Có thể nói không quá rằng, nhìn ở đâu cũng có lỗi chính tả: từ bài viết của học sinh đến các biển hiệu trên phố, thậm chí là các ấn phẩm là văn bản viết bằng tiếng Việt xét về phương diệ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, hiện tượng viết sai chính tả rất phổ biến trong cả nước Có thể nói không quá rằng, nhìn ở đâu cũng có lỗi chính tả: từ bài viết của học sinh đến các biển hiệu trên phố, thậm chí là các ấn phẩm là văn bản viết bằng tiếng Việt xét về phương diện chính tả, chữ viết (các chữ cái ghi âm, vần, vị trí các dấu thanh, viết hoa, ) dường như đều có vấn đề cần phải bàn
“Lỗi là những điều sai sót do không thực hiện đúng quy tắc” Lỗi chính tả
là do viết chính tả không đúng chuẩn "Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn viết các
âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và các thanh; chuẩn viết tên riêng (viết hoa); chuẩn viết phiên âm từ và thuật ngữ vay mượn" [27, tr 125] Chính tả trước hết là
sự quy định có tính chất xã hội, nó không cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân Do đó nó có một vị trí rất quan trọng Nó không chỉ quan trọng đối với mỗi cá nhân mà còn quan trọng với toàn xã hội Viết đúng chính tả và thực hành tốt các kĩ năng viết chữ không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp mà còn thể hiện năng lực tư duy và trình độ văn hóa của mỗi người
Đối với các trường Trung học cơ sở, viết đúng chính tả là một trong bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cần hoàn thiện cho học sinh, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Điện Biên là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc, có nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau sinh sống, như Thái, Mông, Kinh, Khơ Mú, Xinh Mun, Lào, Đây là vùng có núi non hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Trước đây do hoàn cảnh xã hội, tùy thuộc điều kiện địa hình, dân tộc Mông thường sống quần tụ thành từng thôn bản từ vài ba nóc nhà đến vài chục nóc nhà, người Mông ít có điều kiện đi học, nhất là con gái lấy chồng rất sớm và đa số không được đi học Điều này
Trang 2ảnh hưởng không nhỏ đến cách viết chính tả của học sinh nơi đây Ở tỉnh Điện Biên, không chỉ học sinh cấp Tiểu học mới viết sai chính tả, mà lỗi chính tả còn phổ biến ở học sinh cấp Trung học cơ sở Vì thế, nghiên cứu khảo sát lỗi chính tả, những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc sai chính tả và tìm ra giải pháp khắc phục là việc vô cùng cần thiết, nhằm giúp các em khắc phục một số lỗi chính tả thường gặp
Qua thực tế giảng dạy ở trường có nhiều học sinh Mông và qua quá trình công tác trong ngành giáo dục, chúng tôi nhận thấy rằng, học sinh Mông khi học Tiếng Việt gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt ở khía cạnh phát âm, viết đúng chính tả Có thể nói rằng, vấn đề dạy học sinh Mông phát âm đúng hay viết đúng chính tả tiếng Việt đang là một trong những trở ngại rất đáng lưu ý
Hơn nữa, về lâu dài, trong công tác giáo dục ở miền núi, việc dạy tiếng Việt cho con em dân tộc ít người không những góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, mà còn góp phần thắt chặt tình đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh chính trị và bảo vệ vững chắc vùng biên cương của Tổ quốc
Trước tình hình thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài “Lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh dân tộc Mông tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên”
nhằm đóng góp ít nhiều vào quá trình dạy và học tiếng Việt cho học sinh người Mông các trường có con em người Mông học
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề nghiên cứu tiếng Việt trong nhà trường nói chung và chính tả trong nhà trường nói riêng từ lâu đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Các công trình đã bàn về vấn đề này từ nhiều khía cạnh khác nhau Việc biên soạn sách giáo khoa cho phân môn tiếng Việt cũng được đặc biệt chú ý cải thiện và nâng cao chất lượng Hàng loạt sách tham khảo về tiếng Việt làm tài liệu giảng dạy cho giáo viên và tài liệu hướng dẫn cho học sinh đã được xuất bản
Trang 3Trong quá trình học tập, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ với
cá nhân mà còn đối với cả cộng đồng xã hội Viết đúng chính tả, phát âm chuẩn chính tả và thực hành tốt kĩ năng tạo lập văn bản sẽ đem lại hiệu quả giao tiếp đồng thời thể hiện năng lực văn hóa của mỗi con người
Nhiều công trình điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng ngôn ngữ
của học sinh phổ thông cũng được trình bày Như Mấy gợi ý về việc phân tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh (Nguyễn Minh Thuyết, Ngôn ngữ, số 3.1974) Hay của Phan Ngọc Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội (NXB Giáo dục, Hà Nội năm 1984); Hồ Lê – Lê Trung Hoa Sửa lỗi ngữ pháp
(NXB Giáo dục, Hà Nội năm 1990) Những công trình này đã giúp cho giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông có được những công cụ làm việc hữu ích
Trong thời gian gần đây, vẫn có nhiều tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách khá toàn diện về lỗi sử dụng ngôn ngữ của học sinh trong nhà trường và đã xuất bản các công trình của mình Cụ thể là:
Nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1997) trong cuốn
“Tiếng Việt thực hành” của NXB Giáo dục đã nêu lên tương đối có hệ thống
về việc sử dụng ngôn ngữ từ chữ viết, chính tả đến việc dùng từ, đặt câu và tạo lập văn bản Các tác giả cũng phân tích, lí giải thuyết phục về lỗi sử dụng ngôn ngữ mà học sinh thường mắc phải và nêu lên cách khắc phục
Các tác giả Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học sư
phạm 2009 đã đưa ra những khái niệm về chính tả và chuẩn chính tả, xây dựng được nội dung, yêu cầu và hình thức chính tả cho từng khối lớp học Trên cơ sở mục tiêu, nội dung chương trình, cuốn sách cũng nêu phương pháp, hình thức dạy học chính tả ở cấp tiểu học hiện nay
Tác giả Phan Ngọc trong sách Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả (NXB Thanh niên Hà Nội 2000), đã cung cấp cho chúng ta một số
Trang 4biện pháp dễ làm có tính công cụ để sửa lỗi chính tả một cách khoa học cho học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng Những công cụ mà Phan Ngọc nêu ra rất đa dạng
Tác giả Hoàng Phê trong cuốn Chính tả tiếng Việt (NXB Đà Nẵng
năm 2003) và trước đó nhóm tác giả Hoàng Tuyền Linh, Vũ Xuân Lương
trong Từ điển chính tả mini (NXB Đà Nẵng 1995) đã biên soạn sách để
hướng dẫn viết đúng chính tả Nguyễn Trọng Báu năm 2001 khi biên soạn
Từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng (NXB Khoa học xã hội) cũng đã
nghiên cứu và hướng dẫn cách sử dụng từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng để giúp cho giáo viên và học sinh tra cứu nhanh, thuận tiện các âm tiết, các từ dễ gây nhầm lẫn do phát âm không chuẩn hoặc do thói quen phát âm theo phương ngữ vùng miền phục vụ cho việc viết đúng chính tả tiếng Việt
Đáng chú ý là cuốn sách “Các lỗi chính tả, từ vựng, ngữ pháp và cách khắc phục” do tiến sĩ Lê Trung Hoa chủ biên (NXB Khoa học xã hội, năm
2002) Nội dung của cuốn sách này thể hiện các tác giả đã khảo sát lỗi sử dụng ngôn ngữ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh một cách toàn diện
Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết, công trình khoa học, luận văn Thạc sĩ…vv nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các địa phương có người dân tộc trong cả nước Đó là những đề tài như
Hoàng Ngọc Hiển (2005) “Nghiên cứu thực trạng dạy học và những khó khăn cơ bản trong quá trình học tiếng Việt của học sinh H’mông, tỉnh Thanh Hóa” (Luận văn Thạc sĩ, ĐH Vinh) Luận văn đã tìm hiểu những khó khăn
trong việc học tiếng Việt của học sinh dân tộc, trong quá trình dạy tiếng Việt của giáo viên; từ đó tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục nhằm nâng cao chất lượng môn tiếng Việt cho học sinh là người dân tộc thiểu số
Tóm lại, các công trình tiêu biểu mà chúng tôi vừa liệt kê ở trên đã phản ánh được tầm quan trọng của dạy học chính tả cũng như thực trạng và
Trang 5giải pháp dạy học chính tả theo vùng phương ngữ và việc dạy học viết cho học sinh dân tộc Tuy nhiên, các công trình trên đa phần còn mang tính định hướng chung cho dạy học chính tả tiếng Việt chứ chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho địa bàn cụ thể
là huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông ở địa bàn này và đưa ra một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là vấn đề cấp thiết đối với người làm công tác trong ngành giáo dục như chúng tôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh tại ba trường THCS trên địa bàn huyện Điện Biên Đông
Phạm vi khảo sát lỗi là các bài kiểm tra học kì môn Ngữ văn cũng như các bài nghe (đọc) – viết chính tả của học sinh từ khối lớp 6 đến khối lớp 9 tại các trường: THCS Thị Trấn; PTDTBT THCS Sa Dung và PTDTBT THCS Tân Lập
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng tới việc xác định những đặc điểm lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông khi viết tiếng Việt Trên cơ sở mục đích này, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa lí thuyết về chính tả tiếng Việt
- Khảo sát thực trạng lỗi chính tả của học sinh ba trường THCS trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông
- Đề xuất các giải pháp và tiến hành thực nghiệm khắc phục lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
5.2.1 Phương pháp thống kê
Trang 6Tập hợp bài kiểm tra học kỳ I kết hợp với hoạt động nghe (đọc) - viết chính tả để khảo sát, phân tích, kết hợp với quan sát, phỏng vấn học sinh để thu thập thông tin về chính tả Trên cơ sở tài liệu thu thập được tiến hành lập bảng các lỗi chính tả
6 Những đóng góp của Luận văn
- Lần đầu tiên, lỗi chính tả của học sinh ba trường huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên được thu thập, khảo sát, phân tích, miêu tả
- Lần đầu tiên, nguyên nhân các lỗi này được chỉ ra
- Từ đó, đề xuất ra giải pháp khắc phục lỗi chính tả của học sinh giúp
các em nói và viết tốt hơn, hướng tới chuẩn chính tả chung
7 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được triển khai
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Đề xuất cách chữa lỗi chính tả tiếng Việt cho học sinh dân tộc Mông huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Trang 7Trong quá trình học tập, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ với
cá nhân mà còn đối với cả cộng đồng xã hội Viết đúng chính tả, phát âm chuẩn chính tả và thực hành tốt kĩ năng tạo lập văn bản sẽ đem lại hiệu quả giao tiếp đồng thời thể hiện năng lực văn hóa của mỗi người
Nhiều công trình điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng ngôn ngữ
của học sinh phổ thông cũng được trình bày Như Mấy gợi ý về việc phân tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh (Nguyễn Minh Thuyết, Ngôn ngữ, số 3.1974) Hay của Phan Ngọc Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội (NXB Giáo dục, Hà Nội năm 1984); Hồ Lê – Lê Trung Hoa Sửa lỗi ngữ pháp
(NXB Giáo dục, Hà Nội năm 1990) Những công trình này đã giúp cho giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông có được những công cụ làm việc hữu ích
- Nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1997) trong
cuốn “Tiếng Việt thực hành” của NXB Giáo dục đã nêu lên tương đối có hệ
thống về việc sử dụng ngôn ngữ từ chữ viết, chính tả đến việc dùng từ, đặt câu và tạo lập văn bản Các tác giả cũng phân tích, lí giải thuyết phục về lỗi
sử dụng ngôn ngữ mà học sinh thường mắc phải và nêu lên cách khắc phục
Trang 8- Các tác giả Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học sư
phạm 2009 đã đưa ra những khái niệm về chính tả và chuẩn chính tả, xây dựng được nội dung, yêu cầu và hình thức chính tả cho từng khối lớp học
- Tác giả Hoàng Phê trong cuốn Chính tả tiếng Việt (NXB Đà Nẵng
năm 2003) và trước đó nhóm tác giả Hoàng Tuyền Linh, Vũ Xuân Lương
trong Từ điển chính tả mini (NXB Đà Nẵng 1995) đã biên soạn sách để
hướng dẫn viết đúng chính tả Nguyễn Trọng Báu năm 2001 khi biên soạn
Từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng (NXB Khoa học xã hội) cũng đã
nghiên cứu và hướng dẫn cách sử dụng từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng để giúp cho giáo viên và học sinh tra cứu nhanh, thuận tiện các âm tiết, các từ dễ gây nhầm lẫn do phát âm không chuẩn hoặc do thói quen phát âm theo phương ngữ vùng miền phục vụ cho việc viết đúng chính tả tiếng Việt
- Đáng chú ý là cuốn sách “Các lỗi chính tả, từ vựng, ngữ pháp và cách khắc phục” do tiến sĩ Lê Trung Hoa chủ biên (NXB Khoa học xã hội,
năm 2002) Nội dung của cuốn sách này thể hiện các tác giả đã khảo sát lỗi
sử dụng ngôn ngữ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh một cách toàn diện
- Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết, công trình khoa học, luận văn Thạc sĩ…vv nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các địa phương có người dân tộc trong cả nước Đó là những đề tài như
Hoàng Ngọc Hiển (2005) “Nghiên cứu thực trạng dạy học và những khó khăn cơ bản trong quá trình học tiếng Việt của học sinh H’mông, tỉnh Thanh Hóa” (Luận văn Thạc sĩ, ĐH Vinh) Luận văn đã tìm hiểu những khó khăn
trong việc học tiếng Việt của học sinh dân tộc, trong quá trình dạy tiếng Việt của giáo viên; từ đó tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục nhằm nâng cao chất lượng môn tiếng Việt cho học sinh là người dân tộc thiểu số
Trang 9Tóm lại, các công trình tiêu biểu mà chúng tôi vừa liệt kê ở trên đã phản ánh được tầm quan trọng của dạy học chính tả cũng như thực trạng và giải pháp dạy học chính tả theo vùng phương ngữ và việc dạy học viết cho học sinh dân tộc Tuy nhiên, các công trình trên đa phần còn mang tính định hướng chung cho dạy học chính tả tiếng Việt chứ chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho địa bàn cụ thể
là huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông ở địa bàn này và đưa ra một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là vấn đề cấp thiết đối với người làm công tác trong ngành giáo dục như chúng tôi
1.2 Vấn đề chính tả và chính tả tiếng Việt
Để làm cơ sở cho việc thực hiện nhiệm vụ của luận văn, ở đây chúng
tôi sẽ trình bày những thu nhận của mình về chính tả và chính tả tiếng Việt
1.2.1 Chính tả
Theo “Từ điển tiếng Việt” chính tả là “cách viết chữ được coi là
chuẩn” [Hoàng Phê, 1992, tr173] Như vậy, theo nghĩa gốc của từ này, chính
tả là phép viết đúng, là cách viết hợp với chuẩn và những quy định mang tính quy ước xã hội, được mọi người trong một cộng đồng chấp nhận và tuân thủ
Ở Việt Nam, trên đại thể hệ thống quy tắc chính tả là những quy định mang tính quy ước xã hội về cách viết các từ, viết các chữ hoa, cách dùng dấu câu, cách viết các từ phiên âm hoặc chuyển tự Do đó, chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân
Như vậy, nói về chính tả chúng ta phải nói về cách viết chữ của một ngôn ngữ cụ thể nào đó Cách viết này là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần như tuyệt đối Khi đó, nó không cho phép cá nhân vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo riêng một cách tùy tiện
Trang 101.2.2 Một số nội dung của chính tả tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất toàn dân Tiếng Việt nói chung và ngữ âm tiếng Việt nói riêng, vào thời điểm nào cũng vậy, luôn luôn ở trong quá trình chưa thật ổn định nhìn từ góc độ chuẩn hóa
Chuẩn ngữ âm bao gồm chuẩn chính âm và chuẩn chính tả Nhiều ý kiến cho rằng phải có chuẩn chính âm trước rồi mới có chuẩn chính tả, đấy là nguyên lí Nhưng, với tiếng Việt, chuẩn chính âm là sự phát âm, còn chuẩn chính tả đã hình thành và tương đối ổn định trong một thời gian dài Để góp phần cho ngôn ngữ có chính âm, chuẩn chính tả giữ vai trò quan trọng
1.2.2.2 Chuẩn chính tả
“Chính tả được hiểu là quy tắc viết từ (từ thường, từ hoa, từ vay mượn, từ viết tắt, số từ, con số ngày, giờ, tháng, năm, v.v hay cách thức dùng dấu chấm câu (dấu: chấm, phẩy, than, hỏi, chấm hỏi, chấm lửng, hai chấm, ba chấm (chấm lửng); dấu ngoặc: đơn, kép, vuông; dấu gạch: ngang, dưới, chéo và cách thức ghi dấu thanh như thanh ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng Chuẩn chính tả được hiểu là chuẩn áp dụng cho văn phong quy phạm, được dùng làm thước đo trong ngôn ngữ nhà trường, áp dụng chính thống trong ngôn ngữ truyền thống
và ngôn ngữ của các văn bản quản lí nhà nước” [17, tr.109]
"Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và các thanh; chuẩn viết tên riêng (viết hoa); chuẩn viết phiên âm từ và
Trang 11thuật ngữ vay mượn" [29, tr.125]
Như vậy, có thể hiểu chuẩn chính tả là cách viết đúng, hợp với chuẩn
và những quy tắc về cách viết chuyển từ dạng thức ngôn ngữ nói sang dạng thức ngôn ngữ viết Đó là những quy định mang tính xã hội cao, được mọi người trong cộng đồng chấp nhận và mọi người đều phải tuân theo Những cách viết chữ không đúng so với chuẩn được coi là sai chính tả
a) Quy tắc chữ cái ghi âm vị trong âm tiết
Đó là xác định cách viết đúng cho các âm vị trong âm tiết Trong tiếng
Việt về chữ i/y, có quy tắc như sau:
Khi đứng liền sau phụ âm đầu trong âm tiết mở, âm chính /i/ được viết
là i, trừ trường hợp đứng liền sau các phụ âm h, k, l, m, s, t hoặc trong các tên riêng có thể viết là i hay y tùy theo ý muốn chủ quan của người viết hay người được mang tên riêng đó (Ví dụ: Tẩn Mí Khé; Tống Mỹ Linh hay Tống Mĩ Linh; ) Năm 1980, để đảm bảo thống nhất chính tả trong sách giáo khoa, Bộ
Giáo dục đã phối hợp với Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam quy định các
trường hợp âm chính /i/ đứng liền sau phụ âm đều viết là i Tuy nhiên, quy
định này chỉ áp dụng đối với sách giáo khoa phổ thông Trong các loại văn bản khác (văn bản quy phạm pháp luật, sách báo, ) mỗi người viết một khác
Do thẩm mĩ, có người thích viết y vì cho rằng y đẹp hơn
Có nghiên cứu cho rằng: /i/ viết là i đối với các từ thuần Việt: ỉ thác,
ầm ĩ ; viết y đối với các từ gốc Hán (y tá, hội ý, ) Tuy nhiên, các từ Hán Việt như hi hữu, trí tuệ, thống trị, thi vị, hùng vĩ âm /i/ thường chỉ viết là i
b) Quy tắc ghi dấu thanh
Trong tiếng Việt, các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng được đặt trên đầu
chữ cái ghi âm chính, còn dấu nặng đặt dưới chữ cái ghi âm chính Căn cứ khoa học của quy định này là sự gắn bó giữa thanh điệu với phần vần, đặc biệt
là với âm chính Điều còn chưa thống nhất là vị trí của dấu thanh trong trường
Trang 12hợp âm chính là nguyên âm đôi, được ghi bằng hai chữ cái
- Đối với các kí hiệu ia, ua, ưa tức là trường hợp nguyên âm đôi đứng
trong các âm tiết không có âm cuối (âm tiết mở) thì đặt dấu thanh ở chữ cái
thứ nhất ghi âm chính Ví dụ: bìa, lụa, lửa,
- Đối với các kí hiệu iê, uô, ươ, tức là trường hợp nguyên âm đôi đứng
trong những âm tiết có âm cuối (âm tiết khép hoặc nửa khép) thì đặt dấu thanh ở
chữ cái thứ hai ghi âm chính Ví dụ: biển, chiều, thuyền, nhuộm, lượn,
c) Quy tắc viết tên riêng
* Quy tắc viết tên riêng Việt Nam:
Trước năm 60 của thế kỉ XX khá phức tạp Cụ thể như sau:
- Chữ cái đầu của họ và tên người được viết hoa, còn tên đệm (nếu có) không viết hoa Đối với họ kép hoặc tên kép thì bộ phận được nối với nhau
bằng gạch nối và viết hoa chữ cái đầu tiên của tiếng đầu tiên Ví dụ: Bạch Cư-
dị, Hồ Xuân- hương, Hồ Chí minh,
- Chữ cái đầu của tên địa lí được viết hoa, nếu tên gồm hai tiếng trở lên
thì giữa các tiếng có gạch nối, ví dụ: Hà- nam, Thiên- mụ, Vũng- chùa
Từ những năm 60, người ta đã thống nhất viết hoa chữ cái đầu của mỗi
bộ phận tạo thành tên riêng, kể cả tên người lẫn tên địa lí, đồng thời bỏ gạch nối giữa các bộ phận ấy, trừ tên riêng là tiếng dân tộc thiểu số có các bộ phận
cấu tạo gồm nhiều âm tiết Ví dụ: Tôn Thất Thuyết, Khơ - mú, Ê- đê,
* Quy tắc viết tên riêng nước ngoài: Trên sách báo và các văn bản nói
chung thường có 4 cách viết tên riêng nước ngoài:
(1) Dịch nghĩa sang tiếng Việt và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên
riêng tiếng Việt Ví dụ: Hồ Chết, Hội Chữ Thập Đỏ Quốc Tế,
(2) Phiên âm qua âm Hán Việt Ví dụ: Đỗ Phủ, Luân Đôn,
(3) Phiên âm trực tiếp, theo cách phát âm của nguyên ngữ Ví dụ: Vích-
to Hu-gô, Crix-tô-phô-rô, Cô-lôm-bô, Pa-ri, Mát-xcơ-va,
Trang 13(4) Giữ nguyên dạng nếu nguyên ngữ sử dụng chữ La tinh hoặc chuyển tự
nếu nguyên ngữ sử dụng hệ chữ khác Ví dụ: Victor Hugo, UNICEP, ASEAN,
1.2.3 Đặc điểm của chính tả tiếng Việt
a Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm Về cơ bản, chính tả tiếng Việt
là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết về cơ bản thống nhất với nhau Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy Từ việc xác định chính xác âm thanh của lời nói sẽ giúp viết đúng chính tả Khi viết chính tả tiếng Việt cần tuân thủ nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc ngữ âm học Tức là, cách viết của từ phải biểu hiện đúng
ngữ âm của từ: phát âm thế nào thì viết thế ấy Bởi vì tiếng Việt là chữ ghi âm
vị nên nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản nhất Nó thể hiện ở chỗ cách viết của mỗi từ thể hiện đúng âm cần đọc của từ Nguyên tắc ngữ âm học chi phối hầu hết cách viết các chữ trong bộ chữ tiếng Việt Chẳng hạn: /b/ ghi là b, /t/ ghi là t, /m/ ghi là m v.v Quan hệ giữa âm và chữ về cơ bản là quan hệ 1 - 1
- Nguyên tắc truyền thống Có nghĩa là chính tả không thay đổi thói
quen từ lâu đời Trong chữ viết tiếng Việt có những cách viết chấp nhận quy
định từ xa xưa để lại như là cách viết các chữ c, k, q cho một âm đầu /k/ Âm đầu /k/ khi đứng trước các chữ ghi nguyên âm /i, iê, e/ trong âm tiết th́ viết là chữ k; nhưng khi đứng trước các chữ ghi nguyên âm /a, ă, o/ vv thì lại viết bằng con chữ c Nguyên tắc truyền thống trong chính tả tiếng Việt khiến cho
chữ viết không còn phản ánh ngữ âm đương đại một cách trung thực, tiết kiệm, gây nhiều rắc rối cho việc học chữ, nhất là đối với trẻ em
b Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa Trong thực tế, muốn viết
đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người đọc viết đúng chính tả Ví dụ: giáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là “za” thì học sinh có thể lúng túng trong việc
xác định hình thức của từ này Nhưng nếu đọc gia đình, da thịt hay ra vào thì
Trang 14học sinh dễ dàng viết đúng chính tả Từ thực tế đó, chúng tôi nhận thấy chuẩn chính tả có những đặc điểm chính sau đây:
1 Chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, đòi hỏi
người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể chưa hợp lý nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả thì người cầm bút không được tự ý viết khác đi Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lí – không hợp lí, hay – dở mà chỉ có sự phân biệt đúng – sai, không lỗi – có lỗi
2 Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên ít
bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nó đã tạo nên ấn tượng
về một cái gì “bất di bất dịch”, một tâm lí ổn định mang tính bảo thủ, cố hữu
3 Ngữ âm phát triển, nhưng chính tả không thể giữ mãi tính chất cố hữu của mình Do vậy, nếu không có quy định mang tính chất pháp lệnh kịp
thời chính tả dần dần cũng có một sự biến động nhất định, điều đó được thể
hiện ở chỗ, bên cạnh chuẩn mực chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song với nó, ví dụ “phẩm zá” bên cạnh “phẩm giá”, “xinh đẹp” bên cạnh “sinh đẹp”,… Với một tình trạng có nhiều cách viết như vậy đòi hỏi chữ viết của một ngôn ngữ phải tiến hành chuẩn hóa
1.3 Lỗi chính tả
1.3.1 Khái niệm lỗi và lỗi chính tả
1.3.1.1 Khái niệm lỗi
Do tính chất là luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chỉ đưa ra khái niệm “lỗi”
để làm việc Theo đó, chúng tôi sử dụng quan niệm chung về lỗi mà nhiều
“Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng” đều sử dụng, cụ thể là:
Lỗi mà người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ, có thể là tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ hai hay một ngoại ngữ) là tình trạng người học sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn viết một từ, cùng một đơn vị ngữ
Trang 15pháp, thực hiện một hoạt động nói năng v.v ) theo cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ với chuẩn
đã được cộng đồng nói thứ tiếng đó chấp nhận và tôn trọng
1.3.1.2 Đôi nét về ngữ âm tiếng Việt và chữ viết
a) Đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt
Trong tiếng Việt, âm tiết (hay tiếng) là đơn vị phát âm tự nhiên, rất dễ nhận biết Khi nói cũng như khi viết, mỗi âm tiết được tách bạch rõ ràng F.de Saussure nhận xét rằng trong ngôn ngữ không chỉ có các âm mà có cả các đoạn âm L.R Zinder thì cho rằng sự phân chia lời nói tự nhiên thành những đơn vị nhỏ hơn là không thể xảy ra Âm tiết chính là nơi giao nhau giữa kích thước của việc phân đoạn lời nói và khái niệm nội dung ngữ âm
Ví dụ: Tôi đang học bài Chúng ta nghe được những khúc đoạn tự nhiên trong chuỗi lời nói đó như sau: Tôi/ đang/ học/ bài Câu này có 4 âm tiết
- Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ rõ ràng Mỗi âm tiết ở dạng tối
đa thường gồm ba phần: phụ âm đầu, vần và thanh điệu Phần vần tối đa lại bao gồm ba âm: âm đệm, âm chính và âm cuối Còn tối thiểu, âm tiết tiếng Việt phải có âm đầu, âm chính và thanh điệu Âm chính luôn luôn phải là một nguyên âm Cấu tạo của âm tiết chia thành hai bậc như sau:
I Âm đầu Vần Thanh điệu
II Âm đệm Âm chính Âm cuối
Trang 16- Mỗi âm tiết luôn mang một thanh điệu nhất định (có sáu thanh điệu)
Về mặt nghĩa, âm tiết tương ứng với một hình vị, có thể dùng độc lập như một
từ đơn, hoặc được dùng như một thành tố cấu tạo nên từ (hình vị) Trên chữ viết, cách xác định kí hiệu ghi âm tiết như sau:
dưới con chữ thứ hai, ví dụ: tiền, luyến, thuyền Âm tiết gồm các âm vị sau:
1 Âm vị âm đầu (phụ âm)
Trong âm tiết tiếng Việt, âm đầu là âm đứng ở vị trí thứ nhất của âm
tiết Âm đầu được xác định trong các âm tiết sau: hà, mai, hài, bàn, ghế
* Số lượng và phân loại âm vị âm đầu: Phần lớn các nhà nghiên cứu có
quan điểm giống nhau về số lượng âm vị âm đầu là 22 âm vị Có quan điểm
cho rằng âm đầu gồm 23 âm khi thêm phụ âm /p/
Trường hợp phụ âm /p/, có tác giả cho rằng, âm vị này chỉ xuất hiện trong các âm tiết là từ phiên âm (đèn pin) nên không thừa nhận là phụ âm đầu tiếng Việt Tuy nhiên, có thể thấy sự xuất hiện của /p/ trong các từ địa danh và tên riêng (Sa Pa, Pa Cá, ) Vì vậy /p/ cũng được coi là phụ âm đầu của tiếng
Trang 17Việt Toàn bộ số lượng âm vị âm đầu tiếng Việt được trình bày như sau:
Thanh hầu Bẹt quặt
Tắc Ồn
Không bật hơi
Thứ nhất, dựa vào phương thức phát âm: Người ta phân biệt:
- Phương thức tắc: là phương thức phát âm mà theo đó luồng hơi trước khi phát ra bị chặn đứng hoàn toàn hay bế tắc hoàn toàn Dựa vào vị trí luồng hơi thoát ra ngoài, người ta phân biệt: Phụ âm tắc mũi: luồng hơi thoát ra
đằng mũi: /m, n, ŋ/; Phụ âm tắc: luồng hơi thoát ra đằng miệng Trong đó phân biệt hai loại phụ âm bật hơi /t`/ và phụ âm không bật hơi /t/
- Phương thức xát: Là phương thức phát âm mà luồng hơi trước khi thoát ra ngoài bị chặn đứng không hoàn toàn hay bị cản trở không hoàn toàn Dựa vào vị trí luồng hơi đi ra chính giữa miệng hay hai bên mà người ta phân
biệt: Phụ âm xát tức là luồng hơi đi ra giữa miệng /f, v, s, z/; Phụ âm bên tức
là luồng hơi đi ra hai bên miệng /l/
- Phương thức rung: theo phương thức này phát âm bị rung lên /ʐ/ Thứ hai, dựa vào bộ phận cấu âm: Có các loại phụ âm sau:
- Phụ âm môi: dùng môi để phát âm Dựa vào tiêu điểm cấu âm ta có:
Trang 18Phụ âm hai môi /b, m/; Phụ âm môi - răng /f, v/
- Phụ âm lƣỡi Trong đó ta phân biệt: Nhóm phụ âm đầu lƣỡi: đầu lƣỡi quặt /ʈ, ş, ʐ/ và đầu lƣợt bẹt /d, t, t`, s, z, n, l/; Nhóm phụ âm mặt lƣỡi /c, ɲ /; Nhóm phụ âm cuối lƣỡi hay gốc lƣỡi /k, χ, γ, ŋ/
- Phụ âm họng hay thanh hầu /h/
Thứ ba, dựa vào thanh tính, tức là độ rung động của dây thanh: Phụ âm
hữu thanh: khi phát âm có độ rung nhẹ: /b, d, v, z, ʐ, γ/; Phụ âm vô thanh: khi phát âm dây thanh không rung động: /t, ʈ, c, k, f, s, ş, χ, h/
* Chữ viết của âm vị âm đầu (phụ âm)
Các âm vị phụ âm đầu trong tiếng Việt có hình thức chữ viết nhƣ sau:
Trang 1914 /ʐ/ R rõ ràng, rổ,
17 /k/ k, c, q kẻ, kể, kiếp, cá, cờ, cốm, quân, quanh,
18 /ŋ/ ng, ngh nghĩ, nghe, nghề, nghiệp, nga, ngó,
19 /χ/ Kh khi, khấp khểnh,
20 /γ/ g, gh ghi, ghế, gà gô, gỗ,
21 /a/ a, ă ăn, áo, anh,
Trong 22 phụ âm đầu, những âm vị có nhiều hình thức chữ viết là những trường hợp đáng chú ý:
- Âm vị âm đầu được ghi bằng hai chữ cái là 9 /f, t`,ʈ , z, c, ɲ, ŋ, χ, γ /
- 3 âm vị / k, ŋ, γ/ có hai hình thức chữ viết, nhưng không được sử dụng một cách tự do, mà phải sử dụng theo quy tắc ngữ âm Âm vị âm đầu /k/ có lúc viết là “k”, có lúc viết là “c”, lúc khác lại viết là “q” Hoặc như âm vị /γ/ tùy từng trường hợp có thể ghi bằng hai cách là “g”, “gh” Hoặc như âm vị /ŋ/
có lúc ghi “ng”, có lúc ghi “ngh” Quy tắc kết hợp như sau:
q (quả, quê, ) khi đứng trước bán âm /-w-/
/γ/ gh (ghế, ghi ) Khi kết hợp với nguyên âm hàng trước / i, e, ε,
εˇ, ie/
Trang 20- Âm vị /z/ có ba hình thức chữ viết (d, gi, g), nhưng không có một căn
cứ ngữ âm nào cho sự khác biệt này về chữ viết Ví dụ: hai từ “dâu da” và
“giâu gia”, viết “dâu da” hay “giâu gia”? Theo thói quen, nhiều người thường viết là “dâu da”, chứ ít khi viết “giâu gia” Nhưng khi tìm trong quyển “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê, mục từ “dâu da” [22, tr.249] thì thấy viết:
“dâu da x giâu gia” (x viết tắt từ xem) Lật tiếp sang mục từ “giâu gia” [22, tr.298] thì lại thấy ghi: “giâu gia cv dâu da d Cây to cùng họ với trẩu, lá hình bầu dục, quả tròn, mọc từng chùm, ăn hơi chua.” (cv: cũng viết)
Như vậy, hai từ “dâu da” và “giâu gia” đều cùng tồn tại, đều có thể sử
dụng trong khi viết và nói, không có từ nào là sai, người dùng muốn viết cách
nào cũng được Một số (cặp) từ tiêu biểu thuộc loại này như: dàn/ giàn (mướp), (trôi) dạt/ giạt, dẫm /giẫm (đạp), dong/ giong (buồm)
* Khả năng kết hợp của âm vị âm đầu: Kết hợp với tất cả các nguyên
âm và âm đầu vần Tuy nhiên, có một số trường hợp cần lưu ý như sau:
Nhóm phụ âm môi /p, b, m, f, v/ không kết hợp với âm đầu vần (trường hợp thùng phuy, khăn voan là hãn hữu) Nhóm phụ âm đầu lưỡi /t`, t, d, n, ʈ,
s, z, l, ş, ʐ/ có thể kết hợp với tất cả nguyên âm và âm đầu vần (riêng phụ âm
/n/ và /ʐ/ kết hợp hạn chế với âm đầu vần (trường hợp noãn bào, ruy băng là
Trang 21hãn hữu) Nhóm phụ âm mặt lưỡi /c/ và /ɲ/ kết hợp được với tất cả các
nguyên âm và âm đầu vần Nhóm phụ âm cuối lưỡi /k, ŋ, χ, γ/ có thể kết hợp
với tất cả nguyên âm và âm đầu vần, trừ phụ âm /γ/ kết hợp hạn chế với âm
đầu vần (chỉ có một trường hợp: góa) Nhóm phụ âm thanh hầu /q/, và /h/:
Kết hợp được với các nguyên âm và âm đầu vần
2 Âm đầu vần (âm đệm)
Trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt, âm đệm đứng ở vị trí thứ hai của âm tiết, vị trí thứ nhất của phần vần Âm đệm còn gọi là âm nối, tiền chính âm Không giống như phụ âm đầu, âm đệm có thể khuyết (zêrô)
* Số lượng âm đầu vần: Trong tiếng Việt chỉ có một bán âm /-w-/ làm
âm đệm Âm vị này có đặc điểm gần giống nguyên âm /u/ (nguyên âm hàng sau, tròn môi, có độ há hẹp) nhưng phát âm rất lướt
* Chữ viết của âm vị âm đầu vần: Âm đệm /-w-/ có hai hình thức thể hiện trên chữ viết là o và u
Viết o khi đứng trước các nguyên âm có độ há rộng và hơi rộng /ε, a, ă/ (loan, ngoằn nghoèo, oách, choắt ) Viết u khi đứng trước nguyên âm có độ
há hẹp và hơi hẹp /i, ε, ie/ và sau phụ âm /q/ (huệ, huy, quang, huyền )
* Khả năng kết hợp của âm đầu vần:
Âm đệm /-w-/ không xuất hiện sau phụ âm môi /p, b, m, f, v/ và trước nguyên âm tròn môi /u, o, ɔ, uo/ (ngoại lệ: thùng phuy, khăn voan, xe buýt); xuất hiện hạn chế sau các phụ âm /n, ʐ/ (noãn bào, ruy băng)
3 Âm chính (nguyên âm)
Âm chính đứng ở vị trí thứ ba trong âm tiết, vị trí thứ hai trong phần vần
* Số lượng và phân loại âm vị âm chính
Âm vị đảm nhiệm vị trí này là các nguyên âm đơn và nguyên âm đôi,
bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi Cụ thể như sau: Nguyên âm
Trang 22đơn: /i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ/ Nguyên âm đôi: /ie, ɯɤ, uo /
Nguyên âm tiếng Việt như sau:
13 nguyên âm đơn
9 nguyên âm dài
3 nguyên âm đôi ie ɯɤ uo
Âm chính là âm hạt nhân của âm tiết, âm mang “đường nét” cơ bản của thanh điệu Trong cấu tạo âm đoạn của âm tiết tiếng Việt, âm đầu có thể khuyết, nhưng vần không bao giờ khuyết; trong cấu tạo của vần, âm đầu vần và
âm cuối vần có thể khuyết, nhưng âm chính không bao giờ khuyết Âm chính
có mặt trong tất cả các loại âm tiết, từ âm tiết gồm một yếu tố đến âm tiết gồm
bốn yếu tố đoạn tính Ví dụ: Trong âm tiết à âm chính là nguyên âm /a/ Trong
âm tiết huệ thì âm chính là /e/ Trong âm tiết hoan thì âm chính là /a/ Số lượng
âm chính hệ thống nguyên âm tiếng Việt được trình bày như sau:
Âm sắc Vị trí của lưỡi,
hình dáng môi
Độ mở của miệng
Trước, không tròn môi
Sau Không tròn môi Tròn môi
Trang 23Để phân biệt nguyên âm trong bảng hệ thống nguyên âm, người ta dựa vào 4 tiêu chí:
- Chiều hướng của lưỡi: khi phát ra một nguyên âm, lưỡi có thể dịch chuyển qua ba vị trí, đó là đưa về phía trước, lùi về phía giữa, kéo hẳn về phía
sau Theo đó ta có: Nguyên âm dòng trước Ví dụ: /i, e, ε/; Nguyên âm dòng
giữa Ví dụ: /ɯ, ɤ, a/; Nguyên âm dòng sau Ví dụ: /u, o, ɔ/
- Độ mở của miệng: khi phát ra một nguyên âm, miệng có thể mở theo
4 độ mở tạo ra 4 loại nguyên âm khác nhau: Nguyên âm rộng: /a, ă/; Nguyên
âm hơi rộng: /ε, ɔ/; Nguyên âm hơi hẹp: /e,ɤ, a/; Nguyên âm hẹp: /i, ɯ, u/
- Hình dáng của môi: môi có thể chúm tròn hoặc không để tạo ra hai
loại nguyên âm, đó là: Nguyên âm tròn môi Ví dụ: / u, o, ɔ, uo/; Nguyên âm không tròn môi Ví dụ: /i, e, ε , ɯ , ɤ/
- Trường độ của nguyên âm: nguyên âm phát ra có thể kéo dài hay rút ngắn Theo đó dựa vào trường độ, nguyên âm được chia thành hai loại:
Nguyên âm dài /i, ɯ, u, e, ɤ, o, ε, a, ɔ/; Nguyên âm ngắn / ɤˇ, ɔˇ, εˇ, ă/
* Sự thể hiện của âm vị âm chính bằng chữ viết
Các âm vị nguyên âm làm âm chính trong tiếng Việt có các hình thức thể hiện trên chữ viết như sau:
Trang 24Những trường hợp mỗi âm vị có một hình thức chữ viết dễ nhận biết,
dễ nhớ Những trường hợp âm vị có hai hay nhiều hơn hai hình thức chữ viết cần lưu ý để tránh nhầm lẫn:
- Khi không có âm đệm như: lía, kia, chia, tim, tin …
- Trường hợp viết i/y đều đúng trong trường hợp có âm tiết
mở, khuyến khích học sinh viết i: châu Mĩ/ châu Mỹ, địa lí/ địa lý, bác sĩ/ bác sỹ,…)
+ Căn cứ vào nghĩa: tai + Trường hợp âm tiết có độ cao bằng nhau: ỉ eo, ầm ĩ
y
- Trường hợp âm tiết có một nguyên âm (y trong y tế)
- Âm tiết có âm đệm (đứng sau âm đệm) như: tuy, thúy,…
- Đứng sau nguyên âm ngắn /a/ như (ây)
- Đứng trước ê khi chữ đó không có âm đầu như: yêu, yết, yếm
Trang 25- Căn cứ vào nghĩa: tay
/ă/ ă Trong các âm tiết ăn, chăn
a Các âm tiết có vần ay và au như tay, hay, cau, cháu
/ie/
iê Khi âm tiết chỉ có phụ âm đầu, âm chính, âm cuối (tiền, tiêu )
ia Khi âm tiết không có âm cuối (chia, bịa, phía )
yê Khi có âm đệm và âm cuối (tuyến, khuyên ) hoặc khi mở đầu
âm tiết (yến, yên )
ya Khi âm tiết có âm đệm, không có âm cuối (khuya)
/ɯ
ɤ/
ươ Khi âm tiết có âm cuối (mượn, tươi, nước, lượng, )
ưa Khi âm tiết không có âm cuối (mưa, tựa )
/uo/ ua Khi âm tiết không có âm cuối (mua, búa )
uô Khi âm tiết có âm cuối (tuổi, muộn, suối )
* Khả năng kết hợp của âm vị âm chính
- Khả năng kết hợp của nguyên âm với phụ âm cũng có tính quy luật: Các âm vị nguyên âm tiếng Việt đều có khả năng kết hợp với tất cả các
âm vị phụ âm đầu, trừ nguyên âm đôi /uo/ không kết hợp với phụ âm /p/, /f/
và nguyên âm đôi /ie/ không kết hợp với phụ âm đầu /γ/
- Khả năng kết hợp của nguyên âm với âm đầu vần hạn chế hơn Các
nguyên âm tròn môi /u, o, ɔ, uo/ và các nguyên âm /ɔˇ, ɯɤ / không kết hợp
với âm đầu vần Các nguyên âm còn lại đều có khả năng kết hợp với âm đầu
vần (trường hợp âm tiết có phụ âm đầu và âm đầu vần, ví dụ: hoa, huyền, )
4 Âm vị âm cuối
Âm vị âm cuối đứng ở vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết Đó
là âm kết thúc âm tiết Âm đảm nhiệm vị trí này là bán nguyên âm cuối hoặc phụ âm cuối Vị trí của âm vị âm cuối có thể khuyết
* Số lượng âm vị âm cuối
Trang 26Âm vị âm cuối có 8 phụ âm (bốn phụ âm tắc vô thanh và bốn phụ âm
mũi - hữu thanh), hai bán nguyên âm /-w/ và /-j/ Bán nguyên âm cuối /-w/ có cấu âm gần giống nguyên âm /u/ và bán nguyên âm cuối /-j/ có cấu âm gần giống nguyên âm /i/ (là nguyên âm hàng trước, không tròn môi và độ mở hẹp)
Các âm vị âm cuối tiếng Việt được trình bày trong bảng dưới đây:
* Sự thể hiện trên chữ viết của âm vị âm cuối
Tám âm vị phụ âm cuối chỉ có một hình thức thể hiện trên chữ viết Hai
âm vị bán âm nguyên cuối đều có hai hình thức thể hiện trên chữ viết Cụ thể:
Trang 279 /-w/ o Sau nguyên âm rộng và hơi rộng
u Sau nguyên âm hẹp, hơi hẹp, ngắn
10 /-j/ i Sau các nguyên âm không ngắn
y Sau các nguyên âm ngắn
* Khả năng kết hợp của âm vị âm cuối
Trong tiếng Việt, trên chữ viết, phần lớn các nguyên âm có thể kết hợp
với phụ âm cuối ng và c; chỉ một số ít nguyên âm kết hợp với phụ âm cuối nh
và ch Nhưng nếu các nguyên âm có kết hợp với phụ âm cuối ng và c thì không kết hợp với phụ âm cuối nh và ch; ngược lại, nếu các nguyên âm có sự kết hợp với âm cuối nh và ch thì không kết hợp với phụ âm cuối ng và c, trừ nguyên âm /ε/ Cụ thể các nguyên âm kết hợp với phụ âm cuối ng và c:
(nguyên âm hàng sau, (nguyên âm hàng sau, (nguyên âm hàng trước không tròn môi) tròn môi) không tròn môi)
- Các nguyên âm kết hợp với phụ âm cuối nh và ch: inh ich; ênh êch;ach
5 Âm vị thanh điệu
Thanh điệu là một loại âm vị siêu đoạn tính, có tác dụng làm thay đổi ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ Thanh điệu được thể hiện cùng với toàn bộ
âm tiết, hay đúng hơn là toàn bộ phần thanh tính của âm tiết Âm tiết tiếng Việt được cấu tạo đồng thời bởi hai âm vị âm đoạn và đơn vị siêu âm đoạn Trong âm tiết, hai đơn vị không bao giờ vắng mặt là âm chính và thanh điệu
thanh điệu
âm đầu vần âm chính âm cuối
Trang 28* Số lượng và phân loại âm vị thanh điệu
Tiếng Việt có 6 thanh: thanh ngang (thanh không dấu), thanh huyền, thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng Có thể có 4 cách phân loại thanh điệu: xét về cao độ, xét về đường nét âm điệu, xét về sự biến thiên của thanh điệu và xét về động tác nghẽn thanh hầu Tuy nhiên, đối với việc phân biệt ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, ta chỉ cần ghi nhớ hai tiêu chí đầu Đó là:
- Tiêu chí cao độ: Thanh điệu tiếng Việt đối lập nhau ở hai cao độ cơ bản: cao độ cao và cao độ thấp Đó là sự đối lập về âm vực
- Tiêu chí âm điệu: Trên mỗi âm vực, các thanh điệu còn khác nhau về quá trình diễn biến của cao độ theo thời gian Đó là sự khác nhau về đường nét âm điệu Về mặt đường nét, thanh điệu tiếng Việt có thể chia ra làm hai loại lớn là thanh điệu đi ngang, bằng phẳng và thanh điệu không bằng phẳng
* Khả năng kết hợp của âm vị thanh điệu
- Thanh ngang: xuất hiện trong tất cả các âm tiết, trừ âm tiết khép Ví
dụ: cây cam, mưa xuân Nhưng không thể có các âm tiết như: lach, bat, lac
Trang 29- Thanh huyền: có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết
khép, ví dụ: là, sàn, hằng, làm
- Thanh ngã: không thể xuất hiện trong các âm tiết khép Ví dụ: xã, vững vàng, hoẵng, sững sờ
- Thanh hỏi: xuất hiện trong tất cả các âm tiết không phải là âm tiết
khép Ví dụ: vả lại, hỏi han, cảm cúm, cảng biển, lủng củng
- Thanh sắc: có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết Ví dụ: nhất quyết,cố gắng, chính thức, phấn đấu, kế sách
- Thanh nặng: xuất hiện ở tất cả các kiểu âm tiết Ví dụ: đụng
độ, chợ xuân, lợi lộc, lạm dụng, trục trặc, quen thuộc
b) Đặc điểm chữ viết tiếng Việt
Chữ Quốc ngữ La tinh, ngày nay gọi là chữ Quốc ngữ, ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII do các giáo sĩ phương Tây xây dựng, trên cơ sở chữ viết ngôn ngữ của họ - tức chữ viết La tinh nhằm thuận lợi cho công việc hành đạo Chữ viết La tinh đã trở thành thứ chữ quen thuộc, phổ biến của người Việt Nếu xem năm 1651 là năm chữ Quốc ngữ ra đời thì tính đến nay, hệ thống chữ viết này đã có gần 400 năm tuổi
Nói về vai trò của chữ Quốc ngữ, Võ Văn Sen cho rằng: “Từ năm 1945 đến nay, tiếng Việt và chữ ghi âm của nó, chữ Quốc ngữ, đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước Khó có thể hình dung phong trào “diệt giặc dốt”, “bình dân học vụ” trong những ngày đầu tiên sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám sẽ như thế nào nếu không có mấy chục chữ La tinh với cách ghép vần đơn giản, dễ dạy, dễ học! Giá trị của chữ Quốc ngữ là điều không ai có thể phủ nhận vì nó gắn chặt với những thăng trầm của lịch sử dân tộc Nó là tài sản của quốc gia và cần phải được trân trọng như tài sản của quốc gia” [25, tr.8] Chữ Quốc ngữ được xây dựng
trên hệ thống chữ cái La tinh, là chữ ghi âm, xây dựng theo nguyên tắc ngữ
Trang 30âm học, tức là nói sao viết vậy Chữ Quốc ngữ có ưu và nhược điểm sau:
* Về ưu điểm
- Chữ Quốc ngữ là loại chữ tiến bộ nhất trong quá trình sáng tạo chữ viết của nhân loại Chữ Quốc ngữ được xây dựng trên cơ sở bảng chữ cái La tinh được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới
- Chữ Quốc ngữ sử dụng rất ít kí hiệu nhưng có thể ghi lại tất cả mọi điều chúng ta cần biểu đạt Chữ Quốc ngữ được xây dựng theo nguyên tắc âm
vị học, về căn bản là có sự tương ứng 1-1 giữa âm và chữ viết Mỗi âm do một kí hiệu biểu thị, mỗi kí hiệu luôn luôn có một giá trị, tức biểu thị một âm duy nhất ở mọi vị trí trong từ Cách viết thành âm tiết rời, làm cho sự kết hợp giữa các chữ cái đơn giản, thuận lợi
* Về hạn chế
- Chữ Quốc ngữ không phải do người Việt làm ra mà do tập thể các nhà
truyền giáo người châu Âu sáng tạo ra cho nên nó mang theo những hạn chế của chữ viết trong những ngôn ngữ làm tiền đề cho nó do sự biến đổi lịch sử
+ Âm vị /k/ ở vị trí âm đầu được ghi bằng ba con chữ: “k” khi đứng trước các nguyên âm dòng trước không tròn môi /i, e, ie, ε/, “q” khi đứng trước âm đệm, còn lại viết là “c” Âm vị /ŋ-/ được ghi bằng hai tổ hợp con chữ: “ngh” khi đứng trước các nguyên âm dòng trước không tròn môi /i, e,ie, ε/, còn lại viết “ng” Âm vị /γ/ cũng tương tự như /ŋ-/ ta có “gh” và “g”
Hiện nay, trường hợp âm vị đầu /z/ viết thành 3 con chữ trong đó có tổ hợp con chữ “gi” như trong các từ gia đình, gian nan, giàu có, Nhưng nếu nguyên âm đi sau nó là /i/ thì người ta lại bỏ bớt một con chữ “i” nhưng vẫn phải đọc là “gi” Việc làm này làm cho người Việt ngày nay nếu nhìn trên chữ viết chúng ta phải đánh vần là “iêng gờ iêng giêng sắc giếng” trong từ “giếng”,
Hạn chế của chữ Quốc ngữ có tính lịch sử này mà người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ cố gắng ghi âm càng trung thực bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Kết quả
Trang 31là họ dùng một số con chữ để ghi cả những biến thể của âm vị Như: Âm đệm
/-w-/ được viết là “o” khi đứng trước các nguyên âm rộng và hơi rộng /a, ă, ε/, còn lại viết “u” Trừ một ngoại lệ âm đầu là chữ “q” thì tất cả đều viết “u”
- Vì chữ Quốc ngữ được xây dựng trên nguyên tắc ngữ âm học, nói sao viết vậy nên luôn bị ảnh hưởng bởi cách phát âm vùng miền
1.3.1.3 Cách hiểu về lỗi chính tả trong tiếng Việt
Trong cuốn Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội, (Phan Ngọc, 1984,
NXB Giáo dục) thì lỗi chính tả là lỗi viết sai chuẩn chính tả Lỗi chính tả bao gồm những vấn đề sau đây:
a Lỗi viết hoa: Lỗi viết hoa là một trong những lỗi chính tả xuất hiện rất nhiều trong bài viết của học sinh Lỗi viết hoa bao gồm hai kiểu lỗi nhỏ:
Viết hoa sai quy định chính tả: Là viết hoa hay không viết hoa theo
đúng quy định chính tả: Mở đầu bài viết, đoạn văn, không viết hoa sau dấu chấm (.), dấu chấm lửng hết câu (…)… Ví dụ: chí Phèo, cách mạng tháng
10… Đúng chính tả, học sinh phải viết: Chí Phèo, Cách mạng tháng Mười,…
Viết hoa tùy tiện: Là viết hoa những đơn vị từ vựng bình thường,
không nằm trong quy định chính tả về viết hoa Ví dụ: quá trình Giác ngộ lý
tưởng Cách mạng của nhà thơ, Chế độ Phong kiến tàn ác, giai cấp Tư sản, …
b Lỗi viết tắt: Lỗi viết tắt xuất hiện trong bài viết của học sinh thấp hơn nhiều so với lỗi viết hoa Thông thường, lỗi viết tắt bao gồm hai kiểu:
Viết tắt sai quy định chính tả: Là viết tắt không theo đúng quy định
chính tả về viết tắt Ví dụ: P/N, đ/c, T.D.T.T v.v… Theo quy định chính tả, phải viết: PN, ĐC, TP, TDTT (phụ nữ, đồng chí, thể dục thể thao)
Viết tắt tùy tiện: Là dùng các ký hiệu viết tắt mang tính chất cá nhân
vào bài viết chính thức Ví dụ: (ta (người ta), vật (nhân vật), fê fán (phê phán), tình thg (tình thương), xlc (xâm lược) v.v… Hiện tượng viết tắt tùy
tiện rất dễ khắc phục, nếu như học sinh có ý thức tránh loại lỗi chính tả này
Trang 32c Lỗi dùng số và chữ biểu thị số: Kiểu lỗi chính tả này có hai biểu hiện chính: lẫn lộn giữa hai loại số và lẫn lộn giữa số với chữ biểu thị số
Lẫn lộn hai loại số: Trường hợp phải biểu đạt bằng số khi đề cập đến
ngày, tháng, năm, thế kỉ… Theo quy định chính tả, tùy trường hợp mà dùng
số Ả Rập, còn gọi là số thường (1,2,3…), La Mã (I, II, III…) Do không nắm đúng quy định chính tả, nên học sinh thường sử dụng lẫn lộn hai loại số Ví
dụ: thế kỉ 16, theo quy định chính tả phải viết bằng số La Mã: thế kỷ XVI
Lẫn lộn số và chữ biểu thị số: Theo quy định chính tả, trường hợp phải
viết bằng chữ, khi biểu thị số chỉ số lượng, thứ tự, Do không nắm rõ quy định chính tả và do thói quen, học sinh dễ lẫn lộn giữa số và chữ biểu thị số
Ví dụ: Ngày sáu, tháng hai; 1 đám tang; cuộc gặp gỡ thứ I,… Theo quy định
chính tả, phải viết: Ngày 6, tháng 2; một đám tang; cuộc gặp gỡ thứ nhất,…
d Lỗi chính tả âm vị: Là hiện tượng vi phạm diện mạo ngữ âm của từ
thể hiện trên chữ viết Nó là hiện tượng chữ viết ghi sai từ Dựa vào cấu trúc
của âm tiết tiếng Việt, có thể chia lỗi chính tả âm vị thành hai kiểu nhỏ sau:
Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính: Là loại âm vị không được định vị
trên tuyến thời gian khi phát âm, mà được thể hiện lồng vào các âm vị đoạn tính Ví dụ: Lảng mạng, nỗi bật, (khác) hẵn, vội vả, chán nãn, diển đạt,
Lỗi chính tả âm vị đoạn tính: Là các âm vị được phân bố nối tiếp nhau
trên tuyến thời gian khi phát âm Trong âm tiết tiếng Việt, âm vị đoạn tính gồm có phụ âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối/bán âm cuối Lỗi chính tả
âm vị đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai các âm vị Cụ thể là:
+ Ghi sai phụ âm đầu: Hiện tượng ghi sai phụ âm đầu trong bài viết
của học sinh thường thể hiện ở sự lẫn lộn các chữ cái hay các tổ hợp chữ cái
ghi phụ âm đầu Ví dụ: ch/tr: chung thành, trà đạp, chông đợi, xáo chộn…
+ Ghi sai âm đệm: Trong âm tiết tiếng Việt, âm đệm /-u-/ phân bố sau
phụ âm đầu, được ghi bằng hai chữ cái u và o, tùy trường hợp Trong bài viết
Trang 33của học sinh, hiện tượng ghi sai âm đệm thường có biểu hiện thiếu chữ cái
ghi âm đệm Ví dụ: lẩn quẩn, lắt chắt, ngó ngáy, ngọ ngậy…vv
+ Ghi sai âm chính: Trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai âm chính thường có hai biểu hiện chính:
Lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn: /â/ơ /a/: nhảy giai; lớp cửa hang, xơm lược; /o/ô/ â/: Lồng yêu Tổ quốc, đọc đáo, gấp gạo,
Lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn với các chữ cái ghi nguyên âm đôi, nhất là giữa: ao/au/âu: chầu cờ, thầy bậu, câu quý, chiến đáo; iu/êu/ iêu: điều đặn, búa riều; oi/ôi/ơi/uôi: nôi dưỡng, thôi thớp, noi này
- Ghi sai phụ âm cuối / bán nguyên âm cuối: Hiện tượng ghi sai âm cuối trong bài viết của học sinh thường có hai biểu hiện chính:
Thứ nhất, lẫn lộn giữa các chữ cái phụ âm cuối, cụ thể là lẫn lộn giữa:
+ /p, t, c, k/- (p, t, c, ch, k) Ví dụ: mặt áo, đạc bằng, xen cẽ, xâm lượn,
bão lục, mụt đích, sâu sắt, khâu khác hạnh phút, sốc xa,
+ /m, n, ŋ, nh/ - (m, n, ng, nh) Ví dụ: niền tin, cầu hôm, bắt gian, suy
ngĩ, khản định, tìm cả, văn bả, hóa dụng, đáng giặc, băng khoăng,
Thứ hai là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi bán âm cuối, cụ thể là giữa: + o/u: Ví dụ: báo vật, cao có, lao lách, trao dồi…vv
+ ai/ ay/ ây Ví dụ: vãi tay, cai độc, báy (bái)
Giữa bốn kiểu lỗi chính tả âm vị đoạn tính, trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai âm chính và âm cuối xuất hiện nhiều hơn Kế đến là ghi sai phụ âm đầu Lỗi ghi sai âm đệm xuất hiện ít nhất
1.3.2 Lỗi chính tả và việc dạy học trong tiếng Việt cấp THCS
1.3.2.1 Nhiệm vụ dạy học tiếng Việt cấp THCS
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn THCS, mục tiêu và nhiệm vụ của dạy học tiếng Việt được sách giáo khoa Ngữ văn cấp THCS cụ thể hóa thành ba phương diện: kiến thức, kĩ năng, thái độ
Trang 34Về kiến thức: Làm cho học sinh nắm được những đặc điểm, hình thức
và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu của từng bộ phận cấu thành tiếng Việt (đơn vị cấu tạo từ, đơn vị từ vựng, từ loại chính, kiểu câu thường dùng); nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về mục đích, nắm được các quy tắc sử dụng tiếng Việt để giao tiếp trong nhà trường cũng như ngoài xã hội
Về kĩ năng: Trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học
Về thái độ: Chương trình yêu cầu một cách toàn diện: nâng cao ý thức giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt, xây dựng hứng thú và thái độ nghiêm túc, khoa học trong việc học tập tiếng Việt và văn học; có ý thức và biết cách ứng
xử, giao tiếp trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội
1.3.2.2 Nội dung dạy học tiếng Việt cấp THCS
Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cấu trúc nội dung dạy học Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn cấp THCS được xây dựng theo
quan điểm tích hợp theo chiều dọc và chiều ngang [Chuẩn kiến thức, 2010]
Trang 35+ Dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than
- Phong cách ngôn ngữ và các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ
+ Các loại câu: câu rút gọn, câu đặc biệt, câu chủ động, câu bị động
+ Biến đổi câu: trạng ngữ, dùng cụm chủ vị để mở rộng câu
+ Dấu câu: dấu chấm phẩy, dấu chấm lửng, dấu gạch ngang
- Phong cách ngôn ngữ và các biện pháp tu từ: chơi chữ, điệp ngữ, liệt kê
+ Dấu câu: dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu hai chấm
- Phong cách ngôn ngữ và các biện pháp tu từ: nói giảm, nói tránh, nói quá, trật tự từ
Trang 36- Hoạt động giao tiếp: Hành động nói, hội thoại
1.4 Một số đặc điểm kinh tế - xã hội - giáo dục huyện Điện Biên Đông 1.4.1 Một số đặc điểm kinh tế - xã hội
* Khái quát chung:
Điện Biên Đông là một huyện vùng cao nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Điện Biên (Trung tâm huyện cách thành phố Điện Biên Phủ 55 km), có toạ độ địa lý: Từ 210 01‟46‟‟ đến 210 26‟17‟‟ vĩ độ Bắc; 103003‟56‟‟ đến 103026‟18‟‟ kinh độ Đông Ranh giới hành chính tiếp giáp với các địa phương: phía Bắc giáp huyện Mường Ảng, phía Nam giáp huyện Điện Biên và huyện Sông Mã,
Trang 37tỉnh Sơn La, phía Đông giáp huyện Sông Mã, huyện Sốp Cộp của tỉnh Sơn
La, phía Tây giáp huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ
Huyện Điện Biên Đông được thành lập theo Nghị định số:
59/1995/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 1995 của Chính phủ được tách ra từ huyện Điện Biên tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) có diện tích tự nhiên là 120.897,85
ha, với gần 50.000 người với 6 dân tộc anh em cùng sinh sống Đến cuối năm
2015 huyện có tổng dân số 61.916 người, phân bố trên địa bàn 13 xã và Thị Trấn Là huyện miền núi nghèo trong tổng số 62 huyện nghèo nhất nước theo Nghị quyết 30a/CP Địa hình đồi núi phức tạp được cấu tạo bởi những dãy núi cao dốc nhất của Việt Nam chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Do ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo nên địa hình bị chia cắt mạnh Độ cao trung bình từ 800m - 1000m so với mực nước biển, núi bị bào mòn mạnh thành những thung lũng hẹp, thêm bãi bồi dọc các con sông, suối,
* Về kinh tế: Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh, đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân các dân tộc trong huyện đã có chuyển biến rõ rệt: bình quân lương thực đầu người năm 2015 đạt 434 kg/người/năm Đến nay, toàn huyện
có trên 700 hộ đăng ký kinh doanh, 35 trang trại và hàng trăm mô hình trang trại tổng hợp, đã góp phần khai thác tiềm năng đất đai và giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân Tập trung đầu tư xây dựng và quy hoạch các vùng kinh tế; quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng kinh tế phía Bắc và Tây Bắc, huyện đang xây dựng một nhà máy thủy điện tại xã Mường Luân
Hệ thống giao thông phát triển khá đồng bộ, đến nay 14/14 xã, Thị Trấn có đường ô tô đến trung tâm; 80% các xã ở trung tâm đã có trường học kiên cố; 100% số bản có đường dân sinh, tỷ lệ hộ được sử dụng điện lưới đạt 82,7%;
tỷ lệ số hộ được cấp nước sinh hoạt đạt 87,16%, bộ mặt nông thôn từng bước được đổi thay và phát triển
Trang 38* Về văn hóa - xã hội: Huyện có 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Pu Nhi, Nong U, Keo Lôm, Na Son, Sa Dung, Phì Nhừ, Mường Luân, Luân Giói, Chiềng Sơ, Pú Hồng, Phình Giàng, Háng Lìa, Tìa Dình và Thị Trấn Điện Biên Đông Dân tộc Mông có 17.732 người, chiếm 53,9% dân số; dân tộc Thái có 10.034 người, chiếm 30,5% dân số Còn lại là các dân tộc khác Hệ thống chính trị được quan tâm, công tác quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ, công tác phát triển đảng viên và tổ chức đảng, nâng cao nhận thức chính trị của cán bộ và nhân dân được chú trọng
Sự nghiệp giáo dục tiếp tục được phát triển cả về quy mô, số lượng và chất lượng Huyện có 14/14 xã, Thị Trấn duy trì giữ vững thành quả về Phổ cập Giáo dục THCS; 100% các xã, Thị Trấn đạt chuẩn Phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và đạt chuẩn Phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 21/56 trường được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia (tính đến tháng 5/2016) Công tác y tế, văn hóa, từng bước phát triển, các chính sách xã hội được quan tâm chăm lo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, thế trận quốc phòng toàn dân được củng cố vững chắc, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh
1.4.2 Đặc điểm dân tộc Mông huyện Điện Biên Đông
Huyện Điện Biên Đông dân tộc Mông có mặt ở hầu khắp tất cả các xã,
họ thường cư trú ở trên núi cao và dưới các sườn núi Dân tộc Mông có 17.732 người (theo thống kê tháng 10/2015 của huyện) chiếm số lượng nhiều nhất huyện 53,9% dân số Người Mông có tập quán du canh du cư, nguồn sống chính là làm nương rẫy, trồng ngô, lúa, sắn, có nơi làm ruộng bậc thang Ngoài ra họ còn trồng lanh để lấy sợi dệt vải, may thêu; nghề thủ công khá
đa dạng như rèn đúc dụng cụ, làm giấy bản, đồ đựng bằng gỗ, thợ bạc làm đồ trang sức
Trang 39Trang phục đồng bào Mông: Trang phục khá đa dạng, chủ yếu bằng vải lanh tự dệt Y phục phụ nữ Mông gồm áo xẻ ngực thêu hoa văn ở cánh tay, váy thêu hoa văn khá tinh xảo, tà váy xếp nếp xòe rộng Nhà ở là nhà trệt, ba gian, thưng ván, lợp mái tranh hoặc ngói
Quan niệm của người Mông, cùng họ là anh em, có thể chết trong nhà nhau Người Mông có tính tự trọng cao, tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng sâu sắc Gia đình dân tộc Mông là gia đình phụ hệ, hôn nhân của Mông theo phong tục “bắt vợ”(hei pux), người cùng họ không được lấy nhau, tình cảm vợ chồng yêu thương, gắn bó thủy chung Trong mỗi thôn bản dân tộc Mông quan hệ các dòng họ càng được gắn bó qua việc cúng thờ, cúng chung thổ thần của thôn bản Dân tộc Mông thờ cúng bốn đời Tổ tông Vì đó là những đấng thiêng liêng phù hộ độ trì cho con cháu khỏe mạnh, ăn nên làm ra
Nhạc cụ của dân tộc Mông khá đa dạng, nhưng phổ biến nhất là khèn
và đàn môi Lễ hội truyền thống: Hội chọi trâu, bò, hội ném pao, hội xuân, hội thổi khèn hát đối,
Người Mông Điện Biên Đông có truyền thống ăn Tết độc lập, vào dịp mùng 02 tháng 09 đồng bào Mông ở khắp các xã hội tụ về trung tâm huyện để vui Tết, tổ chức và tham gia các trò diễn đậm bản sắc văn hóa dân tộc Đây là một phong tục đặc sắc đã được Đảng và chính quyền địa phương khuyến khích duy trì Ngoài ra người Mông Điện Biên Đông còn ăn Tết dương lịch hàng năm và họ cho rằng đấy là ngày Tết quan trọng nhất đối với họ trong một năm mới Người Mông có phong tục tập quán riêng và được lưu giữ qua nhiều thế hệ, đã tạo nên đời sống văn hóa vô cùng phong phú
1.4.3 Đặc điểm giáo dục học sinh dân tộc tại Trường THCS Thị Trấn, THCS Sa Dung và THCS Tân Lập
- Trường THCS Thị Trấn: Là trường nằm tại trung tâm Thị Trấn
Điện Biên Đông, huyện Điện Biên Đông Trường có 10 phòng học khang
Trang 40trang có đủ bàn ghế, hệ thống máy chiếu được lắp đặt ở tất cả các lớp, hệ thống các phòng học bộ môn, các phòng chức năng được xây dựng và trang thiết bị đủ đảm bảo cho công tác dạy và học của nhà trường
Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên là 31 người, 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, có trách nhiệm cao trong công việc, 70% giáo viên của trường đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh Đây là cơ sở nòng cốt góp phần thúc đẩy công tác giáo dục nhà trường phát triển
Tổng số toàn trường có 297 học sinh, gồm 3 thành phần dân tộc là Thái, Mông, Kinh (dân tộc Mông chiếm khoảng 55%, dân tộc Thái khoảng 35%, dân tộc Kinh khoảng 10%)
- Trường PTDTBT THCS Sa Dung: cách trung tâm huyện 31km về
phía Bắc Cơ sở vật chất trường những năm trước kia còn rất sơ sài, phòng học chủ yếu là những dãy nhà tạm, trang thiết bị thiếu thốn chưa đáp ứng nhu cầu dạy và học Nhưng trong những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo huyện Điện Biên Đông trường được xây dựng hai dãy phòng học mới đủ cho 17 lớp học trong hai ca Có đủ nhà ở cho các em học sinh bán trú (là các nhà tạm) Các phòng học bộ môn, các phòng chức năng được đầu tư xây dựng đảm bảo cho công tác dạy và học của nhà trường
Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên là 47 người, 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, 65% giáo viên của trường đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trong nhà trường đoàn kết, luôn là tấm gương mẫu mực hết lòng vì học sinh các dân tộc vùng cao thân yêu
Tổng số học sinh toàn trường là 556 học sinh với 17 lớp, 97% các em học bán trú tại trường đều là dân tộc Mông
- Trường PTDTBT THCS Tân Lập: là một trường ở xa cách trung