánh canh thực khách sẽ liên tưởng ngay đến các món bún nước quen thuộc Tuy nhiên, sợi bánh canh mềm hơn nhiều, dù to gấp 3-4 lần sợi bún của đất Bắc nhưng cũng "trơn tuồn tuột", rất dễ ăn, đó là lí do mà lúc thưởng thức bánh canh, người ta không bao giờ dùng đũa, chỉ cần một chiếc thìa to là đã có thể xì xụp hết bát bánh canh một cách ngon lành.

Cái ngon của bánh canh không chỉ nằm ở thứ nước dùng ngọt ngọt, chua chua, cay cay - hương vị rất đặc trưng yêu thích của miền Nam, mà nhiều người "mê mệt" món ăn này còn bởi độ chất của những khúc cá thu mềm, ngọt, thơm và không

có một chút xương nào Đặc biệt, dù thực khách có dầm nát miếng cá thu hòa lẫn cùng nước dùng thì bát bánh canh cũng không bao giờ bị tanh nồng, trái lại còn thấy ngon hơn, thú vị hơn nhiều.

Ngoài cá thu dầm thì một tô bánh canh đầy đủ còn có thêm chả, bao tử cá, khúc giò heo lớn, khiến món ăn càng "chất lượng" hơn bao giờ hết.

Món mì xứ Quảng

Trang 25

Lương thực người Việt xưa nay xuất phát chủ yếu từ gạo (dùng nếp chỉ chiếm

số ít); từ gạo, qua quá trình phát triển công cụ chế biến, qua cách chế biến lương thực đã không chỉ làm ra cơm mà còn các sản phẩm khác và lá mì (bánh ướt, bánh phở, ) là một trong số đó Với lá mì và những cách thức ăn mì lá, người Quảng, đã góp cho văn hóa ăn uống Việt Nam một món ăn dân dã độc đáo – món Mì Quảng.

Từ gạo (trắng, đỏ) ngâm, xay, tráng thành lá mì rồi xắt thành sợi mì trắng hay hồng hoặc dùng bột nghệ để làm ra những sợi mì vàng óng Nhờ lá mì được xoa dầu nên tô mì xứ Quảng, dù đã chan nước nhưn, vẫn giữ hương vị lâu hơn, khó biến mùi

so với các món khác Tô mì Quảng sắc màu từ những sợi mì, lục tươi của các loại rau bên tôm, thịt đỏ hồng, sậm vàng những hạt đậu phụng giòn tan, ; giữa các hương nông sản từ ruộng vườn gò bãi vẫn thoảng mùi dầu phụng phi hành Những miếng

mì xứ Quảng không lặng lẽ vào dạ dày mà kèm âm thanh thú vị từ cọng rau, hạt đậu phụng, miếng bánh tráng nướng sém và cả khi cắn trái ớt xanh gãy giòn nghe “tróc”.

Khác với những món ăn phải dùng nóng mới ngon thì mì xứ Quảng dùng nóng hay nguội đều có cái ngon của nó Nếu “công thức” ở nhiều món là “bột + thịt” (bún, phở) thì có lẽ mì xứ Quảng là một trong số ít món không nặng công thức, không đặc trưng – và chính đó mới là đặc trưng của mì xứ Quảng Người xứ Quảng, từ núi cao đến đảo xa đều biết “ăn theo thuở, ở theo thời”, quen linh hoạt ứng xử, linh hoạt chọn lựa, linh hoạt chế biến, vì vậy, món mì ở đây rất phong phú: có thể là mì bò (nước nhưn chế biến từ thịt bò), mì heo, mỳ gà, mì cá, mì ốc, mì nhông , mì mực, mì tôm, mì sứa, mì rắn hoặc mì thập cẩm; tương tự, các loại rau tươi (rau sống) cũng chẳng phải theo quy định nào - mùa nào thức ấy Tuy vậy, nếu mì bò, mì gà, mì cá (lóc), được cho là thông dụng thì bắp chuối (phần hoa chuối chưa trổ buồng) xắt mõng là loại “rau sống” thường gặp trên các tô mì ở đây Cái tên “mì Quảng” cũng chỉ là để gọi món mì xứ Quảng mà thôi, ở đây, địa danh “Quảng” được dùng làm tên món ăn, không dùng tên nguyên liệu (bún bò, chả cá, chè khoai, rượu nếp, ).

Mì ở xứ Quảng đâu chỉ để “ăn thiệt” trong bữa chính, món “ăn chơi” khi “nửa buổi” trong nhà, ngoài ruộng mà còn có mặt ở các lễ hội gia đình; có nơi, có lúc, mì là một trong các món cỗ dâng lên bàn thờ trang trọng Hơn nữa, mì xứ Quảng tuy lõng

Trang 26

Bánh khoái

Đến Huế, không thể nào bỏ qua món bánh khoái đặc trưng của vùng này Bánh được làm với bột gạo nguyên chất và được tráng trên khuôn nhỏ Nhân bánh là sự hòa quyện từ thịt heo băm với tôm cùng nấm xé nhỏ thêm một ít giá sống đã tạo ra món bánh khoái vàng rum, giòn được ăn kèm với rau sống, nước lèo nữa thì ngon tuyệt Nước lèo được chế biến rất đặc trưng từ gan heo, tương đậu nành, đậu phộng,

mè và các loại gia vị thêm một chút mắm ruốc đem đến cảm giác vừa béo ngậy, vừa ngọt dịu khó quên cho thực khách Cái cảm giác vừa ăn vừa hít hà hơi sảng khoái là đặc điểm khi được thưởng thức món bánh này.

Bánh Nậm

Bánh Nậm là một loại bánh và là món ẩm thực truyền thống đặc trưng của

xứ Huế Đây là thứ bánh được làm từ bột gạo vừa ngon vừa có tính chất lành (người già, trẻ em, người ốm đều có thể ăn được) Ở Huế, bánh nậm còn được làm chay, chỉ

có nhân đậu xanh, dùng cho ngày rằm, mồng một Đặc biệt, còn có bánh nậm nhân thịt cóc, dành cho trẻ còi cọc, suy dinh dưỡng, cũng ngon và hấp dẫn không kém bánh nậm tôm.

Bột gạo hòa tan với nước, nêm thêm bột ngọt, muối, dầu ăn đủ dùng, bắc lên bếp Đến khi bột quánh lại thì tắt bếp nhắc xuống Khi bột và nước đủ rồi, để riêng ra, múc nước rưới lên bột, bóp nhỏ đều hết rồi đổ nước đã lường sẵn vào, lấy rây lọc sạch; thêm vào bột một muỗng dầu ăn và một chút muối Đổ vào nồi, bắc lên lò, lấy đôi đũa bếp dáo (khuấy), dáo luôn tay kẻo bột khét và nổi cục (nổi óc trâu) Thấy bột hơi đặc lại, nhắc xuống, dáo một lát nữa, bột đặc vét không chảy là vừa, để nguội.

Tôm phải lột hết vỏ, chà muối cho sạch, đem băm nhỏ và đảo đều trên chảo dầu ăn được phi thơm bằng hành băm Xay nhuyễn tôm chung với thịt, ướp nước

Trang 27

mắm, tiêu và hành lá Xào chín và ráo tôm thịt để làm nhân Sau đó, nêm gia vị vừa

ăn, xào đến khi khô thì lấy xuống, cho vào cối, giã cho tơi ra Giã xong bỏ lại vào chảo,

để lửa nhỏ, chà cho tôm tơi, bong đều.Thịt ba chỉ xắt nhỏ hai thứ văm chung nhỏ rồi xào với tiêu, hành, nước mắm, mỡ cho thấm.

Phơi nắng hoặc nhúng qua nước nóng cho mềm, dùng kéo cắt đầu đuôi và cái sống giữa cho sát, rửa sạch lau khô, cắt miếng vuông 20 cm trải ra mâm, trải một lớp bột mỏng, chính giữa lá bỏ một đường thẳng nhụy tôm thịt chính giữa bột, gấp lá gói lại, bẻ hai đầu cho cân, gói rồi vuốt cái bánh cho thẳng Gói bánh với tỉ lệ cứ 1 thìa súp bột thì rải đều 1 thìa cà phê nhân Dùng tay vuốt đều cho bánh gọn đẹp, mang hấp.

Nấu nước mắm: cho nước mắm và đường lên bếp nấu sôi cho tan đường, để nguội khi ăn pha thêm chanh và dầm ớt.

Đổ nước vào xửng nấu sôi, sắp bánh vào ngăn xửng để lên hấp, thổi lửa đỏ độ

25 phút chín; lấy bánh trải ra cái sề để cho ráo nước hãy lấy khăn chặm cho khô.

Khi gói bánh, xếp một lá (cỡ lớn hơn bàn tay một chút) nằm dọc phía dưới, một lá nằm ngang phía trên, thoa dầu ăn lên lá để chống dính, rồi múc một muỗng bột vào, trải ra hình chữ nhật, nhân tôm bỏ theo chiều dọc Xếp hai lá lại, bẻ thành hình chữ nhật, dùng thìa cán lên bánh cho bột mỏng đều Gói xong, bỏ bánh vào nồi, hấp khoảng 15 phút là được Khi gói xong, bột có màu trắng, dẻo Khi ăn, bánh tan đều trong miệng, có vị mát thanh.

Bánh nậm dùng với nước mắm ớt pha loãng, hơi ngọt Lúc ăn, lột bánh ra, trải lên đĩa, nên để nguyên lá gói, mùi của lá sẽ giúp người ăn đỡ ngấy Múc nước mắm mặn tưới đều lên bánh, lấy thìa tre lóc ra, gấp thành miếng vuông vức Bỏ vào miệng, nhớ đừng nhai vội để thưởng thức cảm giác bột gạo tan đều ra, thấm sâu, béo ngậy, thơm.

Bánh đậu xanh Hải Dương

Bánh đậu xanh Hải Dương dường như không mấy xa lạ với nhiều người bởi tính phổ biến rộng rãi của loại đặc sản này được bày bán ở nhiều siêu thị lớn của cả nước và được xuất khẩu đến một số nước trên thế giới.

Trang 28

Đây là loại bánh ra đời vào đầu thế kỷ 20, hiện nay cả thành phố Hải Dương có vài chục cơ sở sản xuất bánh đậu xanh, trong đó có những nhãn hiệu nổi tiếng như: Quê Hương, Bảo Hiên, Nguyên Hương, Bảo Long, Bá Tiến, Hoà An, Minh Ngọc, …

Hải Dương như tuyến đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng bánh đậu xanh bày bán đầy ắp các của hàng.

Thành phần của bánh đến nay cũng chẳng khác gì thửa ban đầu, bởi nguyên liệu để tạo nên loại bánh này không phải khai thác ở đâu xa mà ở các vườn quê với đậu xanh, đường kết tinh, mỡ lợn, tinh dầu của hoa bưởi Đậu xanh chọn loại mỏng, mẩy hạt, phơi thật khô kiệt khi sử dụng trần qua nước sôi, vớt hết hạt lép, lửng, mọt rồi rang khô, xay vỡ, sảy sạch vỏ, cho vào chảo rang nhỏ lửa để nhân đậu chín vàng Đậu rang xong đổ vào cối xay để xay nhỏ, điều tiết cho đậu chảy thật chậm để bột nhỏ mịn Mỡ khổ còn tươi, lột da, rán nhỏ lửa để mỡ không bị cháy, vàng, rán xong lọc qua vải màn, loại bỏ những mẩu tóp nhỏ để mỡ trong suốt và thơm Đường kết tinh hoà nước, lọc sạch bằng lòng trắng trứng cô đặc để khi hoà với bột đậu chóng nhuyễn đều, khi ăn không có cảm giác sạn Tinh dầu hoa bưởi, chưng cất bằng phương pháp thủ công, trong đó có một số chất phụ gia như mùi già, rễ tòng bài.

Bốn nguyên liệu trên được pha với nhau theo một tỷ lệ hợp lý, rồi đóng thành từng khẩu vuông vào giấy bóng kính để giữ được chất lượng lâu hơn Cứ mười khẩu gói thành một bánh hình chữ nhật theo 5 hàng hai nặng 45 gam.

Bánh đậu xanh Hải Dương ăn có vị ngọt thanh, vừa bỏ vào miệng là tan biến ngay nhưng đủ để người ăn kịp thưởng thức được vị ngọt, béo và thơm thoang thoảng mùi hương hoa bưởi, đậu xanh của bánh khiến thôi thúc người ăn để tiếp tục

mở những miếng bánh khác.

trong đời sống, được giữ gìn và vun đắp trong suốt quá trình lịch sử Là sự lựa chọn của con người, là kết quả của quá trình nhận thức trong lịch sử Việt Nam là quê hương của nhiều món ăn ngon, từ những món ăn dân giã trong ngày thường đến những món ăn cầu kỳ để phục vụ lễ hội và cung đình đều mang những vẻ riêng Mỗi vùng, miền trên đất nước lại có những món ăn khác nhau và mang ý nghĩa riêng biệt

Trang 29

tạo nên bản sắc của dân tộc, từng địa phương, vùng miền Nó phản ánh truyền thống

và đặc trưng của mỗi cư dân sinh sống ở từng khu vực Vì vậy tìm hiểu về ẩm thực, đặc sản của các vùng, miền Việt Nam không chỉ để biết về đặc điểm các món ăn mà thông qua đó để hiểu về tín ngưỡng, văn hóa và những nét đặc sắc tiêu biểu của mỗi người dân.

Đặc sản là một bộ phận thiết yếu cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc, là một trong những nét đặc trưng thể hiện đặc tính của một dân tộc Trên dải đất Việt Nam ngoài những đặc trưng chung nhất của đặc sản thì vẫn có những khẩu vị riêng của từng vùng, từng miền, sở dĩ như vậy là do có sự khác biệt về điều kiện địa lý, môi trường sinh thái và nguồn nguyên liệu tại chỗ làm nên đặc sản của vùng đó… Đặc sản của người Việt Nam rất đa dạng, phong phú là một trong những yếu tố độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Trang 30

Chương 2 Khái quát đặc sản của vùng tây nam bộ

2.1 Khái quát về vùng Tây Nam Bộ

2.1.1 Vị trí địa lý

Tây Nam Bộ còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 13 tỉnh, thành phố

là Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau.

Đặc điểm tự nhiên nổi bật và ít có trên cả nước của Tây Nam Bộ là vùng có gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng mỗi năm, vừa có mặt hạn chế đối với canh tác nông nghiệp, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của dân cư nhưng đồng thời cũng tạo nhiều thuận lợi đối với việc khai thác nguồn lợi từ thủy sản, tăng độ phì nhiêu cho đất trồng trọt và làm sạch môi trường.

Phía Tây Bắc giáp Campuchia Phía Đông Bắc tiếp giáp Vùng Đông Nam Bộ Phía Đông giáp biển Đông Phía Nam giáp Thái Bình Dương Phía Tây giáp vịnh Thái Lan Đây là vị trí thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền, điểm cực Tây 106°26´(xã Mĩ Đức, Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), cực Đông ở 106°48´(xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), cực Bắc ở 11°1´B (xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An) cực Nam ở 8°33´B (huyện Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) Ngoài ra còn

có các đảo xa bờ của Việt Nam như đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, hòn Khoai.

2.1.2 Khí hậu

Tây Nam Bộ có nhiệt độ cao, ổn định trong toàn vùng, trung bình là 28 độ C Chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm từ 2.226 - 2.790 giờ, ít xảy ra thiên tai Một năm chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng , mùa khô từ tháng

12 đến tháng 4.

2.1.3 Dân cư

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011, tổng diện tích các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long là 40.548,2 km² và tổng dân số của các tỉnh

Trang 31

trong vùng là 17.330.900 người Dân cư sinh sống ở vùng Tây Nam Bộ bao gồm

nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có 4 dân tộc chính là: Kinh (Việt), Hoa, Chăm và Khmer Người Kinh chiếm đại đa số, sống ở hầu hết các nơi trong vùng Người Hoa tập trung nhiều ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng Người Chăm sống chủ yếu ở

An Giang Người Khmer có mặt đông đúc ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang.

2.1.4 Lịch sử hình thành

Vùng Tây Nam Bộ của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù

sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau.

Năm 1658, di thần nhà Minh, “Phản Thanh phục Minh”, với 3000 quân tinh nhuệ, với chiến thuyền và võ trang hùng hậu, đến Thuận Hóa để xin được Chánh quyền Việt Nam giúp đỡ Chúa Nguyễn, Hiền Vương, phong chức và cho phép vào phía nam khẩn hoang, lập nghiệp ở Biên Hòa, Cù Lao Phố, và Định Tường với lời chỉ dẫn “đó là vùng đất mới của ta”.

Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch là hai tướng nhà Minh chỉ huy lực lượng hải thuyền di tản về phương nam với lòng mưu cầu phục Minh sau này

Tướng Trần Thắng Tài vâng lệnh Chúa Nguyễn dẩn một đoàn quân với chiến thuyền đi về vùng Biên Hòa để khai phá và định cư lập nghiệp Họ mở mang thương mãi và chỉ trong ít lâu biến Cù Lao Phố thành một trung tâm thương mãi trù phú Đến khi Tây Sơn tiến đánh vào Nam, một phần dân cư ở đây di tản về Bến Nghé sanh sống Họ chuyên thu mua và bán nông phẩm từ phía Định Tường chở tới Bến Nghé sau này trở thành Chợ Lớn và hoạt động kinh tế vẫn còn nằm trong tay người Tàu

Trong lúc đó, tướng Dương Ngạn Địch dẫn một đoàn quân kéo về Định Tường định cư lập nghiệp Cánh nầy chuyên vê nông nghiệp Họ lập ra chín nông trại, dần dần mở mang ra thành Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ngày nay Người Việt Nam theo chơn người Tàu tiếp tục bước Nam tiến và thành lập Chánh quyền ở những nơi

Trang 32

ở Hà Tiên, lập ra thương cảng, một thời buôn bán phồn thịnh Sau nhiều lần bị Thái Lan và Cao Miên uy hiếp, Mạc Cữu chấp nhận thuần phục Nhà Nguyễn và được chúa Nguyễn phong chức quan, cai quản phần đất Hà Tiên để về sau nầy nối liền với Rạch Giá Và lãnh thổ Nhà Nguyễn từ đó chạy dài tận mũi Cà Mau

Năm 1831 - 1832, Minh Mạng lập "dinh điền" để tập trung sở hữu lớn về ruộng đất (không công điền) Dinh điền là vùng đất có dân cư hòa nhập sau, mục đích chính là khai hoang mở đất Khi Pháp xâm lược Nam Kỳ thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn Năm 1876, Pháp chia Nam

Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực lại được chia nhỏ thành "hạt" (arrondissement) còn gọi là "địa hạt", "hạt tham biện" hay "tiểu khu" do tham biện cai trị.

Đối với chính quyền Việt Minh kể từ năm 1946 thì Nam Bộ bao gồm 21 tỉnh thành trong tổng số 72 tỉnh thành của cả nước, gồm 20 tỉnh: Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Gò Công, Rạch Giá, Bạc Liêu và thành phố Sài Gòn.

Ngày 12/10/1951 Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ ( thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) chia Liên khu Nam Bộ thành 2 phân liên khu: Miền Đông và Miền Tây.

Mùa xuân 1975 lịch sử, quân và dân Đồng Bằng Sông Cửu Long phối hợp với chiến trường toàn miền đánh bại âm mưu co cụm về “miền Tây” của địch và giải phóng hoàn toàn Đồng Bằng Sông Cửu Long, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ kéo dài 20 năm, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trang 33

Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể Khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ lúc này các tỉnh cũng được hợp nhất lại như: Tỉnh Long An, Tỉnh Tiền Giang, Tỉnh Cửu Long, Tỉnh Hậu Giang, Tỉnh Đồng Tháp, Tỉnh An Giang, Tỉnh Kiên Giang, Tỉnh Minh Hải, Tỉnh Bến Tre.

Ngày 17 tháng 5 năm 1984, thị xã Minh Hải được đổi tên thành thị xã Bạc Liêu thuộc tỉnh Minh Hải Ngày 18 tháng 12năm 1984, tỉnh Minh Hải chuyển từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau Từ đó, tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải đặt tại thị xã Cà Mau cho đến cuối năm 1996.

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc Hội Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc chia lại một số tỉnh trong cả nước nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng, cụ thể như sau:

• Chia tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng.

• Chia tỉnh Cửu Long thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc Hội Việt Nam lại ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu.

Với việc tỉnh Sông Bé tách ra thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước, tỉnh Hậu Giang tách ra thành 2 tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, tỉnh Minh Hải tách ra thành 2 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau, tương đương Tây Nam Bộ có 12 tỉnh thành.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang Tỉnh lỵ tỉnh Hậu Giang đặt tại thị xã

Trang 34

tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Địa hình của vùng tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình là 3-5m, có khu vực chỉ cao 0,5-1m so với mặt nước biển.

Khí hậu

Nền khí hậu nhiệt đới ẩm cận xích đạo thể hiện rõ rệt Nhiệt độ trung bình từ

24 – 27 độ C, biên độ nhiệt trung bình năm từ 2 – 30 độ C, chênh lệch nhiệt độ ngày

và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết Có thể nói các yếu tố khí hậu của vùng thích hợp cho các sinh vật sinh trưởng và phát triển, là tiền đề cho việc thâm canh tăng vụ.

Đất

Diện tích đất trong vùng bao gồm các nhóm đất sau:

+ Đất phù sa: Phân bố chủ yếu ở vùng ven và giữa hệ thống sống Tiền và sông Hậu, diện tích 1,2 triệu ha chiếm 29,7% diện tích đất tự nhiên toàn vùng

và khoảng 1/3 diện tích đất phù sa của cả nước Nhóm đất này có độ phì cao và cân đối, thích hợp đối với nhiều loại cây trồng lúa, cây ăn quả, màu, cây công nghiệp ngắn ngày.

+ Nhóm đất phèn: Phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Hà Tiên, vùng trũng trung tâm bản đảo Cà Mau với tổng diện tích 1,2 triệu ha chiếm 40% diện tích toàn vùng Đất có hàm lượng độc tốcao, tính chất cơ lý yếu, nứt nẻ nhanh.

+ Nhóm đất xám: Diện tích trên 134.000 ha chiếm 3,4% diện tích toàn vùng Phân bố chủ yếu dọc biên giới Campuchia, trên các bậc thềm phù sa cổvùng Đồng Tháp Mười Đất nhẹ, tơi xốp, độ phì thấp, độc tố bình thường.

Ngoài ra còn có các nhóm đất khác như đất cát giông, than bùn, đất đỏvàng, đất xói mòn chiếm diện tích không đáng kể khoảng 0,9% diện tích toàn vùng

Nhìn chung đất đai ở đây rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thích hợp trồng lúa, dừa, mía, dứa, cây ăn quả.

Tài nguyên nước

Với hệ thống hạ lưu sông Mê Kông ở Việt Nam là hai nhánh sông Tiền và sông Hậu tổng lượng nước sông Cửu Long là 500 tỷ mét khối Trong đó sông Tiền chiếm 79% và sông Hậu chiếm 21% Chế độ thuỷ văn thay đổi theo mùa Mùa mưa nước sông lớn vào tháng 9, tháng 10 làm ngập các vùng trũng Đồng Tháp Mười,

Trang 35

Tứ giác Long Xuyên Về mùa này, nước sông mang nhiều phù sa bồi đắp cho đồng bằng Về mùa khô, lượng nước giảm nhiều, làm cho thuỷ triều lấn sâu vào đồng bằng làm vùng đất ven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng

Trên biển có nhiều đảo, quần đảo có tiềm năng kinh tế cao như đảo ThổChu, Phú Quốc Ven bờ là hệthống rừng ngập mặn có giá trị về kinh tế và sinh thái với nhiều loại động vật, thực vật.

Tài nguyên khoáng sản

Trữ lượng khoáng sản không đáng kể Đá vôi phân bố ở Hà Tiên, Kiên Lương dạng núi vách đứng với trữ lượng 145 triệu tấn Phục vụ sản xuất xi măng, vôi xây dựng; cát sỏi ởdọc sông Vàm Cỏ, sông Mê Kông trữ lượng khoảng 10 triệu mét khối; than bùn ở U Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, tứ giác Long Xuyên Ngoài ra còn các khoáng sản khác như đá, suối khoáng

2.2 Đặc sản của vùng Tây Nam Bộ

2.2.1 Bưởi

2.2.1.1 Bưởi Năm Roi trà Phú Hữu – Hậu Giang

Giống bưởi Năm Roi do ông Trần Văn Bưởi (1918 - 1990) người làng Mái Dầm nay thuộc xã Phú Hữu A, huyện Châu Thành, Hậu Giang) tìm thấy Sinh thời, ông Bưởi làm nghề buôn bán trên sông Một tối ông ngủ lại trên ghe bầu ở Tân Châu (vùng Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang thời Pháp thuộc) thì vô tình nhặt được một trái cây trên sông Trái cây da có màu xanh, ruột màu đỏ vàng Xé ra nếm thử thấy vị ngon, mọng nước ông Bưởi rất thích Ông lấy hột mang về quê Phú Hữu (chợ Mái Dầm) để trồng.

Sau khi giống bưởi này được phổ biển khắp vùng quê ông Trần Văn Bưởi, người các nơi khác cũng đến xin giống cây về trồng Ngày nay, bưởi Năm Roi được trồng nhiều nhất là ở Phú Hữu, Châu Thành, Hậu Giang và Bình Minh, Vĩnh Long Có thể nói ở trên thế giới chỉ có hai nơi này là trồng bưởi Năm Roi ít bị sâu bệnh, trái ngọt và to Ở Phú Hữu người tiêu dùng có thể dễ dàng tìm được một trái bưởi 3–4 kg

có trái còn nặng tới 5 kg, những trái lớn như vậy chỉ có vào một hai mùa đầu, người dân gọi là bưởi tơ Vào các mùa sau thì bưởi cho trái nhiều hơn, thường xuyên hơn.

Trang 36

2.2.1.2 Bưởi da xanh – Bến Tre

Bưởi da xanh là đặc sản của vùng đất Bến Tre, trồng nhiều ở xã Mỹ Thạnh An ,

xã Tân Phú Tây Bưởi da xanh ra trái quanh năm Trái có trọng lượng khá to 1.5kg / trái, dạng hình quả cầu Bưởi có đặc điểm khác với các loại bưởi khác khi chín da vẫn xanh, tép bưởi có màu hồng, dễ bóc, ráo nước không có hạt, vị ngọt thanh.

Dòng giống bưởi da xanh có nguồn gốc đầu tiên ở xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre Bưởi da xanh rất dễ được nhân giống theo phương pháp chiết cành (bó nhánh), cành chiếc ra vẫn giữ y đặc tính cây mẹ, rất dễ trồng và phát triển nhanh nên dòng bưởi này được di chuyển đến nhiều địa phương trong tỉnh bằng cách cho, biếu lẫn nhau thông qua quan hệ bà con thân tộc, bạn bè Dần dần, bưởi da xanh đã có mặt ở nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh Bưởi da xanh sớm trở thành đặc sản và thường làm quà khách thập phương rất ưa thích.

Hiện nay giống bưởi da xanh rất được ưa chuộng Bưởi da xanh đã đạt giải nhất tại cuộc thi trái ngon do Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam tổ chức( 2008 ).

2.2.1.3 Bưởi lông cổ cò – Tiền Giang

Bưởi Lông Cổ Cò là giống bưởi đặc sản của Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang , được trồng nhiều ở các xã Mỹ Lương, Tân Thanh, Tân Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Hòa Khánh, An Thái Đông, của huyện Cái Bè Bưởi lông cổ cò do ông Mai Văn Hương, một chủ vườn, trồng từ năm 1960 rồi truyền lại cho đến nay Giống bưởi này

đã có tuổi thọ trên 40 năm.

Trang 37

Quả bưởi có hình quả lê, bên ngoài có lớp lông trắng mịn, sờ tay vò hơi nhám, lớp lông này sẽ rụi dần Khi chín vỏ quả có màu xanh vàng có phủ lớp lông tơ mỏng bên ngoài vỏ.

Vỏ quả khá mỏng, trong quả bì màu trắng hồng, thịt quả bưởi lông cổ cò màu vàng đỏ, dễ lột, vị ngọt hoặc ngọt chua nhẹ, khá nhiều nước, mùi thơm Mỗi trái từ 5-

30 hạt Trọng lượng trái từ 0,9-1,4kg/trái, cá biệt có trái to đến 2kg Bưởi lông cổ cò

có thể tồn trữ được 20 ngày nếu được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ thích hợp

2.2.2 Rượu

2.2.1.1 Rượu Đế Gò Đen – Long An

Đây là một loại rượu được nấu từ gạo, hoặc nếp mỡ, nếp than, theo phương pháp cổ truyền, sản xuất ở địa danh Gò Đen, Bến Lức, tỉnh Long An Có nồng độ cồn rất cao, có thể lên đến 50 độ cồn.

Rượu Đế Gò Đen có hương vị độc đáo nhờ có cách chọn nguyên liệu từ các loại gạo nếp như: nếp mỡ, nếp mù u, nếp hương, nếp thổ địa, nếp than đen tuyền cả hạt… Tất cả các loại gạo nếp này được trồng tại địa phương rất dẻo và thơm ngon Gò Đen

là vùng đất gò cao nên thích hợp với cây lúa nếp, loại nguyên liệu chính làm nên danh rượu Gò Đen.

Sau khi chọn nếp ngon nấu thành cơm nếp, để nguội thì rắc men vào ủ bằng loại men mài rễ thảo mộc hoặc men bí truyền chế từ các vị thuốc bắc Sau ba đêm tiếp tục chan nước rồi để ba đêm sau nữa nấu Chỉ riêng khâu ủ men truyền thống đã mất gần một tuần Để thưởng thức sẽ được cho vào hũ sành, bịt kín lại rồi ngâm xuống ao khoảng 100 ngày mới mang lên uống Rượu đế Gò Đen dễ nhận biết Người uống rượu thường dùng cách lắc chai để nhận biết rượu ngon hay dở Rượu ngon khi lắc chai sẽ nổi bọt và phân thành 3 tầng rõ rệt, chậm tan.

“Mỹ tửu” Gò Đen “chinh phục” người uống bởi rượu trong như nước mưa Khi rót rượu vào ly, tiếng rượu chảy, vị cay, nồng đã làm say, khao khát lòng người uống.

2.2.1.2 Rượu dừa – Bến Tre

Trang 38

Rượu dừa Bến Tre thương hiệu Đại Việt thơm ngon đặc trưng của Nam Bộ Xứ dừa Bến Tre luôn luôn nổi tiếng với những đặc sản không chỉ ngon mà còn bổ dưỡng Đây là loại rượu 100% không chứa hóa chất và chất bảo quản, được chế biến theo phương pháp cổ truyền lên men và được bảo quản trong trái dừa còn nguyên Kiểu dáng mộc mạc, hương vị dừa quê hương thơm ngọt làm quà biếu hết sức thú vị.

Rượu dừa được chế biến từ các nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên, làm theo phương pháp cổ truyền lên men và bảo quản trong trái dừa còn nguyên giúp loại bỏ hoàn toàn độc tố có lợi cho sức khỏe.

Sau khi sơ chế phần vỏ, quả dừa được tiêm vào hỗn hợp gồm nếp cái và men theo một tỷ lệ nhất định hàn kín lại đem ủ cho đến khi có đủ hương cay nồng đặc trưng của rượu và vị thơm ngọt từ nước dừa Quả dừa làm rượu là dừa già của Bến Tre (lớp cùi dừa nhiều, hàm lượng dầu nhiều và thơm), đường kính quả từ 16-1 8cm, nặng từ 1,2 - 1,4kg Nếp cái phải chọn loại căng tròn hạt mẩy Men rượu là men cổ truyền của người Việt.

Rượu dừa khi đưa lên miệng thưởng thức có mùi thơm mát đặc trưng của hương dừa, khi uống có vị ngọt nhẹ, đặc biệt không gây cảm giác háo nước, đau đầu Rượu rót ra ly có màu trắng ngà nhiều chấm xác dừa lơ lửng.

“Rượu dừa bến tre”’ có rất nhiều công dụng Không chỉ giúp ăn ngon miệng, có lợi cho tiêu hóa mà còn góp phần cải thiện nhan sắc, giúp chị em có vóc dáng thon gọn, quyến rũ Đây không chỉ là thức uống ngon miệng được cô đặc từ nước dừa nguyên chất mà còn rất tốt cho sức khỏe.

Ưu thế của rượu dừa là uống không bị nhức đầu, có thể pha với soda hay hâm nóng uống vào mùa lạnh và uống điều độ sẽ giúp tóc mượt và ổn định đường ruột.

2.2.1.3 Rượu Phú Lễ - Bến Tre

Rượu Phú Lễ đã nổi tiếng khắp cả nước từ lâu, được coi là một trong tam đại danh tửu của miền Tây gồm rượu Phú Lễ, rượu Xuân Thạnh (Trà Vinh) và Rượu Gò Đen (Long An) Ngày xưa từng là loại rượu tiến cho bậc vua chúa dùng Đặc biệt, rượu Phú Lễ cùng với rượu Sen (Đồng Tháp) là hai thương hiệu rượu được sản xuất dựa trên kết hợp truyền thống và hiện đại, an toàn cho người sử dụng

Ngày đăng: 08/03/2017, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w