Đến nay, các cơ quan chức năng cũng rất chú ý đến việc ban hành các văn bản, cẩm nang quy định về chính tả tiếng Việt như: Các từ điển chính tả tiếng Việt Hoàng Phê, Chính tả tiếng Việt
Trang 1Chuẩn chính tả tiếng Việt hiện nay là một yêu cầu cấp bách của công
cuộc ―Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt‖ mà Đảng và Nhà nước đặt ra, để
giữ gìn bản sắc văn hoá Việt trong xu thế hội nhập quốc tế để chúng ta không
bị hoà lẫn vào những cộng đồng khác
Viết hoa là một trong những yêu cầu bắt buộc của chính tả tiếng Việt, viết hoa đúng quy tắc trong văn bản góp phần tăng giá trị, chất lượng của văn bản Viết hoa có nhiều loại: viết hoa cú pháp, viết hoa danh từ riêng, viết hoa
tu từ… Mỗi loại viết hoa có một ý nghĩa riêng Cách viết hoa còn thể hiện nét thẩm mỹ riêng của chữ viết nói chung và kĩ năng của từng người viết Nếu chữ hoa đặt đúng vị trí, viết đúng quy cách chính tả thì người sử dụng lối viết được xem là chuẩn chính tả Chính vì những ý nghĩa rất riêng của viết hoa như vậy nên càng phải chú ý viết hoa đúng quy tắc, tránh việc viết hoa tràn lan
Viết tắt là một hiện tượng có tính quy luật của mọi ngôn ngữ Nó phản ánh quy luật tiết kiệm Bởi xã hội càng phát triển, văn minh, hiện đại thì nhu cầu truyền và nhận thông tin ngày càng lớn Tuy nhiên, đến nay các quy tắc
Trang 2là vấn đề gây tranh luận nhiều nhất hiện nay
Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài ―Chính tả hiệu danh tiếng
Việt” trên cơ sở khảo sát các báo ( Báo Sơn La, Công báo Sơn La, Báo Nhân
dân…) và đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần vào chuẩn hóa chính
tả tiếng Việt
2 Lịch sử nghiên cứu
Cho đến này đã có một số công trình nghiên cứu về chính tả tiếng Việt Đáng chú ý là một số công trình gần đây có đề cập đến vấn đề viết hoa tên các
cơ quan , tổ chức ( gọi chung là hiệu danh) Cụ thể:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Chính tả tiếng Việt: thực trạng và giải pháp, Nguyễn Văn Khang (2004), Viện Ngôn ngữ học
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ ―Những vấn đề thời sự của chuẩn hoá tiếng Việt‖, Vũ Kim Bảng (2001), Viện Ngôn ngữ học
- Luận văn ―Chương trình bắt lỗi chính tả ‖, Nguyễn Thái Ngọc Duy (ĐHKHTN);
- Luận văn ―Lỗi chính tả của học sinh tiểu học huyện Hải Hậu- Nam Định, Lâm Thị Hoà, Đại học Thái Nguyên
- Luận văn ―Kiếm lỗi chính tả tiếng Việt‖, Lê Tuấn Linh, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Luận văn ―Thực trạng lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh lớp 2, 3 dân tộc H’MÔNG huyện Kỳ Sơn, Nghệ An‖
Trang 33
- Luận văn ―Chính tả tiếng Việt trong văn bản hành chính (trên tư liệu văn bản hành chính tại thành phố Hải Phòng)‖, Đào Thị Lan Anh, Đại học Hải phòng
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua khảo sát cụ thể về chính tả hiệu danh, luận văn góp phần vào nghiên cứu, khảo sát để đưa ra được những quy định thống nhất đối với chính tả tiếng Việt
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm đạt mục đích sau:
- Tìm hiểu chung vấn đề chính tả và chuẩn chính tả tiếng Việt hiện nay
- Tìm hiểu chung về vấn đề viết hoa, viết tắt và cụ thể là viết hoa, viết tắt tên cơ quan, tổ chức
- Qua khảo sát chính tả hiệu danh tiếng Việt ( tên cơ quan, tổ chức,
công ti,…) tại một số trang báo ( Báo Sơn La, Công báo Sơn La, Báo Nhân dân)… đưa ra kiến nghị, đề xuất để nhằm góp phần vào chuẩn hóa chính tả
tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực trạng cách viết chính tả hiệu danh của tiếng Việt
- Nhận xét và đề xuất kiến nghị giải pháp
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Cách viết chính tả hiệu danh ( tên cơ quan, tổ chức, công ti,…)
Trang 44
- Thống kê; phân tích
6 Đóng góp mới của luận văn
Trên phương diện lí luận, đề tài cung cấp thêm luận chứng và một số kiến nghị, đề xuất góp phần làm sáng rõ hơn một số vấn đề về chính tả hiệu danh tiếng Việt
7 Bố cục luận văn: Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham
khảo, Phụ lục, luận văn có cấu trúc 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận liên quan đến luận văn
Chương 2 Khảo sát thực trạng cách viết chính tả hiệu danh qua một số trang báo ( báo Sơn La, Công báo Sơn La, báo Nhân dân…)
Chương 3 Nhận xét, đánh giá và Một số kiến nghị, đề xuất về cách viết chính tả hiệu danh trong tiếng Việt
Trang 55
CHƯƠNG I
CƠ SỞ Lí LUẬN LIấN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH TẢ TIẾNG ViỆT
1.1.1 Khỏi niệm chớnh tả
Chớnh tả hiểu theo nghĩa thụng thường là ―phộp viết đỳng‖ Thuật ngữ
này được dịch ra từ tiếng Hy Lạp: Orhos (đỳng) và grapho (viết) [32, 264] Vấn đề chớnh tả bao gồm nhiều vấn đề khỏc nhau: từ cỏch viết cỏc õm vị, õm tiết đến viết cỏc đơn vị từ, cỏch viết hoa, viết tắt, cỏc dấu cõu, cỏch viết tờn riờng nước ngoài… [29,2]
Chỉnh tả là do sự quy định của bản thõn hệ thống văn tự của một xó hội nhất định Chớnh tả là cỏi mẫu mực, tiờu chuẩn chung về mặt văn tự [14,264] được định hỡnh bởi dự chọn lọc tập quỏn sử dụng chữ viết của người bản ngữ
đó trở thành truyền [9, 124]
Lờ Văn Lý trong tham luận về Cải tiến và chuẩn hoỏ chớnh tả [27, 90]
cũng đó nhận xột: ―Núi đến chớnh tả tức là núi đến vấn đề viết đỳng Nhưng đỳng với cỏi gỡ? Chớnh tả ở đõy, phải hiểu là: Viết đỳng với truyền thống của chữ quốc ngữ đó được sử dụng cho đến ngày nay‖
Cú thể khỏi quỏt lại khỏi niệm chớnh tả như sau: Chính tả, một cách chung nhất, đ-ợc hiểu là hệ thống các quy tắc, đ-ợc hình thành trong sự phát triển ngôn ngữ, nhằm thống nhất và chuẩn hoá cách viết Nói cách khác, đó là
"cách viết đ-ợc coi là đúng, đ-ợc coi là chuẩn" [23, tr.5]
1.1.2 Quan niệm về chuẩn chớnh tả
Chớnh tả là sự chuẩn hoỏ hỡnh thức chữ viết của ngụn ngữ Đú là một hệ thống cỏc quy tắc về cỏch viết cỏc õm vị, õm tiết, từ, cỏch dựng cỏc dấu cõu, cỏch viết hoa, viết tắt, thuật ngữ Chuẩn chớnh tả đặt ra yờu cầu cỏch viết chuẩn mực Chuẩn chớnh tả cú tớnh chất bắt buộc cú thể núi là tuyệt đối Yờu
Trang 66
cầu viết đỳng chớnh tả là yờu cầu đối với mọi trường hợp Hơn cỏc chuẩn ngụn ngữ khỏc, chuẩn chớnh tả thường là kết quả trực tiếp của cụng tỏc chuẩn hoỏ [29,3-4]
Viết đúng chính tả có nghĩa là không đ-ợc sai so với quy tắc chính tả Theo lí thuyết, Quy tắc chính tả là những quy định gồm chữ viết bảng chữ
cái, sắp xếp chữ cái và quy tắc viết chính tả [23, tr.5]
Chuẩn chính tả là có tính chất bắt buộc, là tuyệt đối đến mức một cách
viết dù là không hợp lí, thậm chí vô lí, nh-ng đã đ-ợc công nhận là chuẩn thì nhất nhất phải theo [23, tr.6]
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn ―Cơ sở Ngụn ngữ học và tiếng Việt‖ [ 11, tr 119-126 ] thỡ chuẩn chớnh
tả cú 3 đặc điểm chớnh sau: Đặc điểm đầu tiờn của chuẩn chớnh tả là tớnh chất bắt buộc gần như tuyệt đối của nú Đặc điểm này đũi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đỳng chớnh tả Chữ viết cú thể chưa hợp lý nhưng khi đó được thừa nhận là chuẩn chớnh tả thỡ người cầm bỳt khụng được tự ý viết khỏc đi
Vỡ vậy núi đến chuẩn chớnh tả là núi đến tớnh chất phỏp lệnh Đặc điểm thứ hai theo cỏc tỏc giả thỡ ―Chuẩn chớnh tả cú tớnh chất ổn định, tớnh chất cố hữu khỏ rừ Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nú đó tạo nờn ấn tượng về một cỏi
gỡ ―bất di bất dịch‖, một tõm lớ bảo thủ Chớnh vỡ thế mặc dự biết rằng cỏch viết ―iờn ngỉ‖ hợp lý hơn nhưng đối với chỳng ta nú rất ―gai mắt‖, khú chịu vỡ trỏi với cỏch viết từ bao đời nay‖ Đặc điểm thứ ba của chuẩn chớnh tả là
―Ngữ õm phỏt triển, chớnh tả khụng thể giữ mói tớnh cố hữu của mỡnh mà dần dần cũng cú một sự biến động nhất định Do đú, bờn cạnh chuẩn mực chớnh tả hiện cú lại cú thể xuất hiện một cỏch viết mới tồn tại song song với nú, vớ dụ:
―phẩm giỏ‖, ―anh zũng‖ bờn cạnh ―phẩm giỏ‖, ―anh dũng‖, ―trau dồi‖ bờn cạnh ―trau giồi‖, ―dũng nước‖ bờn cạnh ―giũng nước‖ tỡnh trạng cú nhiều cỏch viết như vậy đũi hỏi phải tiến hành chuẩn hoỏ chớnh tả‖
Trang 7“giẫm chân tại chỗ”, bó hẹp trong một khung cứng nhắc đã định trước như chuẩn hóa theo hướng quy phạm luận đã được áp dụng ở Việt Nam (đưa ra khung chuẩn rồi từ đó nhận xét, phê phán) Chuẩn hóa tiếng Việt chính là định hướng, tạo điều kiện cho tiếng Việt phát triển đúng hướng
Chuẩn hóa tiếng Việt cần tiến hành từng bước Cụ thể những nội dung nào có thể chuẩn hóa được thì cần phải chuẩn hóa để tạo sự thống nhất trong
sử dụng tiếng Việt ở lĩnh vực giao tiếp chính thức Chẳng hạn, tiếng Việt trong các văn bản hành chính, pháp luật, trong công nghệ thông tin cần được chuẩn hóa, trước hế là chuẩn hóa chính tả Muốn vậy, chuẩn hóa tiếng Việt, trong đó có chuẩn hóa chính tả cần đi trước một bước‖
Chuẩn chính tả tiếng Việt đúng là một yêu cầu cấp bách của công cuộc
―Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt‖ mà Đảng và Nhà nước đặt ra, để giữ gìn bản sắc văn hoá Việt trong xu thế hội nhập quốc tế để chúng ta không bị hoà lẫn vào những cộng đồng khác
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHUẨN CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT 1.2.1 Đặt vấn đề
Sau khi giành độc lập và thống nhất đất nước, xây dựng nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước ta đã quy định tiếng Việt là ngôn ngữ toàn dân và lấy chữ quốc ngữ làm chữ viết chính thức cho tiếng Việt; trải qua quá trình sử dụng lâu dài, chữ Quốc ngữ ( chữ viết tiếng Việt ) đã được sàng
Trang 88
lọc, hướng dần vào quỹ đạo chung để dần định hình quy tắc chính tả Vấn đề chính tả nói chung và chính tả tiếng Việt nói riêng là một vấn đề rất rộng bao gồm nhiều vấn đề nhỏ Đến nay, các cơ quan chức năng cũng rất chú ý đến việc ban hành các văn bản, cẩm nang quy định về chính tả tiếng Việt như: Các từ điển chính tả tiếng Việt ( Hoàng Phê, Chính tả tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội- Đà Nẵng, 1999; Nguyễn Văn Xô, Từ điển chính tả tiếng Việt, NXB Thanh Niên, 2004…) và những quy định khác
về chính tả tiếng Việt; tuy nhiên, đến nay nhiều vấn đề chính tả Tiếng Việt vẫn có một số vấn đề còn gây tranh cãi và chưa đi đến được sự thống nhất, bởi vậy còn thiếu nhất quán, đồng bộ trong quá trình sử dụng, đó là:
1 Cách đặt dấu thanh trong tiếng/ âm tiết
6 Cách sử dụng các loại dấu câu
Nói về vấn đề này, tác giả Vũ Thị Sao Chi trong đề tài nghiên cứu cấp
Bộ [9, 78] viết: ―Hiện nay tồn tại song song hai quy tắc chính tả: Một là cách ghi chính tả theo thói quen truyền thống, tạm gọi là Quy tắc chính tả truyền thống; hai là cách ghi chính tả theo quy định cải cách (giai đoạn cải cách là thập niên 80 của thế kỷ XX) tạm gọi là Quy tắc chính tả theo quy định cải cách Các quan điểm bảo lưu cho 2 quy tắc chính tả này đều đưa ra những cơ
sở khoa học riêng khiến cho một số vấn đề không thống nhất giữa 2 quy tắc này ngày càng trở nên nổi cộm và những cuộc tranh luận dường như chưa thể
đi đến hồi kết Chẳng hạn như vấn đề y/I, vấn đề vụ trí đánh dấu thanh điệu, vấn đề viết hoa danh từ riêng, vấn đề phiên chuyển thuật ngữ và danh từ
Trang 99
riờng tiếng nước ngoài sang tiếng Việt…‖ Vỡ vậy vấn đề chuẩn húa chớnh tả
tiếng Việt vẫn đang là một nhiệm vụ cấp bỏch hiện nay
Trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, chỳng tụi tiến hành nghiờn cứu và tỡm hiểu vấn đề ―Chớnh tả hiệu danh trong tiếng Việt‖ cụ thể là cỏc vấn đề cũn
chưa thống nhất, nhiều quy định cũn chồng chộo nhau như vấn đề viết hoa, viết tắt trờn tư liệu Bỏo Nhõn dõn, Bỏo Sơn La, Cụng bỏo Sơn La
1.2.2 Cỏc quy định về chớnh tả tiếng Việt
Khẳng định vai trũ của nhà nước trong quỏ trỡnh chuẩn húa tiếng Việt núi chung và chuẩn chớnh tả núi riờng, Giỏo sư Nguyễn Văn Khang trong
cuốn Ngụn ngữ học xó hội [25, 503] đó viết: ―Ngụn ngữ là tài sản chung của mọi người, mọi người đều cú quyền lợi và nghĩa vụ trong sử dụng ngụn ngữ (cũn gọi là quyền ngụn ngữ Language right), vỡ thế chuẩn húa ngụn ngữ là cụng việc của mọi người… Nhưng hơn hết, chuẩn húa ngụn ngữ là cụng việc thuộc về nhà nước Đõy cũng là sự thể hiện thỏi độ của nhà nước đối với vấn
đề ngụn ngữ cả trong chớnh sỏch lẫn sự thực thi chớnh sỏch‖
Từ sau độc lập và thống nhất đất nước đến nay, cỏc cơ quan, ban, ngành của nhà nước đó ban hành nhiều quy định về chớnh tả tiếng Việt như:
- Đầu năm 1972, Viện Ngôn ngữ học đã công bố bản Dự thảo quy tắc viết hoa trên Tạp chí "Ngôn ngữ ", số1, 1972
- Ngày 30 tháng11 năm 1980, Bộ giáo dục đã công bố Một số quy định
về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục để áp dụng trong sách giáo
khoa và trong nhà trường
- Ngày 5 tháng 3 năm 1984, Bộ Giáo dục ban hành tiếp Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt
- Năm 1998 cú Quyết định số 09/1998/QĐ-VPCP ngày 25/11/1998 của
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phũng Chớnh phủ ban hành Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản Chớnh phủ và Văn phũng Chớnh phủ
Trang 1010
- Ngày 27 tháng 3 năm 2002 Nhà xuất bản Giáo dục thuộc Bộ Giáo
dục và Đào tạo lại ra Quy định tạm thời về chính tả trong sách giáo khoa mới
- Ngày 21 tháng 7 năm 2002, Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ
điển bách khoa Việt Nam lại ra Quy tắc chính tả tiếng Việt và phiên chuyển tiếng nước ngoài
- Năm 2003, ―Quy định tạm thời về chớnh tả trong sỏch giỏo khoa mới‖
và Quyết định số 07/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 13/3/2003 của Bộ Giỏo dục và Đào tạo về ―Quy định tạm thời về viết hoa tờn riờng trong sỏch giỏo khoa‖
- Thụng tư số 55/2005/TT-LT-BNV-VPCP của Bộ Nội vụ và Văn phũng Chớnh phủ về ―Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trỡnh bày văn bản‖;
- Năm 2006, Bộ Nội vụ dự thảo Quy định về viết hoa và phiờn chuyển tiếng nước ngoài sang văn bản tiếng Việt;
- Thụng tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19 thỏng 01 năm 2011 của Bộ
Nội vụ về thể thức và kỹ thuật trỡnh bày văn bản
Như vậy chỳng ta cú thể thấy rất rừ ràng là cỏc cơ quan, ban ngành đó rất quan tõm đến việc đưa ra những quy định về chớnh tả tiếng Việt nhằm hướng tới những quy định chuẩn chung, cú thể núi những quy định trờn của là rất cần thiết trong thời kỳ cụng nghiệp hoỏ- hiện đại hoỏ đất nước và đó kịp thời đỏp ứng được nhu cầu của thực tế Tuy nhiờn, nhỡn chung những văn bản trờn được ban hành liờn tiếp trong một thời gian ngắn với rất nhiều văn bản và quy định cũng đó cho thấy: những quy định chớnh tả tiếng Việt cũn chồng chộo tạo nờn nhiều quy định, quy tắc và cũng chớnh nhiều quy định trờn đó tạo
ra những điểm chưa được chuẩn hoỏ, chưa cú sự thống nhất cao đó tạo ra những khú khăn trong quỏ trỡnh vận dụng Mặt khỏc, mặc dự cú rất nhiều quy định nhưng lại là quy định riờng của cỏc ngành, cỏc cơ quan mà chưa cú quy định chuẩn chung cho tất cả mang tớnh thống nhất Nhận xột về điều này, GS
Trần Trớ Dừi đó đỏnh giỏ ―Rừ ràng, tớnh nhiều quy định như vậy đó núi lờn
Trang 111.2.3 Vấn đề viết hoa
1.2.3.1 Viết hoa và ý nghĩa của việc viết hoa
Từ khi có chữ quốc ngữ là tiếng Việt đã có lối viết hoa Viết hoa là một thành tựu to lớn, một phát huy đầy trí tuệ mở ra khả năng biểu hiện phong phú
về nhiều mặt của ngôn ngữ; qua lối viết hoa, chữ viết tăng thêm khả năng giá trị khu biệt
Viết hoa là một trong những yêu cầu bắt buộc của chính tả tiếng Việt, viết hoa đúng quy tắc trong văn bản góp phần tăng giá trị, chất lượng của văn bản Viết hoa có nhiều loại: viết hoa cú pháp, viết hoa danh từ riêng, viết hoa
tu từ, viết hoa các trường hợp khác… Mỗi loại viết hoa có một ý nghĩa riêng, như:
Viết hoa cú pháp đánh dấu sự bắt đầu một câu, đoạn văn, văn bản… Điều này có ý nghĩa tạo phân đoạn về phương diện cú pháp, khiến ý tưởng trình bày được mạch lạc, khúc chiết, rõ ràng, người đọc dễ tiếp thu vấn đề
Viết hoa tu từ là lối viết hoa từ chung đã được riêng hoá Danh từ chung, theo nguyên tắc là không viết hoa nếu nó không nằm đầu câu, thế nhưng, trong điều kiện và hoà cảnh nhất định, muốn nhấn mạnh một từ nào đấy, làm cho từ đấy mang sắc thái biểu cảm, thường là sắc thái tôn kính, trân trọng hoặc chỉ sự cao quý, thiêng liêng như: Bác, Đảng, Nhà nước; Trong văn chương nghệ thuật, viết hoa tu từ còn góp phần nhấn mạnh làm nổi bật một từ ngữ nào đó và khiến câu văn có cách diễn đạt độc đáo, mới lạ…
Trang 1212
Viết hoa danh từ riêng chỉ tên người, tên địa lí, tên cơ quan, tổ chức…
có ý nghĩa nhấn mạnh, khẳng định cái riêng, cái cá thể, cái duy nhất và tạo sự trân trọng khi viết các trường hợp như viết hoa các từ chỉ cấp bậc, chức vụ, danh hiệu, ngày Lễ, ngày kỉ niệm…
Các viết hoa còn thể hiện nét thẩm mỹ riêng của chữ viết nói chung và
kĩ năng của từng người viết Nếu chữ hoa đặt đúng vị trí, viết đúng quy cách chính tả thì người sử dụng lối viết được xem là chuẩn chính tả Chính vì những ý nghĩa rất riêng của viết hoa như vậy nên càng phải chú ý viết hoa đúng quy tắc, tránh việc viết hoa tràn lan
1.2.3.2 Quy định về viết hoa trong tiếng Việt
a) Sơ lược về quy tắc viết hoa trong Tiếng Việt
Đến năm 1983, Hội đồng ―Chuẩn hoá chính tả‖ và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã ký chung một quyết định có nội dung về ―Những quy định về chính tả tiếng Việt‖; đến năm 1984 có Quyết định số 240/QĐ của Bội GD-ĐT ngày 05/3/1984 ban hành Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt; năm 1998 có Quyết định số 09/1998/QĐ-VPCP ngày 25/11/1998 của
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản Chính phủ và Văn phòng Chính phủ; Năm 2002 và năm 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo―Quy định tạm thời về chính tả trong sách giáo khoa mới‖ và Quyết định số 07/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 13/3/2003 về
―Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa‖ Ngoài ra, Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam trong Hội nghị toàn thể ngày 3-4/5/2000, sau khi lấy ý kiến của các uỷ viên Hội đồng và được Ban Thường trực thông qua cũng đã ban hành ―Quy tắc chính tả và phiên chuyển tiếng nước ngoài của tiếng Việt‖; năm 2006, Bộ Nội vụ dự thảo Quy định về viết hoa và phiên chuyển tiếng nước ngoài sang văn bản tiếng
Trang 1313
Việt… Rõ ràng tình trạng nhiều quy định như vậy đã nói lên rằng vấn đề viết hoa trong tiếng Việt chưa được thống nhất
Tác giả Phạm Tất Thắng đã cho thấy vấn đề viết hoa trong tiếng Việt
còn nhiều bất cập: ―Riêng về viết hoa có thể thấy hiện nay còn có quá nhiều bất cập, đặc biệt là khi viết hoa tên cơ quan tổ chức, các chức danh, nhất là viết hoa với mục đích tu từ Việt viết hoa tràn lan như hiện nay không những chỉ thể hiện những khiếm khuyết mang tính ngôn ngữ của quy tắc chính tả, mà trên phương diện nào đó làm giảm một phần đáng kể tính uy nghi của văn bản như một công cụ quan trọng thể hiện quyền lực nhà nước Do đó, một mặt cần nghiên cứu kỹ lưỡng, mặt khác cần khẩn trương để sớm có được những quy định chặt chẽ trong lĩnh vực này‖ [20, 65]
b) Các quy tắc cách viết hoa trong chính tả tiếng Việt
Viết hoa có nhiều loại: viết hoa cú pháp, viết hoa danh từ riêng, viết hoa tu từ, viết hoa các trường hợp khác, cụ thể:
- Viết hoa cú pháp: là viết hoa để đánh dấu sự bắt đầu của một câu,
đoạn, văn bản Cứ mở đầu mỗi câu, đoạn, văn bản thì chữ cái đầu tiên phải viết hoa Đây là lối viết hoa bắt buộc của quy tắc chính tả tiếng Việt và nhìn chung được thực hiện thống nhất, triệt để trong cả nước Bất kỳ ai soạn thảo văn bản tiếng Việt đều phải nghiêm túc tuân thủ quy định này Ngoài những chỗ mở đầu văn bản, đoạn văn thì căn cứ vào các dấu hiệu sau đây để viết hoa
Trang 1414
Cần phân biệt là các trường hợp sau dấu hai chấm và dấu ba chấm vì không phải khi nào cũng viết hoa Không viết hoa khu sau hấu hai chấm là những từ ngữ mang tính liệt kê đơn thuần, hay khi dấu ba chấm biểu thị ý nghĩa liệt kê tương tự, tiếp diễn, nằm ở giữa câu
- Viết hoa danh từ riêng: Theo công trình Hoạt động của từ tiếng Việt
của Đái Xuân Ninh ―Danh từ riêng là tên gọi của một người, một vật, một tập thể riêng biệt Danh từ riêng phân biệt rõ rệt vớ danh từ chung về mặt ngữ chức năng ngữ nghĩa Danh từ chung là tên gọi của một loại sự vật, chứ không phải của từng sự vật riêng biệt Chúng khác với danh từ riêng ở chỗ bao giờ chúng cũng chứa đựng một nội dung ý nghĩa nhất định, kể cả những trường hợp mà chúng chủ là tên gọi của một đối tượng duy nhất (mặt trời, quả đất…)‖[28, 161]
Thể hiện trên văn bản tiếng Việt, theo quy ước, danh từ riêng mang dấu hiệu hình thức đặc thù là được viết hoa Viết hoa danh từ riêng bao gồm các trường hợp: tên người; tên riêng địa lí; tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể; tên văn bản, sách báo, tác phẩm; tên ngày lễ; tên các sự kiện lịch sử; tên các tôn giáo, giáo phái; tên các dân tộc; … Tuy nhiên, thực tế chính tả trong văn bản nói chung, văn bản hành chính nói riêng lại không đơn giản như vậy Theo nhận
xét của Nguyễn Văn Tu trong chuyên luận Tiếng Việt trên được phát triển thì:
―Viết hoa các danh từ riêng như thế nào là một vấn đề không ổn định và cho đến nay hầu như không có sự thống nhất‖ [32,229]
- Viết hoa nhân danh: Hiện nay, theo quy định hiện hành, cách viết hoa
tên người đã được chuẩn hóa, thống nhất Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm
tiết của tên người Ví dụ: Nguyễn Chí Thanh, Vũ Đức Thọ…
- Viết hoa địa danh: Danh từ riêng chỉ tên địa lý bao gồm tên địa phận
hành chính; tên sông nước, núi non; tên vùng miền, khu vực… Hiện nay phân biệt hai loại địa danh: địa danh Việt Nam và địa danh nước ngoài được phiên
Trang 15c) Trường hợp viết hoa đặc biệt: Thủ đô Hà Nội
d) Tên địa lý được cấu tạo giữa danh từ chung chỉ địa hình (sông, núi,
hồ, biển, cửa, bến, cầu, vũng, lạch, vàm v.v…) với danh từ riêng (có một âm tiết) trở thành tên riêng của địa danh đó: Viết hoa tất cả các chữ cái tạo nên
địa danh Ví dụ: Cửa Lò, Vũng Tàu, Lạch Trường, Vàm Cỏ, Cầu Giấy…
Trường hợp danh từ chung chỉ địa hình đi liền với danh từ riêng: Không
viết hoa danh từ chung mà chỉ viết hoa danh từ riêng Ví dụ: biển Cửa Lò, chợ Bến Thành, sông Vàm Cỏ, vịnh Hạ Long…
đ) Tên địa lý chỉ một vùng, miền, khu vực nhất định được cấu tạo bằng
từ chỉ phương hướng kết hợp với từ chỉ phương thức khác: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi Đối với tên địa lý chỉ vùng miền riêng được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với danh từ chỉ địa hình
thì phải viết hoa các chữ cái đầu mỗi âm tiết Ví dụ: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc
Bộ, Nam Kỳ, Nam Trung Bộ…
Trang 16- Viết hoa tên cơ quan tổ chức: Tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức, xí
nghiệp, công ty, sở, phòng, ban, trường học… được dùng như những tên riêng mặc dù chúng có cấu tạo không nhất thiết là danh từ riêng hoặc chỉ chứa vài danh từ riêng Trong các trường hợp viết hoa danh từ riêng, việc viết hoa tên riêng của cơ quan, tổ chức thiếu thống nhất xảy ra nhiều nhất và cũng là vấn
đề gây tranh luận nhiều nhất hiện nay
- Viết hoa tu từ: Là lối viết đặc tả, mang sắc thái ý nghĩa biểu cảm,
muốn biểu hiện riêng hóa cái chung của một từ nào đó một cách có ý thức Lối viết này, thường đối với các danh từ chung, ý nghĩa tu từ là nhằm biểu đạt các hiện tượng, sự vật, năm, tháng, ngày… có tính chất biểu tượng, chỉ có một mà thôi Ví dụ: Cách mạng Tháng Tám; Ngày vì Trẻ em…
Tuy nhiên, trong văn bản hành chính không có viết hoa tu từ để nhấn mạnh hoặc để trang trí mà chỉ có viết hoa để thể hiện sự tôn kính Đó là các trường hợp viết hoa khi ghi tước vị, cấp bậc, chức vụ hoặc các yếu tố khác gắn với tên riêng, đặc biệt là các bậc danh nhân Ở lối viết hoa này, quy định của Nhà nước cũng chưa được chặt chẽ, rõ ràng, dẫn tới thực trạng còn tồn tại
Trang 1717
nhiều cách viết, không thống nhất Trong Thông tư số 01/2011/TT-BNV của
Bộ Nội vụ có quy định:
―2 Tên chức vụ, học vị, danh hiệu
Viết hoa tên chức vụ, học vị nếu đi liền với tên người cụ thể
- Giáo sư Viện sĩ Nguyên Văn H., Tiến sĩ khoa học Phạm Văn M…
3 Danh từ chung đã riêng hóa
Viết hoa chữ cái đầu của từ, cụm từ chỉ tên gọi đó trong trường hợp dùng
trong một nhân xưng, đứng độc lập và thể hiện sự trân trọng Ví dụ: Bác, Người (chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh), Đảng (chỉ Đảng Cộng sản Việt Nam),…‖
Đến nay, dù có đôi điểm chưa thống nhất, nhưng cách viết hoa cú pháp
và viết hoa tu từ về đại thể đã đạt đến quy cách sử dụng tương đối ổn định, thống nhất trong các lĩnh vực nói chung và trong văn bản hành chính tiếng Việt nói riêng, vấn đề viết hoa hiệu danh hiện nay còn nhiều tranh cãi và chưa
có quy định thống nhất, cụ thể
1.2.4 Viết hoa tên cơ quan, tổ chức
Tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức, xí nghiệp, công ty, sở, phòng, ban, trường học… được dùng như những tên riêng mặc dù chúng có cấu tạo không nhất thiết là danh từ riêng hoặc chỉ chứa vài danh từ riêng Trong các trường hợp viết hoa danh từ riêng, việc viết hoa tên riêng của cơ quan, tổ chức thiếu thống nhất xảy ra nhiều nhất và cũng là vấn đề gây tranh luận nhiều nhất hiện
nay
Trang 1818
Theo quy định tạm thời về viết hoa trong Quyết định số VPCP ngày 25/11/1998 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản Chính phủ và Văn phòng
09/1998/QĐ-Chính phủ là ―Viết hoa chữ cái đầu tiên của âm tiết thứ nhất, âm tiết chỉ cấp, chức năng và âm tiết chỉ biệt hiệu tạo thành tên riêng‖ [36, Điều 6, khoản 1]
Theo quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa ban hành kèm theo Quyết định số 07/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 13/3/2003 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về ―Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa‖, quy tắc viết hoa tên cơ quan, tổ chức là: ―Viết hoa các chữ cái
đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết của các bộ phận tạo thành tên riêng‖
Tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định quy tắc viết hoa tên cơ quan, tổ chức của Việt Nam là:
―Viết hoa chữ cái đầu của các từ, cụm từ chỉ loại hình cơ quan, tổ chức; chức năng, lĩnh vực hoạt động của cơ quan tổ chức‖ [6, phụ lục VI]
- Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định;
- Đối với tên cơ quan, tổ chức nước ngoài:
―Tên cơ quan, tổ chức nước ngoài đã dịch nghĩa: Viết hoa theo quy tắc viết tên cơ quan, tổ chức của Việt Nam.‖
Ví dụ: Liên hợp quốc (UN); Tổ chức Y tế thế giới (WHO); Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN);…
Trang 1919
―Tờn cơ quan, tổ chức nước ngoài được sử dụng trong văn bản ở dạng viết tắt: Viết bằng chữ in hoa như nguyờn ngữ hoặc chuyển tự La-tinh nếu nguyờn ngữ khụng thuộc hệ La-tinh‖
Vớ dụ: WTO; UNDP; UNESCO; SARBICA; SNG…”
Mặc dự cú nhiều văn bản quy định về vấn đề viết hoa tờn cơ quan, tổ chức nhưng thực tế ỏp dụng vẫn xảy ra những chỗ thiếu thống nhất và đõy cũng là vấn đề gõy tranh luận nhiều nhất hiện nay Nguyờn nhõn chủ yếu là tờn cơ quan, tổ chức gồm nhiều thành tố gõy khú khăn trong việc phõn biệt ranh giới cỏc thành tố dẫn đến việc viết hoa cảm tớnh và tràn lan
Trong cụng trỡnh nghiờn cứu cấp bộ về chớnh tả hiệu danh tiếng Việt, Giỏo sư Nguyễn Văn Khang [22] đó khảo sát và chứng minh viết hoa hiệu danh thường được viết theo 4 cách như sau:
(1) Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu Ví dụ: Viện ngôn ngữ học
(2) Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu và chữ cái đầu của từ đầu tiên
của thành phần thứ hai Ví dụ: Viện Ngôn ngữ học
(3) Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu và chữ cái đầu của các từ Ví
dụ: Liên đoàn Lao động; Ban Tôn giáo tỉnh
(4) Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của các âm tiết Ví dụ: Nhà Xuất Bản Văn Hoá Dân Tộc
Đồng thời tỏc giả tỏch ra thờm Kiểu loại thứ (5) là những hiệu danh chỉ gồm hai thành phần cấu thành là A+C (hoặc D) Do nó có thể nằm trong cả ba kiểu (2), (3), hay (4) cho nên tạm thời xếp chúng ra một loại riêng nhằm có cái nhìn chính xác về tỉ lệ các cách viết hoa khác nhau
Nhận ra sự cần thiết phải phân tích cấu trúc của tên cơ quan, tổ chức, các tác giả như Ngọc Văn (1979), Nguyễn Trọng Báu (1982, 2000), Đặng Ngọc Lệ (1998, 2001), Phạm Hùng Việt (2000) đã phân tích cấu trúc tên các
Trang 2020
cơ quan, tổ chức thành nhiều thành tố Có thể quy thành bốn thành phần nh- sau:
A Thành phần chỉ loại hình đơn vị, cơ quan, tổ chức, đoàn thể (thờng là
các đơn vị phân cấp thuộc hệ thống của bộ máy nhà nớc) Ví dụ: bộ, sở, cục,
vụ, viện, trờng, uỷ ban, nhà máy, xí nghiệp,
B Thành phần chỉ chức năng, nhiệm vụ, tính chất, đối tượng tác động
hoặc sản phẩm của cơ quan, đơn vị đó Ví dụ: nghiên cứu, quản lý, dịch vụ, sản xuất, (viện) ngôn ngữ học, (viện) tâm lý học, (nhà máy) bia,
C Thành phần chỉ danh hiệu, tên danh nhân Ví dụ: (Nhà máy in) Trần Phú, (Khách sạn) Thắng Lợi,
D Thành phần chỉ địa điểm, nơi cơ quan đóng Ví dụ: ( ) Hà Nội, ( ) Lào Cai, ( ) Hà Giang,
Tỏc giả Vũ Thị Sao Chi trong đề tài nghiờn cứu cấp Bộ đó hệ thống về cấu tạo của tờn gọi của cơ quan, tổ chức như sau:
Tờn gọi của cơ quan, tổ chức nếu đầy đủ nhất, bao gồm 4 thành tố hợp thành: thành tố chủ loại hỡnh tổ chức chung; thành tố chỉ loại hỡnh tổ chức riờng gắn với chức năng, nhiệm vụ, tớnh chất chuyờn mụn; thành tố biệt danh; thành tố chỉ địa điểm Cụ thể:
- Thành tố thứ nhất chỉ loại hỡnh tổ chức thể hiện sự phõn cấp trong bộ mỏy quản lý (chẳng hạn: bộ, cục, phũng, ban, hội đồng,…); hoặc thể hiện lĩnh vực hoạt động của cơ quan tổ chức (chẳng hạn: cụng ty, nhà mỏy, bệnh viện, trường…) Đõy là thành tố chỉ loại hỡnh chung của tổ chức Thành tố này cú thể cú cấu tạo là từ đơn hoặc từ phức Cỏch viết hoa chỳng là viết hoa chữ cỏi của õm tiết đầu tiờn của thành tố Vớ dụ: Bộ (X), Nhà mỏy (Y)…[9, 136]
- Thành tố thứ hai là bộ phận chỉ loại hỡnh tổ chức riờng gắn với chức năng, nhiệm vụ, tớnh chất chuyờn mụn của cơ quan, tổ chức Về mặt cấu trỳc
ngữ phỏp, bộ phận này cú thể là 1 từ (tư phỏp, thương mại, tài chớnh), hoặc 1
Trang 2121
cụm từ (cán bộ quản lý, khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, quản lý dự án đê điều…), hoặc nhiều từ/cụm từ (đại học và trung học chuyên nghiệp, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn,…) Về mặt cấu trúc nội
dung, ý nghĩa, bộ phận này có thể chỉ một chức năng, nhiệm vụ, chuyên môn
(nội vụ, tư pháp, ngoại giao), hoặc nhiều chức năng, nhiệm vụ, chuyên môn (giáo dục và đào tạo, nông nghiệp và phát triển nông thôn, lao động – thương binh và xã hội, nông lâm, cơ khí luyện kim…), có khi có cả yếu tố chỉ rõ cấp bậc hay trình độ chuyên môn (đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp, cao cấp,
…) Nên thống nhất quy tắc viết hoa thành tố này là chỉ viết hoa chứ cái đầu
của âm tiết thứ nhất của từ/ cụm từ chỉ mỗi chức năng, nhiệm vụ, tính chất
của cơ quan, tổ chức Ví dụ: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội đồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Ban Quản lý đê điều,
…[9, 136]
Thành tố thứ ba là bộ phận chỉ tên riêng hay còn gọi là biệt danh của cơ
quan, tổ chức Ví dụ: Thống Nhất (bệnh viện), Nguyễn Trãi, Văn Lang (trường), Tài Hoa Trẻ (tạp chí)… Thành tố này có thể là tên người hoặc danh
từ chung được cá biệt hóa [9, 140]
Thành tố thứ tư là bộ phận chỉ địa điểm hoặc phạm vi lãnh thổ (địa danh) nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở hoặc trụ trì hoạt động Thành tố này
được viết hoa như viết địa danh Ví dụ: Hà Nội, Ba Đình, Đông Nam Bộ… [9,
141]
Về các quy định viết hoa hiện nay và thực trạng viết hoa đang diễn ra,
tác giả Vũ Thị Sao Chi trong đề tài nghiên cứu cấp bộ đã đánh giá: ―Có thể nói, để đi đến được một quy tắc chuẩn về viết hoa là vấn đề không đơn giản, phải dựa trên các nghiên cứu khoa học và được khảo sát thật triệt để Trên thực tế, khó có thể có được một tiêu chuẩn hoàn toàn chuẩn Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng viết hoa tùy tiện, thiếu đồng bộ, thống nhất, thiếu ổn
Trang 2222
định và mang tính tự phát như hiện nay, dù khó khăn đến mấy cũng cần phải
cố gắng lựa chọn, xây dựng được một quy tắc có cơ sở khoa học, đạt được sự thống nhất để làm cái khung chung Về tính pháp lý của vấn đề, Nhà nước cần sớm ban hành quy định thống nhất chung về việc viết hoa trên tất cả các lĩnh vực giao tiếp có tính quy thức như trong văn bản khoa học, văn bản hành chính, văn bản báo chí… Các quy định cần rõ ràng với hướng dẫn, chỉ dẫn cụ thể để dễ dàng, thuận tiện cho việc hiểu và áp dụng…‖ [9,143-144]
Trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề vấn đề gây tranh luận nhiều nhất hiện nay đó là cách viết hoa hiệu danh (tên cơ quan, tổ chức ) trên tư liệu các báo (Báo Sơn La, Công báo Sơn La, Báo Nhân dân)
1.2.5 Vấn đề viết tắt
1.2.5.1 Viết tắt và ý nghĩa của việc viết tắt
Ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người phục vụ cho nhu cầu đó một cách hiệu quả nhất để sao cho trong cùng một đơn vị thời gian, thì lượng thông tin truyền và nhận là nhiều nhất, đồng thời đảm bảo tiết kiệm không gian nhất Và như một nhu cầu tất yếu, ngôn ngữ đã tìm đến một phương cách thông minh, đó là "viết tắt" "Viết tắt" ra đời
và phát huy rất tốt những mặt tích cực của nó Viết tắt đúng chỗ, đúng lúc có tác dụng tiết kiệm không gian, thời gian Viết tắt là một cách viết giản lược,
bỏ bớt một số chữ sao cho từ (ngữ) được viết ngắn gọn hơn Viết tắt (và nói tắt) là một nhu cầu bình thường với mọi ngôn ngữ nhằm đơn giản hoá và tiết kiệm ngôn từ
Xu hướng viết tắt ngày càng phổ biến và đắc dụng trong các văn bản viết hiện nay, viết tắt có tác dụng tránh cách viết dài dòng không cần thiết Những từ, cụm từ chỉ tên cơ quan, tổ chức, tên các doanh nghiệp rất dài khi được rút gọi thành tên viết tắt tạo thuận lợi cho giao dịch, trao đổi công việc
Trang 2323
Đặc biệt hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập, toàn cầu hoá rất nhiều các công ty, doanh nghiệp tổ chức được thành lập Bên cạnh những tên đầy đủ thì hầu như mỗi cơ quan, tổ chức, công
ty đều sử dụng một tên viết tắt để phục vụ cho mục đích giao dịch Thực tế cho thấy ―tên viết tắt‖ lại được sử dụng phổ biến và thông dụng hơn so với tên đầy đủ
Tuy nhiên, nếu viết tắt không hợp lý, sẽ gây ra tình trạng lộn xộn dễ hiểu nhầm ý nghĩa, dẫn đến phản tác dụng Vì vậy phải thực hiện viết tắt đúng nơi, đúng chỗ và hợp lý
Viết tắt trong tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm PGS.TS Vũ Kim Bảng trong công trình nghiên cứu cấp Bộ
đã khái quát về những quá trình nghiên cứu vấn đề viết tắt trong tiếng Việt như sau: ―Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 70 đã có những bài viết đầu tiên về vấn đề viết tắt của tác giả Nguyễn Kim Thản (1968) Sau đó là các bài viết của các tác giả Võ Huỳnh Mai(1976), Trần Ngọc Thêm (1977, 1978, 1979,1981), Nguyễn Đức Dân (1978, 1991), Trịnh Liễn (1978), Nguyễn Trọng Báu (1981), Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Yăn Tu, Nguyễn Trọng Báu(1982) Các tác giả tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau song đều
có điểm chung là đề cập đến 2 vấn đề cơ bản là cấu tạo và phân loại của các đơn vị tắt trong tiếng Việt‖
Các tác giả Nguyễn Văn Khang, Vũ Kim Bảng trong các công trình nghiên cứu sau này cũng thống nhất con đường hình thành của các định danh tắt trong tiếng Việt như sau:
- Rút gọn từ định danh đầy đủ bằng tiếng Việt
- Từ định danh đầy đủ bằng tiếng Việt —> dịch sang tiếng Anh —> rút gọn lại thành định danh tắt
Như vậy, vấn đề viết tắt trong tiếng Việt cũng đã được nghiên cứu khá
Trang 2424
kĩ trên nhiều phương diện
a) Viết tắt theo quy định thể thức trong văn bản hành chính
Do đặc điểm phong cách riêng của văn bản hành chính, tính chính xác
và tính khuôn mẫu rất cao, cho nên viết tắt trong văn bản hành chính phải tuân theo những quy định của nhà nước trong Thông tư 01 và Thông tư 55 của Bộ Nội vụ Đây là những quy định mang tính pháp lý đòi hỏi phải thực hiện đúng theo khuôn mẫu; gồm những trường hợp sau đây:
1) Viết tắt tên cơ quan ban hành văn bản: Tại Điều 7, Thông tư 01 có
quy định: ―Tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản phải được ghi đầy đủ hoặc được viết tắt theo quy định tại văn bản thành lập Tên của cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp cỏ thể viết tắt những cụm từ thông dụng như ủy ban nhân dán (UBND), Hội đồng nhân dân (HĐND), Việt Nam (VN) ” [6, Điều
7]
- Tên cơ quan cũng được quy định viết tắt trong thành phần số và kí hiệu văn bản tại Điều 8 Thông tư 01 Tên mỗi cơ quan, tổ chức được viết tắt như thế nào phải có văn bản quy định của cơ quan, tổ chức đó Vì vậy đây là những trường họp viết tắt theo quy định có tính pháp lí
2) Viết tắt tên loại văn bản: được quy định rất chặt chẽ, cụ thể tại Điều
8, Thông tư 01 "Ký hiệu của văn bản có tên loại bao gồm chữ viết tắt tên loại văn bản theo bảng chữ viết tắt tên loại văn bản và bản sao kèm theo Thông tư này [Phụ lục I, Điều 8]
3) Viết tắt một số từ, cụm từ khuôn mẫu: Trong VBHC có một số từ, cụm từ được quy định viết tắt mang tính khuôn mẫu rất cao Thành phần quyền hạn của người có thẩm quyền tại Điều 12 Thông tư 01 quy định cách ghi các chữ viết tắt quyền hạn như: TM.( Ký thay mặt), KT.(Ký thay), TL.(
Ký thừa lệnh), TUQ ( Ký thừa ủy quyền) vào trước tập thể lãnh đạo hoặc tên
cơ quan, tổ chức hoặc trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan
Trang 2525
b) Viết tắt lâm thời
Những trường hợp từ, cụm từ xuất hiện thường xuyên, liên tục trong một văn bản thì cũng được cá nhân soạn thảo văn bản hoặc cơ quan, đơn vị ban hành văn bản quy ước viết tắt để tiện cho việc sử dụng trong văn bản Đó gọi là viết tắt lâm thời Cách viết tắt này chỉ có tính chất lâm thời, không cố định, không mang tính pháp lí, chỉ được dùng trong một phạm vi sử dụng nhất định và ý nghĩa của từ, cụm tứ viết tắt đó chỉ có ý nghĩa trong văn bản
đó Thông tư 01 có quy định như sau:“Chỉ được viết tắt những từ, cụm từ thông dụng, những từ thuộc ngôn ngữ tiếng Việt dễ hiểu Đối với những từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần trong văn bản thì có thể viết tắt, nhưng các chữ viết tắt lần đầu của từ, cụm từ phải được đặt trong dấu ngoặc đơn ngay sau từ, cụm từ đó‖[6, Điều 11]
1.2.5.2 Vấn đề viết tắt tên cơ quan, tổ chức theo quy ước chung
Tên các cơ quan, tổ chức được viết tắt thông thường dựa theo những quy ước chung của xã hội, dần dần nhiều nơi dùng và trở thành quy luật Do
đó, cách viết tắt này có tính quy ước và mang tính pháp lý Tên viết tắt của các cơ quan, tổ chức sẽ được quy định trong các văn bản của nhà nước hoặc của các cơ quan, tổ chức (văn bản thành lập hoặc văn bản quy định chức năng nhiệm vụ của cơ quan) Thực tế các cách viết tắt tên cơ quan, tổ chức rất đa dạng; Theo kiểu cấu tạo có 3 loại: kiểu viết tắt theo tiếng Việt, kiểu viết tắt có nguồn gốc từ tiếng Anh, kiểu cấu tạo kết hợp cả tiếng Anh và tiếng
Việt; Theo phương thức cấu tạo có 03 loại: Phương thức ghép; Phương thức rút gọn; Phương thức hỗn hợp Cụ thể:
1) Các kiểu cấu tạo viết tắt tên cơ quan, tổ chức:
- Kiểu viết tắt theo tiếng Việt (dựa trên phương thức rút gọn từ định danh đầy đủ bằng tiếng Việt) Tên các công ty đầy đủ thường dài nên được rút gọn lại bằng các tên riêng tiếng Việt Gồm nhiều kiểu khác nhau: lấy
Trang 2626
nguyên tên riêng hay ghép, rút gọn tên riêng, tên có dấu hoặc không dấu làm tên viết tắt, rút gọn hoặc ghép các chữ cái
- Kiểu viết tắt có nguồn gốc từ tiếng Anh Hiện nay, các doanh nghiệp
mở rộng giao dịch không chỉ trong phạm vi trong nước mà còn vươn ra khu vực quốc tế, cho nên các doanh nghiệp thường chọn tên viết tắt bằng tiếng Anh để tiện cho việc giao dịch Kiểu viết tắt này chia thành 2 loại: Cách viết tắt do người nước ngoài cấu tạo và cách viết tắt do người Việt Nam cấu tạo Hầu hết tên viết tắt cấu tạo theo tiếng Anh đều được định từ tên đầy đủ từ tiếng Việt dịch sang tiếng Anh sau đó lấy các chữ cái đầu của tên đã dịch làm tên viết tắt, bỏ qua các mạo từ (the), giới từ (in, on, of, ) Ví dụ: TECHCOMBANK- Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Technological and Canmercail Joint stock Bank); PETROVIETNAM - Tập
Đoàn Dầu khí quốc gia Việt nam -VIETNAM OIL AND GAS GROUP
- Kiểu cấu tạo kết hợp cả tiếng Anh và tiếng Việt: Kiểu viết tắt này xuất hiện không theo quy định nào cả nhưng trong thực tế lại được sử dụng nhiều Ví dụ: Hoa Sen Group- Tập đoàn Hoa Sen
2) Về phương thức cấu tạo viết tắt tên cơ quan, tổ chức trong văn bản hành chính nói riêng và văn bản nói chung cũng có những loại sau:
- Phương thức ghép: là phương thức cấu tạo được sử dụng chủ yếu
trong tên viết tắt; là phương thức ghép các chữ cái đầu tiếng trong tiếng Việt
và trong tiếng Anh là ghép các chữ cái đầu từ Ví dụ: ĐTNCSHCM - Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; BCĐ VSATTP - Ban chỉ đạo vệ sinh an toàn thực phẩm
- Phương thức rút gọn: là phương thức thực hiện thao tác lược đi những đơn vị được cho là mang thông tin thứ yếu giữ lại các đơn vị mang thông tin chính yếu Ví dụ: Hội khuyến học Việt Nam (Hội khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam)
Trang 2727
Ưu điểm của phương thức này là tạo nên những tên viết tắt gần với tên đầy đủ, cung cấp cho đối tượng tiếp nhận những thông tin chính yếu mà không phải qua 1 lần giải mã ngôn ngữ nữa Hạn chế là nếu người tiếp nhận thông tin chủ yếu là người Việt thì không phải ai cũng hiểu được chức năng, phạm vi hoạt động của tổ chức đó
- Phương thức hỗn hợp: là vừa sử dụng phương thức ghép, vừa sử dụng phương thức rút gọn, viết tắt các thông tin chính yếu, rút gọn những từ mang thông tin thứ yếu Phương thức này cho phép tên viết tắt tiết kiệm tối đa các
kí tự
Độ dài ký tự tên viết tắt cũng khác nhau, được xác định bằng số lượng các ký tự mà nó biểu thị.Trong đó độ dài ký tự tối thiểu là 2 và độ dài trung bình thông thường là 5-6 ký tự Độ dài ký tự này là hợp lý và được sử dụng hiệu quả trong VBHC Như vậy, với những ưu điểm của mình, tên viết tắt tỏ
ra có lợi thế hơn hẳn so với tên đầy đủ vì sử dụng số lượng ký tự ít hơn hẳn
Trong phạm vi tìm hiểu của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập và quan tâm đến những vấn đề viết tắt cơ bản, chủ yếu nhất đó là viết tắt hiệu danh (tên cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ) theo quy ước chung trên cơ sở khảo sát tư liệu Báo Sơn La, Công báo Sơn La, Báo Nhân dân
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Việc viết hoa và viết tắt có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với chính
tả và chuẩn chính tả tiếng Việt: Viết tắt đúng chỗ, đúng lúc có tác dụng tiết kiệm không gian, thời gian, viết tắt là nhu cầu tất yếu của cuộc sống; Viết hoa đúng quy tắc trong văn bản góp phần tăng giá trị, chất lượng của văn bản…
Qua hệ thống lý thuyết trên, chúng tôi nhận thấy, hiện nay, có khá nhiều quy định về vấn đề chính tả tiếng Việt nói chung và vấn đề viết hoa, viết tắt hiệu danh tiếng Việt nói riêng, có thể nói những quy định trên là rất cần thiết trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và đã kịp thời
Trang 28các vấn đề còn chưa thống nhất, nhiều quy định còn chồng chéo nhau như vấn
đề viết hoa, vấn đề viết tắt trên tư liệu các báo: Báo Nhân dân, Báo Sơn La,
Công báo Sơn La để từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần chuẩn hóa cách viết hoa, viết tắt hiệu danh trong tiếng Việt
Trang 2929
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CÁCH VIẾT CHÍNH
TẢ HIỆU DANH QUA MỘT SỐ TRANG BÁO (CÔNG BÁO SƠN LA; BÁO SƠN LA; BÁO NHÂN DÂN)
2.1 THỰC TRẠNG CÁCH VIẾT CHÍNH TẢ HIỆU DANH TẠI
“CÔNG BÁO SƠN LA”
2.1.1 Thực trạng viết hoa hiệu danh tại “Công báo Sơn La”
Qua khảo sát 15 số Công báo Sơn La năm 2016, với 129 văn bản hành chính của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La chúng tôi
thống kê được 401 tên cơ quan, tổ chức được sử dụng Qua cách phân chia
các cách viết hoa của Giáo sư Nguyễn Văn Khang [22], chúng tôi có kết quả như sau:
BÁO
Cách (1) Cách (2) Cách (3) Cách (4) Cách (5)
Số đơn
vị
Tỷ lệ
%
Số đơn
vị
Tỷ
lệ
% Công báo
Sơn La 16 3,99 141 35,16 239 59,6 0 0 5 1,25
Qua bảng tổng hợp, phân loại trên chúng tôi nhận thấy: Nhìn chung tên các cơ quan, đơn vị tại Công báo Sơn La đa số được viết hoa theo kiểu thứ (3) với 239 đơn vị chiếm tỷ lệ 59,6%, kiểu viết hoa này khá đồng nhất với quy định viết hoa tại Thông tư 01 [6] của Bộ Nội vụ, chứng tỏ các văn bản tại hành chính này đã thực hiện, cập nhật những quy định mới đã ban hành theo Thông tư liên tịch hướng dẫn về thể thức và cách kỹ thuật trình bày văn bản
số 55/ 2005/TTLT-BNV- VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ ban hành và Thông tư hướng dẫn số 01/2011/TT- BNV ngày 19 tháng 01 năm 2011 thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành
Trang 3030
chính Những quy định này đã lập thành bộ tiêu chuẩn về thể thức văn bản quản lí nhà nước, được phổ biến và áp dụng rộng rãi, thống nhất trong tất cả các cơ quan nhà nước
Tuy nhiên, do hiện nay trên Công báo Sơn La vẫn đang tồn tại 04 cách viết hoa khác nhau nên chúng ta cũng có thể thấy trên Công báo Sơn La có tình trạng viết hoa tên cơ quan, tổ chức chưa có sự thống nhất cao
Dựa vào cách phân tích cấu tạo hiệu danh của Giáo sư Nguyễn Văn Khang tại công trình nghiên cứu cấp bộ [22], hiệu danh tiếng Việt được chia làm 4 thành phần Chúng tôi tiến hành khảo sát và phân loại các kiểu viết này trên Công báo Sơn La như sau:
(2) A1+B10(+C/D) 141 35,16
Ban Chỉ đạo 69 tỉnh (văn bản 25); Phòng Tư pháp thành phố (văn bản 26)…
(3) A1+B1(1)(+C/D) 239 59,6
Phòng Tài nguyên và Môi trường (văn bản 27); Ban Tiếp Công dân tỉnh Sơn La (văn bản 16)… (4) A11+B11(+C/D) 0 0
Trang 3131
Bỏo Sơn La (văn bản 8); Sở Thụng tin và Truyền thụng (Văn bản 26); Tỉnh ủy (văn bản 41)…
Qua bảng phõn loại trờn chỳng ta cú thể thấy, trờn Cụng bỏo Sơn La, việc viết hoa hiệu danh thường được cấu tạo với 02 mụ hỡnh phổ biến là: A+B(+C/+D): hai yếu tố C và D có thể có hoặc không, gồm 396 đơn vị, chiếm 98,75% tổng số
A+C/+D: không có yếu tố B, gồm 05 đơn vị, chiếm 1,25% tổng số Tỡnh trạng khụng thống nhất trong cỏc cỏch viết hoa tại Cụng bỏo Sơn
La được thể hiện như: Cựng một tờn một cơ quan, tổ chức nhưng lại cú những cỏch viết hoa khỏc nhau Vớ dụ:
- Trong cựng một văn bản số 5, cú 2 cỏch viết tờn cơ quan, và cú tới 3 cỏch viết tờn cơ quan này tại Cụng bỏo Sơn La như sau:
Viện Kiểm sỏt nhõn dõn tỉnh ( tại văn bản số 5)
Viện kiểm sỏt nhõn dõn tỉnh( tại văn bản số 5)
hay: Viện Kiểm sỏt Nhõn dõn (văn bản số 7)
- Mỗi văn bản lại cú cỏch viết khỏc nhau về cựng một cơ quan như:
Tũa ỏn Nhõn dõn tỉnh (tại văn bản số 7)
Tũa ỏn nhõn dõn tỉnh (văn bản số 26)
hay:
Ủy ban Nhõn dõn huyện Mường La (văn bản số 95)
Ủy ban nhõn dõn tỉnh (văn bản số 37)
Theo quan điểm tờn gọi của cơ quan, tổ chức nếu đầy đủ nhất, bao gồm
4 thành tố hợp thành: thành tố chỉ loại hỡnh tổ chức chung; thành tố chỉ loại hỡnh tổ chức riờng gắn với chức năng, nhiệm vụ, tớnh chất chuyờn mụn; thành
tố biệt danh; thành tố chỉ địa điểm Tuy nhiờn, cú những tờn cơ quan chỉ cú 2
Trang 3232
đến 3 thành tố Ranh giới để phân biệt giữa các thành tố cũng chưa được các quy định phân tích, giải thích rõ Cho nên trong thực tế áp dụng cũng có những nhầm lẫn dẫn đến sai quy định Việc không phân định rõ ranh giới giữa các thành tố là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc viết hoa không theo quy định Đặc biệt là ranh giới giữa thành tố thứ nhất và thứ hai
Các ví dụ trên là điển hình, ở đây đã có sự nhầm lẫn giữa thành tố thứ
nhất và thứ hai Ví dụ: cụm từ Ủy ban nhân dân trên thực tế đã có nhiều cách
viết khác nhau, cụ thể là theo 2 cách:
Một là, nếu hiểu ủy ban là một từ và là thành tố thứ nhất, còn nhân dân
là một từ chỉ chức năng, nhiệm vụ và là thành tố thứ hai thì sẽ có cách viết là:
Ủy ban Nhân dân
Hai là, nếu coi tất cả là một từ (từ ghép) và là thành tố thứ nhất thì viết
Ủy ban nhân dân
Như vậy, theo cách viết thứ nhất, phân thành 2 thành tố và viết hoa tất
cả các chữ cái đầu ( theo quy định là viết chữ cái đầu các cụm từ) Tuy nhiên,
theo chúng tôi, cách viết thứ hai hợp lí hơn là: Ủy ban nhân dân là một cụm
từ chỉ một loại hình tổ chức thể hiện sự phân cấp trong quản lí Trong trường
hợp này, nhân dân không phải là từ chỉ chức năng, nhiệm vụ, tính chất của một ủy ban (bởi tất cả các cơ quan nhà nước đều phục vụ nhân dân)
Cũng tương tự như vậy đối với trường hợp: Tòa án nhân dân - Tòa án Nhân dân; Viện Kiểm sát nhân dân - Viện kiểm sát nhân dân - Viện Kiểm sát Nhân dân Những trường hợp này khác với trường hợp tên cơ quan, tổ chức dạng như: Ủy ban Dân số - KHH Gia đình và Trẻ em, Hội đồng Giáo dục pháp luật…
Qua phân tích tên cơ quan, đơn vị, chúng tôi nhận thấy đa số các lần viết hoa không theo quy định đều là do không phân định rõ ranh giới giữa
thành tố thứ nhất và thứ hai Như: Hội đồng tuyển dụng, Ban đề thi, Ban coi
Trang 3333
thi, Ban chấm thi (văn bản 2); Cục kiểm tra văn bản quy phạm- Bộ Tư pháp (văn bản 11); Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng (văn bản 41); Trại tạm giam Sơn La (văn bản 46); Công ty cổ phần cấp nước Sơn La (văn bản 56)
Ở đây các thành tố thứ nhất là: Hội đồng, Ban; Cục; Trụ sở; Trại; Công ty và các thành tố thứ hai chỉ chức năng, nhiệm vụ là: tuyển dụng,
đề thi, coi thi, chấm thi; kiểm tra văn bản quy phạm; tiếp công dân; tạm giam; cổ phần cấp nước Như vậy, chúng ta phải viết là: Hội đồng Tuyển dụng, Ban Đề thi, Ban Coi thi, Ban Chấm thi; Cục Kiểm tra Văn bản quy phạm- Bộ Tư pháp; Trụ sở Tiếp Công dân của Trung ương Đảng; Trại Tạm giam Sơn La; Công ty Cổ phần Cấp nước Sơn La
Có trường hợp không phân biệt rõ giữa thành tố thứ 2 và thành phố thứ
3, Ví dụ: Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Sơn La (văn bản 98); Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội (văn bản 86); Trung tâm điều trị và nuôi dưỡng phục hồi chức năng bệnh nhân tâm thần (văn bản 86); Ban quản lý rừng đặc dụng (văn bản 82); Cục kiểm tra văn bản- Bộ Tư pháp (văn bản 65)
Bên cạnh đó có một số trường hợp không viết hoa thành tố thứ nhất
như: phòng Nội vụ (văn bản số 2); phòng Quản lý đô thị, phòng Kinh tế và
Hạ tầng, phòng Tài chính kế hoạch (văn bản số 3); phòng Giáo dục và Đào tạo (văn bản số 29); bộ Quốc phòng (văn bản 16); ban Dân tộc tỉnh (văn bản
số 51); phòng Tư pháp (văn bản 69)
Một nguyên nhân chủ yếu của việc tồn tại nhiều cách viết hoa các tên
cơ quan, tổ chức tại Công báo Sơn La đó là tên các cơ quan, tổ chức dài gồm nhiều thành tố nên người sử dụng khó hoặc không phân biệt được ranh giới
các thành tố dẫn đến viết hoa cảm tính và tràn lan, như: Ban chỉ đạo thi trung học phổ thông quốc gia tỉnh Sơn La (văn bản số 77); Trung tâm điều trị và nuôi dưỡng phục hồi chức năng bệnh nhân tâm thần tỉnh Sơn La (văn bản
Trang 3434
86); Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (văn bản 82) dẫn
đến người viết khó phân biệt được ranh giới giữa các thành tố
Các trường hợp trên cần được phân biệt rõ các thành tố và viết như
sau: Ban /Chỉ đạo thi /Trung học phổ thông quốc gia /tỉnh Sơn La; Trung tâm/ Điều trị và Nuôi dưỡng phục hồi chức năng /bệnh nhân tâm thần tỉnh Sơn La; Chi cục /Quản lý /Chất lượng nông lâm sản và thủy sản
2.1.2 Thực trạng viết tắt hiệu danh tại “Công báo Sơn La”
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 121 tên cơ quan, tổ chức được
viết tắt trên Công báo Sơn La Qua khảo sát chúng tôi có kết quả cụ thể như sau:
tiếng Việt tiếng Anh tiếng Việt+ tiếng Anh
Qua phân tích chúng tôi nhận thấy:
- Về kiểu cấu tạo viết tắt tên cơ quan, tổ chức:
Tên các cơ quan, đơn vị trên Công báo Sơn La đa số đều được viết tắt theo kiểu viết tắt bằng tiếng Việt Do đó, các tên viết tắt này khá dễ đọc và dễ hiểu đối với người tiếp nhận
Ví dụ: VPQH (Văn phòng Quốc hội), VPCP (Văn phòng Chính phủ); Đoàn ĐBQH tỉnh khóa XIV (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh khóa XIV); Chi cục VTLT tỉnh (Chi cục Văn thư - Lưu trữ tỉnh)
Qua khảo sát, hiện nay chúng tôi chưa thống kê được trường hợp nào tên cơ quan, đơn vị trên Công báo Sơn La được viết tắt theo kiểu viết tắt có nguồn gốc từ tiếng Anh Nguyên nhân việc kiểu viết tắt có nguồn gốc từ tiếng
Trang 3535
Anh không xuất hiện (hoặc rất ít xuất hiện) trên Công báo Sơn La có lẽ là bởi
ở đây là các văn bản hành chính của cơ quan nhà nước (Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La) với đặc điểm là tỉnh ở miền núi, trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn nên việc giao thương với các cơ quan, doanh nghiệp còn hạn chế, mặt khác văn bản hành chính yêu cầu phải rõ nghĩa không gây mơ hồ trong khi việc viết tắt bằng tiếng Anh yêu cầu phải có sự chú giải thật kỹ càng nếu không sẽ gây ra sự nhầm lẫn mơ hồ
- Xét về phương thức cấu tạo: Đa số tên cơ quan, tổ chức được viết tắt trên Công báo Sơn La được viết theo phương thức ghép và thu gọn Cụ thể:
+ Chúng tôi thống kê được 106 tên cơ quan, đơn vị được viết theo
phương thức ghép, trong đó có nhiều cơ quan, đơn vị khi được viết tắt đã
thành quy ước chung mọi người đọc đều có thể hiểu được ngay Ví dụ: Bộ KH
và ĐT (Bộ Kế hoạch và Đầu tư); Đoàn ĐBQH tỉnh (Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh); Uỷ ban TC - NS của Quốc hội (Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội), UBND tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh )
Tuy nhiên, đôi khi viết tắt một tên cơ quan, đơn vị tiếng Việt có thể gây
ra hiểu lầm về nghĩa nếu không tìm hiểu kỹ văn bản
Ví dụ: Ghi ―Phòng KT‖ có thể hiểu là phòng Kinh tế hay phòng Kỹ thuật
hay ghi ―phòng TH‖ khó có thể biết đây là phòng Tổng hợp hay phòng Thực hành
Ghi ―VPTU‖ thì có thể hiểu là Văn phòng tỉnh ủy hay Văn phòng thành ủy
Tình trạng việc sử dụng dãy viết tắt dài đôi khi xảy ra tình trạng khó
hiểu cho người đọc Ví dụ: Ban CTĐB - của UBTVQH (Ban công tác đại biểu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội); Cục KT VBQPPL - Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra Văn bản Quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp); Trung tâm Phòng, chống sốt
Trang 3636
rét - KST-CT tỉnh Sơn La (Trung tâm Phòng, chống Sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng tỉnh Sơn La)
+ Phương thức rút gọn (tạo nên những tên viết tắt gần với tên đầy đủ):
qua thống kê có 15 tên cơ quan, đơn vị được sử dụng theo phương thức rút
gọn Ví dụ: Ban chỉ đạo (Ban chỉ đạo Bầu cử tỉnh); Hội Khuyến học tỉnh (Hội khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục tỉnh ), Văn phòng (Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh), Văn thư (Bộ phận Văn thư của Văn phòng UBND tỉnh)
2.2 THỰC TRẠNG CÁCH VIẾT CHÍNH TẢ HIỆU DANH TẠI
“BÁO SƠN LA”
2.2.1 Thực trạng cách viết hoa hiệu danh tại “Báo Sơn La”
Qua khảo sát 45 số Báo Sơn La chúng tôi đã thống kê được 510 tên cơ
quan, đơn vị, tổ chức được sử dụng Qua khảo sát chúng tôi thống kê, phân loại các cách viết hoa trên Báo Sơn La như sau:
BÁO
Cách (1) Cách (2) Cách (3) Cách (4) Cách (5)
Số đơn
vị
Tỷ lệ
%
Số đơn
vị
Tỷ lệ
%
Số đơn
vị
Tỷ
lệ
% Báo Sơn
La 20 3,92 129 25,29 354 69,4 0 0 07 1,36
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy, trên Báo Sơn La việc viết hoa là không thống nhất, tồn tại 4 cách viết hoa, tuy nhiên tỷ lệ các cách viết hoa là khác nhau, trong đó cách viết hoa (3) chiếm tỷ lệ cao nhất với 354 đơn vị chiếm 69,4% Ví dụ như:
Huyện Đoàn Thuận Châu (3,5857); Chi đoàn Văn phòng Huyện ủy (3,5857); Trường Đại học Tây Bắc (3, 5857); Sở Khoa học và Công nghệ (7,5869); Bộ Thông tin và Truyền thông (3,5870)…
Trang 37Các viết hoa (5): Đoàn Thanh niên (5, 5872)
Dựa vào cách phân tích cấu tạo viết hoa hiệu danh làm 4 thành phần Chúng tôi tiến hành khảo sát và phân loại các kiểu viết này trên Báo Sơn La như sau:
(5) A+C/D 07 1,36 Nhạc viện Thành phố (7,5917);
Nhà hát Tuổi Trẻ (7,5917)
Trang 38Việc viết hoa các thành tố thứ nhất trên Báo Sơn La không thống nhất:
Có những trường hợp không viết hoa thành tố thứ nhất như: phòng Giáo dục
- Đào tạo huyện Yên Châu (4, 5848); trường THCS Tân Xuân(4, 5856); siêu thị Nhất Việt (2, 5857); phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mộc Châu (2, 5857); phòng Giáo dục và Đào tạo (4, 5869)
Nhưng có lúc lại viết hoa thành tố thứ nhất như: Phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn (2, 5846); Chi Hội Luật gia Chi cục Thi hành án dân
sự tỉnh (6,5846)
- Chúng tôi nhận thấy có nhiều trường hợp không phân định rõ ranh
giới giữa thành tố thứ nhất và thứ hai Cụ thể, có 61 lần không phân định ranh
giới giữa thành tố thứ nhất và thành phố thứ hai, như: Tòa án Nhân dân (3, 5924); Trung tâm dạy nghề huyện Yên Châu (5, 5917); HTX nấm Thảo Nguyên (2, 5857); Hợp tác xã rau an toàn Tự Nhiên (2, 5857); HTX dịch vụ nông nghiệp 1915 (2, 5857); Doanh nghiệp tư nhân Xây dựng Duy Liêm (8, 5856); Ngân hàng chính sách xã hội (5, 5846); Trường mầm non Hoa Đào (3, 5857)
Ở đây các thành tố thứ nhất là: Tòa án nhân dân; Trung tâm; HTX; Hợp tác xã; HTX Doanh nghiệp; Ngân hàng và các thành tố thứ hai chỉ chức năng, nhiệm vụ là: dạy nghề huyện Yên Châu; nấm; rau an toàn; dịch
vụ nông nghiệp; tư nhân; chính sách xã hội Như vậy, chúng ta phải viết
Trang 3939
là: Tòa án nhân dân; Trung tâm Dạy nghề huyện Yên Châu; HTX Nấm Thảo Nguyên; Hợp tác xã Rau an toàn Tự Nhiên; HTX Dịch vụ nông nghiệp 1915; Doanh nghiệp Tư nhân Xây dựng Duy Liêm; Ngân hàng Chính sách xã hội
Bên cạnh đó, có nhiều tên cơ quan tổ chức do quá dài nên người viết
đã gặp khó khăn trong việc phân biệt ranh giới giữa các thành tố, như:
Bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh Sơn La (6, 5856)
Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm (1,5848)
Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân tỉnh (2,5848)
Công ty TNHH một thành viên quản lý và xây dựng đường bộ 224 (2, 5856)
Ở những ví dụ trên những cụm từ: lao và bệnh phổi; phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm; dạy nghề và hỗ trợ nông dân; một thành viên quản lý và xây dựng đường bộ 224 gồm nhiều chức năng,
nhiệm vụ khác nhau nên cần phải viết hoa chữ cái đầu của mỗi cụm từ chỉ
chức năng khác nhau Cụ thể: Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Sơn La; Ủy ban Quốc gia Phòng, chống AIDS và Phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm; Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tỉnh; Công ty TNHH Một thành viên Quản lý và Xây dựng đường bộ 224 (2, 5856)
Có trường hợp không phân biệt giữa thành tố thứ 2 và thành phố thứ 3,
Ví dụ: Ban đại diện/Hội/ người cao tuổi Thành phố (4, 5888); Trung ương/ Hội/ người cao tuổi Việt Nam (4, 5888); Hội/ Bảo trợ /người tàn tật và trẻ mồ côi tỉnh (8, 5888);
- Việc viết hoa thành tố thứ 3 trên Báo Sơn La cơ bản là thống nhất (bộ phận chỉ tên riêng hay còn gọi là biệt danh của cơ quan, tổ chức): viết hoa chữ
cái đầu của tất cả các âm tiết của tên riêng đó, như: Chi Hội Luật gia Sở Tư pháp (6,5846); Công ty Bảo việt Nhân thọ Sơn La (8,5846)