1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BỒI DƯỠNG LÀM VĂN HAY LỚP 11

398 997 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 398
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế: “Tay kiếm cung mà nên dạng từ biGói tiên theo đủ

Trang 1

BỒI DƯỠNG LÀM VĂN HAY LỚP 11

NHỮNG BÀI VĂN CHỌN LỌC PTTH BỒI DƯỠNG LÀM VĂN HAY LỚP 11(Tư liệu tham khảo dành cho phụ huynh và giáo viên)

LÊ LƯƠNG TÂM - THÁI QUANG VINH

- NGÔ LÊ HƯƠNG GIANG - TRẦN THẢO LINH

(Tuyển chọn và giới thiệu)

LỜI NÓI ĐẦU

Phải có những bài viết được tổ chức với cấu trúc chặt chẽ; phải có những câu văn, đoạn văn diễn đạt thật khúc chiết sinh động thì chúng ta mới đạt tới cái đích học tốt bộ môn mà mình yêu thích

Do đó, chúng tôi cho rằng các em phải tiếp xúc thật nhiều với những bài viết hay Trước hết là những bài thuộc các đơn vị giới hạn trong chương trình, trong sách giáo khoa

Cuốn sách:

BỒI DƯỠNG LÀM VĂN HAY 11

Ngoài việc cung cấp những bài viết hay của các tác giả có uy tín, của các bạn học sinh đã đạt giải, đạt điểm cao thì nó đặc biệt chú trọng tới một lượng đề luyện tập rất phong phú đa dạng Nó bám sát chương trình lớp 11

từ Văn học Việt Nam, Văn học nước ngoài và Lí luận văn học; từ những bài

Trang 2

khái quát đến những bài phân tích bình giảng, từ những đề có dung lượng

“quy mô” tới những đề giải quyết một vấn đề nhỏ mà thú vị

Hy vọng cuốn sách sẽ đem đến cho các em nhiều hứng khởi trong việc học tốt môn văn học ở lớp 11 Và đây chính là điều kiện đề các em tự tin bước vào những kì thi có tính quyết định đối với cuộc đời mình

Cuộc tranh giành đó Trịnh Tông là kẻ đang bị thất thế, có nguy cơ bị hại, phải nhờ mẹ là thái phi họ Dương kêu với quận Huy mới bảo toàn được tính mệnh

Lính kiêu binh phần nhiều đều thuộc phe của Trịnh Tông Tông mà bị diệt trừ thì họ mất chỗ dựa và có thế bị diệt theo Số phận của các đám gia thần, tôi tớ, binh lính của các tập đoàn phong kiến xưa nay là vậy Có thể kế các nhân vật kiêu binh như: Dự Vũ, đầu bếp của Tông; Gia Thọ là gia thần, Bằng Vũ là gia binh Chúng căm ghét quận Huy như kẻ thù của chúng

Trang 3

Vì thế, lời nói của Dự Vũ, Gia Thọ đều có tính chất xúi giục, hậu thuẫn cho Tông làm phản Tông mời cơm ngỏ ý chỉ là một biểu hiện phó thác chính thức, lái mũi nhọn chĩa vào quận Huy.

Mục đích nổi loạn cùa kiêu binh là trả thù, rửa hận Lời nói của Dự Vũ

đã cho thấy quân lính “căm ghét”, “hậm hực” khinh bỉ cách làm của chúa Trịnh

và quận Huy, chỉ muốn diệt trừ cho hả giận Đề xuất kế sách của Bằng Vũ chứng tỏ quân lính rất khinh nhờn thế lực của phủ chúa: “Đánh một hồi trống làm hiệu, rồi kẻo ùa cả vào, nắm cẳng hắn, vứt chỏng gọng xuống dưới thềm một cái là xong thôi mà!”

Sự can thiệp của bọn quý tộc, thân tộc trong phủ như quận Viêm, con hắn là Chiếu lĩnh bá, quận Hoàn, Thánh mẫu cho thấy chúng chỉ muốn lợi dụng để hớt lấy công hoặc che chắn đế bảo vệ quyền lợi mình Tiêu biểu cho thái độ bàng quan là Viêm quận công Tiêu biểu cho thái độ hớt công là Bùi Bật Trực và Chiếu lĩnh bá Mặt khác qua sự can thiệp này ta thấy phủ chúa hoàn toàn bất lực, kiêu binh lộng hành, làm chủ tình thế Ở nơi tập trung quyền hành trung ương chỉ là một đám lưu manh họp chợ để giở thói côn đồ thanh toán nhau!

Đoạn văn đã miêu tả một cuộc nổi loạn của binh lính Thế lực của họ thật mạnh Xuất phát từ lòng căm phẫn, khinh bỉ, muốn rửa hận, trả thù, quân kiêu binh đã tụ tập, bàn định và thống nhất với nhau rất nhanh Họ nổi lên chi phối các sự kiện lịch sử Họ mớm lời và xúi giục Trịnh Tông, họ quyết định cách nổi loạn, bầu người chủ mưu, không cần chỉ dụ của ai hết Trịnh Tông phó thác chỉ là kẻ ăn theo, Trần Hữu Cầu viết hịch chỉ là một việc hiếu sự Bằng Vũ quyết định ngày khởi sự, không cần tâu với Thánh mẫu Khi nghe tiếng trống, quân lính “nhảy nhót, hăng hái, cầm binh khí xô lấn nhau mà vào trong phủ”, “họ hò reo quát tháo long trời lở đất”

Đoạn giết quận Huy đã thế hiện sức mạnh của kiêu binh Họ dọa quận Châu Thoạt đầu, do thói quen phục tùng, họ sợ quận Huy, song chỉ được một lát, từ tư thế ngồi họ nhao nhao đứng dậy vây lấy voi chiến, nềm gạch ngói vào voi, dùng câu liêm kéo quản tượng xuống giết, rồi kéo quận Huy

Trang 4

xuống đánh chết, mồ bụng lấy gan ăn sống, sau đó lấy đá ghè chết em quận Huy Tất cả sự nổi loạn, tàn bạo đã thể hiện cụ thể, sống động, nó cho thấy sức mạnh của đám đông có thể làm nổi thuyền, có thể làm lật thuyền.

Trịnh Tông đúng là ông chúa bù nhìn, hắn lên ngôi chúa hoàn toàn nhờ

sự đưa đẩy tình cờ của số phận, tất cả chỗ dựa là đám lính tráng tự phát nổi lên Cho nên khi đã làm chúa rồi, vẫn không sao làm chủ được đám âm binh làm loạn: phá nhà, giết người, cướp của Trịnh Tông trở thành nhân vật hài hước khi được bọn lính tráng đặt lên cái mâm rồi nâng lên hạ xuống như

“giỡn quả cầu” trong tiếng reo hò của đám loạn quân và dân hàng phố đông như họp chợ

Kiêu binh đã lập Trịnh Tông lên, cảnh khiêng Tông trên chiếc mâm gỗ, đưa lên, đưa xuống, mọi người xúm lại đông như họp chợ Hai tiếng “họp chợ” thật mỉa mai! Họ lại đặt sập gụ ngoài phủ đường để đưa Tông lên ngôi Mấy chữ “ngoài phủ đường” cũng hài hước, chẳng có chút ụy nghiêm nào Họ lại xin di phá tất cả dinh cơ quận Huy, làm náo động kinh thành liền trong mấy ngày

Trái lại với sức mạnh bạo lực của kiêu binh, giai cấp thống trị tỏ ra hoàn toàn bất lực và thảm hại

Sự bất lực thảm hại của phe quận Huy đã quá rõ Không đề phòng, thiếu mưu lược, sờ đến cung thì cung đứt dây, sờ đến súng thì súng không nổ! Hai anh em Huy bị giết nhanh chóng! Chúa thì chạy trốn, đói bụng khóc nheo nhéo phải dọa bị bắt mới không khóc nữa Những kẻ nắm quyền quốc gia trong phủ mà như thế, thật là hài hước hết mức!

Phe theo Tông cũng bất lực không kém Quận Châu lúc đầu theo Huy đứng trong cửa định lên giọng đe quân lính Kiêu binh mới đe một câu liền

mở cửa ngay Thế mà khi kiêu binh đã giết hết anh em quận Huy rồi, Châu còn phất cờ đuôi báo và khua chiêng thu quân, làm như mình đã là người chỉ huy quân đội của phe Trịnh Tông vậy!

Trang 5

Đoạn trích cho thấy Trịnh Tông, Thánh mẫu chỉ là đám bèo bọt trôi nổi trên bề mặt dòng thác lịch sử Tông chỉ là con rối trong tay kiêu binh Chỉ của Thánh mẫu chỉ là bản viết tức thời trước việc đã rồi Khi kiêu binh thừa thế đốt phá, trả thù riêng, “Tông hạ chỉ ngăn cấm mà họ vẫn không thôi” chứng tỏ Tông chẳng có chút uy quyền nào cả Khi chúa vờ giết phứa “một người thường dân” (vì không dám đụng vào kiêu binh!) thì việc phá phách mới tạm ngừng, nhưng việc bắt người vẫn đang tiếp tục Đoạn văn đã cho thấy làn sóng nổi loạn của quân lính và số phận bèo bọt của một vương triều, chứng

tỏ sự thối nát cùng cực của một chế độ

Có thề nói quận Huy và Trịnh Tông ở hai phía là những nhân vật của một tấn bi hài kịch lịch sử nói về sự suy sụp của triều đại họ Trịnh Một triều đại phong kiến lâu đời, hiển hách đã rơi vào tình trạng suy sụp một cách thảm hại Bố chết nằm đấy, anh em đã xung đột, tranh nhau ngai vàng Đám lính tráng nổi lên làm chủ cả thành Thăng Long, phá nhà, đốt nhà, cướp của, giết người vô tội vạ v.v Quận Huy bị phanh thây Trịnh Cán bị phế truất Tất cả

là do bọn lính tráng, bọn bồi bếp tự phát nổi lên Trịnh Tông lên ngôi mà bất lực trước đám, âm binh bất trị Đúng là tấn bi kịch lịch sử

Nhưng chất hài của tấn kịch lịch sử này cũng rất rõ: Những nhân vật đã

bị lịch sử lên án, đã hết vai trò lịch sử, vẫn cố khẳng định uy quyền của mình

và trở thành những vai hề như quận Huy vẫn tin ở uy quyền của mình, biết trước âm mưu nổi loạn của đám kiêu binh vẫn không thèm phòng bị gì, một mình giữa đám loạn quân hung hãn vẫn quát tháo thị oai Nhưng bắn cung cung gẫy, bắn súng súng không nổ cuối cùng bị kéo cổ xuống đất Đúng là hài hước Trịnh Tông thì tuy vẫn được gọi bằng những danh hiệu những từ ngữ trang trọng cao quy của bậc đế vương: thế tử, mặt rồng, Thánh chúa nhưng ngai vàng chỉ là cái mâm đặt trên vai đám lính tráng, để cho hàng phố đến xem như họp chợ

Những tư liệu được trình bày hết sức cụ thể, tỉ mỉ: về lai lịch tính cách các nhân vật, về địa chỉ của các vụ việc, về âm mưu của các phe phái, về quá

Trang 6

trình hình thành, phát triển và kết thúc của sự kiện.v.v…Nghĩa là những tư liệu đủ để dựng lại bộ mặt, không khí của lịch sử một cách cụ thể, sinh động.

Bút pháp tả thực của lối chép sử biên niên không che dấu một nụ cười mỉa mai và xót xa trước tình cảnh đất nước bị rữa nát từ chính quyền trung ương Cơn hấp hối vào giờ chót của một triều đại bao giờ cũng chẳng là một màn bi hài của lịch sử?

B LUYỆN TẬP

1 “Chính kiến của tác giả Ngô Gia Văn Phái là muốn ca ngợi sự nghiệp của nhà Lê nhưng ngòi bút hiện thực nghiêm ngặt đã đi được chính kiến ấy”

Hãy phân tích đoạn trích “Kiêu binh nổi loạn” để làm rõ ý kiến ấy

2 “Cuộc đảo chính của đám kiêu binh trong phủ Chúa là một trò đùa, một cuộc họp chợ nhưng mức độ tàn bạo có tính trung cổ”

Hãy phân tích đoạn trích “Kiêu binh nổi loạn” để làm rõ ý kiến ấy

3 Hãy phân tích màn hài kịch về sự đăng quang của Chúa Trịnh Tông trong đoạn trích “Kiêu binh nổi loạn”

4 Phân tích nhân vật Quận Huy để cho thấy cái chết của y là tất yếu và hài hước

5 Hãy tìm một chi tiết hài hước độc đáo của đoạn trích Kể lại và cho thấy ý nghĩa của nó

Phân tích đoạn “Quang Trung tiến quân ra Bắc” trong tiểu thuyết

“Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia Văn Phái

BÀI LÀM 1) Khái quát chung:

“Hoàng Lê nhất thống chí” là một trong những đỉnh cao của văn xuôi viết bằng chữ Hán trong quá khứ Tác phẩm này gồm 17 hồi, viết theo thể

“chí” - một thể tiểu thuyết cổ điển có nguồn gốc từ Trung Quốc (Đông Chu liệt quốc, Tam Quốc chí ) Đó là một bức tranh rộng lớn về xã hội thời vua Lê -

Trang 7

chúa Trịnh, về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và sự kiện nhà Nguvễn thống nhất đất nước.

Các tác giả của cuốn sách được gọi là Ngô Gia Văn Phái, gồm Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du và Ngộ Thì Thiến Có nhiều tài liệu cho rằng phần chính biên gồm 7 hồi đầu do Ngô Thì Chí viết; phần tục biên Ngô Thì Du viết 7 hồi, Ngô Thì Thiến viết hồi cuối cùng Điều lạ là lối diễn đạt trong việc dựng lại các sự kiện và nhân vật lịch sử khá thống nhất Nguyên tắc tôn trọng sự thật lịch sử

và giọng kể khách quan được các tác giả tôn trọng khá triệt để và thống nhất

Tác phẩm viết theo lối chương hồi Ở đầu mồi hồi bao giờ cũng có hai câu văn biền ngẫu giới thiệu những sự kiện chính (hay nhân vật) diễn ra trong hồi ấy Hồi sách thường kết thúc ở những tình tiết hay, hấp dẫn sẽ được nói tiếp ở những hồi sau để cuốn hút người đọc Đó là kết cấu bề mặt của tác phẩm

Xung quanh việc xác định thể loại của “Hoàng Lê nhất thống chí”, có rất nhiều ý kiến Nếu căn cứ vào kết cấu bề mặt của tác phẩm, ta có thế coi đây

là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi Nhưng nếu xét mức

độ hư cấu sự kiện và nhân vật lịch sử, tác phẩm thực chất chỉ là một cuốn kí

sự lịch sử ghi chép theo lối biên niên Theo trên, ta có thể gọi “Hoàng Lê nhất thống chí” là một cuốn truyện kí lịch sử (viết về người thật, việc thật nhưng theo lối viết của tiểu thuyết)

Có một điều lưu ý thêm là tên của cuốn sách Tác phẩm thường được gọi là “Hoàng Lê nhất thống chí” hay “An Nam nhất thống chí” Có lẽ tên gọi sau chính xác hơn, vì cho đến cuối cuốn sách, nhà Nguyễn thống nhất đất nước chứ đâu phải nhà Lê? Gọi theo lối thứ nhất, chẳng qua là do những người viết vốn là trung thần nhà Lê (Ngô Thì Chí đã chết trên đường chạy theo Lê Chiêu Thống sang Trung Quốc) Tên “Hoàng Lê nhất thống chí”, thực chất là một hoài niệm đẹp; một ước muốn, một tình cảm “trung quân” cuối cùng mà những người viết sách có thể làm được Dĩ nhiên, do tôn trọng lịch

sử, các sự kiện được họ ghi lại, dù ngoài ý muốn, vẫn hoàn toàn là chân thật

2) Nội đung:

Trang 8

2.1 Đoạn trích “Quang Trung tiến quân ra Bắc” kể lại sự kiện Quang Trung tiến quân ra Bắc lần thứ hai (1788) lãnh trách nhiệm đánh đuổi xâm lăng Trước đó hai năm, Quang Trung đã kéo quân ra Bắc với mục đích “Phò

Lê diệt trịnh” (1786) và được vua Lê phong tước Uy quốc công, gả công chúa Ngọc Hân và cắt đất Nghệ An cho Tây Sơn làm lễ khao quân Lần này, Nguyễn Huệ ra Bắc không phải với tư cách là một trung thần của nhà Lê Trong bối cảnh vua Lê Chiêu Thống đã bán rẻ nước ta cho nhà Thanh, Nguyễn Huệ ra Bắc với tư thế của người anh hùng cứu nước; bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc

Sử cũ chép lại sự kiện này theo năm tháng và một vài tình tiết lịch sử chính Ví dụ, ngày 21 tháng 12 năm 1788 (tức ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo của vua Ngô Văn Sở Ngay hôm sau, ông làm lễ tế trời đất, lên ngôi Hoàng Đế rồi xuất quân ra Bắc Ngày 26 tới Nghệ An Ngày 20 tháng chạp(25-1-1789) tới Tam Điệp khoảng thời gian Quang Trung chỉ huy quân đội Tây Sơn hành quân từ Phú Xuân ra tới Tam Điệp diễn ra trong vòng một tháng

Khác với biên niên sử, trích đoạn nói riêng (toàn tác phẩm nói chung) tuy vẫn nhằm mục đích chép sử nhưng trích đoạn đã “chép” một cách chi tiết các sự kiện và nhân vật lịch sử (tái hiện) Các sự kiện được thuật lại và được

tô đậm bằng miêu tả, các nhân vật không chỉ được nhắc tới với một vài nhận xét tổng quát, chung chung mà được khắc họa khá toàn diện ở nhiều thời điểm, ở hành động, ngôn ngữ của nó Nói khác đi, sự kiện và nhân vật lịch

sử ở đây đã được hình tượng hóa, trở thành những tình tiết và nhân vật của văn chương

2.2 Các tình tiết trong đoạn trích giảng không nhiều Các tình tiết ấy được thể hiện trùng với ba thời điểm chính ở ba địa điểm của cuộc tiến quân

Ở Phú Xuân, sau khi nhận được tin cấp báo quân Thanh đã vào Thăng Long, Quang Trung “giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay” Nghe các tướng lĩnh phân giải, Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi

Trang 9

Hoàng Đế cho chính vị hiệu và làm yên lòng người, rồi “hạ lệnh xuất quân, hôm ấy nhằm ngày 25 tháng chạp 01 năm Mậu Thân”.

Tới Nghệ An, Quang Trung cho mời Nguyễn Thiếp vào hỏi ý kiến và cùng lúc, sai Hám Hổ hầu “kén lính”, “cứ ba suất đinh thì lấy một người” Sau

đó, nhà vua “cho mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn”, tổ chức quân đội và

“cưỡi voi ra doanh yên ủy quân lính, truyền cho tất cả đều ngồi mà nghe lệnh” Cuộc hành quân trên đất hậu phương được tổ chức khá chắc chắn: số thân quân vùng Thuận Quảng được phiên chế vào bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu; số lính mới tuyển thì làm trung quân (đi ở giữa, có bốn doanh quân trên bảo vệ)

Khi đến núi Tam Điệp, nghe kể quân Tây Sơn bỏ Thăng Long rút về Tam Điệp, Quang Trung đoán biết ngay là kế củạ Ngô Thì Nhậm Nhà vua tin

là sẽ đuổi được giặc Thanh trong 10 hôm; ông đã sai Ngô Thì Nhậm chuẩn bị bang giao giữ hòa hiếu giữa hai nước Cuối cùng, Quang Trung chia đội hình hành quân theo thế trận xiết chặt vòng vây Thăng Long hết sức chính xác và tài tình

2.3 Qua những tình tiết trong ba thời điểm kể trên, các tác giả đã khắc họa được khá nhiều nét tính cách của nhân vật vua Quang Trung

Trước hết, Quang Trung là người anh hùng, có bản lĩnh, có tầm nhìn xa trông rộng, biết việc, biết người và biết lắng nghe ý kiến của người khác Chính vì thế mà khi nghe tin quân Thanh vào Thăng Long, ông định kéo quân

đi ngay, tức là dám nhận lấy trách nhiệm trước lịch sử Ông thực sự nhận trách nhiệm đánh xâm lăng nhưng khi nghe lời các tướng lĩnh luận bàn, ông làm lễ lên ngôi Hoàng Đế Ông biết lắng nghe ý kiến của người khác nên khi vừa tới Nghệ An, ông đã cho mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp vào hỏi ý kiến Được Nguyễn Thiếp phân tích rõ tình hình đất Bắc và cố vũ, Quang Trung càng quyết tâm hành động hơn Ông cũng đủ bình tĩnh và sáng suốt để nghe

Sở và Lân ra tạ tội ở Tam Điệp Ông phân xử công, tội rất công minh; biết chê

và khen thuộc hạ dưới quyền thật đúng lúc Đánh giá của ông về Ngô Thì

Trang 10

Nhậm thật công bằng và sáng suốt, có tác dụng động viên những người hiền tài đem hết sức lực và tài năng cống hiến cho đất nước.

Qua đoạn trích, ta còn thấy Quang Trung là một người anh hùng giỏi cầm quân

Việc giỏi cầm quân của Quang Trung thể hiện rất rõ ở việc ông giỏi thuyết phục và khơi dậy được ý chí cứu nước của binh sĩ Đoạn văn tiêu biểu khắc họa tính cách này của Quang Trung là đoạn ông “cưỡi voi ra doanh yên

ủy quân lính, truyền cho tất cả đều ngồi mà nghe lệnh ” Lời “yên ủy” của ông cũng là “lệnh”? Là lời “yên ủy” khi ông phân tích truyền thống đánh giặc

vẻ vang của dân tộc, dã tâm xâm lược của nhà Thanh Là “lệnh” khi ông khép lại “những kẻ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta hiệp lực, để dựng nên công lớn”, “kẻ nào ăn ở hai lòng sẽ bị giết chết ngay tức khắc” Lời, ý đều hùng hồn, khúc chiết và tác dộng rất mạnh vào việc củng cố quyết tâm đánh giặc cho tướng sĩ

Tài giỏi cầm quân của Quang Trung thế hiện rất rõ qua việc ông chỉ huy hai chặng đường hành quân Chặng thứ nhất, cho đến nay, người ta vẫn chưa lí giải được làm thế nào mà Quang Trung có thế đưa một đội quân lớn

từ Phú Xuân ra tới Nghệ An trong vòng có hai ngày! Từ đây, cuộc hành quân,

dù còn ở hậu phương (Thanh - Nghệ), Quang Trung đã rất thận trọng Việc đội trung quân, bao gồm lính mới tuyển ở Nghệ An, đi ở giữa đội hình tiền, hậu, tả, hữu của thân quân nói rất rõ điều đó Và ở chặng thứ ba, tuy chưa nói đến ở đoạn trích, ta đã thấy cuộc hành quân được nhà vua tổ chức theo đội hình chiến đấu, theo thế bàn tay năm ngón, xiết chặt lấy Thăng Long Đó chính là “phương lược tiến đánh đã có sẵn” và kết quả đã được nhà vua báo trước “chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được người Thanh”

3 Đoạn trích chỉ vẻn vẹn có năm trang sách Mặc dù vậy, thông qua

những tình tiết chọn lọc, tiêu biểu, các tác giả đã kể lại khá chân thực cuộc tiến công, dũng mãnh của quân đội Tây Sơn, trong đó hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung được khắc họa thật đậm nét và độc đáo

Trang 11

Trong mạch ngầm của đoạn văn, dù các tác giả đứng về phía nhà Lê

mà phản ánh lịch sử, ta vẫn thấy toát lên một niềm tự hào dân tộc thật sảng khoái

LUYỆN TẬP

1 Anh (chị) hãy tóm tắt ngắn gọn một trong hai đoạn trích của Hoàng

Lê nhất thống chí:

a) Kiêu binh nổi loạn

b) Quang Trung tiến quân ra Bắc

2 Đoạn trích “Kiêu binh nổi loạn” là “sự biến đầu tiên bộc lộ cuộc khủng hoảng trong nội bộ giai cấp thống trị đương thời sau khi chúa Trịnh Sâm chết” (SGK 11)

Anh (chị) hãy bình giảng đoạn trích để làm sáng tỏ nhận định trên

3 Hình tượng vua Quang Trung dưới cái nhìn của Ngô gia văn phái - một dòng họ cựu thần nhà Lê

4 Bình giảng lời dụ của vua Quang Trung: “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta ( ) chớ bảo ta không báo trước”

5 Tại sao có thể nói: “Hoàng Lê nhất thống chí” là một truyện kí biên niên sử

Trang 12

hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) Người ta cũng không quên một nhà thơ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự đất nước, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội mà mình đang sống Nếu như Chí anh hùng tràn đầy khí phách của người tuổi trẻ, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời

và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ

Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, nhà thơ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm - một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra không phải để đọc mà để ngâm nga, hát xướng Người thể hiện có thể theo

đà cảm xúc mà luyến láy cho phù hợp Bài thơ vì vậy mà đầy âm sắc, nhạc điệu

Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có đến năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca Đây là cái dáng vẻ của một tinh thần ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên thiên hạ Đây cũng là

tư thế chung của toàn bài

Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này không có việc gì không phải là phận sự của ta - Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán - Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông / Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhàng như mặt sông mùa xuân Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo mà cũng thật kiêu ngạo khác đời Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng không hề né tránh Ngay cả cách đưa biệt hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống ai Hi Văn

- chữ Hán có nghĩa là nhà văn hiếm Tự gọi mình một cách trang trọng là ông

và nhận mình như vậy thì chỉ có ông Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, không chịu ép mình vào cái ta chung của cộng

Trang 13

đồng, xã hội (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả tầng lớp phong kiến) Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử

để viết như vậy Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại không nhiều Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đau đớn xót xa đến tuyệt vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi - Mời trầu), hay Nguyễn Du (Thiên hạ ai người khóc Tố Như - Độc Tiểu Thanh kí) Các nhà văn ấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn bóng gió, chung chung

Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời Nguyễn Công Trứ

là người biết sống Khi trai trẻ, hoạt động hăng hái hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, Trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc Một trong những thú vui của ông là nghe hát ả đào (còn gọi là ca trù) Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò Mà là bò cái vàng với cái

mo cau che sau đuôi Cụ giải thích: Để che miệng thế gian:

Điển viên dạo chiếc xe bò cáiSẵn chiếc mo che miệng thế gian

Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

Được mất dương dương người tái thượngKhen che phơi phới ngọn đông phongKhi cơ, khi tửu, khi cắc khi tùng

Không phật, không tiên, không vướng tụcNhư trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, bẩn thỉu, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan không có, có gai chông (Vịnh cây vông)

Trang 14

Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ không rơi vào tình thế bi quan bế tắc hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này Mục đích sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chungHay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệKhông quân thần phụ tử đếch nên người

Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự

xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng phẳng nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng đến cùng cực Ông không muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ tham quan vô lại

Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng không ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, thể hiện quan niệm sống của nhà thơ

Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như bản chất con người ông Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc đến với sự tán thưởng thích thú Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi bản lĩnh vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn chương đương đại, đưa yếu tố cá nhân, cái tôi cần được giãi bày vào trực tiếp trong văn chương Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt bậc, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố cá nhân, cho văn chương Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại thế giới nói chung

ĐINH THỊ THÚY LAN

BÀI LÀM 2

Trang 15

Từ xa xưa đến nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính nhà thơ Không những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong độ của mỗi thi nhân Ai đó đã nói: Văn là người Điều

đó thật đúng với những nhà văn, nhà thơ lớn Ở họ văn với người là một, con người trong văn chương và con người ngoài đời tuy không hẳn đồng nhất, nhưng rất thống nhất Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa

Bao trùm lên toàn bộ bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng” Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, mà lài cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin

và đầy tự tin và đầy bản lĩnh Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường mà là một lối sống độc đáo, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn

Chẳng thế mà ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của chính mình Không phải ngẫu nhiên mà khi đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tói “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng” Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính Trong bài thơ này thái độ tự tin, kiêu hãnh ấy lại được thể hiện bằng một giọng diệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng” Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như trang nghiêm lại vừa như “u mua”, hài hước

Trang 16

Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải chỉ lúc làm quan đương chức “Khi Thủ khoa, khi Tham tá, khii Tổng đốc Đông” Hoặc:

“Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có khi về Phủ doãn Thừa Thiên” mà sau khi về hưu, không làm quan nữa, thái độ ấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường, khi đã “tháo cũi, sổ lồng”, không chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên “ngất ngưởng” Ông ngất ngưởng trong cung cách sống Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế:

“Tay kiếm cung mà nên dạng từ biGói tiên theo đủng đỉnh một đôi dìBụt cũng bật cười ông ngất ngưởng”

Không chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn thể hiện rất rõ trong quan niệm được mất và sự lạc quan, bình thản trước cuộc đời:

“Được mất dương dương người Tái thượngKhen chề phơi phới ngọn đông phong”

Cũng giống như chuyện ông già biên ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế không có gì phải vội vàng hốt hoảng Cũng như khen chê là chuyện bình thường, có gì mà phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quảng gánh lo đi mà vui sống” (Lâm Ngữ Đường)

“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùngKhông Phật, không Tiên, không vương tục”

Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ nghi và nhiều luật lệ hết sức chặt chẽ, hà khắc, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự

Trang 17

thách thức, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh và một ý thức muốn khẳng định cái

cá nhân độc đáo của mình Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ Mặt khác, quan niệm và cách sống ấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình Chẳng thế mà ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán đến đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Thái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú” Chẳng thế mà ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung” Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ mà nhà Nguyễn mới thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến, củng

cố quân quyền và phục hưng nho học Hoàn cảnh lịch sử ấy là cơ sở tinh thần cho cả một tầng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, cố gắng vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình Chính Nguyễn Công Trứ từng tự nhủ:

“Đã sinh ra ở trong trời đấtPhải có danh gì với núi sông”

Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông

Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!” Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy Cái vẻ đẹp ngất ngưởng

từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách ấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay

Trang 18

3 Khi gọi mình là “ông ngất ngưởng” nhà thơ đã lạ hóa chính mình Điều này có ý nghĩa gì trong việc bộc lộ cá tính của Nguyễn Công Trứ?

4 Nên hiểu câu:

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng như thế nào? Thực ra Bụt có cười khi thấy “dạng từ bi” của “tay kiếm cung”?

5 Có ý kiến cho rằng tùng trong câu thơ sau là cây tùng - một biểu tượng của đấng trượng phu mà nhà thơ rất tâm đắc

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùngAnh (chị) hiểu từ này như thế nào?

6 Khi nhà thơ viết:

Khônq Phật, không Tiên, không vướng tụcthì Nguyễn Công Trứ đã khẳng định mình là người như thế nào?

Trang 19

Vẫn thể Đường thi xưa, vẫn âm điệu, vần luật cũ, nhưng từ đề tài, nhân vật, đến kết cấu, cách nhìn, cảm xúc có nhiều điểm mới Hình như trước Cao Bá Quát chưa ai viết như vậy Tám câu thơ, hai khổ tứ tuyệt, không cần

đề, thực, luận, kết Vào bài, rồi vẽ người, dựng cảnh luôn Bức tranh hiện rõ hai hình ảnh đối mà không chọi, đối mà không cân xứng, quá xa với quan điểm hội họa phương Đông Người thiếu phụ Tây Dương tọa hưởng hạnh phúc lứa đôi dưới trăng sáng (tọa minh nguyệt) chiếm lĩnh rộng, dài suốt bảy dòng thơ Chỉ còn lại mấy chữ cuối “Nam nhân hữu biệt li” - người Nam đang chịu cảnh cô đơn li biệt, - dành cho nhà thơ, một đấng mày râu vốn ngang tàng khinh bạc Đọc suốt mấy trăm năm thơ văn trung đại nước ta, kể từ thời

Lí - Trần, đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều , chúng ta chỉ gặp toàn những hình ảnh, những cảnh đời, những số phận khổ đau, bất hạnh, bị lệ thuộc, bị khinh rẻ, lãng quên Chưa thấy một ai, chưa có một chân dung nào của “thân bồ liễu” được văn chương tái tạo rõ nét, mạnh bạo, vừa đẹp đẽ, vừa chứa chan hạnh phúc như thế Từ cái áo “trắng như tuyết”, đến cái cử chỉ “kéo áo chồng”, rồi cách cư xử bình đằng, quá bình đẳng “tay biếng cầm cốc sữa nũng nịu đòi chồng đỡ dậy ” Tất cả cứ diễn ra đàng hoàng, tự nhiên giữa biển trời, dưới trăng sáng, thách thức cả gió rét đêm sương Bài thơ có ba nhân vật Một phụ nữ như thế, hồn nhiên, chủ động Còn hai người đàn ông? Người chồng thì đã đành Anh là cội nguồn cho ra hạnh phúc cho nàng, anh sẵn sàng “để nàng tựa vai”, “đòi nâng đỡ dậy”, như chiều chuộng, như nâng niu Còn nhà thơ của chúng ta, khác gì ngọn đèn trước trăng sáng, hòn đảo giữa biển khơi Trăng và biển là thiên nhiên, là vũ trụ, cũng là ánh sáng trong lành, là bao la trời đất soi to, chở che hạnh phúc mà người phụ nữ kia đang được hưởng Nhìn thấy nhỡn tiền rồi ghi lại bằng những câu thơ uyển chuyển, chân xác với một cảm hứng trân trọng, đồng tình, không chút ghét ghen, đố kị, nhà thơ - vốn lớn lên từ cửa Khổng sân Trình, nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ - phải có một nhãn quan đổi mới, một cách nhìn mạnh bạo lắm lắm! Cách nhìn ấy vừa tạo những cảm xúc thẩm mĩ mới, vừa góp phần tự phê phán tích cực:

Tân Gia từ vượt con tàu,

Trang 20

Mới hay vũ trụ một màu bao la.

Giật mình khi ở xó nhà,Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi

Có thể nói “sự bừng tỉnh” của một số nhà nho sĩ nước ta khi xúc tiếp với thế giới bên ngoài, từ Lê Quí Đôn (thế kỉ XVIII), đến Cao Bá Quát (giữa thế kỉ XIX), sau này có Nguyễn Trường Tộ, đã cất lên những tiếng nói dũng cảm chống lại những quan điểm bao thủ hẹp hòi, tư tưởng “duy ngã độc tôn” không chỉ trong tầng lớp thi thư mà cả tỏa ánh sáng ra toàn xã hội Phải chăng cũng từ đó mà suốt cả trăm năm trên đất nước Việt Nam luôn xuất hiện những hành động phản nghịch, những con người phản nghịch chính đáng Đáng tiếc là giai cấp phong kiến thống trị từ Lê Trịnh đến nhà Nguyễn quá trì trệ, bảo hoàng Trở lại với bài Dương phụ hành, chúng tôi thấy, tuy vóc dáng nhỏ nhắn, nó vẫn đủ tư thế đế mở cửa cho cuộc hành trình mới, một cách nhìn một mơ ước, một khát vọng

Chúng ta hãy ngắm lại bức tranh đời mà nhà thơ đã vẽ Tám, chín phần dành nét tằi hoa, sảng khoái cho hạnh phúc lứa đôi của thiên hạ Chỉ còn một hai phần chấm phá về mình Thiên hạ “tọa minh nguyệt” - ngồi dưới trăng sáng Còn mình: “đăng hỏa minh” - ngọn đèn sáng (bản dịch là “đèn le lói”, e không sát ý tình của thơ) Thiên hạ thì chồng vợ để huề, áo ấm, miếng ngon Còn mình thì “hữu biệt li” - chỉ có sự biệt li làm bạn Cùng một gầm trời, cùng cảnh ngộ lênh đênh đất khách, mà sao đôi nơi ấm lạnh khác vời làm vậy? Kết bài là một câu thơ buông lửng: “khởi thức Nam nhân hữu biệt li” - Hỏi có biết người Nam đang ở cảnh biệt li? Nửa muốn hỏi người, nửa tự thán, bùi ngùi, cám cảnh cho mình Phảng phất đâu đây cái âm hưởng trong câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Du: “Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” Nguyễn Du dám xưng tên với thiên hạ Thật là mạnh dạn và thống thiết Còn Cao Bá Quát, Chu Thần tiên sinh từng nổi tiếng một thời, chỉ tự gọi mình là “nam nhân”, một người phương Nam nào đó, vô danh, vô ảnh Khiêm tốn và đắng cay biết nhường nào! Nếu hiểu rằng thời gian làm bài Dương phụ hành này, Cao Bá Quát đang chịu án phạm luật về thi cử, bị cách chức, làm tùy tùng hầu hạ phái

Trang 21

bộ An Nam đi công cán Tân Gia Ba, chúng ta thấm thìa hơn cái thân phận đớn đau và cảm xúc nhân tình, nhân ái của cụ Thấy người hạnh phúc, mừng cho người, không chút tị hiềm, dè bỉu, còn mình bất hạnh, bất hạnh từ cái danh kẻ sĩ đến cái tình phu thê, cố hương, cố quốc , chỉ đành lặng im, nhưng là sự lặng im trong suy nghĩ, đối chất, chứ không phải lặng im đầu hàng.

Cổ nhân nói: “Người cùng thì thơ hay” Cao Bá Quát cũng đã nói

“Người cùng thơ dễ hay, người đạt thơ khó hay” Quan điểm của thầy Huấn đạo họ Cao không cực đoan như người cổ Song đọc những bài thơ của cụ, đến bài Dương phụ hành này, chúng ta vẫn thấm sâu hơn cái chân lí: Muốn

có thơ hay, nhà thơ phải từng nếm trải những cay đắng của cuộc đời, chí ít cũng phải biết cảm thông, chia sẻ với những con người đắng cay, cùng cực Điều cao cả hơn nữa ở hồn thơ Cao Bá Quát là: Trong khi mình cay đắng, cùng cực như thế, mà vẫn chấp nhận và trân trọng vị ngọt ngào, hạnh phúc của người khác ở những phương trời khác Bài thơ Dương phụ hành, vì thế vừa ló dạng một cách nhìn mới mẻ, vừa đậm đà cảm hứng nhân văn Tất cả, bắt nguồn từ một bản lĩnh làm người, bản lĩnh Cao Bá Quát

Hãy phân tích ý kiến trên

3 Do đâu mà tác giả biết cuộc đối thoại của đôi vợ chồng phương Tây

là đang quan tâm tới “thuyền Nam đèn le lói”

Trang 22

4 Ngọn gió bể trong đêm sương thổi lạnh có ý nghĩa như thế nào với

vợ chồng người phương Tây và với thân phận cô đơn của một người đang ngắm họ

5 Câu thơ cuối cùng

Biết đâu đến khách biệt li này

Nó gợi lên từ cảnh âu yếm hạnh phúc của lứa đôi kia

Anh (chị) có thế đoán được tâm trạng bên trong của người đang thốt ra câu thơ đó

Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát với thi pháp văn học trung đại qua

“Bài ca ngất ngưởng” và “Dương phụ hành”

YÊU CẦU

Đây là một đề khó, có tính lí luận, đòi hỏi phải hiểu biết ít nhiều về thi pháp, thi pháp văn học trung đại, thi pháp văn học hiện đại

Với trình độ học sinh lớp 11, dù là học sinh giỏi, học sinh chuyên Văn,

đề cũng chỉ yêu cầu nêu được mấy ý chính sau:

- Bài ca ngất ngưởng và Dương phụ hành đã có phần “vượt rào” thi pháp văn học trung đại đề cao cá tính, ý thức tự khẳng định, bộc lộ tình cảm nhân bản riêng tư, đặc biệt là tình cảm nam nữ, đề cao sự bình đẳng giữa nam và nữ trong quan hệ tình cảm

- Tuy nhiên cả hai bài đều vẫn nằm trong thể thi pháp văn học trung đại bởi vẫn nêu cao đặc trưng, vẫn dùng điển tích (Bài ca ngất ngưởng), bởi vì chỉ bộc lộ tính cách riêng một cách dè dặt, kín đáo (Dương phụ hành), về phương pháp làm bài, đề không yêu cầu phải giới thiệu về thi pháp mà yêu cầu phân tích bài thơ dưới ánh sáng của thi pháp để thấy phần “vượt rào” và phần chưa “vượt rào” văn học trung đại ở hai bài thơ

BÀI LÀM

Xuất hiện vào những năm cuối của thế kỉ XIX Dương phụ hành của Cao Bá Quát và Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ đã ghi được

Trang 23

những dấu mốc trên tiến trình văn học trung đại Việt Nam, được coi như một

sự vượt rào về thi pháp, một báo hiệu về thời cận đại

Nói đến văn học trung đại là nói đến tính phi ngã và tính quy phạm Từ trước đến nay chúng ta đều quan niệm tính quy phạm của dòng văn học trung đại là một bức thành kiên cố Nó đã bó buộc, giam hãm nguồn cảm xúc của thi nhân, không để cho nguồn cảm xúc ấy tuôn trào một cách tự nhiên dù nó

là một tình cảm nhân bản rất con người Rất ít nhà thơ thời kì này nhận thức được đúng đắn những hạn chế đó Dòng cảm xúc trong con người họ đã bị

ức chế, bị dồn nén và bị uốn theo một lối mòn “muôn thuở” Nhưng đã có những con người không đi theo vết xe của người đi trước, họ đã tìm đến những lối rẽ mới, thể hiện đầy đủ hơn tính người và rõ nét hơn bản ngã của

cá nhân Vì thế khi Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) và Dương phụ hành (Cao Bá Quát) ra đời đã mang đến cho ta những tư tưởng tình cảm mới, cách nhìn mới từ xưa đến nay chưa mấy ai khơi nguồn

Ngược dòng thời gian trở về với lịch sử của dân tộc dưới chế độ phong kiến, chúng ta nhận thấy có một lớp sương mờ đang bao trùm lên khắp bầu trời và xã hội Việt Nam Con người ấy, xã hội ấy cứ bình lặng trôi xuôi, không

có một sự cựa quậy, phản kháng, khẳng định cá tính Chế độ phong kiến không công nhận cá nhân, tỏa chiết những tình cảm tự nhiên của con người trong vòng kim cô của lễ giáo và tôn ti trật tự Nhưng khi thưởng thức cái âm hưởng hùng mạnh trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, chúng ta thấy ông cha ta không phải ai cũng chịu cúi đầu Trong bài thơ ta thấy nổi cộm lên cá tính của một tâm hồn tự do phóng khoáng, thích nói đến bản thân mình, kể cả những cái riêng nhất, cái mà dòng văn học trung đại không bao giờ đề cập đến Mở đầu bài thơ Nguyễn Công Trứ đã khẳng định một cách hùng hồn vai trò của mình:

“Vũ trụ nói mạc phi phận sự”

Đâu còn tư tưởng vô vi của Lão - Trang Lòng nhiệt tình, niềm say mê với công việc và trách nhiệm đã giúp ông ý thức được vai trò của mình trong cuộc đời, trong xã hội Ở đây ta bắt gặp một hình ảnh của thiên nhiên: đó là

Trang 24

vũ trụ - một hình ảnh quen thuộc và chiếm ưu thế trong thơ ca trung đại Nhưng không gian vũ trụ trong câu thơ này lại không chiếm lĩnh tất cả Tồn tại song song với nó còn là không gian xã hội - mà ở đây chính là vai trò cá nhân của tác giả Nguyễn Công Trứ không trở về với không gian tình tại, với mây ngàn bạc nội, núi cao suối vắng, trầm tư sau lũy tre làng hoặc lặng lẽ bên luống cúc, thư trai mà với bản lĩnh và ý thức về trách nhiệm của mình, ông đã hòa mình vào cái náo nức hồ hởi, cái vòng đời đang lăn chuyển trong xã hội

Rõ ràng trong cái thế thừa đã bước đầu có sự cách tân, dọn đường cho một phong cách nghệ thuật mới sinh động nảy nở

Sau khi thể hiện mình một cách tổng quát nhất, cái “tôi" đã bắt đầu khoa trương về cuộc đời, về những lần thi thố tài năng của mình với một giọng thơ say mê nhiệt huyết Lời thơ dài ngắn khác nhau, ngắt nhịp theo lời

kể và đặc biệt là với cách dùng từ “khí”, Nguyễn Công Trứ đã khắc họa một cách chính xác, đàng hoàng về tài năng của mình Khi Nguyễn Công Trứ viết:

“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”, ta thấy nảy sinh ra một mâu thuẫn Bản thân ông tự thấy mình cần phải có phận sự đối với trời đất, có trách nhiệm với cuộc đời Vậy mà khi làm quan, khi mà ông có điều kiện để thể hiện rõ nhất phận sự của mình thì ông lại cảm thấy bị như bị vào “lồng” Nguyễn Công Trứ

đã gọi việc ra làm quan tựa như một cái “lồng” Một hình ảnh thật mới mẻ, thật táo bạo Thời ấy ai dám nói như Nguyễn Công Trứ bởi việc ra làm quan tuy có nhiều ràng buộc song nó vẫn là đối tượng của sự tôn kính, ngưỡng vọng của người đời “Vào lồng” rồi ông vẫn tiếp tục chơi ngông

“Gồm thao Xược đã nên tay ngất ngưởng”

Giọng văn hơi khoa trương mà không hề gây khó chịu bởi nhà thơ rất

có ý thức về tài năng và phẩm hạnh của mình Cá tính của nhà thơ còn xuyên suốt khắp bài thơ, nó như một đốm sáng làm cho giá trị của tác phẩm thêm rực rỡ lung linh Nguyễn Công Trứ là một con người của tự do, một tâm hồn phóng khoáng và ưu hoạt động Chính vì thế khi bị giam chân vào trong cái

“lồng” của xã hội thì cũng là lúc ông có dịp để thể hiện cái “ngất ngưởng” của mình rõ hơn cả Nhưng chế độ phong kiến hà khắc đã không dung nạp cái

Trang 25

thói ngạo nghễ, khinh đời đầy ý thức cá nhân của ông Song Nguyễn Công Trứ không hề cúi đầu khuất phục mà cái “ngất ngưởng” trong ông lại như có động lực thúc đẩy để phát triển lên tới đỉnh cao của cá tính Khác hẳn với cái

ta chung chung, mang tính chất tập đoàn, Nguyễn Công Trứ đã tự xưng danh, biến cái ta thành cái tôi, thành lẽ sống cho bản thân mình

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”

Có lẽ khi ra làm quan, cá tính của Nguyễn Công Trứ phần nào vẫn bị chế độ phong kiến chi phối, lấn át nên bây giờ khi đã thôi làm quan thì cá tính kia mới bộc lộ một cách đầy đủ nhất, mãnh liệt nhất bởi không có gì ràng buộc Việc cho bò đeo nhạc ngựa thời ấy đã là ghê gớm lắm rồi, vậy mà khi đến nơi cửa phật ông còn mang vài cô “Kiều” mà ông tả là “gót tiên đủng đỉnh” Mức độ ngang tàng giờ đây đã phát triển lên đỉnh cao và nhà thơ của chúng ta đã quên đi hết thảy những ràng buộc cấm kị của thi pháp trung đại, cái thú vị hành lạc của nhà thơ bắt đầu thể hiện Ông đã từng nói “cuộc hành lạc chơi đâu là lãi đấy”

Nguyễn Công Trứ đã xé rào thi pháp văn học trung đại lúc nào cũng không biết Tư tưởng của nhà thơ là một tư tưởng cách tân mang đậm dấu ấn thời đại bởi nó không chỉ là sự cách tân bằng văn hóa mà bằng cả cuộc đời ông đang sống Sự thoát li với thế lực còn thể hiện ở câu thơ:

“Kia núi nọ phau phau mây trắng ”

Sức chiếm lĩnh của không gian lên cao của thi pháp trung đại không phải là nhạt nhòa trong phong cách thơ của nhà thơ Lên cao để mà thoát tục,

xa lánh bụi trần là một sở thích của thi nhân thời xưa Nguyễn Công Trứ cũng muốn hòa mình vào thiên nhiên cao rộng để cho lòng thêm thanh thản sáng trong

Có thế nói cá tính ngông của Nguyễn Công Trứ thể hiện đầy đủ nhất, toàn diện nhất khi ông viết câu thơ:

“Được mất dương dương người tái thượng”

Trang 26

Điển cố một lần nữa trở lại với thơ ông Rõ ràng sức nặng của thi pháp trung đại vẫn chiếm lĩnh tư tưởng của nhà thơ Nhưng ta vẫn thấy cái gì đó mới mẻ lớn lao đằng sau cái “dương dương” tự đắc của Nguyễn Công Trứ vậy.

Nguyễn Công Trứ tuy đã có sự ngấp nghé vượt rào thi pháp trung đại nhưng ông vẫn luôn ý thức được cái gì cần phải có và quay trở về với quỹ đạo của cương thường, có khi đến mức tôn thờ:

“Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”

Văn học trung đại đã có nhiều trang viết về đạo trung quân Nguyễn Công Trứ đã đi theo con đường đó để kế thừa và thể hiện cái đạo cao quý trong con người của mình Rồi sau đó ông lại viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông” Nhà thơ xưng “ông” với thiên hạ, với cuộc đời, không ngại ngùng dè dặt mà vẫn hiên ngang Rõ ràng cái “ngất ngưởng” ở đây đã trở thành một hình tượng tự thuật độc đáo, có ý vị hài hước Nhưng đàng sau nụ cười đó lại là một thái độ, một quan niệm nhân sinh ít nhiều mang màu sắc hiện đại bởi nó đã đề cao vai trò cá nhân với sự khẳng định cá tính, không đi theo con đường chính thống sáo mòn trong đó chỉ có hình ảnh tập đoàn cùng những giáo điều khô khan, còn quyền sống của con người bị che lấp vùi dập

Nguyễn Công Trứ đã vượt lên trên cái đó với một phong cách nghệ thuật nỗi bật Ông đã dùng hình tượng phi chính thống, nói nhiều đến cái tôi, bước đầu phá vỡ tính quy phạm của văn học trung đại Nhìn chung Nguyễn Công Trứ đã vượt xa thời đại của ông rất nhiều

Nếu chỉ có mình Nguyễn Công Trứ dám vượt rào thi pháp văn học trung đại thì sự cách tân kia cũng chưa phải là đáng kể Cùng với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát một lần nữa đã làm cho “hàng rào” của thi pháp trung đại bị đẩy lùi, bị lung lay Nếu như Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ đem lại cho ta một tâm trạng hồ hởi, náo nức thì Dương phj hành lại len vào trong hồn ta với một chất tình man mác, tràn đầy tính nhân văn, nhân bản Bài thơ đã khắng định, đã đề cao những tình cảm riêng tư của con người Đó là một nguồn cảm hứng rất đổi thân thuộc đối với thi nhân nếu như họa không bị

Trang 27

thi pháp văn học trung đại phong tỏa Đọc bài thơ ta như lạc vào một miền đất mới mà trên đó nảy sinh biết bao tâm tư tình cảm của con người, vẫn là một bài hành - một thể loại phổ biến của thi pháp trung đại cùng với không gian lữ thứ của một chủ thể trữ tình li hương song bài thơ lại được tác giả thổi vào một cái nhìn mới lạ, mang đậm tính nhân văn cao đẹp Sự cách tân đã bước đầu thế hiện:

“Thiếu phụ Tây Dương áo trắng phau”

Người thiếu phụ phương Tây hiện ra với một cái nhìn trân trọng và trìu mến của tác giả Lịch sử văn học đã mấy ai dám đưa hình ảnh người phụ nữ vào trong văn thơ táo bạo như Cao Bá Quát, mà lại là hình ảnh người đàn bà phương Tây đầy xa lạ Ông nói thẳng vào điều mình nhìn thấy, không vòng

vo, không còn những ước lệ đặc trưng dành cho người con gái như trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều Cái đập vào mắt nhà thơ đầu tiên là trang phục màu trắng của người thiếu phụ Cao Bá Quát đã mở hồn mình ra để cho cái màu trắng tinh khiết trang nhã kia in vào, xâm chiếm lấy con người tác giả Người đàn bà kia không chỉ cuốn hút nhà thơ bằng trang phục khác xa với người con gái phương Đông mà những hành động cử chỉ của bà ta với chồng

đã thực sự làm cho tâm hồn nhà thơ rung động, cảm hứng thơ trỗi dậy mãnh liệt:

“Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu ”

Sự hà khắc của những điều khó khăn trong chế độ phong kiến đã trói buộc tình cảm con người, đã không để nó phát sinh một cách tự nhiên Tuy vậy hình ảnh đôi vợ chồng kia đối với nhà thơ không hoàn toàn lập dị Một thoáng ngạc nhiên để rồi thay vào đó là một cái nhìn đầy thiện cảm, không tỏ

ý bất động Đâu còn thấy hình ảnh người phụ nữ Việt Nam e lệ, kín đáo bên người chồng và nguyện là người “nâng khăn sửa túi”, “cử án tu mi” suốt cuộc đời Những cái đó giờ đây đã trở thành bảo thủ lạc hậu vì nó không đề cao sự bình đẳng trong quan hệ giữa người với người, đặc biệt là quan hệ vợ chồng Câu thơ này chứng tỏ Cao Bá Quát đã có một cái nhìn thật tinh tế và tiến bộ Những điều mới lạ vẫn tiếp tục dâng trải trước mắt nhà thơ:

Trang 28

“Hững hờ cốc sữa biếng cầm tayUốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy”

Lòng ta cũng cảm thấy lâng lâng, lan tỏa một niềm vui trước những cử chỉ tự nhiên gần gũi của đôi vợ chồng nọ Và khi đó chúng ta nhìn về quê hương xứ sở của mình bấy giờ mới cảm thấy sao mảnh đất đó lại xa vời, khắc nghiệt quá vậy Kể cũng đúng bởi những tình cảm rất con người kia không bao giờ nảy nở trực tiếp, nó đã bị những giáo điều khô khan của chế

độ phong kiến chèn ép làm thui chột Tư tưởng đó đã ảnh hưởng mãnh liệt đến các trang thơ Tính quy phạm quả là hạn chế Nhưng đến thời Cao Bá Quát thì một lần nữa nó lại bị phá tung ra và ít nhiều ảnh hưởng đến dòng văn học hiện đại sau này Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta có được một phong cách đầy mới mẻ và hấp dẫn mà bởi chính nhà thơ đã phần nào thấm

ý thức được cách nhìn của mình, một sự cách tân độc đáo vượt xa thời trung đại Người con gái phương Đông đang sống trên quê hương tác giả nhút nhát, e dè bao nhiêu thì “thiếu phụ Tây Dương" kia lại bạo dạn tự nhiên bấy nhiêu và điều quan trọng là giữa hai vợ chồng đó phải có một sự bình đẳng gần như tuyệt đối thì người vợ mới có thể nũng nịu đến như vậy Khả năng cảm nhận của nhà thơ cũng thật nhạy cảm, tinh tế, chính vì vậy nên khi đứng trước những cử chỉ thân mật âu yếm của đôi vợ chồng nọ, nhà thơ của chúng

ta không hề là gỗ đá mà tâm hồn đã bắt đầu xao động, từ sự ngạc nhiên đồng cảm đến nỗi niềm tủi thân của người xa quê hương, xa gia đình:

“Biết đâu đến khách biệt li này?”

Chủ thể trữ tình đã hiện ra Biết bao cảm xúc đang dồn nén giờ đã bật tung ra từng câu chữ, dường như để trách móc mà lại như để tìm kiếm một tâm hồn đồng cảm để giải bày Cảm nhận của văn học trung đại là cảm nhận trên cái toàn thể, cái ta trữ tình, những câu thơ về tình yêu, về tình vợ chồng thật hiếm Cao Bá Quát đã vượt qua cản đó để đến với người đọc bằng một cái “tôi” trữ tình đầy tính nhân văn Tuy Cao Bá Quát thể hiện nỗi nhớ người thân của mình (ở đây chính là người vợ tào khang nơi quê nhà) vẫn chưa dám bộc bạch thẳng mà thể hiện qua yếu tố khách quan, đi từ ngoại cảnh và

Trang 29

để ngoại cảnh tác động đến lòng người Song đọc bài thơ ta thấy thấp thoáng hiện lên một sự chuyển biến về cảm thức tiến bộ của tác giả Bài thơ thể hiện một nỗi khát khao hạnh phúc của chính bản thân tác giả cũng như của tất cả mọi người Đây là một chủ nghĩa nhân văn hết sức cao đẹp mà Cao Bá Quát

đã đề cập tới

Bài thơ kết thúc ở đây nhưng những dư âm của nó vẫn âm vang mãi trong lòng người Nó như một “kì quan” đối với con người lúc bấy giờ, bởi nó

đã mở ra một thế giới mới, một thế giới riêng tư, thế giới của tình yêu

Hơn một thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát ra đi nhưng sự nghiệp văn thơ của hai ông vẫn còn, đặc biệt là Bài ca ngất ngưởng và Dương phụ hành đã vượt qua sức cản phá của thời gian Bởi

vì về mặt tư tưởng, nó có ý nghĩa nhân văn, về văn học, nó có ý nghĩa cách tân Nó đã đem vào văn học một tiếng nói mới, tiếng nói của cá nhân, tiếng nói của cá tính “Phong cách ấy là con người” (Buýtphông) Nguyễn Công Trứ với cá tính ngang tàng đã tạo nên một phong cách rất riêng trong nghệ thuật Còn Cao Bá Quát với bút pháp đằm thắm chất nhân văn đã mang đến cho cuộc đời những tình cảm nhân bản cao đẹp, những tình cảm riêng tư thầm kín Với những phong cách ấy, tính quy phạm của dòng văn học trung đại dần dần bị phá vỡ để thay vào đó là “cái tôi” đòi khẳng định Nó như báo hiệu sự

ra đời của một dòng văn học hoàn thiện hơn, gần người hơn, nền văn học mang trong mình một chủ nghĩa nhân văn mới” Nền văn học hiện đại Việt Nam

NGUYỄN THU PHƯƠNG

TÁC GIẢ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

A BÀI VĂN

Anh (chị) hãy nêu những bài học thấm thìa nhất về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Trang 30

BÀI LÀM

Nhận xét về cuộc đời và thơ văn Đồ Chiểu, ông Phạm Văn Đồng viết:

“Trên trời có vì sao có ánh sáng khác thường Con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì mới càng sáng” (Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc) Càng suy nghĩ về cuộc đời

và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ta càng thấy thấm thìa bởi “ánh sáng khác thường” từ ngôi sao sáng đó

Điều khiến ta thấm thìa nhất qua cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu phải chăng là: cuộc đời ấy đã nêu cao “một tấm gương sáng ngời về nghị lực và đạo đức, đặc biệt là về thái độ suốt đời gắn bó và chiến đấu không mệt mỏi cho lẽ phải, cho quyền lợi của nhân dân, đất nước” (nhận định của SGK Văn 11) Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cũng để lại nhiều bài học, nhưng phải chăng điều thấm thìa nhất qua sự nghiệp thơ văn của ông là: có một sự thống nhất cao độ, tuyệt đẹp giữa lý tưởng sống trong cuộc đời thực tại và trong thơ văn Thơ văn ông cho ta thấy người chiến sĩ Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ đầy khí tiết đất Gia Định, thầy giáo mù Đồ Chiểu và nhà thơ ở Ba Tri là một Một con người chiến đấu suốt đời không biết mệt mỏi cho lẽ phải, cho nhân dân đất nước với một khí phách, một nghị lực phi thường Bình thường một con người sống cương trực, thẳng thắn, biết yêu quí lẽ phải, đứng về phía chân

lý, đấu tranh chống lại bọn bất nghĩa, bất nhân đã là đáng để cho ta tôn trọng, mến yêu Với Đồ Chiểu, sống trong mù lòa, tàn tật mà vẫn giữ trọn được đạo lý, cốt cách cao đẹp thì lại càng kính phục biết bao nhiêu Giặc Pháp nhảy vào Nam Bộ, không đánh giặc được bằng gươm, ông đánh giặc bằng mưu trí, cùng bàn kế đánh giặc với các lãnh tụ nghĩa quân như Trương Định, Đốc Binh Là Giặc chiếm hết Nam bộ, sống trong đất giặc chiếm, ông ta chối mọi sự mua chuộc của kẻ thù, kiên quyết giữ vững khí tiết đến phút chót cuộc đời, trong khi biết bao kẻ làm ngơ trước nỗi nhục của giang sơn, đất nước, cam tâm làm tay sai cho giặc Phải đặt trong hoàn cảnh đó chúng ta mới càng thấy nhân cách cao cả và tấm lòng tận trung ngay thắng của nhà thơ mù Đồ Chiểu Trước khi Pháp sang, ông đã dùng ngòi bút để “đâm mấy

Trang 31

thằng gian” vô đạo, bất nhân Đến khi Pháp sang, ông tiếp tục nêu cao tinh thần chiến đấu vì chính nghĩa bằng ngòi bút sắc bén của mình, ở Nguyễn Đình Chiểu, văn với người là một Ông viết thế nào thì sống và hành động thế

ấy Văn thơ của ông thể hiện rất rõ chân dung tinh thần của ông: một con người luôn vì nghĩa đứng về lẽ phải, chống lại cái ác và bọn bất nhân một cách quyết liệt, đến cùng Trước khi Pháp sang, với tác phẩm Lục Vân Tiên, ông đã thể hiện rõ lý tưởng sống này Ông ca ngợi hết lời những con người cao đẹp vì nghĩa xả thân đánh cướp, trừ gian như Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực Ông cũng ca ngợi và tôn vinh những con người thủy chung, trong sáng, có nghĩa có tình như Kiều Nguyệt Nga Mặt khác, ông không tiếc lời lên

án bọn người bất nhân, bất nghĩa như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Võ Thể Loan Yêu và ghét ở Đồ Chiểu rạch ròi, phân minh, không một chút lẫn lộn thiện ác, bạn thù Giặc Pháp xâm chiếm nước ta, quân bán nước và lũ cướp nước giờ đây trở thành bọn bất lương, bất nghĩa Ngòi bút “chí công” của ông liền chỉa vào những kẻ “Quang vùa hương xô bàn độc”, “Phạt cho đến người hèn, kẻ khó, thâu của quay treo Tội chẳng tha con nít, đàn bà, đốt nhà, bắt vật.” Lòng căm thù giặc của Đồ Chiểu thể hiện trong những dòng chữ như bốc lửa:

“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan,Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”

(Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

Nhưng đối với những tấm gương xả thân vì nghĩa lớn, ngã xuống vì dân tộc, lời thơ ông lại đầy trân trọng và xót thương:

“Làm người trung nghĩa đáng bia sonĐứng giữa càn khôn tiếng chẳng mònCơm áo đền bù ơn đất nước

Râu mày giữ vẹn phận tôi conTinh thần hai chữ phao sương tuyếtKhí phách ngàn thu rỡ núi non”

Trang 32

(Thơ điếu Phan Tòng)

Đặc biệt, trong bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước ta, ông đã dựng lên được hình tượng người nghĩa sĩ quân nông dân hết sức chân thực Những con người quanh năm “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, khi giặc đến, bỗng trở thành người nghĩa sĩ anh hùng:

“Chỉ nhọc quan quản giống trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không, nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có”

(Văn té nghĩa sĩ cần Giuộc)

Sống trong vòng vây của giặc, trước bao nhiêu âm mưu dụ dỗ của kẻ thù Đồ Chiểu vẫn nêu cao tinh thần trung nghĩa, ngòi bút của ông vẫn sáng ngời chủ nghĩa yêu nước

“Thà cho trước mắt mù mùChẳng thà ngồi thấy kẻ thù quân thân”

(Ngư tiều y thuật vấn đáp)

Cho đến những ngày cuối đời, quê hương, đất nước rơi hẳn vào tay giặc, từ trong đau thương mất mát, thơ văn Đồ Chiểu vẫn vút lên những âm thành trong trẻo thể hiện niềm tin ở tương lai đất nước:

“Chừng nào thánh đế ân soi thấuMột trận mưa nhuần rửa núi sông”

(Xúc cảnh)

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một cuộc đời hết lòng vì nghĩa Dù mù lòa, dù gieo neo, vất vả, con người tưởng như đã là phế nhân ấy vẫn một lòng tôn thờ chính nghĩa, quyết liệt chống lại các thế lực bạo tàn, phi nhân bằng ngòi bút sắc bén của mình Ông sống thế nào thì viết thế ấy Trung thực

và thẳng thắn, thơ văn ông là tâm hồn và chí khí của ông Làm sao không xúc động và thấm thìa trước một cuộc đời, một sự nghiệp văn chương và một nhân cách cao cả như thế!

Trang 33

Trong diễn văn đọc tại lễ kỉ niệm 75 năm ngày Nguyễn Đình Chiểu mất, Hoài Thanh viết: “Sự gắn bó sâu xa với quần chúng là đặc điểm nổi bật trong cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, là nhân tố chủ yếu đào tạo nên con người, sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu” Hãy chứng minh nhận định trên.

BÀI LÀM

Xưa nay, vốn dĩ không có gì được coi là bất tử trước thời gian Năm tháng đi qua, bụi thời gian sẽ xóa mờ, sẽ vùi chôn đi tất cả Nhưng thời gian vẫn bất lực trước những dòng thơ đầy nhiệt huyết, đầy yêu thương, căm thù,

có máu hòa trong nước mắt của Nguyễn Đình Chiểu - một nhà thơ kiệt xuất, một người chiến sĩ yêu nước chân chính Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu khắc sâu, in đậm trong lòng người những dấu ấn khó phai nhạt, không xa lạ, không

mĩ miều, kiểu cách, thơ ông là tiếng nói chân chất, giản dị mà gần gũi Hình ảnh những con người bình thường, những người lao động trong thơ ông vẫn mộc mạc, quê mùa, chất phác và bộc trực như muôn đời nay vẫn thế Ngôn ngữ trong thơ ông là những tiếng nói đời thường, đượm màu dân dã, bình dị, đậm màu quê hương Hoài Thanh dã từng viết: “Sự gắn bó sâu xa với quần chúng nhân là đặc điểm nổi bật trong cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, là nhân tố chủ yếu đào tạo nên con người và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu”

Vâng! Đó là tất cả những gì bất tử với thời gian, vĩnh viễn ghi dấu trong lòng người

Đã gần một trăm năm qua đi mà dấu ấn một thời kì lịch sử của nước ta trong những năm gần cuối thế kỉ XX chưa hề phai nhạt trong lời thơ Nguyễn Đình Chiểu Đất nước đầy những biến động, bão táp, những loạn li, đau thương Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu cũng đầy những đau khổ uất ức, những giọt nước mắt khóc cho mình và khóc cho mọi người

Đau thương, bão táp đã ập xuống đời ông giữa lúc tuổi thanh xuân chan chứa tình yêu cuộc sống, hạnh phúc gia đình và niềm tin, ước mơ về một tương lai rực rỡ, xán lạn Mẹ mất - nước mắt khóc thương và nỗi đau tột cùng đã cướp đi ánh sáng đôi mắt ông rồi bị từ hôn Bấy nhiêu đau khổ, uất

ức cũng đủ để quật ngã một con người bình thường, nhưng không, Nguyễn

Trang 34

Đình Chiểu đã vượt qua chính bi kịch của đời mình bằng một tình yêu đất nước, yêu cuộc sống vô song, một niềm tin bền bỉ, sắt đá Nhưng đó vẫn chưa phải là tất cả, suốt bốn mươi năm trời tàn tật, sống trong sự đùm bọc, yêu thương của đồng bào Gia Định, nhân dân đã nâng đỡ tâm hồn đầy đau thương, mất mát của ông và cũng chính từ cuộc sống gắn liền với tâm tư, tình cảm của nhân dân đã tạo nên những tầm cao trong tư tưởng Nguyễn Đình Chiếu, những tầm cao ấy “là nhân tố chủ yếu đào tạo nên con người, sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu”.

Từ chủ nghĩa nhân đạo bước sang chủ nghĩa yêu nước, tâm hồn Nguyễn Đình Chiểu không phải không có những chuyển biến về mặt tư tưởng, nó ghi dấu qua hai mốc chính đó là tác phẩm nổi tiếng Lục Vân Tiên

và văn chương yêu nước chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Văn tế nghĩa

sĩ cần Giuộc Bước chuyển đó chứng tỏ sự phát triển thuận theo yêu cầu lịch

sử nhưng điều chúng ta muốn nói ở đây là cả hai tư tưởng nhân nghĩa và yêu nước của tác giả đều hướng tới nhân dân, vì dân và in dấu tình cảm của nhân dân

Ở Nguyễn Đình Chiểu, quan niệm về nhân nghĩa rất gần với quan niệm của nhân dân Trong Lục Văn Tiên, ông ca ngợi Lục Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh là những người trọng nghĩa khinh tài, có những cử chỉ, hành động nghĩa hiệp của người quân tử nhưng cũng là nhân dân Nam bộ mà gần gũi hơn là hình ảnh ông Ngư, bà Ngư, ông Tiều, chú Tiểu đồng và nàng Nguyệt Nga chung thủy Những con người ấy xuất thân từ cuộc sống lao động, bình dị, lương thiện nhưng trong hành động, lời lẽ của họ toát ra vẻ chân chất, hồn hậu, trong sáng mà cao thượng

Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga, nhưng khi Nguyệt Nga ngỏ lời cảm tạ cử chỉ nghĩa hiệp ấy, chàng liền cười mà rằng:

“Văn Tiên nghe nói liền cườiLàm ơn há dễ trông người trả ơn”

(Lục Vân Tiên)

Trang 35

Nụ cười của Vân Tiên mới đáng yêu làm sao, đó là nụ cười của người quân tử, nụ cười của quân chúng rộng lượng Trong nụ cười của chàng có một cái gì đó thật mộc mạc và chân chất, gần gũi nhân dân không một chút gượng ép, giả dối Hay hành động của ông Ngư và gia đình cứu Vân Tiên thoát nạn cũng là một việc làm nhân nghĩa, trong sáng không một mảy may tính toán:

“Ngư rằng, lòng lão chẳng mơĐốc lòng nhẫn nghĩa há chờ trả ơn”

(Lục Vân Tiên)

Đằng sau những triết lí, tư tưởng dường như nặng tính chất Nho giáo

ấy thực ra là tác giả đề cao tình cảm cha con, vợ chồng, bạn bè đó là những đạo lí truyền thống từ muôn đời nay của dân tộc ta, dù trải qua bao sóng gió cũng không hề đổi thay

Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, hiện thân của Nguyễn Đình Chiểu - nhân vật Lục Vân Tiên rõ ràng cũng đấu tranh cho lí tưởng nhân nghĩa, nhưng lí tưởng ấy không phải để phục vụ, củng cố địa vị của triều Nguyễn đương thời,

mà là điều Nguyễn Đình Chiểu ước mong về một xã hội phong kiến lí tưởng,

xa xưa như ông đã từng hình dung, mơ ước qua sách vở nhưng điều cơ bản

là tất cả những suy nghĩ, mơ ước ấy trước hết vẫn là hướng tới quyền lợi, hạnh phúc của nhân dân trong thời đại ông

Với Nguyễn Đình Chiểu, nhân đạo chủ nghĩa là một cái gì đó rất gần gũi, thiết thực Trước hết, nhân đạo là thương yêu những người dân lao động nghèo khổ, là đấu tranh vì phẩm giá con người, là những cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của nhân dân trong cuộc sống cơ hàn, đói rách Góc nhìn của Nguyễn Đình Chiểu về nhân dân trong xã hội phong kiến mới chỉ là sự đồng điệu, cảm thông của tâm hồn, phải đến khi thực dân Pháp lê gót giày trên khắp sáu tỉnh Nam bộ thì hình ảnh nhân dân trong văn chương yêu nước chống thực dân Pháp của ông mới thực sự gây ấn tượng, in dấu và soi sáng

tư tưởng của ông trên từng trang giấy

Trang 36

Khi tiếng súng đầu tiên của thực dân Pháp dội trên đất nước ta cũng là khi triều đình Nguyễn bạc nhược, hèn nhát đầu hàng kẻ thù để mặc nhân dân trong cái cảnh “nước mất nhà tan”, loạn li, đau thương và tang tóc Tiếng khóc, tiếng kêu than của họ vẫn văng vẳng trong lời nói của Nguyễn Đình Chiểu:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng?

Nỡ để dân đen mắc nạn này”

(Chạy Tây)

Câu hỏi đặt ra nhưng biết tìm câu trả lời ở đâu? Ở những kẻ áo mão, cân dai “bán nước hại dân” kia ư? Không! Chính lúc này trong hoàn cảnh đau thương, tăm tối nhất của đất nước, của mỗi cuộc đời sắp rơi vào nô lệ thì hình ảnh nhân dân sáng bừng lên như một bó đuốc giữa đêm đen Phải! Chính họ, chính những người “dân đen”, dân cày, những người dân lao động thuần phác nhất đã vùng dậy đấu tranh chống giặc cứu nước, tự mình cứu lấy chính bản thân mình Điểm sáng trong tâm hồn, trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chính là ỗ chỗ đó Ông không chỉ tìm thấy trong tâm hồn những người dân lao động kia những nét đẹp thuần túy, chất phác mà phát hiện lớn của ông chính là lòng yêu nước âm thầm cháy trong mỗi con người họ, mà giờ đây nó đang bùng cháy dữ dội, như muốn đốt cháy kẻ thù

Đó chính là cái khác, cái cao hơn trong tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu so với các nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ và trước đó Thực ra phát hiện của Nguyễn Đình Chiểu không phải là hoàn toàn mới, hình ảnh nhân dân trước đây không phải là chưa có trong văn học Việt Nam, nhưng họ chỉ xuất hiện với tư cách là những nhân vật phụ, hình ảnh của họ mới chỉ là thoáng qua mờ nhạt, chưa để lại dấu ấn nào sâu sắc, đậm nét nhưng đến Nguyễn Đình Chiểu, đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cái bóng mờ nhạt ấy đã rực sáng lên với tất cả vẻ đẹp ẩn giấu trong tâm hồn tự ngàn xưa

Họ! Vâng, những con người bình dị ấy, ý thức dân tộc của họ buổi ban đầu chỉ đơn thuần là lòng yêu quê hương, yêu mảnh đất nơi họ từng sinh ra

Trang 37

và lớn lên, yêu những cái cây, ngọn cỏ Nhưng giặc Pháp đã tàn phá, chà đạp lên những tình cảm thiêng liêng ấy, tiếng súng kẻ thù làm thức tỉnh trong sâu thẳm tâm hồn họ tiếng gọi “hãy giữ lấy những gì mình yêu thương, thờ phụng, giữ lấy những gì đã có và đã là của mình”.

Sức lớn lên của lòng căm thù và tình yêu quê hương đã tạo cho họ một sức mạnh phi thường để làm nên những việc cũng phi thường, không ai có thể ngờ tới

“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ”

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Vì sao ư? Vì sao những con người hiền lành chất phát kia hôm qua còn

“Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhưng; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc) chỉ quen với cuộc sống nghèo khổ, trong trói buộc, bó hẹp sau lũy tre làng, trong những sớm hôm đầu tắt, mặt tối đi về

để kiếm sống, dường như họ bị lãng quên trong những lo toan, vất vả, lăn lộn của cuộc sống đời thường?

“Nhớ lính xưa côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”

Chỉ bằng hai từ “côi cút” thôi, tác giả đã gói trọn được bao nhiêu yêu thương đồng cảm, xót xa của mình trước thân phận của người nông dân nghèo, thân phận của con ong, cái kiến trong xã hội phong kiến Hôm qua họ

là những người bị lịch sử bỏ quên nhưng hôm nay họ đã trở thành những nhân vật chính, người chiến sĩ dũng cảm, tung hoành trong trận chiến, ngày đêm sống, chết gần kề

Vì sao ư? Vì họ yêu nước, yêu quê hương từ những tình cảm chân thành nhất, họ yêu từ trong máu thịt của mình: Họ yêu nước không phải bởi bất cứ một khái niệm sách vở trừu tượng nào, mà họ yêu bởi những cái bình

dị, gần gũi nhất: ngọn rau, tấc đất, bát cơm, manh áo và lòng căm thù giặc của họ cũng cụ thể như vâỵ - nó muốn biến ngay thành những hành động quyết liệt tiêu diệt kẻ thù “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Trang 38

ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc) Trên đường đua tiếp sức của lịch sử, các thế hệ người Việt Nam đã đi lên với gậy với tre; xưa Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc, đến giờ những người nông dân lại cầm ngọn tầm vông đánh giặc Dù trong chiến đấu, họ vẫn mang dáng

vẻ, phong cách của người lao động “Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ” (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ Việt Nam đầu tiên đã xây dựng và đề cao người dân trong cuộc chiến tranh nhân dân Với Văn tế nghĩa

sĩ cần Giuộc ông đã dựng lên một tượng đài bất tử về người nông dân cầm

vũ khí chống giặc, giữ nước

Hình ảnh người nông dân yêu nước trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu

là một phát hiện đầy mới mẻ và có giá trị Họ - những con người có từ ngàn xưa nhưng cũng chỉ thật nổi bật lên trong giai đoạn lịch sử này khi ý thực hệ phong kiến đang có nguy cơ tan rã và giai cấp phong kiến đang rút lui khỏi vũ đài lịch sử Chính trong khoảng thời gian này Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc đã ra đời như một bước nhảy vọt về tư tưởng, về cái nhìn đối với người dân lao động, ở Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tư tưởng nhân dân đã chiến thắng một cách rực rỡ; phải có một sự từ bỏ, phải có một sự đấu tranh với chính mình ở mức độ mãnh liệt, Nguyễn Đình Chiểu mới có thể đón nhận tư tưởng nhân dân đi vào trong thơ văn sâu sắc như thế Năm trăm năm trước đây, Nguyễn Trãi đã từng viết “Làm lật thuyền mới biết dân như nước” Nhưng trong khuôn khổ chế độ phong kiến của xã hội Việt Nam ở thế kỷ XV chưa cho phép ông ghi lại hình ảnh những người đã cùng ông mười năm kháng chiến chống quân Minh Gần gũi hơn là nhà thi hào dân tộc Nguyễn Du với những kiệt tác chan chứa trong lòng nhân đạo, những dòng nước mắt khóc thương cho những kiếp người lầm than, đau khổ nhưng trong tác phẩm của Nguyễn Du lại không hề có bóng dáng những người dân cày đã từng gây ra bão táp cuối thế kỷ XVIII, làm đảo lộn, rung chuyển cả một xã hội phong kiến đang mục nát đến cùng cực ấy Chỉ đến Nguyễn Đình Chiếu “lần đầu tiên trong lịch sử văn

Trang 39

học dân tộc mới có được sự tương xứng giữa phong cách người nông dân trong văn học với phong cách người nông dân ngoài đời”.

Câu hỏi được đặt ra là, cái gì? Động lực nào đã thúc đẩy Nguyễn Đình Chiểu tạo nên viên ngọc Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc với hình ảnh, nhân vật trọng tâm là những người dân lao động thuần phác mà trước đây chưa hề có?

Phải chăng điểm xuất phát của tư tưởng nhân dân trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là cuộc sống gắn bó sâu sắc với quần chúng nhân dân? Một cuộc đời có quá nhiều những dấu ấn, tình cảm, kỉ niệm của nhân dân ngay từ buổi đầu tác giả chào đời, những tình cảm sâu nậng, gắn bó với nhân dân trong những ngày đau thương nhất của đời mình đã tạo cho Nguyễn Đình Chiểu một cái nhìn sắc sảo, một tiếng nói đồng cảm với cuộc sống của những con người thấp bé nhất trong xã hội Ông yêu thương những con người ấy bằng một thứ tình cảm chỉ có được ở một tâm hồn giàu tình nhân nghĩa, yêu nước ở ông cũng gắn liền với yêu thương nhân dân, cho dù trong ông, tư tưởng trung quân, ái quốc dù ít, dù nhiều vẫn tồn tại, nhưng Nguyễn Đình Chiểu yêu nước trước hết vẫn là thương dân:

“Ghét đời Ngũ Bá phân vânChuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn”

(Lẽ ghét thương)

Trong tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, nước với dân là một, không có dân nghĩa là không có nước và ngược lại Cũng vì có một tình yêu thương nhân dân tha thiết nên tình cảm yêu nước của ông mới dạt dào, mạnh mẽ, cụ thể, máu thịt và vững chắc như thế

Lòng thương đã tạo nên niềm tin, sức mạnh giúp ông trong công việc của một người thầy thuốc, thầy dạy “nhân”, dạy “nghĩa”:

“Thấy người đau giống mình đauPhương nào cứu đặng mau mau trị lành”

Trang 40

Tình thương vô bờ bến ấy luôn hướng tới những người dân lao động, lương thiện, nghèo khó Ông đã từng lên tiếng khích lệ những người có tài còn ẩn thân trong xã hội:

“Thương dân sao chẳng lập thânĐến khi nắng hạ toan phần làm mưa”

Phê phán những người cầm quyền, khiếp nhược:

“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này”

Yêu và thương đó là nguồn gốc của sự đồng cảm, mến phục sâu sắc của tác giả đối với những người đang sống và những người đã ngã xuống vì quê hương và đó cũng là nguồn gốc của lòng căm thù giặc sôi sục:

“Khá thương thayDân sa nước bấy chầyGiày ép mỡ dầu hết sức”

(Văn tế nghĩa sĩ trận vùng Lục tỉnh)

Nếu như ở Nguyễn Đình Chiểu ta tìm thấy một khía cạnh rất mới trong tâm hồn tác giả, đó là những tư tưởng tiến bộ vượt bậc của ông trong cái nhìn đối với nhân dân thì trong quan niệm về người anh hùng - Nguyễn Đình Chiểu một lần nữa đã vượt qua vòng vây tư tưởng của lễ giáo phong kiến vượt qua chính mình để hướng tới một quan niệm anh hùng rất gần gũi và gắn bó với quần chúng, khác hẳn quan niệm phong kiến về “trung quân ái quốc”

Không xa lạ, cao sang nhưng người anh hùng ấy đã gắn bó với quần chúng nhân dân bằng tình thương, tình người, tình yêu nước cùng chung ý chí giết giặc Hình ảnh Trương Định, Phan Tòng hay Lục Vân Tiên - những người lãnh tụ anh hùng, quả cảm ấy là tấm gương yêu nước, kiên định không

có gì lay chuyển được Họ là niềm tin, là chỗ dựa của nhân dân nhưng chính

họ đã dựa vào nhân dân, đã được nhân dân tiếp sức:

Ngày đăng: 07/03/2017, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w