Chúng tôi đặt cho mình một mục tiêu khiêm tốn: Bước đầu giớithiệu một số công trình nghiên cứu thi pháp văn học trung đại của nướcngoài, tìm kiếm trong đó những khái niệm cần thiết, nhữn
Trang 1MẤY VẤN ĐỀ THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
MẤY VẤN ĐỀ THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Tác giả: TRẦN ĐÌNH SỬ
PHẦN MỞ ĐẦU THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI
VÀ THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại
và dân tộc, đồng thời cũng là một trong ba phạm trù lớn của văn học, bêncạnh văn học cổ đại và văn học cận hiện đại Chính vì vậy, vấn đề thi phápvăn học trung đại không chỉ có ý nghĩa để hiểu sâu thêm văn học trung đại,
mà còn gián tiếp giúp làm sáng tỏ đặc điểm văn học cổ đại và hiện đại trongthế đối sánh
Văn học trung đại Việt Nam tính từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX lại là giaiđoạn hình thành và phát triển rực rỡ của văn học Việt Nam, là giai đoạn hìnhthành các truyền thống lớn về tư tường và nghệ thuật Do vậy, việc nghiêncứu thi pháp văn học giai đoạn này có ý nghĩa giúp cho việc chiếm lĩnh sâuthêm các truyền thống văn học dân tộc, thúc đẩy việc học tập và kế thừa cáctruyền thống tốt đẹp ấy
Văn học trung đại chiếm một phần không nhỏ trong chương trình vănhọc ở phổ thông và đại học, và việc dạy học văn học trung đại sao cho cóhiệu quả đang là một mục tiêu phấn đấu của giáo viên các cấp Nghiên cứuthi pháp văn học giai đoạn này sẽ cung cấp thêm tài liệu tham khảo để giảiquyết vấn đề rộng lớn này
Văn học trung đại có thi pháp của nó Thi pháp học truyền thống mộtphần là lý luận văn học của nền văn học ấy Để hiểu văn học trung đại, chỉriêng việc nghiên cứu thi pháp học lý thuyết truyền thống, trình bày các phạmtrù, khái niệm, phương pháp của nó cũng đã là một việc rất cần thiết và chẳng
Trang 2dễ dàng chút nào Vì sao lại còn nghiên cứu thi pháp học truyền thống theoquan điểm thi pháp học hiện đại?
Ở đây xin được làm sáng tỏ mấy khái niệm sau:
1 Thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thànhcủa một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó Thi pháp không phải lànguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong, vốn có củasáng tạo nghệ thuật hình thành cùng với nghệ thuật Nó là mĩ học nội tại củasáng tác nghệ thuật gắn liền với sự sáng tạo và một trình độ văn hoá nghệthuật nhất định, mang một quan niệm nhất định đối với cuộc đời, con người
và bản thân nghệ thuật Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thểloại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm là cả nền văn học
2 Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp Khoa học này baogồm mấy bộ phận sau:
a) Lý luận về thi pháp của một giai đoạn văn học lịch sử cụ thể Ở đây
sẽ bao gồm lý luận về thi pháp vốn có của giai đoạn văn học trung đại, đượctác giả của chúng thừa nhận
b) Hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật thể hiện trong bản thân sáng táccủa giai đoạn văn học được xét Hệ thống này do tồn tại tiềm tàng trong sángtác nên cần được miêu tả ra, đồng thời nó cũng không trùng khít với thi pháphọc lý thuyết của giai đoạn văn học ấy
c) Lý luận thi pháp của người nghiên cứu dùng để miêu tả một cách hệthống thi pháp tiêm tàng trong thực tế văn học và lý giải mới đối với lý luận thipháp đã có trong lịch sử
Ba bộ phận của thi pháp học này liên hệ với nhau trong một mối quan
hệ hết sức khăng khít Lý luận thi pháp lịch sử là siêu ngôn ngữ thành văncủa thi pháp văn học một thời Lý luận thi pháp học hiện đại là siêu ngôn ngữcủa nghiên cứu văn học hiện đại dùng để miêu tả lý luận thi pháp lẫn thi phápvăn học của một giai đoạn Chính vì như vậy, thi pháp học hiện đại có một ý
Trang 3nghĩa quan trọng, bao trùm Thiếu một quan niệm thi pháp học hiện đại sáng
tỏ không thể tiến hành phân tích, miêu tả hệ thống thi pháp văn học được
3 Công trình này sở dĩ được gọi là Mấy vấn đề thi pháp văn học trungđại Việt Nam là bởi vì nó được gợi ý từ nhiều công trình nghiên cứu thi phápvăn học trung đại của các tác giả hiện đại nước ngoài, trước hết là các tác giảNga
Thời nào cũng vậy, các công trình nghiên cứu có hiệu quả bao giờcũng gợi ý cho người đi sau Trước đây nhờ có Nghệ Văn Chí của Ban Cốmới có Nghệ Văn Chí của Lê Quý Đôn; có Lịch sử văn học Pháp củaLăngxông, mới có Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm Dĩnhiên học tập là sáng tạo bởi vì phải vận dụng vào đối tượng mới Ở Nga(Liên Xô cũ) nhà nghiên cứu M I Stebơlin–Camenxki viết Thi pháp học lịch
sử trên cơ sở tài liệu văn học cổ nước Anh theo phương hướng của sách Thipháp học lịch sử của A.N Vêxêlôpxki (1978), còn X X Avêrinxép viết Thipháp văn học Bidantin trung dại thượng kỳ theo quan niệm và phương phápcủa D X Likhatrốp Ông nói: ông mô phỏng Likhatrốp để khám phá thi phápmột nền văn học khác Nhà Việt Nam học N.I.Niculin cũng vận dụng quanđiểm của Likhatrốp để nghiên cứu văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷXIX Đến lượt mình, chúng tôi cũng mô phỏng bước đi, cách làm của các nhànghiên cứu Xô viết (Liên Xô trước đây) Tất nhiên khi vận dụng vào văn họctrung đại Việt Nam chúng tôi buộc phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tế
Học tập nước ngoài bao giờ cũng là một việc làm cần thiết để nâng caotrình độ tiếp cận của mình Trong bước đầu học tập chắc công trình nàykhông tránh khỏi những khiếm khuyết, mặc dù chúng tôi cố gắng để tránhkhỏi khiên cưỡng, gò ép
4 Trong nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam hiện nay đã có khánhiều công trình văn học sử, cũng đã có một số công trình đi sâu vào một sốthể loại, tác giả: Một số công trình bước đầu thăm dò một số quy luật pháttriển của văn học Việt Nam Tuy nhiên một công trình mang cái nhìn tổng thểđối với thi pháp văn học trung đại Việt Nam vẫn rất cần thiết Chính vì vậy,
Trang 4chúng tôi không ngại kiến thức sơ khoáng, kinh nghiệm ít ỏi, mạo muội thử đivào tìm hiểu Chúng tôi đặt cho mình một mục tiêu khiêm tốn: Bước đầu giớithiệu một số công trình nghiên cứu thi pháp văn học trung đại của nướcngoài, tìm kiếm trong đó những khái niệm cần thiết, những cách tiếp cận hữuhiệu, gợi ra một phương hướng nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam trungđại.
Trên cơ sở đó, bước đầu nêu ra một số vấn đề cơ bản, như loại hìnhvăn học, các bình diện đặc trưng, thi pháp một số thể loại văn học với quanniệm con người, quan niệm thế giới và một số phương thức nghệ thuật
Để thực hiện mục tiêu này, chúng tôi một mặt tìm đọc các tài liệu vănhọc Việt Nam, tham khảo, học tập các tác giả đi trước, tham khảo các kiếngiải nước ngoài, bước đầu nêu kiến giải của mình, tạo thành một cái nhìn hệthống
Muốn tìm hiểu thấu đáo thi pháp văn học trung đại Việt Nam chắc chắncòn phải dày công nghiên cứu cụ thể hơn nữa, và đòi hỏi sự tham gia tìm tòicủa nhiều học giả và thế hệ nhà nghiên cứu
Chừng nào còn chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu từngmặt, thì một công trình như thế này khó tránh khỏi gây cảm giác chung chung.Nhưng mặt khác một cái nhìn bao quát cũng có ý nghĩa để đi sâu vào từngmặt cụ thể
Thi pháp văn học trung đại là một lĩnh vực hết sức khó khăn Khó khăn
về lý thuyết, về tư liệu, về sự thâm nhập, phân tích Chúng tôi mong nhậnđược nhiều ý kiến chỉ giáo để có thể hoàn thiện thêm nhằm cung cấp tài liệutham khảo cho sinh viên, học viên cao học và những ai quan tâm tới vấn đề
Chúng tôi trân trọng cảm ơn các GS Trần Thị Băng Thanh, Hoàng HữuYên đã cho những nhận xét quý báu để chúng tôi hoàn thiện bản thảo
Hà Nội, năm Đinh Sửu, 1997
TÁC GIẢ
Trang 5Phần I MẤY VẤN ĐỀ THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Chương 1 THI PHÁP HỌC TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG CÁCH TIẾP CẬN VỚI THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
I THI PHÁP HỌC TỪ TRUYỀN THỐNG TỚI HIỆN ĐẠI
1 Thi pháp học truyền thống
Sau mấy nghìn năm tồn tại và phát triển, thi pháp học truyền thốngbước vào thế kỷ XX đã chuyển sang giai đoạn hiện đại với nhiều trường pháimới, đã làm đổi thay hẳn cách tiếp cận văn học và mở ra những chân trời mớicho việc nghiên cứu, nhìn nhận văn học nghệ thuật nói chung và văn họctrung đại nói riêng
Như nhiều người đã có nhận xét, thi pháp học truyền thống từ Arixtốt ởphương Tây hay Lưu Hiệp ở phương Đông trở đi đều có chung một số đặcđiểm như sau:
Thi pháp học là bộ môn khoa học xuất hiện như là một cẩm nang sắpxếp những lời dạy về phép tắc đối với nghề sáng tạo nghệ thuật Miller T.A.trong sách Lịch sử phê bình văn học thời Hy Lạp cổ điển thế kỷ V – VI chorằng: Về thể loại sách Thi pháp học của Arixtốt là một dạng sách giáo khoa,một thứ cẩm nang về các quy tắc thực tiễn của một nghề như nghề thủ công
cụ thể Thi pháp là kiến thức dạy nghề cho những ai làm nghề văn học Thời
cổ đại người ta nhìn văn học dưới góc độ nghề Nghệ thuật thi ca nằm cùngdãy với thuật hùng biện (Rhêtorica), thuật tư duy (logica), và thi pháp họcchính là thuật làm văn thơ vậy
Sau Arixtốt, các công trình thi pháp học của Horaxơ, Longinus,Caxtenvestrô, Boalô, Létxinh vẫn đi theo quỹ đạo đó Trong sách Nghệ thuậtthi ca của Antonio Minturnô (Italia) viết năm 1564, thơ vẫn còn đặt cùng dãyvới các nghệ thuật khác như quân sự, y học, kiến trúc, và đến cuối thế kỉ XVIII
ở châu Âu, thơ vẫn nằm trong dãy các “nghệ thuật tự do” như toán pháp,thiên văn, âm nhạc, hùng biện
Trang 6Ở Trung Quốc Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, theo nhận định củanhà sử học Phạm Văn Lan trong Trung Quốc thông sử, phần hai là sách trìnhbày “phép tắc làm văn” Nhà nghiên cứu Vương Vận Hi cho rằng có thể dịchtên “Văn tâm điêu long” thành “Nghĩa lý tinh tuý về cách làm văn chương”.Sau Lưu Hiệp các nhà thi thoại và các nhà bình điểm tiểu thuyết cũng nhậnxét, đánh giá tác phẩm theo “cách làm” của họ Cách hiểu ấy đã cho thấy rõđặc điểm chung của thi pháp học truyền thống là hướng tới truyền thụ phéptắc làm văn Tinh thần này đã được lưu truyền và ngự trị hàng nghìn năm.Thế kỉ XVI, Beneđettô Varki, thành viên Viện Hàn lâm Italia tuyên bố: “Mụcđích của nhà thơ là làm cho tâm hồn của con người được hoàn thiện và hạnhphúc, và công việc của anh ta là bắt chước, tức là đóng vai (Fingera) và miêu
tả (Rapprsentare) sự vật, nhằm làm cho con người tốt hơn, lương thiện hơn,
và do đó mà hạnh phúc hơn… Thi pháp học – là khoa học (Facoltà) dạynhững cách thức cần thiết để bắt chước các hành động, các dục vọng và cácphong tục bằng các phương tiện nhịp điệu, ngôn từ và hài hoà, gộp lại haytách riêng…”
Tinh thần trên đã dần dần đưa thi pháp học truyền thống vào quỹ đạoquy phạm hoá mà tiêu biểu nhất là công trình Bàn về nghệ thuật thơ ca củaBoalô, pháp điển của chủ nghĩa cổ điển Pháp
Ở Trung Quốc nguyên tắc làm văn xây dựng trên nguyên lý thống nhấtgiữa văn và đạo, đức, khí, phong, tức nguyên lý vận hành của vũ trụ và giáohoá đối với con người Lục Cửu Uyên (đời Tống) nói “Nghệ tức là đạo, đạotức là nghệ” Lưu Hi Tải (đời Thanh) nói “Nghệ là hình của đạo” Nghệ đây làtài năng, kỹ thuật mà hình ảnh tiêu biểu là câu chuyện Bào Đinh làm thịt trâucủa Trang Tử Nghệ thuật của Trung Quốc biểu hiện ra thành “pháp” Người
ta nói “kỹ pháp”, “thương pháp”, “đao pháp”, “thư pháp”, “hoạ pháp” “bútpháp”, “thi pháp”, “chương pháp”, “cú pháp”, “văn pháp”, “tự pháp” Pháp sinh
ra từ lý, lý sinh ra từ đạo Đạo là một phạm trù phổ quát, trừu tượng, cho nên
từ “đạo” mà suy ra “pháp” cũng khác nhau vô vàn Nghiêm Vũ (đời Tống)trong sách Thương Lang thi thoại nói thơ có năm pháp: “thể chế, cách lực, khí
Trang 7tượng, hứng thú, âm tiết” Khương Quỳ trong Bạch Thạch đạo nhân thi thuyếtnói thơ có bốn pháp “khí tượng, thể diễn, huyết mạch, vận độ Khí tượngphải hồn hậu, hồn hậu quá thì tục; thể diện phải lớn lao, lớn lao quá thìngông; huyết mạch phải lưu thông, lưu thông quá thì lộ; vận độ phải phiêudật, phiêu dật quá thì hời hợt” Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long trước đócũng đề ra “Lục nghĩa”: Tình sâu mà không giả dối, phong cách thuần hậu màkhông hỗn tạp, sự việc chân thật, không hoang đường, nghĩa lý thẳng thắnkhông quanh co, bố cục gọn gàng không rối rắm, lời văn đẹp mà không loèloẹt…”
Cũng nói về thơ, Tạ Trăn trong Tứ Minh thi thoại thì cho rằng “Thơ cóbốn cách: một là hứng, hai là thú, ba là ý, bốn là lý”: Diệp Nhiếp đời Thanhtrong Nguyên Thi nói: Ta cho thơ có ba tiếng là nói hết: một là lý, hai là sự, ba
là tình Được ba điều này mà bất biến thì có được các “pháp” của tự nhiên
Do đó cái gọi là “pháp”, chỉ là lý xác đáng, sự chính xác, tình đúng mực”.Cũng theo cách suy nghĩ đó, Lê Quý Đôn nói: “Ta thường cho làm thơ có bađiều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự…”
Các nhà bình điểm tiểu thuyết thời Minh– Thanh lại càng đúc rút đượcnhiều thủ pháp tiểu thuyết Theo Kim Thánh Thán tiểu thuyết Thuỷ hử có 15pháp, như đảo sáp pháp (xen ngược), giáp tự pháp (kể xen vào giữa câu nói),thảo xà khôi tuyến pháp (vẽ đường rắn bò), đại lạc mặc pháp (tô đậm mực),cẩm châm nê thích pháp (kim gấm châm bùn), bối diện phô phấn pháp (tôphấn sau lưng), lộng dẫn pháp (đùa dẫn một đoạn nhàn văn viết trước chínhvăn), lạt vĩ pháp (thêm dư ba), chính phạm pháp (cố ý tả việc giống nhau, tức
vi phạm cấm kỵ), lược chính phạm (tả việc gần giồng nhau), cực bất tỉnh pháp(cố rườm rà), cực tỉnh pháp (tước bỏ nhiều), dục hợp túng pháp (muốn hợpnên buông), hoành vân đoạn sơn pháp (mây che ngang núi), loan giao tụchuyền pháp (dùng giao loan nối dây) Theo Mao Tôn Cương, Tam Quốc diễnnghĩa có 12 pháp: phép “cùng cây khác cành, cùng cành khác lá, cùng lákhác hoa”, phép “vật đổi sao dời, mưa che gió lật”, phép “gieo giống cáchnăm, sớm cho mai phục”, phép “dùng mây che núi, dùng cầu bít khe”, phép
Trang 8“sương sa trước tuyết, sấm nổi trước mưa”, phép “sau sóng còn gợn, saumưa còn ẩm”, phép ““băng lạnh gió nóng, gió mát quét bụi”, phép “tiếng trốngxen trong tiếng kèn sáo, tiếng chuông chen trong tiếng đàn”, phép “thêu tơ vágấm, dời kim thêu đều, phép “đỉnh núi đối nhau, bình phong gấm che nhau,phép “núi gần tô đậm, núi xa vẽ mờ”, phép “dùng khách tôn chủ” Các “pháp”này cho thấy người Trung Quốc xưa thường dùng con mắt hội hoạ hoặc conmắt không gian để hình dung nghệ thuật ngôn từ.
Những ví dụ trên cho thấy các phép tắc, lời dạy của thi pháp văn họctruyền thống một mặt là rất phong phú, thâm thuý, có ý nghĩa rất lớn để lý giảivăn học đương thời Nhưng mặt khác là nó mang nặng tính kinh nghiệm, tínhgiáo huấn và tính quy phạm Tính kinh nghiệm làm cho hệ thống thi phápđược nhìn nhận cô lập trong từng biểu hiện, lắm khi mâu thuẫn nhau Chẳnghạn, có người đề xướng “Thi diệu tại hàm hồ” (Tạ Trăn), có người nói ngượclại: “Thơ không lấy thơ hồ làm điều kỳ diệu (Lý Trọng Hoa, đời Thanh) Cóngười nói “thơ lấy ý làm chủ, có người nói “thơ lấy khí làm chủ” Có người lạinói “thơ vô ngã là quý”, có người lại nói “thơ quý ở chỗ có ngã” Viên Mai nóimạnh hơn: “Thơ không thể vô ngã” Phân tích đặc điểm thi pháp học trung đạiKhơrápchencô nhận xét: “Cách tiếp cận cô lập đó làm khó khăn cho việckhám phá tính toàn vẹn của hệ thống thi pháp về mặt hình thành và phát triểncủa nó” Tính giáo huấn khó tránh khỏi sự áp đặt, còn tính quy phạm mâuthuẫn với sự sáng tạo sinh động, quan niệm nghệ thuật bất biến không phùhợp vôi quá trình phát triển lịch sử của nghệ thuật Những đặc điểm ấy làmcho thi pháp học truyền thống, mặc dù với tất cả giá trị phong phú và uyênbác, vẫn không đáp ứng đầy đủ nhu cầu nhận thức về hệ thống nghệ thuậttrung đại của người hiện đại
2 Thi pháp học hiện đại
Thế kỷ XVIII ở châu Âu với cách mạng xã hội, phong trào Khai sáng,chủ nghĩa lãng mạn nảy sinh, mỹ học ra đời, quan niệm văn học đã có sựthay đổi lớn I.Kăng là người đầu tiên khẳng định nghệ thuật không phải nghềthủ công, không phải khoa học, mà là hoạt động tự do Có nhà mỹ học Pháp
Trang 9đã sử dụng thuật ngữ “nghệ thuật đẹp” (fine arts) để chỉ năm loại hình, âmnhạc, thi ca, hội hoạ, điêu khắc, vũ đạo nhằm phân biệt với “nghệ thuật cơgiới”, phục vụ mục đích thực dụng Tuy vậy cả thế kỷ XIX là thế kỷ quan tâmtới nội dung xã hội, tư tưởng của nghệ thuật Phải đến đầu thế kỷ XX hìnhthức nghệ thuật mới trở thành sự kiện được chú ý.
Bắt đầu từ thi pháp học lịch sử của nhà nghiên cứu văn học NgaA.N.Vêxêlôpxki, hình thức nghệ thuật được xem như một đối tượng nghiêncứu có lịch sử riêng Nhưng phải từ đầu thế kỷ XX, với ảnh hưởng của quanniệm hệ thống trong ngôn ngữ học của F đơ Xốtsuya thi pháp học hiện đại đã
có một đổi thay căn bản Từ trường phái hình thức Nga đến trường phái phêbình mới Anh – Mỹ đầu thế kỷ, chuyển sang trường phái cấu trúc, ký hiệuhọc, hiện tượng học và trường phái thi pháp học lịch sử theo quan niệmmacxít, thi pháp học hiện đại đã được xác lập như một hệ thống cách tiếp cậnmới đối với văn học
a) Văn học được xem như một sáng tạo bằng chất liệu, có đời sống lịch
Quan điểm thứ nhất đề cập tới tính bản thể của văn học, cũng tức làtính độc lập, tự chủ của nó so với các quan hệ đời sống và với các hình thái ýthức xã hội khác Đúng là văn học có quan hệ nhiều mặt với đời sống xã hội.Tuy nhiên lý luận văn học từ thời cổ đại, trung đại cho đến hết thế kỷ XIX chủyếu chỉ tập trung xem xét văn học trong mối quan hệ phụ thuộc với hiện thực,với ý thức, với văn hoá, nhận thức, tôn giáo, chính trị v.v… Cách xem xét mộtchiều đó quả là làm xao nhãng việc nghiên cứu văn học như một hiện tượngnghệ thuật có tính độc lập, tự chủ, và do đó tính đặc thù của nghệ thuật vẫnchưa được thực sự quan tâm
Trang 10Những lời phát biểu quyết liệt phủ nhận các mối quan hệ văn học vàđời sống của các nhà hình thức chủ nghĩa, cấu trúc chủ nghĩa, theo chúng tôi,nên hiểu là sự phản ứng lại với cách tiếp cận một chiều để đòi hỏi tiếp cậnvăn học nghệ thuật như một nghệ thuật Chẳng hạn V Scơlốpxki viết: “Lýluận văn học của tôi là nghiên cứu các quy luật nội bộ của văn học” “Thủpháp nghệ thuật là thủ pháp làm lạ hóa sự vật”, “Đối tượng của khoa học vềvăn học, tức thi pháp học, theo R Jakobson, là “chất văn học” chứ không phải
là văn học V Girmunxki cũng xác định: “Đối tượng của thi pháp học là vănhọc với tư cách là một nghệ thuật” Tuy các quan niệm này có khác nhau,nhưng tựu trung đều xem văn học như một nghệ thuật trong sự tồn tại của nó,với những quy luật riêng Đó là một yêu cầu chính đáng và là một cơ sở đểđổi mới cách tiếp cận Các định nghĩa về thi pháp học tiếp sau đủ vẻ đều là
sự khẳng định tiếp tục của quan niệm đó Chẳng hạn như viện sĩ V.V.Vinôgrađốp chủ trương nghiên cứu tác phẩm cụ thể: “Thi pháp học là mộtkhoa học nghiên cứu các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phươngthức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, các kiểu cấu trúc, các thể loại tácphẩm” Học giả T Tôđôrốp thì ngược lại, viết: “Thi pháp học cấu trúc quantâm không phải là các tác phẩm văn học thực tế, mà là một thuộc tính trừutượng, các thuộc tính làm thành dấu hiệu của sự thực văn học, – thuộc tính
về tính văn học” Những định nghĩa ấy sẽ là hình thức chủ nghĩa thuần tuý khinào nó phủ nhận các mối quan hệ với đời sống và thực tại, còn trong chừngmực là một sự trừu tượng hoá để khám phá đặc trưng văn học trong các quyluật lên trong của nó lại là một tư tưởng quan trọng, cần thiết
Quan điểm thứ hai đề cập tới một cách tiếp cận mới hoàn toàn chưa cótrong truyền thống Trong thi pháp học truyền thống các hiện tượng văn họcchủ yếu được giải thích, mô tả theo nguyên tắc nhân quả, từ cội nguồn, sự rađời mà phân định về bản chất sự vật Chẳng hạn từ nguồn gốc của văn học
mà xác định bản chất của văn học Cách tiếp cận đó có giá trị nhất định,nhưng không phải là duy nhất và tất yếu Lý thuyết hệ thống chứng minh bảnchất sự vật do kết quả tác động qua lại của các yếu tố của nó, chứ không phải
do số cộng giản đơn của các yếu tố đó Phẩm chất sự vật là một thuộc tính
Trang 11siêu tổng cộng “Hệ thống là một sự thống nhất cụ thể của các yếu tố trong đómỗi cấu trúc hình thái có một kiểu hoạt động chức năng và kiểu phát triển đặctrưng cụ thể hơn, một hệ thống được xây dựng trên sự kết hợp của ba nhân
tố – yếu tố, quan hệ qua lại, tính chỉnh thể Có người bổ sung thêm vào hệthống những thuộc tính của chỉnh thể hệ thống Cấu trúc là một kiểu liên hệqua lại khách quan độc lập với số lượng và chất lượng của các yếu tố (xemXađốpxki và Iuđin, Tlđd) Trong phạm vi tác phẩm hệ thống nghệ thuật baogồm các yếu tố ngôn từ, cốt truyện (nhân vật), kết cấu và tư tưởng như làthuộc tính chỉnh thể Trong phạm vi một nền văn học thì thi pháp văn học nhưvăn học Nga cổ là hệ thống của toàn thể, trong đó văn học có quan hệ vớinghệ thuật tạo hình, nó được phản ánh trong nghệ thuật tạo hình và tự nócũng phản ánh nghệ thuật tạo hình, đồng thời hệ thống văn học thể hiện ởkiểu lập luận của nó trong đời sống tinh thần, ở cả phong cách thuyết phụccủa nó, mà “phong cách là cả một hệ thống hình thức và nội dung” Quan hệcủa các thể loại với nhau cũng là một vấn đề của hệ thống văn học, nó cónguyên tắc tạo thành thể loại riêng và phục tùng nguyên tắc nghi thức củavăn học ấy Ở đây hệ thống văn học được thống nhất bởi quan niệm văn hoá
về văn học thời ấy Sẽ là giản đơn nếu đồng nhất hệ thống, cấu trúc của vănhọc với khái niệm hệ thống nói chung được vận dụng trong toán học, sinh vậthọc Bởi vì đó là hệ thống và cấu trúc khách thể, vật thể Là một hiện tượngcủa đời sống tinh thần, hệ thống thi pháp là một bộ phận của hệ thống vănhoá biểu hiện Văn hoá là siêu ngôn ngữ của văn học Xét về mặt này văn học
là một hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật, có biểu trưng, ký hiệu riêng, có nguyêntắc tổ chức, kết hợp riêng mà nền tảng của nó là một kiểu mô hình hoá hiệnthực đặc thù, một hệ thống quan niệm về thực tại
E Cassirer trong công trình Tổng luận triết học về hình thức ký hiệu đã
có cách hiểu biện chứng về mối quan hệ ký hiệu và nội dung tinh thần “Trongbất cứ ký hiệu ngôn ngữ nào, trong bất cứ hình tượng thần thoại hay nghệthuật nào, cái nội dung tinh thần mà về bản chất đã vượt qua toàn bộ lĩnh vựccảm giác đều được phiên dịch thành cái có thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy”
Do đó muốn hiểu các hình thức, hình tượng thì cần phải giải mã để tìm thấy
Trang 12bản chất tinh thần của chúng, tính nội dung của chúng lu Lôtman cũng xácnhận quan niệm trong nghệ thuật luôn luôn là mô hình, bởi vì quan niệm đósáng tạo ra hình tượng về hiện thực Do đó, hệ thống thi pháp không hề giảnđơn chỉ là hệ thống phép tắc, quy tắc sáng tạo nghệ thuật, mà còn là mộtquan niệm, một mô hình tư duy về thế giới và con người Quan niệm nàykhông phải bất biến mà mang tính chất lịch sử và mang sắc thái văn hoávùng, văn hoá dân tộc và thời đại, sắc thái cá tính.
Quan điểm thứ ba là sự cụ thể hoá hai quan điểm trên Việc nghiên cứu
hệ thống thi pháp không tách rời với việc khám phá mô hình về con người,
mô hình về thế giới, không gian và thời gian, đồ vật, màu sắc Không phảingẫu nhiên mà trong thi pháp học hiện đại phạm trù quan niệm nghệ thuật vềthế giới và con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nghiên cứu.Trong công trình Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiépxki M.Bakhtin đặt vấn đềnghiên cứu nghệ sĩ Đôtxtôiépxki, tức là nghiên cứu chủ thể của hệ thốngnghệ thuật này Mà muốn làm sáng tỏ nghệ sĩ này, thì việc hàng đầu là khámphá quan niệm về nhân vật, về con người trong tác phẩm của Đôtxtôiépxki ,khám phá “cái nhìn nghệ thuật của tác giả”
Cách tiếp cận này được Đ.X Likhatrốp trình bày trong công trình Thếgiới bên trong của tác phẩm văn học, trong đó tác giả nêu lên việc khám phá
mô hình bên trong tác phẩm về con người, về xã hội, về không gian, thời gianv.v… Trong quá trình nghiên cứu thi pháp văn học Nga cổ Likhatrốp đã từngxem xét Con người trong văn học Nga cổ, sau đó ông nghiên cứu cách kháiquát, hệ thống thể loại, không gian, thời gian trong Thi pháp văn học Nga cổ Bình diện này được Gurêvích gọi là các phương thức cảm nhận thế giới mộtcách trực tiếp tạo thành bình diện văn hoá trong nghiên cứu thi pháp tiếp cậnnày đã tỏ ra rất có hiệu quả mà các tác giả nổi tiếng như X X Avêrinxép cũng
ra sức vận dụng Nó thể hiện cách nhìn nhận thi pháp trong sự thống nhấthình thức và tính nội dung, tính nội dung được phát hiện qua các thủ pháp,các nguyên tắc nghệ thuật
Trang 13Sẽ là không đầy đủ nếu như không nhấn mạnh thêm phương diện sau:Thi pháp học truyền thống thường được đúc kết theo phương thức diễn dịch,như kiểu văn học “mô phỏng” hiện thực hay “văn dĩ tải đạo” v.v… Thi pháphọc hiện đại, chủ yếu thực hiện theo phương pháp quy nạp, xuất phát từ các
sự thực của biểu hiện Thi pháp học hiện đại dựa vào việc phát hiện các yếu
tố lặp lại có quy luật, xem xét cấu trúc bất biến của chúng, để xác lập cácnguyên tắc nghệ thuật Đồng thời, dựa vào các mã văn hoá chung của vùng
và thời kỳ lịch sử mà giải thích nội dung quan niệm của chúng
Từ cách làm nói trên, thi pháp học hiện đại không hề phủ nhận thi pháphọc truyền thống, mà bổ sung thêm cho nó bởi những vấn đề mới, cách nhìnmới và kết quả mới
Trong cách tiếp cận này các biện pháp thống kê, phân tích, so sánh, đốichiếu là không thể thiếu Văn bản văn học trung đại là cả một vấn đề hết sứcphức tạp đặt ra cho cả giới nghiên cứu Chưa đặt vấn đề soát xét về mặt này,chúng tôi coi đó là vấn đề của văn học sử Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn trongphạm vi tư liệu đã công bố hướng tới suy nghĩ về những vấn đề chung của thipháp văn học giai đoạn này
II THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI TRONG THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI
1 Cách đặt vấn đề và phương pháp
a) Sự phát triển của văn học và văn hoá hiện đại không bao giờ cắt đứtquan hệ với truyền thống Chính vì vậy nhu cầu khám phá cách chiếm lĩnhthẩm mỹ của các nền văn hoá quá khứ trở thành một nhu cầu bức thiết, đãthúc đẩy các tác giả đi nghiên cứu thi pháp văn học quá khứ, hướng nó vềtương lai Bản thân các tác phẩm văn học ưu tú của quá khứ vẫn đang đượcđọc, được tiếp nhận, đang tác động đến người đọc
Lịch sử, theo Ăngghen, chẳng gì khác hơn là sự thay thế các thế hệ,trong đó thế hệ sau sử dụng được vật liệu, vốn liếng, sức sản xuất do thế hệtrước truyền lại Không có tài sản vật chất và tinh thần của đời trước thì đờisau khó mà phát triển lên trình độ cao được Mặt khác, một trong những điều
Trang 14kiện tiến bộ của văn hoá là phát triển sự hiểu biết về các giá trị văn hoá củaquá khứ và của các nền văn hoá dân tộc khác nhằm gìn giữ chúng, phát huychúng, tích luỹ chúng để làm giàu cho mình Lịch sử văn hoá không chỉ là lịch
sử sáng tạo ra sản phẩm mới, mà còn là lịch sử giải thích mới các hiện tượng
đã biết Nghiên cứu thi pháp học hiện đại chính là nhằm giải thích mới cáchiện tượng quen thuộc đó
b) Muốn tiếp cận thi pháp học văn học trung đại, điều đầu tiên là phải ýthức được đó là một nền văn học khác về loại hình so với văn học cổ đại vàvăn học cận hiện đại, nhưng đều nằm trong một quá trình liên tục của sự pháttriền
Ý thức phân biệt loại hình sẽ cho ta thấy tiếp cận thi pháp học trung đại
là tiếp cận một thế giới khác, một ý thức khác, những cách suy nghĩ khác, do
đó không cho phép được hiện đại hoá người xưa và giải thích họ theo khẩu vịcủa mình
Bất cứ tác phẩm nào, một khi bị tách khỏi môi trường xung quanh của
nó sẽ làm nó mất đi giá trị thẩm mỹ vốn có Do vậy việc nghiên cứu thi phápđòi hỏi hình dung các nguyên tắc nghệ thuật trong môi trường tự nhiên để giữgìn bản sắc thẩm mỹ, nghệ thuật của nó
2 Loại hình thi pháp trong loại hình văn hoá
Việc nhìn nhận tính chất loại hình tạo tiền đề cho việc nghiên cứu thipháp văn học trung đại theo cái nhìn hiện đại Thi pháp là hệ thống cácnguyên tắc, biện pháp, thể loại tạo thành đặc trưng của văn học, nhưng đókhông bao giờ chỉ là các hình thức kỹ thuật thuần tuý bề ngoài, mà là hệthống cảm nhận về thế giới Chẳng hạn, nói đến thơ cách luật thì không chỉ làvấn đề vần, luật, niêm, đối mà còn gắn với cả một ý thức cách luật, bởi vì khibước vào thời cận, hiện đại, khi ý thức cách luật mất đi thì các nguyên tắc luậtthi hiện hành liền bị thay thế bằng thi pháp thơ mới Ý thức cách luật gắn vớihình thức lễ nghi Từ xa xưa bất cứ mọi hoạt động quan trọng nào của conngười như săn bắt, trồng trọt, tế tự, hôn lễ, chiến tranh… người ta đều tiếnhành trong lễ nghi Nhiều người đã chứng minh rằng thời cổ Hi Lạp, trong
Trang 15nghi thức tế thần Điônidốt thì thơ, nhạc, múa hoà hợp tam vị nhất thể Kinhthi, Nhạc phủ đều phối nhạc Do đó “vần” gắn với chức năng của yếu tố đánhdấu một câu nhạc hay một bước nhảy Vần đều đặn là để phối hợp với tiếttấu biểu diễn cơ thể Ý thức nghi lễ tập thể xuất hiện như một vô thức tập thểnhằm thống nhất hoạt động của mọi thành viên vào một tiết tấu chung, là nềntảng của “luật thơ” Ý thức nghi lễ được duy trì bởi những “cấm kỵ” tạo thànhtruyền thống, gắn với ý thức về “lễ”, “nghĩa”, “quy củ”, “tư vô tà” của Nho giáo,với thói quen áp đặt tự bên ngoài Nhưng một khi ý thức về cá tính phát triền,nhu cầu tự biểu hiện nâng cao, thi luật mất dần vị trí trong đời sống văn nghệ.
Từ chỗ thích luật, trau chuốt luật đến chỗ cảm thấy luật là điều “khó cho thiênhạ” là cả một bước chuyển lớn của thi pháp M.Bakhtin cũng cho rằng thế giớiquan lễ hội Cácnavan với các yếu tố đặc trưng của nó có ảnh hưởng quantrọng tới hệ thống thể loại văn học dân gian trung đại, và cả văn học viết trungđại, tạo thành dòng văn học cácnavan hóa Và ông đã nghiên cứu thi phápRabơle và thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiépxki theo nguyên tắc đó Có thể nóinghiên cứu hệ thống các nguyên tắc thống nhất hình thức và nội dung nghệthuật trong tính quan niệm của chúng là xu hướng nghiên cứu thi pháp họchiện đại, một hướng thống nhất trong nó việc nghiên cứu hệ thống hình thứcnghệ thuật với việc nghiên cứu quan niệm văn hoá, thẩm mỹ tiềm tàng củanền văn học đó, thấm nhuần trong hình thức của nó
3 Các cấp độ nghiên cứu
Lướt qua một số các công trình nổi tiếng về nghiên cứu thi pháp vănhọc trung đại để xem khuynh hướng tìm tòi khoa học thời gian qua như thếnào, thì có thể nhận thấy, thi pháp văn học trung đại đã được nghiên cứu trênhai cấp độ lớn: cấp độ vĩ mô, chỉnh thể của văn bản, cũng tức là cấp độ quanniệm chủ quan của những người sáng tạo và hưởng thụ nền nghệ thuật ấy,
và cấp độ vi mô
Vĩ mô là cấp độ của những nguyên tắc nghệ thuật – thẩm mỹ lớn chiphối sáng tạo văn học và hiện diện trong văn học Thông thường người tathưởng thức tác phẩm theo từng đơn vị riêng lẻ, cho nên các quan niệm này
Trang 16thường trượt ra ngoài tầm quan sát Thi pháp học truyền thống do khái quát
từ tác phẩm, thể loại riêng lẻ, cho nên thường nặng về kỹ xảo, kỹ thuật, mànhẹ về khái quát, quan niệm Cũng có thể quan niệm là cái mà họ đã quen vàmặc nhận, cho nên giữa họ với độc giả đương thời, không có nhu cầu khámphá nữa Còn chúng ta, độc giả của một giai đoạn văn hoá khác, nếu khôngnghiên cứu thi pháp ở cấp độ vĩ mô này thì sẽ không có quan niệm đầy đủ vềmột nền thi pháp quá khứ
Cấp độ thứ hai là hệ thống hình thức, phong cách bút pháp, bao gồm
hệ thống thể loại, các biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các phong cách cụ thểcủa tác giả cụ thể Cấp độ này bao gồm “hình thức của hình thức” như cácquy tắc thể loại, các luật phối âm, phối điệu… Và “hình thức của nội dung” –chức năng biểu đạt của các hình thức, biện pháp nghệ thuật Trong thi pháphọc cổ điển, truyền thống, các tác giả cổ chú ý nhiều hơn tới các phương diện
“hình thức của hình thức” Ví dụ Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Quốcvăn cụ thể của Bùi Kỷ, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm.Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức.Hình thức mang nội dung của nghệ thuật chưa được chú ý nghiên cứu thíchđáng
4 Các vấn đề đặt ra, các phạm trù trong thực tiễn nghiên cứu
Trong các phạm trù thi pháp cấp vĩ mô, quan niệm nghệ thuật là phạmtrù có tầm quan trọng trung tâm, có tác dụng chi phối các bình diện hình thứcnghệ thuật khác Viện sĩ Nga D X Likhatrốp là một trong những người đầutiên vận dụng phạm trù này vào công trình nghiên cứu Con người trong vănhọc Nga cổ (Mátxcơva, 1958 tái bản 1970) ông đã nêu lên các phong cáchmiêu tả con người trong các thể loại văn xuôi lịch sử, trong truyện sự tích cácthành, trong sử thi dân gian, trong tiểu thuyết
Ông lần lượt đề cập đến các phong cách nghệ thuật như hoành trángkiểu tượng đài trong lịch sử, phong cách biểu cảm trong các sự tích tông đồ,phong cách lý tưởng hoá, nguyên tắc tâm lý trừu tượng, sự xuất hiện nhânvật hư cấu, đổi mới miêu tả con người trong văn học Nga thế kỷ XVII Trong
Trang 17sách Bảy thế kỷ văn học Nga, ông tiếp tục đi sâu thêm vào các vấn đề trên.Trong công trình Thi pháp văn học Nga cổ ông sử dụng những phạm trù mớinhư thi pháp khái quát nghệ thuật bao gồm các nghi thức văn học, bởi người
ta ý thức rõ sự khác biệt giữa văn chương và khẩu ngữ, tính chất “học thức”của văn chương Likhatrốp chú ý tới các nguyên tắc biểu hiện cụ thể của việc
lý tưởng hoá trong văn học trung đại làm cho nó khác với lý tướng hoá lãngmạn chủ nghĩa Chẳng hạn ông chú ý tới việc tác giả trung đại với các tiền lệ,điển tích, các kiểu cách, hành vi… đã được xếp hạng Đáng chú ý là nghithức về trật tự thế giới, về hành vi và về ngôn ngữ Đặc điểm này làm sảnsinh những hình tượng, biểu tượng, cách diễn đạt cố định có tính truyềnthống Do đó văn học trung đại chưa coi trọng việc lạ hoá, gây ấn tượng cótính cá nhân Nhà văn trung đại viết tác phẩm để phân rõ thứ bậc sự vật, đểxếp hạng con người, do đó họ cần sự thêu dệt, tô vẽ cho trang trọng, lộng lẫy,
có nghi thức Quá trình phá vỡ tính nghi thức đó cũng được xem xét
Một phương diện khác của khái quát nghệ thuật là nguyên lắc trừutượng hoá – tìm ra các dấu hiệu vĩnh hằng thiêng liêng vĩ đại trong cái nhấtthời, khả hủ Nhà văn trung đại khát khao cái trừu tượng, hướng tới việc trừutượng hoá thế giới, phá hoại tính cụ thể, tính vật chất
Đặc điểm thứ ba của thi pháp khái quát là sự trang sức làm cho vănxuôi gần với thơ Yếu tố hiện thực trong văn học trung đại có ý nghĩa thôngbáo các sự việc có thực, cá biệt, lôgích thực tại chi phối nhà văn, chứ chưaphải là chủ nghĩa hiện thực theo cách hiểu sau này
Nghiên cứu các nguyên tắc thi pháp như là các nguyên tắc tái hiện conngười và thế giới đã được nhà nghiên cứu người Đức Erích Auerbach thựchiện trong sách Mimesis (Mô phỏng), Tác giả nghiên cứu phong cách miêu tảcon người trong Kinh Thánh, trong Lịch sử những người Pháp, trong Bài ca
về Rôlăng, trong tiểu thuyết diễm tình Iven của Crêchiêng dơ Troa (thế kỷXV), trong vở kịch thần bí trung đại Adam và Eva (cuối thế kỷ XII), Thần Khúccủa Đăngtơ, Câu chuyện mười ngày của Bôcaxiô Tác giả cố gắng khái quátcác đặc điểm lớn của phong cách châu Âu trong việc miêu tả con người, sự
Trang 18kiện trong các hiện tượng văn học như là các nguyên tắc nghệ thuật, khácbiệt với các văn học cận hiện đại Ở đây E Auerbach đặc biệt hứng thú vớicác yếu tố chủ quan như tâm lý, thị hiếu, lý tưởng, thậm chí định kiến…
Trong sách Thi pháp văn học Bidantin thượng kỳ X.X Avêrinxép nghiêncứu thi pháp trung đại qua hai bình diện: 1) Lịch sử và con người; 2) Conngười và ngôn từ Bình diện thứ nhất đề cấp tới cách cảm nhận con ngườicủa văn học trung đại: Tác giả đã chỉ rõ ảnh hưởng to lớn của đạo Cơ Đốcđối với thi pháp văn học, và quan niệm này khác hẳn quan niệm trọng văn học
Hy Lạp cổ đại Bình diện thứ hai – cách cảm nhận của con người và ngôn từ
Cũng nghiên cứu quan niệm con người thể hiện qua hệ thống tín hiệuchân dung nhân vật được B.L.Riftin xem xét trong văn xuôi Trung Quốc, từcác tập lịch sử, sử ký đến tiểu thuyết lịch sử chương hồi tác giả đã chú ý tới
mô hình cổ xưa dùng để miêu tả các vị tổ tông tiền bối đã chi phối tích cựcviệc miêu tả chân dung nhân vật văn học thế kỷ XIV và cả thời cuối trung đại
ở Trung Quốc
Trong việc nghiên cứu thi pháp văn học trung đại, loại hình học về cácphong cách cảm nhận thế giới có vị trí quan trọng hàng đầu Nhà nghiên cứukhông giới hạn trong việc chọn lựa các chất liệu hình thức, vạch ra cácphương thức khác thường mà chất liệu ấy được nhìn nhận Ở đây cần nghiêncứu cách cảm nhận về tồn tại, về không gian, thời gian, đồ vật chi phối sựmiêu tả
Đ X Likhatrốp trong Thi pháp văn học Nga cổ đã có các chuyên mục
về Thi pháp thời gian nghệ thuật đề cập đến thời gian nghệ thuật của tácphẩm ngôn từ, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Folklor (trong dân ca, cadao, tráng sĩ ca, thi ca nghi lễ) thời gian biên niên sử, thời gian của văn họcthuyết giáo, thời gian hiện tại trong truyện kể lịch sử; lại có chuyên mục Thipháp không gian nghệ thuật đề cập tới phạm trù không gian nghệ thuật củatác phẩm nói chung và không gian trong văn học cổ Nga Những nghiên cứu
đó cho thấy cách cảm thụ và tổ chức tác phẩm của thể loại văn học trung đại
Trang 19X X Avêrinxép chú trọng khám phá quan niệm trung đại của văn họcBidantin xem tồn tại như một trạng thái ưu việt, lõi sự hoàn thiện Ông cũngnêu ra loại hình các cách tiếp cận đối với đồ vật Theo ông việc cảm nhận đồvật là thuộc tính chung của nhân loại Nhưng mỗi thời có một số yếu tố được
đề cao, trở thành yếu tố của văn hoá, được sùng bái Thời trung đại cách cảmthụ trực giác giản đơn được đề cao vì nó thích hợp để cảm nhận vẻ đẹp củathế giới (xem Tldđ)
A Ja Gurêvích nêu vấn đề nghiên cứu kiểu văn hoá như là tảng củacác khoa học nhân văn trong đó có thi pháp học Nền tảng của lịch sử vănhoá đó ông cho là khái niệm mentality – tâm thức, thể hiện trong khái niệm
“bức tranh thế giới”, “hình ảnh thế giới” hay “mô hình thế giới” Theo ông, “sựcảm thụ thời gian, không gian (hay không – thời gian theo kiểu M Bakhtin),cách hiểu về mối quan hệ giữa thế giới trần thế và thế giới bên kia, thế giớicon người và giới tự nhiên, cách đánh giá về việc sinh, tử, về tuổi tác, về địa
vị của các loại người, của phụ nữ, trẻ em, vị trí của gia đình, cách hiểu về cánhân, cách giải thích về lịch sử, quyền lợi, tài sản, giàu, nghèo, lao động, vềchuẩn mực đạo đức, về đời sống tình dục… tất cả đều là yếu tố của “bứctranh về thế giới” đối với con người Chúng phối hợp với nhau để tạo thànhkiểu văn hoá Kiểu văn hoá ấy luôn vận động, biến đổi và trở thành đối tượngcủa lịch sử văn hoá Vì vậy nên nghiên cứu thi pháp học lịch sử như là mộtthể hiện của lịch sử ý thức con người”
M I Xteblin – Kamenxki trong công trình Thi pháp học lịch sử đã nêu rahàng loạt vấn đề quan trọng khác về thi pháp văn học trung đại Đáng chú ý làvấn đề hư cấu của văn học trung đại với sự hình thành tác giả văn học trongnền văn học ấy Theo ông “bước nhảy vọt từ truyền thống sáng tác văn họcphi cá nhân sang sáng tác của tác giả có ý thức là một trong những bướcnhảy vọt lớn lao nhất mà loài người đã thực hiện trong lịch sử của nó Nóđem lại cho nhân loại những khả năng sáng tạo vô cùng” “Bước nhảy vọt ấyxảy ra như thế nào, cần được nghiên cứu từ giai đoạn văn học trung đại”(tr.90), và đó sẽ là một quá trình lâu dài Sự hình thành văn học cũng cần
Trang 20được nghiên cứu từ thời trung đại, bởi ý thức về hư cấu là một biểu hiện của
ý thức văn học Ý thức về hình thức văn học cũng là một vấn đề hết sức quantrọng, bao gồm ý thức thể loại, ý thức ngôn ngữ và nói chung, ý thức về bảnthân văn học
Tóm lại, trên cấp độ vĩ mô, cấp độ các nguyên tắc hệ hình (Paradigm)các nhà nghiên cứu thi pháp văn học trung đại đã đặt ra một loạt vấn đề quantrọng, bao gồm quan niệm về văn học về ngôn ngữ, về thể loại, về tác giả –nghệ sĩ, về con người và thế giới trong văn học Những vấn đề đó đưa ta vàochiều sâu của các quy luật văn học trung đại, những vấn đề không dễ dànggiải quyết được ngay, nhưng không thể không đặt ra và có ý thức tìm hiểu.Bởi vì chính trên các vấn đề đó văn học trung đại tỏ ra khác biệt với văn họchiện đại Do đó vấn đề kế thừa, cách tân cũng sẽ được xem xét sâu hơn Mộtmặt văn học hiện đại phải vượt qua những giới hạn của văn học trung đại nhưmột loại hình, nhưng mặt khác nó phải kế thừa, phát huy mới có sức mạnhphát triển, tiến bộ
Trong cấp độ hình thức vi mô hệ thống các thể loại và quy tắc các thểloại là vấn đề được quan tâm hàng đầu Trong các công trình của mình D X.Likhatrốp luôn luôn xem hệ thống thể loại là nơi thể hiện đặc trưng của vănhọc trung đại Việc nghiên cứu hình thức của hình thức tuy vẫn còn có chỗ để
đi sâu thêm, song chức năng nội dung của hình thức, tính nội dung của hìnhthức là một lĩnh vực rộng lớn hình như chưa được nghiên cứu bao nhiêu
G D Gachep trong công trình Tính nội dung của hình thức nghệ thuật:
tự sự, trữ tình, kịch (1968) tuy không đi sâu vào nghiên cứu hình thức của vănhọc trung đại, nhưng đã đề xuất phương hướng xem hình thức là một quanđiểm, một cái nhìn đối với cuộc sống,”một thế giới quan được ngưng kết”, có
ý nghĩa đối với việc đổi mới nghiên cứu hình thức văn học nói chung và vănhọc trung đại nói riêng
Đối với các nhà văn học so sánh Nga, thể loại văn học trung đại là mộthiện tượng loại hình lịch sử Theo V M Girmunxki, ứng với thời thượng kỳtrung đại tại các nước châu Âu là thể loại sử thi anh hùng dân tộc, bắt đầu từ
Trang 21sáng tác truyền miệng, sau được ghi lại bằng văn viết Thể loại này không chỉ
có trong văn học dân tộc Đức, văn học tiếng Rômăng, văn học Nga, mà còn
có cả trong văn học Thổ Nhĩ Kỳ, Mông Cổ, Kapcađơ…
Đối với thời trung đại trung kỳ, cái đặc trưng là thể loại tiểu thuyết diễmtình, trong đó các hiệp sĩ tôn thờ các bà chúa và thực hiện các cuộc phiêulưu Đó là các tiểu thuyết về Lanxelôt, về Trixtăng, về Alexăngđrơ và Ênê,được sáng tạo bởi Crêchiên đơ Tơroa hay những kẻ mô phỏng, mà mâuthuẫn chủ đạo là giữa tình yêu hiệp sĩ với nghĩa vụ gia đình hay nghĩa vụ chủtớ
Bên cạnh tiểu thuyết diễm tình là thơ tình yêu diễm tình thể hiện tìnhcảm cá nhân bằng hình thức còn che giấu dưới cái vỏ đẳng cấp
Một thể loại khác khá đặc trưng cho văn học trung đại châu Âu là truyệnthơ mang nội dung sinh hoạt
Vấn đề đặt ra trong thi pháp các thể loại này là yếu tố dân gian, truyềnmiệng và yếu tố văn học viết; các công thức tự sự truyền thống và các yếu tốtác giả cá nhân V.Girmunxki đặc biệt chú ý tới vấn đề phong cách tự sự,phong cách ước lệ của văn học trung đại, đặc trưng bởi các công thức, cácsáo ngữ, các khuôn thức… ứng với việc nhận thức nghệ thuật, tập trung chú
ý vào cái phổ biến, cái điển hình, cái bất biến Đồng thời, vấn đề mức độ cátính của văn học trung đại cũng được tác giả chú ý Girmunxki cho rằng “Mức
độ cá tính trong thơ ca trung đại, đặc biệt là trong nghệ thuật của các nhà thơtrữ tình (Troubadour) phải biểu hiện xuyên qua truyền thống các công thức và
sự kết hợp của chúng đang là một vấn đề quan trọng của thi pháp học lịch sử,nhưng cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu” D X Likhatrốp nhấn mạnhtới việc nghiên cứu hệ thống thể loại văn học trung đại: “Cần phải nghiên cứukhông chỉ là bản thân các thể loại, mà còn là các nguyên tắc làm cơ sở choviệc phân chia các thể loại; không phải chỉ nghiên cứu các thể loại riêng lẻ,
mà còn phải nghiên cứu lịch sử của nó, hệ thống các thể loại của một thờiđại” Bởi vì các thể loại không tồn tại độc lập với nhau, mà kết thành hệ thống
và hệ thống đó diễn biến trong lịch sử Ông nhấn mạnh tính lịch sử của nó,
Trang 22phản đối việc hiện đại hoá thể loại văn học trung đại Ông lưu ý tới hàng loạtquy luật hình thành thể loại văn học trong văn học Nga cổ như vai trò quyếtđịnh của đề tài, chủ đề, mục đích sử dụng, tên gọi của thể loại, thể loại chính,thể loại phụ thuộc, trật tự thể loại.
Có thể nói D.X.Likhatrốp đã trình bày một lý luận hoàn chỉnh về thể loạivăn học trung đại trên cứ liệu văn học Nga cổ Theo ông, khác với thể loại vănhọc hiện đại vốn chia tách ra theo sự đa dạng của sáng tạo, thể loại văn họctrung đại hình thành trước hết theo công dụng của nó trong thực tế Các thểloại văn học nhà thờ phục vụ các nghi thức tế, lễ Thể loại biên niên xuất hiện
do nhu cầu ghi chép các sự việc để làm sáng tỏ trạng thái của nó trong hiệntại Thể loại truyện các công tước được viết ra để chứng tỏ tính chính nghĩatrong hành động của họ… Theo Likhatrốp, không được giải thích tính chấtcủa thể loại văn học trung đại bằng “lối tư duy trung đại” như có người đã làm.Theo ông, tư duy con người thời nào cũng như nhau, chỉ khác nhau do thếgiới quan, quan điểm chính trị, hình thức cái nhìn nghệ thuật, thị hiếu thẩm
mỹ Nếu như cội nguồn thể loại văn học nằm ngoài văn học thì đâu là cộinguồn của tính văn học của thể loại? Theo Likhatrốp, sự phân biệt thể loại vềmặt văn học của văn học trung đại còn rõ rệt hơn văn học hiện đại Đó là domỗi thể loại tự xác định một hình tượng tác giả – người thực hiện thể loại đó:tác giả trong sám hối, tác giả kể sự tích các thánh, tác giả ghi biên niên… Đókhông phải là tác giả cụ thể, mỗi thể loại thống nhất trong một kiểu phongcách Tên thể loại gắn liền với tên tác phẩm Hệ thống thể loại trung đại biênchế như hệ thống binh chủng trong quân đội, chúng có nhiệm vụ chiến đấuriêng và không thể pha trộn với nhau
Quan hệ giữa hệ thống thể loại văn học dân gian và văn học viết trungđại cũng là một vấn đề quan trọng Nếu hệ thống thể loại văn học hiện đại độclập với hệ thống thể loại dân gian, thì hệ thống thể loại văn học trung đại lạikhác Hệ thống này do nhu cầu cuộc sống của nhà thờ và quý tộc quy định.Nhưng cuộc sống ấy lại cũng do văn hoá dân gian quy định Nó không táchkhỏi lễ hội, tín ngưỡng đa thần giáo Do đó, một số thể loại văn học dân gian
Trang 23có tác động tích cực tạo thành thể loại văn học viết Sự xuất hiện của đô thịcũng làm nảy sinh các hình thức văn học dân gian mới, đến lượt nó lại làmbiến đổi diện mạo văn học viết.
Lý luận thể loại ấy rất có ý nghĩa để tiến hành nghiên cứu văn học trungđại nói chung và thể loại văn học trung đại Việt Nam nói riêng
Cùng với quan niệm lý luận ấy, thi pháp thể loại thể hiện ở hệ thống cácthủ pháp nghệ thuật dùng để giới thiệu, nối kết, làm nổi bật hay bỏ qua nhằmbiểu hiện cuộc sống Mỗi hệ thống nghệ thuật có hệ thống các thủ pháp nghệthuật đặc trưng Đây là lĩnh vực mà Likhatrốp gọi là “phương pháp nghệthuật” – phương pháp miêu tả, biểu hiện Theo lý luận về “phương pháp nghệthuật” này, B L Riftin đã nghiên cứu phương pháp trong văn học trung đạiphương Đông, cung cấp một cách làm có hiệu quả
Sau cấp độ thủ pháp (biện pháp) là cấp độ ngôn từ Thi pháp học hiểungôn từ như là chất liệu tạo thành tính nghệ thuật của văn học Ứng với mộtkiểu văn học có một nhãn quan về ngôn từ và các biện pháp, nguyên tắc sửdụng ngôn từ trên tất cả các bình diện thẩm mỹ – từ ngữ âm đến văn bản…Thi pháp học quan tâm không chỉ các nguyên tắc tổ chức văn bản mà cònquan tâm tới mối quan hệ tác động qua lại của các từ tạo nên vẻ đẹp của cơchất (texture) Ở đây việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Đường, thơ Đỗ Phủ củahai tác giả Mỹ gốc Trung Quốc Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân theo các lý thuyếtngôn ngữ học hiện đại có một tác dụng gợi ý quý báu Đây là lĩnh vực của từchương học, phong cách học, một bộ phận hợp thành của thi pháp học
Tóm lại, giới thiệu việc nghiên cứu thi pháp văn học trung đại qua một
số công trình, có thể nhận thấy rằng vấn đề thi pháp học văn học trung đại đãđược đặt ra chủ yếu trên bốn phương diện:
a) Quan niệm văn hoá thẩm mỹ, bao gồm quan niệm tổng quát về vănhọc, về tác giả, về thể loại, về ngôn ngữ nói chung
b) Thể loại văn học với hệ thống đặc trưng trong loại hình
Trang 24c) Hệ thống các thủ pháp, các phương pháp nghệ thuật thể hiện chocách chiếm lĩnh, cảm nhận đời sống của người trung đại.
d) Hệ thống từ chương học với các nguyên tắc sử dụng ngôn từ trêncác cấp độ
Đó cũng là cái sườn khái quát để đi vào nghiên cứu thi pháp của mộtnền văn học cụ thể
Việc nghiên cứu hệ thống thi pháp của một nền văn học cụ thể dĩ nhiênkhông phải là lặp lại giản đơn các đặc điểm loại hình, mặc dù sự liên hệ, sosánh luôn luôn là cần thiết Mục đích của việc nghiên cứu này là nhằm pháthiện hệ thống thi pháp độc đáo của nền văn học dân tộc nước nhà, một nềnnghệ thuật đã được nghiên cứu chủ yếu về tác giả, tác phẩm cụ thể, nhưngcòn đang thiếu một cái nhìn tổng quan, hệ thống về các đặc trưng nghệ thuậtcủa nó trong tính chỉnh thể, toàn vẹn về mặt lịch sử
III VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Ở VIỆT NAM
Văn học trung đại Việt Nam là một thời kỳ phát triển rất phong phú củavăn học dân tộc Việt Nam, song tài liệu bàn về thi pháp giai đoạn này thì hiệnvẫn còn ít ỏi, không tương xứng
1 Nghiên cứu sưu tầm, bình luận văn học bao giờ cũng chậm hơn vănhọc Theo các tài liệu hiện có thì có thể nói ngành ngữ văn học Việt Nam đãhình thành từ thế kỷ XV với các công việc sưu tập, biên soạn Không phải vô
cớ mà các tác giả của công trình nghiên cứu, sưu tập đồ sộ Thơ văn Lý –Trần đã trịnh trọng giới thiệu bốn bài tựa: Một bài của Phan Phu Tiên Tân sanViệt âm thi tập tự (1433), một bài của Nguyễn Tử Tấn Tân tuyển Việt âm thitập tự (1495), một bài Trích diễm thi tập tự của Hoàng Đức Lương (1497),sau đó là bài của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) Nguyễn Tử Tấn đã nói đến tiêuchuẩn của thơ và nguyên tắc tuyển chọn, chú ý tới các thể đa dạng HoàngĐức Lương đã nói tới 5 cái khó khiến cho văn chương ít được lưu truyền: một
là khó thưởng thức (kén độc giả), hai là tát giả bận việc quan, ít sáng tác, ba
là ai sưu tầm thì bị chê bai, khích bác, bốn là bị cấm đoán, năm là bị binh hoả
Trang 25Có thể nói ông Hoàng đã nói đúng năm nguyên nhân làm cho ngữ văn họcViệt Nam chậm phát triển Đáng chú ý là ông Hoàng đã nói tới “thi học” – cáihọc về thơ của ông phải dựa vào kinh nghiệm các lưu phái đời Đường, đãbiết tới lưu phái! Trong văn xuôi, Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lý Tế Xuyên cũngđóng vai trò như vậy Tuy vậy lý luận và phê bình văn học chưa có điều kiệnphát triển.
2 Trong thời trung đại, tương truyền có cuốn Văn thành bút pháp của
Vũ Quỳnh đời Lê Thánh Tông, nay chưa tìm thấy Các công trình của Lê QuýĐôn như Nghệ Văn Chí (Đại Việt thông sử), Vân đài loại ngữ, Toàn Việt thilục, của Phan Huy Chú như Văn tịch chí (Lịch triều hiến chương loại chí) cótrình bày ít nhiều quan niệm về văn chương và sự phân loại Song song vớicác tuyển tập đã xuất hiện những ý kiến lẻ tẻ về văn thơ trong các bài tựa,bạt, ký, luận nhưng trong thời trung đại chưa bao giờ được sưu tầm nghiêncứu Mãi dần sau này mới có ý định sưu tập thành sách như Từ trong di sản(Nxb Tác phẩm mới Hà Nội, 1981) Người xưa bàn về văn chương (NxbKhoa học xã hội, Hà Nội, 1993), tức là cuối thế kỷ XX, thật là quá ư muộnmàng Tuy vậy công việc chỉ mới bắt đầu, còn lâu mới đi vào quy củ và đầyđủ
3 Những công trình nghiên cứu, giới thiệu thi pháp văn học truyềnthống Việt Nam một cách tương đối có quy mô có lẽ phải kể đến đầu thế kỷnày với Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính (1918), Quốc văn cụ thể của Bùi
Kỷ (1932) Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu với cácchương bàn về thể văn và thi pháp của văn học Việt Nam (1941), Đào Nương
Ca của Nguyễn Văn Ngọc (1932), Ca trù thể cách của Xuân Lan (1922),Chương Dân thi thoại của Phan Khôi (1936) Đây cũng là thời kỳ xuất hiệnnhiều cuốn lịch sử văn học Việt Nam Ngoài cuốn của Dương Quảng Hàmnêu trên có thể kể: Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi (1942),Việt Nam văn học của Ngô Tất Tố (1942)…
Sau năm 1954, bên cạnh việc phiên âm, phiên dịch tác phẩm văn họcchữ Nôm và chữ Hán, các bộ văn học sử Việt Nam có quy mô lớn xuất hiện ở
Trang 26cả hai miền Ở miền Bắc có thể kể bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Namcủa nhóm Lê Quý Đôn (1957), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhómVăn – Sử – Địa (1957 – 1960), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (ĐHSP HàNội, 1961 – 1962) Lịch sử văn học Việt Nam (Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong1961), Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X-XVIII và nửa cuối thế kỷ XVIII – nửađầu thế kỷ XIX) (1989–1990), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 của Uỷ banKhoa học xã hội Việt Nam (1980), Văn học Việt Nam, t.1, t.2, t.3 của nhóm tácgiả Đại học tổng hợp Hà Nội: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai CaoChương, Nguyễn Lộc (1978), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Namcủa Cao Huy Đỉnh (1974) Nghiên cứu tiến trình lịch sự của văn học dân gianViệt Nam của Đỗ Bình Trị (1978) Ở miền Nam có thể kể Việt Nam văn học sửgiản ước tân biên 3 tập của Phạm Thế Ngũ (1961), Bảng lược đồ văn họcViệt Nam của Thanh Lãng (1967), Việt Nam văn học sử trích yếu của NghiêmToản (1949).
Cũng sau năm 1954 những công trình đi sâu vào thi pháp thể loại cũng
đã xuất hiện Có thể kể Thơ ca Việt Nam- hình thức và thể loại của Bùi VănNguyên và Hà Minh Đức (1965), Khảo luận về thơ của Lam Giang (1957–1967), Vệt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề (1962)
Từ sau ngày giải phóng miền Nam, việc nghiên cứu tìm hiểu quy luậtvăn học Việt Nam và các vấn đề thi pháp cũng được đẩy mạnh thêm PhươngLựu có Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam (1985), Góp phần xác lập hệthống quan niệm văn học trung đại Việt Nam (1997) Lê Trí Viễn có Đặc điểmlịch sử văn học Việt Nam (1987), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam(1996), “Truyện Kiều” và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh Lê (1979),Truyện Nôm –thể loại và thi pháp của Kiều Thu Hoạch (1993), Thi pháp cadao của Nguyễn Xuân Kính (1992), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
“Truyện Kiều” của Phan Ngọc (1985) Sử thi Ê Đê của Phan Đăng Nhật(1991), Sử thi thần thoại Mường của Trương Sĩ Hùng (1992) Các công trình
về thơ lục bát của Võ Bình, Mai Ngọc Chừ, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn VănHoàn, Phan Thị Diễm Phương, về thơ song thất lục bát của Phan Ngọc, về thi
Trang 27pháp thơ Nguyễn Trãi của Bùi Văn Nguyên, Phạm Luận Về ảnh hưởng tưtưởng Nho giáo đối với văn học có công trình của Trần Đình Hượu Nho giáo
và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Văn học Việt Nam giai đoạn giaothời (1989), Đến hiện đại từ truyền thống (1994)
Một số luận án PTS đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề thi phápvăn học trung đại như truyện văn xuôi chữ Hán của Nguyễn Đăng Na (1987).Thơ Nôm Đường luật Việt Nam của Lã Nhâm Thìn (1993), Thể loại văn học
Lý – Trần của Nguyễn Phạm Hùng (1995), một số đặc trưng nghệ thuật củathơ thiền Việt Nam thế kỷ XI–XIV của Đoàn Thị Thu Vân (1994), về nhà nhotài tử Việt Nam của Trần Ngọc Vương (1994), về quan niệm thơ cổ Việt Namcủa Phạm Quang Trung (1996), về ngôn ngữ nhân vật trong truyện Nôm củaĐinh Thị Khang (1992)…
Một sự kiểm điểm như trên là chưa đầy đủ, nhất là chưa kể hết nhữngcông trình nghiên cứu trên các tạp chí Tuy vậy, sơ bộ có thể nhận thấy:
– Nghiên cứu thi pháp văn học trung đại Việt Nam là một lĩnh vực cực
kỳ khó khăn vì rất nhiều lý do Trước hết là việc sưu tầm, dịch thuật cho đếnnay vẫn đang tiếp tục Vấn đề văn bản tác phẩm, tác giả, niên đại, là vấn đềnan giải nhất Một công trình khảo luận văn bản chỉ mới văn thơ Lý – Trầncủa giáo sư Nguyễn Huệ Chi gồm 140 trang khổ lớn đã cho thấy tất cả sự khókhăn trong lĩnh vực này Những vấn đề tác giả cũng chưa xong xuôi, vấn đềphân kỳ cũng có nhiều biến động theo thời gian, nhận thức Cho nên nghiêncứu thi pháp trung đại ở giai đoạn này chỉ có thể là bước đầu thử nghiệm,thăm dò, chờ đợi kiểm nghiệm, hoàn chỉnh
Việc nghiên cứu thi pháp văn học trung đại cho đến nay chủ yếu là tậptrung vào việc miêu tả các đặc điểm thi pháp thể loại thơ (vận, luật, ngônngữ) Về tính nội dung và tính quy luật loại hình chỉ mới được xem xét bướcđầu ở một số phương diện riêng biệt, lẻ tẻ, trên nét lớn
– Việc nghiên cứu các bình diện quan niệm nghệ thuật và thẩm mỹthường được thực hiện bằng cách tường thuật ý kiến theo những chủ đề hiện
Trang 28đại và bình luận ý nghĩa của chúng Một số bình diện về quan niệm conngười, không gian, thời gian, hình tượng tác giả chưa được lưu ý đầy đủ.
– Ngôn ngữ văn học trung đại mới được quan tâm qua một số tácphẩm riêng lẻ Phong cách học (từ chương học) văn học trung đại vẫn đang
là mảnh đất còn bỏ ngỏ, ngoại trừ một số tìm tòi của Phan Ngọc và một vàitác giả khác
Một số tác giả nước ngoài như N I Niculin, B M Riftin đã chú ý tới tínhloại hình và có cái nhìn bao quát Họ đã nêu những vấn đề thi pháp văn họctrung dại Việt Nam khá thú vị, song nhìn chung vẫn chi xen vào các công trìnhvăn học sử
Từ những nhận xét trên có thể thấy rằng vấn đề thi pháp văn học trungđại Việt Nam, mặc dù gần đây đã có nhiều thành tựu mới rất đáng trân trọng,song vẫn còn là một mảnh đất chờ đợi sự khai phá lâu dài của nhiều nhànghiên cứu
Công trình của chúng tôi chỉ là thêm một cố gắng trên con đường dàigian khổ này, nhằm gây chú ý cho những người cùng quan tâm để cùng đẩymạnh việc tìm tòi, suy nghĩ, khái quát, ngõ hầu một ngày kia có thể tiến tớiphác hoạ đầy đủ, chính xác những vấn đề của nó
Chương 2 THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI NHƯ MỘT ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
I KHÁI NIỆM THỜI TRUNG ĐẠI
1 Trước khi đi vào xác định khái niệm văn học trung đại thiết nghĩ phảixác định khái niệm thời trung đại về mặt lịch sử
“Thời trung đại” là khái niệm mà các nhà nhân đạo chủ nghĩa châu Âuthế kỷ XV dùng để chỉ thời đại lịch sử ở giữa thời cổ đại, tính từ khi chế độ đếquốc Tây La Mã sụp đổ vào thế kỷ thứ V cho đến thời đại Phục hưng vào thế
kỷ XV Đó là thời kỳ mà sử gia phương Tây gọi là “đêm trường trung cổ” với
sự ngự trị tuyệt đối của thần quyền, quân quyền Đó là khi toà án giáo hội đưa
Trang 29lên giàn hoả thiêu bất cứ ai nghi ngờ chân lý, giáo lý nhà thờ, có tư tưởng tự
do hoặc tìm tòi khoa học Thoạt đầu người ta dùng cụm từ “thời trung đại” vớimột ý vị khinh miệt, để chỉ một thời tăm tối, không có ánh sáng của lý tính vàkhoa học, đầy chết chóc, hận thù, định kiến, để sau đó là thời Phục hưng, làmsống lại các giá trị nhân văn thời cổ đại, giải phóng cá tính, phát triển tự do vàsáng tạo của con người Nhưng dần dần sử học đã phát hiện ý nghĩa khoahọc đích thực của khái niệm này, xua tan những xuyên tạc, định kiến về nó,trả lại cho nó nội dung lịch sử, văn hoá, văn học mang nội dung nhân văn.Đúng như nhiều nhà trung đại học đã khẳng định, mỗi thời đại đều lý thú vàđều có nghĩa hệ trọng mà thời khác không thay thế được
Về mặt thời đại, thời trung đại là thời kỳ sau khi tan rã chế độ chiếmhữu nô lệ cổ đại cùng với các đế chế hùng mạnh cổ đại, các đế quốc bị chianhỏ ra, bị phong kiến hoá Đó là thời đại của chế độ phong kiến để đến lượtmình, nó bị thay thế bởi một xã hội có kinh tế hàng hoá và công nghiệp pháttriển của chủ nghĩa tư bản
Về mặt văn hoá, thời trung đại không giản đơn là một bước lùi trongtiến trình văn minh mà là một bước tiến Đó là thời đại văn hoá lớn trong lịch
sử nhân loại, thời đại ra đời của những quốc gia châu Âu, những nhà nướchiện đại hình thành, những ngôn ngữ dân tộc đa dạng cũng có dịp phát triển
và hiện vẫn dang sử dụng Đó cũng là thời đại hình thành các giá trị văn hoátruyền thống có ảnh hưởng đến hôm nay Đối với các quốc gia phương Đôngnhư Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản… thì thời trung đại là thời hình thànhtoàn bộ di sản văn hoá thành văn của mình
Về mặt thời gian, nhìn chung các sử gia chia thời trung đại châu Âu ralàm ba giai đoạn Giai đoạn cơ kỳ từ thế kỷ V đến thế kỷ XI; giai đoạn trung
kỳ, khi chế độ phong kiến phương Tây đạt đến mức toàn thịnh Từ thế kỷ XIIđến thế kỷ XV; giai đoạn mạt kỳ, khi chế độ phong kiến suy tàn từ thế kỷ XVIđến thế kỷ XVII Độ dài cụ thể của thời trung đại trong từng khu vực, từngquốc gia có những xê xích đáng kể Văn học trung đại trong từng thời kỳ nàycũng khác nhau Giai đoạn sơ kỳ văn học hành chức chiếm ưu thế; giai đoạn
Trang 30trung kỳ văn học đẹp chiếm tỉ trọng cao; giai đoạn mạt kỳ văn học thị dân dầndần chiếm ưu thế.
2 Với những đặc điểm loại hình, khái niệm thời trung đại có thể đượcvận dụng vào lịch sử và văn học phương Đông, có tính tới các yếu tố đặc thùcủa từng dân tộc và khu vực Nhưng đây là vấn đề chưa ngã ngũ TheoN.Cônrát, thời cổ đại Trung Quốc ứng với sự đột khởi của đế quốc Tần, Hán
Từ Nguỵ Tấn Nam Bắc triều trở đi thì bước vào thời trung đại, vào thế kỷ thứ
IV CN Đây cũng là ý kiến chung của nhiều nhà Trung Quốc học Nga khác,chẳng hạn như B.L Riptin, Lixêvích
Các nhà sử học Trung Quốc như Vương Trọng Oánh, mỹ học như LýTrạch Hậu cũng xem Lưỡng Hán trở lên là thời đại nô lệ, từ Nguỵ Tấn trở đi,khởi đầu xã hội phong kiến
Khác với các nước phương Tây, Cận Đông, ở phương Đông giữa cổđại và trung đại không có một khúc gãy như Hy Lạp, La Mã, Ai Cập Cácnước như Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Israen không có khúc gẫy, nghĩa là vẫngiữ được nhịp độ tuần tự, tiệm tiến Tuy nhiên nó được đánh dấu bằng một
sự mất mát nhất định về thể loại văn học Chẳng hạn theo Riptin, thời cổ đại
Hy Lạp mất đi mang theo thể loại sử thi cổ đại, bi kịch và thể loại lịch sử kiểucủa Plutác, cũng như loại Sử ký của Tư Mã Thiên cũng mất theo thời cổ đạiTrung Hoa Nếu không rập khuôn theo lịch sử phương Tây thì bước chuyểnđánh dấu kết thúc thời cổ đại Trung Hoa là tư tưởng đại nhất thống, độc tôn bịlung lay, mở đầu cho sự xâm nhập tôn giáo ngoại lai và phát triển tôn giáobản địa, sự nở rộ của văn học dân gian
Nhìn chung cũng vào thế kỷ thứ III CN một số nước Trung á, Iran cũngbước vào thời trung đại Sự sụp đổ đế chế cổ đại tạo điều kiện cho nhiềuquốc gia ”trẻ” xuất hiện độc lập Tuy xuất hiện muộn với tư cách quốc gia độclập, nhưng chúng lại phát triển nhanh nhờ vào vốn văn hoá dân gian củamình, và nhờ vào kinh nghiệm của các nền văn học đi trước của các quốc gia
cổ đại lân cận Đó là văn học Nhật Bản từ thời Hây An (thế kỷ IX – XII) trở đi,
là văn học Nga cổ từ thế kỷ XI trở đi, văn học Việt Nam từ thế kỷ X trở đi
Trang 313 Thời trung đại chuyển sang thời cận đại bằng hàng loạt sự kiện vănhoá, khoa học Các phát kiến địa lý làm thay đổi quan niệm về thế giới Thếgiới rời rạc, phân tán trước đó nay được nối liền Những phát kiến lịch sử làmsống lại chủ nghĩa nhân văn cổ điển, ý thức tôn giáo lung lay, ý thức cá tínhtrỗi dậy, ý niệm tiến trình lịch sử thay đổi Người phương Đông nhận biếtđược thế giới chủ yếu do bị tư bản phương Tây “phát hiện” do buôn bán vàtruyền đạo Tiếng súng pháo thuyền làm rạn vỡ xã hội phong kiến truyềnthống Ở Trung Quốc thời cận đại được đánh dấu rõ rệt bằng chiến tranh Nhaphiến 1840, ở Việt Nam nó đánh dấu bằng tiếng đại bác bắn vào đồn biênphòng của nhà Nguyễn năm 1858
Cũng có người lấy mốc năm 1862 làm điểm quy ước thời cận đại ViếtNam
Tuy vậy xét sâu hơn vào quá trình phát triển kinh tế mỗi nước thì người
ta lại nhận thấy dấu hiệu cận đại sớm hơn Ở Trung Quốc, nhiều nhà nghiêncứu cho thời trung đại của họ chấm dứt vào thời cuối Minh, từ thế kỷ XV, dothương nghiệp phát triển, ý thức thị dân trỗi dậy, cũng gần như cùng một lúcvới thời kỳ cận đại châu Âu
Thời cận đại là thời kỳ quá độ, giao thời, chuyển hoá từ trung đại sanghiện đại Ở châu Âu có khi người ta tính từ thế kỷ XVI – XVII Như vậy là cậnđại được tính từ giai đoạn mạt kỳ thời trung đại Thời cận đại ở Trung Quốc,Nhật Bản, Việt Nam tính từ thời điểm xâm nhập của tư bản phương Tây, cũngtức là thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến Tuy nhiên, xét theo sự phát triểncủa đô thị, ý thức thị dân thì thời cận đại Việt Nam có thể tính ngược lên tớithế kỷ XVII – XVIII Còn như vấn đề thời cận đại kéo dài đến đâu thì ý kiến lạichưa nhất trí Ở Trung Quốc, đó là năm 1911 với cách mạng Tân Hợi, thànhlập Dân Quốc Ở Việt Nam trước nay học giới xác định là 1930, thời điểmngọn cờ lãnh đạo cách mạng chuyển sang giai cấp vô sản, nhưng nếu xét tớithời điểm chấm dứt chế độ phong kiến thì phải đến 1945 Xét về mặt văn học,thì văn học trung đại thực sự chấm dứt từ năm 1930–1932 Từ đó trở đi vănhọc hoàn toàn chuyển sang phạm trù hiện đại
Trang 32Nếu hiểu thời hiện đại là thời đại đánh dấu bằng sự tiếp xúc, giao lưutoàn diện của tất cả các quốc gia trên thế giới, tất cả tham gia vào một tiếntrình lịch sử chung, các sự kiện lịch sử thế giới tác động trực tiếp tới mọi quốcgia lớn nhỏ, thì có thể nói việc xác định thời hiện đại từ thế kỷ XX là có cơ sở.
Và với thời này, các quốc gia dù trình độ phát triển khác nhau vẫn đều ởchung trong một thời đại
4 Nếu thừa nhận thời hiện đại là thời đại chung của mọi dân tộc và khuvực, thì có cơ sở để thấy rằng thời cận đại của các nước phương Đông nhưViệt Nam Trung Quốc trên thực tế hoặc mờ nhạt, không thật rõ nét, hoặc bịteo đi Bởi vì thời cận đại ở đây không phải xuất hiện do sự phát triển tự thânmạnh mẽ của các quan hệ xã hội, mà chủ yếu do nguyên nhân bên ngoài,cho nên nó không thể kéo dài Đô thị Việt Nam không như đô thị phương Tây
Nó gắn chủ yếu với trung tâm hành chính, với thương nghiệp, nhưng mối liên
hệ với nông nghiệp và hành chính rất mật thiết Một khi đổi thay vị trí hànhchính, đô thị trên xuống cấp trở thành nông thôn, do đó sức sống yếu ớt
Xã hội lạc hậu buộc phải tiến nhanh theo nhịp độ của lịch sử thế giới
Do đó thời cận đại ở các nước phương Đông không phải chỉ là thời đại pháttriển kinh tế tư bản, tích luỹ tư bản và công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa như
ở phương Tây, mà còn là thời suy tàn của chế độ phong kiến và thời đại giaothời, chuyển mạnh sang thời hiện đại Đó không phải là thời cận đại độc lậpđích thực Về một mặt khác, đó cũng là thời đại chống nạn ngoại xâm của tưbản phương Tây để duy trì độc lập trong điều kiện lịch sử mới, là thời kỳ vậnđộng để đuổi theo và hội nhập vào các trào lưu mới
Xét từ bình diện văn hoá thì phải tính đến cái mốc tiếp nhận và sángtạo các hình thái văn hoá mới Mốc ấy chưa có giữa thế kỷ XIX của lịch sửViệt Nam Mặc dù có ảnh hưởng của Pháp và chữ Quốc ngữ bắt đầu truyền
bá rộng rãi dưới dạng hiện đại từ giữa thế kỷ XIX nhưng, phải sang đầu thế
kỷ XX thì mới thực sự được sử dụng phổ biến Cũng giống như xưa kia, chữHán được truyền bá từ khi người Hán đặt ách thống trị từ đầu công nguyên,song phải đến thế kỷ X xây dựng quốc gia độc lập, chữ Hán mới trở thành
Trang 33công cụ của văn học dân tộc Các phong trào cách mạng đầu thế kỷ đã sửdụng đắc lực chữ Quốc ngữ Sự kiện này càng được củng cố thêm bởi sựkiện bãi bỏ các khoa thi chữ Hán vào năm 1917 Đó là lý do làm cho nhiềunhà nghiên cứu văn học trước đây tính thời hiện đại của văn học Việt Nambắt đầu từ đầu thế kỷ Vũ Ngọc Phan trong sách Nhà văn hiện đại tính mốchiện đại từ 1910 Dương Quảng Hàm xem văn học thế kỷ XIX là cận kim, cácvăn gia, thi gia hiện đại thì tính từ đầu thế kỷ XX Các tác giả Nguyễn TườngPhượng, Bùi Hữu Sủng trong Văn học sử hiện đại cũng tính mốc hiện đại từ
1910 Tuy vậy nhưng cái mốc 1910, 1907, 1913… đều chưa thật đủ sứcthuyết phục do dựa vào sự kiện cụ thể Phải chăng chỉ nên nói từ đầu thế kỷvới các phong trào hiện đại hoá có tính cách mạng như Duy tân, Đông du,Đông kinh nghĩa thục Theo chúng tôi, rất khó xác định cụ thể năm nào, màchỉ khoảng những năm nào đó Chúng tôi cũng từng đề nghị xem điểm khởiđầu thời đại văn học hiện đại từ đầu thế kỷ
5 Xét về nội dung văn học thì có thể nhận thấy những yếu tố mới củavăn học cận đại cuối thế kỷ XIX, cũng như những yếu tố mới trong giai đoạngiao thời mấy mươi năm đầu thế kỷ XX Nhưng xét riêng về hệ thống văn họcthì có thể xem văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX thuộc phạmtrù trung đại và từ đầu thế kỷ XX đến nay là thuộc phạm trù hiện đại Đâycũng là quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu văn học hiện nay quy ước vàđang chờ đợi sự bàn bạc sâu thêm Cho đến cuối thế kỷ XIX, mặc dù cónhững hiện tượng văn học Quốc ngữ xuất hiện, nhưng về cơ bản văn họcViệt Nam vẫn mang tính chất trung đại
Việc vận dụng phạm trù trung đại, một phạm trù của lịch sử phươngTây vào lịch sử phương Đông hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn và ý kiến bấtđồng Chẳng hạn đâu là giới hạn của các thời đại “Phục hưng”, ”Khai sáng”trong lịch sử Trung Quốc? N Cônrát từng dựa vào phong trào cổ văn củaHàn Dũ mà nêu ý kiến về thời Phục hưng ở đời Đường, ý kiến này được một
số nhà Đông phương học Nga khẳng định còn O L Phitsơman, Hầu Ngoại Lưcho thời Khai sáng ở Trung Quốc bắt đầu từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX,
Trang 34B Xêmanốp thì cho thời Khai sáng Trung Quốc bắt đầu từ thế kỷ XVII nhưngkéo dài đến đầu thế kỷ XX… Những nhận định như vậy chỉ đúng từng điểm,từng phần Quan điểm lấy châu Âu làm trung tâm để nghiên cứu phần còn lạicủa thế giới là không đúng, song tìm cái chung loại hình có tính nhân loại lại
là cần thiết Xây dựng mô hình chung có tính nhân loại, tính đến đặc thù khuvực và dân tộc có thể cho phép nhìn nhận văn học dân tộc trong bối cảnhchung của nhân loại
6 Như vậy việc vận dụng phạm trù “thời trung đại” sẽ đem đến mộtkiểu phân kỳ mới và nhận thức mới trong nghiên cứu văn học Việt Nam Mọingười đều biết là sẽ không có lịch sử văn học nếu như không có việc phânchia thời kỳ và phân bố tài liệu văn học thành các chương mục có tính chấtkhái quát
Cách phân kỳ văn học Việt Nam đầu tiên tìm thấy trong Việt âm thi tậpcủa Phan Phu Tiên (thế kỷ XV), trong đó văn học được xếp theo triều đạiTrần, Lê Năm 1933 nhà nghiên cứu Pháp là G.Cordier trong sách Nghiêncứu văn học Việt Nam, rồi tiếp theo đó là các tác giả sách giáo khoa về lịch
sử văn học Việt Nam trong những năm 40 –50 cũng đều phân kỳ theo triềuđại Từ các tập văn học sử sau năm 1957 các học giả phân kỳ theo thế kỷtrên cơ sở phân tích quá trình phát triển từ thịnh đến suy của chế độ phongkiến Việt Nam, và gần đây thì đã chú ý phân kỳ theo loại hình văn học – trungđại, hiện đại Trước đây người ta xác định thời trung đại dừng ở giữa thế kỷXIX Còn gần đây nhiều tác giả cho rằng thời trung đại kéo dài đến hết thế kỷXIX Theo cách phân kỳ này cả mười thế kỷ văn học từ thế kỷ X đến hết thế
kỷ XIX đều được coi là văn học trung đại Đó là một bước tiến quan trọngtrong việc nhận thức loại hình văn học Tuy nhiên vấn đề phân kỳ trong nội bộthời kỳ này lại chưa có kiến giải nhất trí
Hiện nay về vấn đề phân kỳ có các kiến giải sau Ông N I Niculin trongcông trình Văn học Việt Nam từ các thế kỷ trung đại đến cận đại: X –XIX(1977) xem giai đoạn thế kỷ X-XII là thời kỳ trên (thượng) trung đại với lý do làthể loại hành chức ngoài văn học chiếm ưu thế (bia kệ, thơ bang giao, cáo,
Trang 35chiếu, hịch…) Từ thế kỷ XIII – XVII là thời kỳ trung đại phát triển, còn khoảngthời gian thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX – là thời kỳ hạ trung đại – trong khivẫn giữ các đặc điểm của thời kỳ trung đại đã có thêm các đặc điểm của vănhọc thời Phục hưng và Khai sáng Tác giả dựa vào tiêu chuẩn chức năngngoài văn học là có cơ sở, song mảng văn xuôi mang chức năng ngoài vănhọc như Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quái vẫn còntiếp tục chiếm ưu thế vào thế kỷ XIV, và nói chung văn học mang chức năngngoài văn học vẫn có vị trí quan trọng trong suốt thời trung đại Về mặt nàycác giáo trình văn học của các trường đại học Việt Nam xác định thế kỷ X –XIV là một giai đoạn là có cơ sở dựa vào nội dung xây dựng nhà nước phongkiến Tuy nhiên đó là tiêu chuẩn ngoài văn học Sau này ông Nguyễn Lạc đềnghị tính mốc từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV là thời kỳ văn học khẳng địnhdân tộc trên cơ sở khẳng định chế độ phong kiến Từ nửa cuối thế kỷ XV đếnnửa đầu thế kỷ XVIII là văn học khẳng định Nhà nước phong kiến Từ nửacuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là thời kỳ văn học khẳng định conngười Bảo rằng văn học được nửa đầu thế kỷ XVIII là không khẳng định conngười, có lẽ không ổn, đúng hơn, nó khẳng định con người một cách khác.Các mốc nửa đầu thế kỷ XVIII nên lùi lại vào đầu thế kỷ XVIII mới đúng, bởi
đó là thời điểm của Truyện Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào và của Chinhphụ ngâm khúc và các bản dịch Theo chúng tôi, nội dung văn học của giaiđoạn X – XIV là sự hình thành khá hoàn bị các thể loại văn thơ chữ Hán Vàgiai đoạn từ thế kỷ XV – đánh dấu sự hình thành và phát triển các thể loại vănNôm Thế kỷ XVIII là khởi đầu của xu hưởng văn học nhân đạo Truyện SongTinh là một truyện tài tử giai nhân, ca ngợi tình yêu nam nữ
Ông Lê Trí Viên trong công trình mới đây cho rằng thế kỷ X – XV là thời
kỳ văn học trung đại thượng kỳ, còn từ thế kỷ XVI – XIX là văn học trung đại
hạ kỳ Cách chia này làm mờ cái mốc thế kỷ XVIII, thời điểm đổi thay quanniệm con người trong văn học và là thời điểm chín muồi toàn thịnh của cácthể loại văn học Nôm
Trang 36Chúng tôi tán thành quan điểm phân kỳ của các tác giả Hợp tuyển thơvăn Việt Nam, chia văn học trung dại Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII làmột giai đoạn lớn, từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX (chứ không phải giữa thế
kỷ XIX như các tác giả Hợp tuyển) là một giai đoạn lớn
Cách chia này, như sau đây chúng tôi sẽ phân tích thấy, phù hợp vớitiến trình tự ý thức của con người trong văn học Trước thế kỷ XVIII conngười trong văn học chủ yếu được khẳng định trong các lý tưởng lớn, vì dântộc, trong đạo đức phong kiến theo quan điểm Nho giáo hay trong sự siêuthoát với đạo lão, đạo thiền
Từ thế kỷ XVIII trở đi con người trong văn học tự khẳng định mình quacác nhu cầu sống trần tục Đặc điểm này làm đổi thay căn bản phong cáchvăn học Trong 8 thế kỷ đầu còn có thể chia ra hai chặng Từ thế kỷ X – XIV:
sự hình thành và chín muồi các thể loại văn học chữ Hán; và từ thế kỷ XV –XVII là sự manh nha, hình thành và phồn thịnh của văn học Nôm Còn giaiđoạn đầu thế kỷ XVIII là sự chín muồi đạt đến đỉnh cao của văn học Nôm và
sự phát triển phong phú thêm của văn học chữ Hán với các thể loại truyện kýmới mang tính chất văn học
Vấn đề phân kỳ vẫn đang là vấn đề được học giới quan tâm Xu thếchung là ngày càng đi sát vào quá trình vận động của bản thân văn học, tìmdấu hiệu phân kỳ trong bản thân văn học Về các vấn đề này có thể xem thêmcác tài liệu sau: Trần Đình Hượu: Vấn đề chọn mấy năm mốc trong việc phân
kì lịch sử văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Đỗ Đức Hiếu: Suy nghĩ về phongcách lớn là phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam; Nguyễn Huệ Chi: Vấn đề phân
kì văn học sử Việt Nam trong Tạp chí Văn học số 3 năm 1985 nói trên Gầnđây có các bài của các tác giả Trần Đình Hượu: Xác định cái dân tộc, cái cổđiển làm cơ sở phân kì lịch sử văn học dân tộc trong sách: Nho giáo và vănhọc Việt Nam trung cận đại, Hà Nội 1995; Nguyễn Đăng Na: Văn xuôi tự sựViệt Nam thời trung đại –Những bước đi lịch sử Tạp chí văn học số 7–1997.Những cách phân kỳ trước đây còn nhiều ý kiến nặng về tiêu chí xã hội, chínhtrị, mặc dù là tiêu chí này có tầm quan trọng không thể coi nhẹ Dù sao cách
Trang 37phân kỳ như vậy chủ yếu cũng là căn cứ vào nội dung xã hội, lịch sử của vănhọc Xét về mặt thi pháp, chúng tôi cho rằng chia văn học trung đại Việt Namlàm hai giai đoạn bằng cái mốc từ đầu thế kỷ XVIII là thích đáng Mỗi giaiđoạn đều có những quy luật chung về văn học mà chúng tôi sẽ phác hoạ ởcác phần sau.
II VĂN HỌC TRUNG ĐẠI NHƯ MỘT LOẠI HÌNH VĂN HỌC
1 Vấn đề loại hình văn học trung đại
Vì sao phải xem xét văn học thuộc thời kỳ trung đại như văn học loạihình trung đại? Điều này có cần thiết hay không, và cần thiết đến mức nào?
Trước hết, khái niệm loại hình văn học trung đại giúp ta nhận rõ đặctrưng và quy luật chung của các hiện tượng văn học thời trung đại, phân biệtvới loại hình văn học mới, hiện đại Trong các sách văn học sử, trong cáccông trình nghiên cứu các hiện tượng văn học ấy thường được đặt trongkhung biên niên, theo tuần tự triều đại, và do đó nhiều khi không đánh giáđúng các quy luật loại hình Việc lý giải tác phẩm trung đại theo lối hiện đạihoá theo các phạm trù hiện đại, hoặc phê phán các biểu hiện nghệ thuật ấytheo các tiêu chuẩn của kiểu văn học hiện đại không phải là hiếm trong giớinghiên cứu và giảng dạy văn học Chẳng hạn khái niệm văn học nghệ thuật(mỹ thuật), chủ nghĩa hiện thực, tính hiện thực, tính điển hình, cá tính, phongcách cá nhân v.v… đã được sử dụng rộng rãi một thời vào các hiện tượngvăn học cổ, và nảy sinh nhiều nhận định chưa được nhất trí, thậm chí bópméo lịch sử
Thứ hai, khái niệm loại hình văn học trung đại giả thiết xem văn họctrong thời trung đại như một hệ thống trong đó các yếu tố tác giả, thể loại,ngôn ngữ, người đọc quan hệ với nhau như một cấu trúc, và sự khác biệt củavăn học cổ và văn học hiện đại là do cấu trúc ấy quy định Cấu trúc văn học
ấy tương ứng với một thời đại văn hoá, với mô hình thế giới, với hệ thống giátrị, với phương thức cảm nhận xác định, mà chỉ với các đặc trưng văn hoá ấyngười ta mới có thể hiểu được văn học trung đại, như là văn học của một giaiđoạn văn hoá khác
Trang 38Thứ ba, loại hình văn học trung đại có quy luật phát triển riêng cũngnhư có các mối quan hệ qua lại với các nền văn hoá láng giềng theo một kiểukhác với văn học hiện đại Văn học trung đại còn chưa có tính khép kín hẹphòi về mặt dân tộc như văn học thời kỳ tư sản về mặt chủng tộc hay văn hoá.Các mối quan hệ đẳng cấp nhiều khi chiếm ưu thế so với khác biệt dân tộc.
Có một “chủ nghĩa quốc tế” riêng của thời trung đại như dùng chung một ngônngữ có ảnh hưởng cùng với hệ tác phẩm kinh điển của thứ ngôn ngữ đó Sựphát triển của văn học trung đại nói chung có diễn biến như: Loại sử thi anhhùng đặc trưng cho giai đoạn sơ kỳ xã hội phong kiến Thơ trữ tình, tiểuthuyết diễm tình đặc trưng cho giai đoạn trung đại phát triển, truyện sinh hoạt,trào phúng đặc trưng cho đô thị phong kiến vào thời trung đại mạt kỳ…
Một cái nhìn hệ thống, chỉnh thể đối với loại hình văn học như vậy cóthể giúp ta nhận rõ giá trị các hiện tượng văn học cụ thể
2 Những đặc điểm chung của loại hình văn học trung đại
Loại hình văn học trung đại được bắt dầu nghiên cứu từ những nămsáu mươi, và đến nay có thể bước đầu hình dung được đại thể những nét cơbản được lặp đi lặp lại qua nhiều nền văn học trung đại
Nhìn chung trên tất cả các vấn đề cơ bản của văn học như sáng tác cánhân, truyền thống và đổi mới, lựa chọn cốt truyện, thủ pháp kết cấu, cách giacông ngôn từ, mối liên hệ với xã hội, vị trí của các thể loại trong đời sống,phong cách văn chương… văn học trung đại đều có một tính chất hoàn toànkhác so với văn học thời tiền phong kiến và với văn học cận hiện đại của thờicận hiện đại tư sản
Cũng như khái niệm “thời trung đại” trong sử học, khái niệm “văn họctrung đại” tuy có cơ sở khoa học vững chắc song vấn đề loại hình học nềnvăn học này vẫn dược xem là “vấn đề phức tạp, chưa được giải quyết triệt để
cả về tính tương đồng loại hình cũng như các mối liên hệ khu vực, phát sinh
và tiếp xúc”, như B Riptin nhận định
Trang 39Cũng theo B Riptin thì ngay đối với văn học phương Tây, một nền vănhọc đã được nghiên cứu kỹ lưỡng thì hiện cũng “chưa có những công trìnhchuyên khảo nêu được đặc trưng của văn học trung đại như là một kiểu nghệthuật ngôn từ Việc nghiên cứu kiểu văn học trung đại sẽ còn phức tạp thêm
vì việc phân kỳ văn học phương Đông trong khoa học vẫn còn là vấn đề chưa
có định luận” Thậm chí việc xác định khái niệm văn học trung đại ở đây cũngcòn nhiều đường nét chưa được rõ ràng
Tuy vậy, việc nghiên cứu kiểu văn học trung đại qua văn học Nga cổcủa Viện sĩ D X Likhatrốp và của nhiều học giả khác đã đề xuất nhiều kiếngiải quý báu, giúp hình dung một số đặc điểm loại hình quan trọng Chúng tôidựa vào đó và bổ sung thêm hiểu biết của mình để vấn đề được thêm cụ thể
a) Đặc điểm đầu tiên của văn học trung đại với tư cách là một kiểu(loại) văn học thể hiện ở cách hiểu rất rộng đối với khái niệm “văn học” Vănhọc viết trung đại bao gồm các thể loại hành chức, tức là có những chức năngđặc thù ngoài văn học, thường là chức năng tôn giáo, nghi lễ hay công vụ.Tên gọi các thể loại thường là tên của chức năng mà nó thực hiện, như cáo,biếu tế, điếu, lệnh, ký v.v… Trong hệ thống văn học này vị trí hàng đầu haytrung tâm, tối cao lại thuộc về các thể loại thuần tuý “hành chức” như kinh(Kinh Thánh, Ngũ Kinh lịch sử, tác phẩm của các thánh hiền (tử), các tông đồ.Còn các loại nhiều chất văn nghệ, thẩm mỹ, ít tính “hành chức” thì nằm ngoàirìa và không được các nhà lý luận quan phương của hệ thống văn học nàythừa nhận Sau này khi chuyển sang nền văn học hiện đại đã có một bướcngoặt ngược lại: các thể loại trung tâm chuyển ra ngoài rìa, còn các thể loạingoài rìa lại vào trung tâm Điều này đã được chứng thực trên cứ liệu văn họcNga cổ, và còn có thể chứng thực bằng cứ liệu văn học Trung Quốc, ViệtNam Trong rất nhiều tài liệu thống kê, phân loại văn học có từ Tiên Tần chođến đời Thanh các thể loại văn học có đến ba bốn trăm loại, song tiểu thuyết,truyền kỳ chí quái, chí dị, biến văn, thoại bản, tiểu thuyết chương hồi đềukhông được tính đến Các thể loại này phải đến đầu thế kỷ XX mới được cácnhà nghiên cứu văn học đưa vào hệ thống thể loại văn học Chẳng hạn trong
Trang 40quyển Trung Quốc tục văn học sử (1938) của Trịnh Chấn Đạc Năm 1923trong Lời tựa cho sách Trung Quốc tiểu thuyết sử lược Lỗ Tấn đã phải than:
“Nền tiểu thuyết Trung Quốc đến nay không có sử”, chính là nói về tình trạng
ấy Rõ ràng nhiều thể loại văn học không mang tính chức năng thì bị cho rangoài phạm vi thể loại và không được thừa nhận
Mặt khác, “văn học” là một khái niệm rất rộng, bao gồm tất cả các thểvăn có vị trí trong các quan hệ xã hội Xin nêu thí dụ: trong Văn tâm điêu longtác giả Lưu Hiệp chia hai mươi loại văn thể, là các loại: Tao, Thi, Nhạc phủ,Thuyên phú, Tụng tán, Chúc minh, Minh châm, Lỗi bi, Ai điếu, Tạp văn, Hài
ẩn, Sử truyện, Luận thuyết, Chiếu sách, Hịch di, Phong thiền, Chương biểu,Tấu khải, Nghị đối, Thư ký
Nhà nghiên cứu đời Thanh Vương Triều Phượng trong sách Văn thểthông thích chia ra làm 143 loại, gồm: thích, giải, cố (hỗ), truyện, trưng, chú,tiên, nghĩa, nghĩa sớ, thân nghĩa, khẩu quyết nghĩa, giảng nghĩa, diễn nghĩa,thuyết, luận, biện, bác, tường, thuật, tự, đề từ, lệ, âm, xuân thu, ký, chí (thư,
ý, điển, lục, thuyết), lục (thực lục), phổ (điệp), biểu, kỷ, sử truyện, biệt truyện,
tự tự (tự thuật), sử luận (luận tán, mộ nhân viết, tự, thuyên, bình, nghị, thuật,soạn, tấu, sử thần viết), chính, tục (thiệu), lược, quyết, giám, đề hậu (hậu tự,thư hậu, độc mỗ, bạt), tế thảo, nguyên, nan, phi (thích), phản, quảng, bổ, nghĩ(hiệu học pháp, hiệu, y, đại), giáo, huấn, điển, pháp (chế, hiến, cấm) sách,mệnh, lệnh, chế, chiếu, sách vấn, dụ, cáo, thệ, xá, giới, châm, minh, lỗi, aisách, ai từ, tụng, thi (ca, vịnh, ngâm), nhạc phủ, chúc, đảo, từ, cáo thần, tổ,minh thệ (tải từ, tải thư, yếu ngôn), khế quyên (phán thư, truyền biệt), phù,ước, thư bản thư, khắc thạch (thạch minh, lặc thạch), bi (biểu), kệ, thượngthư (hiến thư), chương, tấu, hặc (đàn), biểu, nghị, bác nghị, phong sự, sớ,trạng, tiên, khải, trát điệp, trát tử, tấu sách, đối vấn, đối trạng, đối sách, cáo(bạch) tấu ký, đáp nan, tỷ thư, lộ bố, hịch, di thư, liệt từ, tự, thiếp, đề thự(bảng), mộ văn, yết văn hưởng từ, điếu văn, tế văn, hành trạng, mộ chí minh,văn ca, tán, phú, loạn, từ, tháo, dẫn, khúc, dao, âu, tụng, thất, cữu, thiết luận,giáp ất nghị luận, liên châu, hồi văn, ly hợp thi, tập cú, lễ từ, liên cú, phán Có