Trong đó cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong định danh hiện thực bằng cách ghép các từ lại với nhau là có khả năng phản ánh nhiều nhất và sinh động nhất đặc điểm tâm lý của người bản ngữ tro
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với giáo sư hướng dẫn, PGS TS Trịnh Sâm
vì những gì tôi đã được kế thừa và vì thầy đã dành nhiều thời gian, công sức chỉ bảo cho tôi từ
những bước ban đầu khó khăn cũng như đã giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình thực hiện để toi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các giáo sư, các giảng viên ở Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, những người thầy học trong những năm qua đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Và tôi cũng xin được cảm ơn lãnh đạo Phòng Khoa học công nghệ - Sau đại học đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
Xin trân trọng cảm ơn
Lê Thị Phương Mai
Trang 4M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN 3
M ỤC LỤC 4
M Ở ĐẦU 6
1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI 6
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
2.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.2 Phạm vi nghiên cứu 7
3 N ỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
3.1 Nội dung nghiên cứu 7
3.2 Phương pháp nghiên cứu 8
4 L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 8
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIÊN CỦA ĐE TÀI 11
6 B Ố CỤC CỦA LUẬN VĂN 11
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ HỮU QUAN 12
1.1 Cơ chế ngữ nghĩa -tâm lý trong sự định danh 12
1.2 Các ki ểu định danh 13
1.2.1 Định danh trực tiếp 13
1 2.2 Định danh gián tiếp 14
1.3 Kích thước của ngữ định danh trực tiếp 15
1.4 Phân lo ại ngữ định danh trực tiếp song tiết 16
1.5 Các ki ểu định danh của ngữ định danh trực tiếp song tiết 19
1.5.1 Định danh không thông qua liên tưởng: là cách gọi tên một đối tượng chỉ căn cứ vào bản thân đối tượng đó mà thôi 19
Trang 51.5.2 Định danh thông qua liên tưởng 20
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU CƠ CHẾ NGỮ NGHĨA - TÂM LÝ TRONG Tổ HỢP SONG TI ẾT CHÍNH PHỤ 22
2.1 T Ổ HỢP SONG TIẾT CHÍNH PHỤ LÀ DANH NGỮ 22
2.1.1 Tổ hợp danh - danh 22
2.1.2 Tổ hợp danh- động 28
2.1.3 Tổ hợp danh- tính 33
2.2 T ổ hợp song tiết chính phụ là động ngữ 36
2.2.1 Tổ hợp động - danh 37
2.2.2 Tổ hợp động- động 44
2.2.3 Tổ hợp động - tính 49
2.3 T Ổ HỢP SONG TIẾT CHÍNH PHỤ LÀ TÍNH NGỮ 53
2.3.1 Tổ hợp tính- danh 54
2.3.2 Tổ hợp tính-động 57
2.3.3 Tổ hợp tính-tính 59
K ẾT LUẬN 60
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 62
PH Ụ LỤC 65
Trang 6M Ở ĐẦU
Con người đã tạo ra ngôn ngữ bằng hai thao tác: gọi tên hiện thực và ghép những tên gọi
ấy thành câu, thành lời Cơ chế của thao tác thứ nhất là cơ chế định danh Cơ chế định danh tạo
ra các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ
Cơ chế định danh gồm có hai phương diện: cơ chế ngữ pháp và cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý
Cơ chế ngữ pháp tồn tại trong quan hệ về chức phận của căn tố, giữa những từ tố trong nội bộ
từ hoặc giữa các từ trong tổ hợp định danh Cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý tồn tại trong cách tạo nghĩa cho căn tố, cách cấu thành nghĩa và dung hợp nghĩa giữa những từ tố trong nội bộ từ
hoặc giữa các từ trong tổ hợp định danh
Tìm hiểu cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong sự định danh của một ngôn ngữ chúng ta sẽ thấy cách nhìn nhận, cách phản ánh thực tế của dân tộc nói ngôn ngữ ấy Trong đó cơ chế ngữ nghĩa
- tâm lý trong định danh hiện thực bằng cách ghép các từ lại với nhau là có khả năng phản ánh nhiều nhất và sinh động nhất đặc điểm tâm lý của người bản ngữ trong quá trình chia cắt hiện
thực để gọi tên nó.Vì vậy việc tìm hiểu cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong định danh hiện thực để qua đó tìm hiểu cách nhìn nhận, cách phản ánh, cách chia cắt hiện thực của dân tộc là mục tiêu ban đầu để chúng tôi lựa chọn đề tài "TÌM HIỂU CƠ CHẾ NGỮ NGHĨA - TÂM LÝ TRONG
Tổ HỘP SONG TIẾT CHÍNH -PHỤ TIẾNG VIỆT"
Theo tìm hiểu của chúng tôi, về cơ chế định danh với tư cách là một nội dung quan trọng
của bộ môn cấu tạo từ, nhiều công trình đã đề cập đến Riêng về phương diện cơ chế ngữ nghĩa -tâm lý trong sự định danh, chỉ có một số ít công trình đề cập khi bàn đến những vấn đề bao quát hơn Vậy có thể nói là chưa có công trình nào dành riêng cho cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt Đi vào tìm hiểu cụ thể cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt để tìm hiểu cách định danh hiện thực được người
Việt ưa dùng là một mục tiêu nữa của chúng tôi khi lựa chọn đề tài này
Trang 72 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tổ hợp định danh trong tiếng Việt có thể có kích thước hai hoặc nhiều hơn hai âm tiết,
có thể có cơ chế định danh trực tiếp hay gián tiếp Nhưng chúng tôi chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu là những ngữ định danh song tiết chính - phụ được hình thành theo cách định danh
trực tiếp Vì những đơn vị định danh loại này thể hiện rõ nét và sinh động hơn tâm lý của người
bản ngữ qua việc chia cắt hiện thực để gọi tên Chúng tôi sử dụng cứ liệu ở Từ điển tiếng Việt,
2004, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nấng và Từ điển từ mới tiếng
Việt, 2002, Chu Bích Thu chủ biên, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
về ngữ định danh song tiết chính - phụ tiếng Việt, có nhiều phương diện đã và đang được nghiên cứu Trong phạm vi có thể, luận văn chủ yếu đề cập đến phương diện cơ chế ngữ nghĩa -tâm lý trong tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt: định danh không thông qua liên tưởng, so sánh; định danh thông qua liên tưởng, định danh thông qua so sánh; khả năng hạn định về nghĩa của thành tố phụ với thành tố chính; mối quan hệ về nghĩa giữa thành tố phụ và thành tố chính
Phần đầu luận văn trình bày các vấn đề hữu quan của cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong tổ
hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt: cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong định danh, các kiểu định danh và các loại ngữ định danh, kích thước của ngữ định danh, các cách định danh của ngữ định danh song tiết chính - phụ Chúng tôi kế thừa những quan điểm đã được thừa nhận để nêu lên những vấn đề khái quát này
Trên cơ sở những vấn đề khái quát đó, luận văn đi vào nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa - tâm
lý của các tổ hợp song tiết chính ¬phụ Chúng tôi căn cứ vào tiêu chí từ loại để phân chia các
cứ liệu thành các mô thức kết hợp và ở mỗi mô thức kết hợp chúng tôi lại phân chia theo tiêu chí ngữ nghĩa thành những nhóm ngữ định danh nhỏ hơn ở đây chúng tôi chủ yếu dựa vào
ố đi sau (là thành tố phụ về ngữ pháp nhưng lại là thành tố trung tâm về ngữ nghĩa) để
Trang 8phân chia, phân tích Ở các mô thức kết hợp chúng tôi có bảng khái quát những cứ liệu phân tích Trong quá trình phân tích cứ liệu, luận văn nêu ra một số nhận xét về phương diện tâm lý trong quá trình tạo ra các ngữ định danh song tiết chính - phụ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài một số thủ pháp quen thuộc của ngôn ngữ học như: quan sát, SƯU tập, phân tích, miêu tả, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê: luận văn thống kê tất cả các tổ hợp song tiết chính-phụ định danh theo lối trực tiếp trong Từ điển tiếng Việt, 2004, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nang và Từ điển từ mới tiếng Việt, 2002, Chu Bích Thu chủ biên, Nhà xuất
bản Thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp phân loại: luận văn đã căn cứ vào tiêu chí từ loại và tiêu chí ngữ nghĩa để phân chia các cứ liệu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: luận văn so sánh, đối chiếu về số lượng giữa các mô
thức kết hợp của ngữ định danh; so sánh về các xu hướng định danh, cơ chế hình thành các tổ
hợp định danh
- Phương pháp mô hình hóa: luận văn sử dụng phương pháp này để mô hình hóa các cứ
liệu được phân tích thành các bảng một cách có hệ thống
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp, thủ pháp được vận dụng đơn lẻ hay kết
hợp với nhau tuy vào đối tượng, mục đích hay nội dung nghiên cứu
về cơ chế định danh với tư cách là một nội dung quan trọng của bộ môn cấu tạo từ, nhiều tác giả đã đề cập đến trong các công trình của mình
- Hồ Lê, 1976, Cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH
- Nguyễn Văn Tu, 1976, Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục
-Lê Cận - Phan Thiều, 1983, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập I Nxb Giáo dục
-Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, 1983, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb KHXH
Trang 9-Nguyễn Thiện Giáp, 1985, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục
-Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung, 1991, Ngữ pháp tiếng Việt, tập I, Nxb Giáo dục Nhìn chung các tác giả ở các công trình nói trên đều đề cập đến cơ chế ngữ pháp trong sự định danh của tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt mà họ gọi là từ ghép chính phụ (ngoại trừ Nguyễn Thiện Giáp)
Tác giả Hồ Lê [18, tr.392-429] gọi những đơn vị này là "từ ghép chính phụ" theo mẫu
"nguyên vị thực + nguyên vị thực" Ông chia chúng thành từ ghép chính phụ là danh từ với các
mẫu: danh từ + tính từ, danh từ + danh từ, danh từ + động từ; từ ghép chính phụ là động từ với các mẫu: động từ + danh từ, động từ + động từ, động từ + tính từ; từ ghép chính phụ là tính từ
với các mẫu: tính từ + danh từ, tính từ + tính từ, tính từ + động từ Dành đến 37 trang sách để
khảo sát những từ ghép này, ông chủ yếu nghiên cứu về mức độ biến nghĩa của từng thành tố
cấu tạo nên từ ghép và của từ ghép
Tác giả Nguyễn Văn Tu [39, tr.56-68] gọi đây là những từ ghép bổ nghĩa để phân biệt với
những từ ghép hợp nghĩa "những từ ghép bổ nghĩa là những từ ghép được tạo ra bằng hai từ tố theo quan hệ không ngang nhau về kết cấu và về nghĩa Có một từ tố chính mang nghĩa chính
và một từ tố mang nghĩa bổ sung Cái nghĩa bổ sung này có thể làm rõ nghĩa cho toàn bộ từ" Ông chia từ ghép bổ nghĩa thành 09 kiểu ứng với 09 mô thức như tác giả Hồ Lê nhưng ông chỉ chú tâm phân tích tính cố định hoá, tính thành ngữ để phân biệt với cụm từ mà gần như không phân tích về ngữ nghĩa
Tác giả Phan Thiều [5, tr.82-88] xác định: trong từ ghép chính phụ, về mặt nội dung, thành tố chính biểu thị ý nghĩa nòng cốt còn thành tố phụ thì bổ sung thêm chi tiết để làm cho ý nghĩa của toàn cấu trúc rõ thêm Ông chia từ ghép chính phụ thành từ ghép cú pháp tính và từ ghép phi cú pháp Từ ghép cú pháp tính là từ ghép được tổ chức theo dùng quan hệ cú pháp trong ngôn ngữ còn từ ghép phi cú pháp được cấu tạo theo một quan hệ không có cái tương ứng trong cú pháp Với tính chất của một giáo trình ngữ pháp, Phan Thiều cũng chủ yếu đi vào phân biệt giữa từ ghép và cụm từ
Các tác giả trong Ngữ pháp tiếng Việt [40, tr.59-64] quan tâm nhiều hơn về ngữ nghĩa của
từ ghép chính phụ như chỉ ra ý nghĩa khái quát hoa và hình tượng hóa của tiếng chính cũng như
Trang 10tiếng phụ, sự gắn bó về nghĩa giữa tiếng chính và tiếng phụ Tuy nhiên, đó mới chỉ là những
nhận xét hết sức khái quát
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp [li, tr.70-76] đã đề cập tương đối rõ nét đến phương diện cơ
chế ngữ nghĩa - tâm lý trong sự định danh Ông phân chia thành ngữ định danh hòa kết và ngữ định danh hợp kết dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa và chỉ rõ "Chính đi sâu vào cách đặt tên gọi, sẽ khám phá ra quy luật vận động của tư duy mỗi dân tộc trong từng thời kì lịch sử khác nhau Nghiên cứu cơ chế tạo nghĩa của một đơn vị từ vựng chính là khám phá quy luật vận động đó."[ÌÌ, tr.71] Nguyễn Thiện Giáp trong công trình của mình đã chỉ ra những nét chung nhất về
cơ chế tạo nghĩa của các ngữ định danh trong tiếng Việt
Tác giả Diệp Quang Ban [2, tr.47-51] căn cứ vào vai trò của các từ tố trong việc tạo nghĩa
của từ ghép đã chia từ ghép chính phụ thành hai kiểu chính là từ ghép chính phụ dị biệt và từ ghép chính phụ sắc thái hoa Như vậy ở đây tác giả đã quan tâm nhiều đến cơ chế ngữ nghĩa
của từ ghép chính phụ
Tác giả Trịnh Sâm [28, tr.42-49] đã đề cập vấn đề một cách công phu hơn Tác giả chỉ ra
những khả năng hạn định nghĩa của thành tố phụ với thành tố chính là danh từ một cách chi
tiết Còn khả năng hạn định nghĩa của thành tố phụ với thành tố chính là động từ, tính từ chưa được tác giả khảo sát cụ thể
Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm nhận xét: Với từ ghép chính phụ tình hình phức tạp hơn nhiều.Có thể phân chia thành: từ hoặc tổ hợp từ chỉ tiểu loại, từ hoặc tổ hợp từ chỉ kiểu thức, từ
hoặc tổ hợp từ chỉ mức độ cao của thuộc tính đã nêu, từ hoặc tổ hợp từ hình thành bằng con đường ẩn dụ hay hoán dụ tên gọi Trong đó hai loại đầu có sức sản sinh rất cao [38, tr.231-232]
Với một số tác giả khác, cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý có được bàn đến trong khi đề cập đến
một vấn đề rộng hơn hay chỉ là một vài nhận xét bước đầu như: Nguyễn Văn Chiến [7], Hà Quang Năng - Vũ Thị Thu Huyền [19], Lý Toàn Thắng [31], Hoàng Tuệ [40], Nguyễn Đức
Tồn [37], Nguyễn Kim Thản [29], Nguyễn Thị Quy [23], Đại Nghĩa [20], Nguyễn Văn Khang [17], Hoàng Văn Hành [14]
Trang 115 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIÊN CỦA ĐE TÀI
5.1 về phương diện lí luận, luận văn sẽ đúc kết lại những ý kiến nghiên cứu về cơ chế
ngữ nghĩa - tâm lý của tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt Trong quá trình khảo sát, chúng tôi cố gắng đưa ra những kiến giải riêng về khả năng hạn định về nghĩa của thành tố phụ đối
với thành tố chính trong tổ hợp song tiết chính - phụ và về xu hướng phát triển của các cơ chế
tạo nghĩa cho tổ hợp
5.2 về phương diện thực tiễn, những tìm tòi, kiến giải của chúng tôi có thể là những cứ
liệu giúp ích cho những người muốn tìm hiểu cơ chế tâm lý trong cách định danh của người
Việt nhằm qua đó có thêm một chút hiểu biết về tâm lý và văn hoa người Việt Luận văn cũng
có thể giúp ích trong việc phân chia các tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt theo tiêu chí
ngữ nghĩa
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, phần chính
của luận văn bao gồm 02 chương:
Chương một trình bày các vấn đề hữu quan của cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong tổ hợp song tiết chính - phụ tiếng Việt: cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong định danh, các kiểu định danh
và các loại ngữ định danh, kích thước của ngữ định danh, các cách định danh của ngữ định danh song tiết chính - phụ
Chương hai luận văn trình bày cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý của các tổ hợp song tiết chính -
phụ Chúng tôi phân chia các cứ liệu thành các mô thức kết hợp và phân chia các mô thức kết
hợp đó thành những nhóm ngữ định danh nhỏ hơn Ở mỗi nhóm ngữ định danh đó, chúng tôi
thống kê, phân tích một số cứ liệu cụ thể và nêu những nhận xét, phát hiện của mình
Trang 12
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ HỮU QUAN
1.1 Cơ chế ngữ nghĩa -tâm lý trong sự định danh
"Định danh chính là sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm biểu
niệm (signifikat) phản ánh các đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính
phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và qua trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ
đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ" ski- dẫn theo [34, tr.29]) Nói giản dị hơn, "định danh là gọi tên sự vật, hiện tượng" [22, tr.325] Đây là chức năng cơ bản của từ Tuy nhiên vốn từ trong mỗi ngôn ngữ là hữu hạn Trong khi
(G.V.Kan-san-thế giới khái niệm cần được gọi tên lại mở rộng một cách không ngừng trong qua trình phát triển của đời sống, của nhận thức và của chính ngôn ngữ nữa Vì vậy để làm tròn chức năng định danh, từ đã có những qua trình phát triển ý nghĩa cơ bản như mở rộng và thu hẹp ý nghĩa,
ẩn dụ và hoán dụ Và một nhu cầu tất yếu nữa là phải tạo thêm những đơn vị từ vựng trên cơ sở
những từ đã có Đó là những tổ hợp định danh, có giá trị tương đương với từ Theo Nguyễn Thiện Giáp, "cụm từ, thậm chí câu cũng có chức năng định danh" [lo, tr.61] Chẳng hạn để gọi trang phục nói chung của con người chúng ta có tổ hợp áo quần, để nói về người thường dễ đạt được kết qua tốt, dễ thành công trong công việc làm cụ thể ta có tổ hợp mát tay, Các tổ hợp nói trên đều được hình thành trên cơ sở ghép các từ đã có Đây là các tổ hợp định danh hay còn
gọi là các ngữ định danh
Ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của
thực tế Nó bao gồm những cụm từ thường được gọi là từ ghép và những cụm từ thường được
gọi là ngữ cố định
Các ngôn ngữ khác nhau về loại hình sẽ có cơ chế định danh khác nhau, tức là có cách gọi tên sự vật theo xu hướng khác nhau Nếu các ngôn ngữ biến hình và chắp dính vốn thiên về cách đặt tên tổng hợp tính thì các ngôn ngữ đơn lập trong đó có tiếng Việt, cách gọi tên có xu hướng phân tích tính mạnh mẽ Cơ chế định danh hiện thực bằng cách ghép các từ lại với nhau
là có khả năng phản ánh nhiều nhất và sinh động nhất đặc điểm tâm lý của người bản ngữ thuộc
những dân tộc khác nhau trong qua trình chia cắt hiện thực để gọi tên nó một cơ chế (cơ chế
cấu tạo nên những từ ghép _ người viết) bên ngoài của nó là cái thao tác ghép một từ này với
Trang 13tượng với tính năng động ngữ nghĩa của chúng Cơ chế đó, thực chất là một cơ chế tâm lý" [40, tr.1103] "Như vậy nói một cách khái quát, đằng sau các cách định danh từ vựng còn có cả bóng dáng của tâm lý dân tộc và phần nào thể hiện được nét riêng của một ngôn ngữ" [28,tr.36]
Ví dụ: Để chỉ "cái bộ phận của cây bút tiếp xúc với mặt giấy khi viết" thì tiếng Tày Nùng dùng từ pác bút (nghĩa đen từng thành tố là mồm bút), tiếng Mèo dùng bleỉmễ ( nghĩa đen : lưỡi mực), tiếng Gia-rai dùng gaicỉh (nghĩa đen : gậy bút), tiếng Hán dùng bỉjiăn (âm Hán Việt
là bút tiêm, tức mũi nhọn của bút), còn tiếng Việt thì dùng ngòi bút hoặc ngòi viết (với hình tượng mực chảy ra như cái ngòi dẫn nước) [27, tr.42] Theo Lý Toàn Thắng, cùng một sự vật,
tiếng Việt gọi chân răng nhưng ở tiếng Nga là một cách nhìn thế giới khác: korerì zuba (rễ của răng) [32, tr.94] Việc mượn những hình tượng đa dạng như thế để chỉ cùng một sự vật rõ ràng
có phản ánh đặc điểm tâm lý của người bản ngữ thuộc những dân tộc khác nhau trong qua trình
nhận thức và định danh hiện thực Đây chính là cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong sự định danh
1.2.1 Định danh trực tiếp
Mỗi sự vật, hiện tượng hay khái niệm có nhiều thuộc tính khác nhau Khi đặt tên cho
những sự vật, hiện tượng hay khái niệm đó người ta thường dựa vào một hoặc một số thuộc tính nào đó của chúng, làm căn cứ để hiểu toàn bộ sự vật, hiện tượng, khái niệm Đổ là cách định danh trực tiếp Cách định danh này tạo ra những ngữ định danh trực tiếp Có người gọi đó
là ngữ định danh hợp kết [li, tr.70] Ngữ định danh trực tiếp trực tiếp phản ánh những thuộc tính của đối tượng trong cấu trúc ý nghĩa của mình Vì vậy ý nghĩa của các ngữ định danh trực
tiếp có thể phân tích thành những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ phận tạo thành
Ví dụ:
- quần áo có nghĩa là "đồ mặc, như quần, áo" Ý nghĩa của quần áo mặc dù khái quát hơn
ý nghĩa của quần + ý nghĩa của áo nhưng cũng xuất phát từ ý nghĩa của 2 đơn vị quần, áo
- đèn chùm có nghĩa là đèn gồm nhiều bóng nhỏ, được kết nối thành chùm, dùng để chiếu sáng và trang trí Ý nghĩa này có thể phân tích thành hai yếu tố nghĩa: ý nghĩa "đồ dùng để soi
Trang 14sáng" do từ đèn biểu thị và ý nghĩa "tập hợp nhiều vật cùng loại chụm lại quanh một điểm" do
từ chùm biểu thị
Thuộc tính trên của ngữ định danh trực tiếp còn có thể gọi là tính phân tích về nghĩa của
nó
1.2.2 Định danh gián tiếp
Là cách gọi tên một đối tượng nào đó bằng cách mượn tên gọi của đối tượng khác Cách định danh này tạo ra những ngữ định danh gián tiếp, Nguyễn Thiện Giáp gọi là ngữ định danh hòa kết [li, tr.73] Ngữ định danh gián tiếp không trực tiếp phản ánh những thuộc tính của đối tượng trong cấu trúc ý nghĩa của mình Tức là trong cách định danh gián tiếp, đối tượng cần được gọi tên đã nhận tên gọi của một đối tượng khác Do đó, những nét nghĩa dùng làm cơ sở
của tên gọi không phản ánh những thuộc tính của đối tượng mới này Ý nghĩa của những ngữ định danh gián tiếp không thể phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của các
bộ phận tạo thành Nói cách khác, ý nghĩa của các bộ phận tạo thành ngữ định danh gián tiếp
mất tính độc lập, hòa lẫn vào nhau để cùng biểu thị một khái niệm
Ví dụ:
- càng cua với nghĩa "viêm tấy, sưng to ở kẽ ngón tay" là một ngữ định danh gián tiếp bởi
vì không thể phân tích ý nghĩa của càng cua thành ý nghĩa của càng + ý nghĩa của cua
- tai hồng với nghĩa "đai ốc có hai cánh để vặn" là một ngữ định danh gián tiếp bởi vì không thể phân tích ý nghĩa của tai hồng thành ý nghĩa của tai + ý nghĩa của hồng
- mực thước với nghĩa " khuôn phép hay theo đúng khuôn phép; mẫu mực" là một ngữ định danh gián tiếp bởi vì không thể phân tích ý nghĩa của mực thước thành ý nghĩa của mực +
ý nghĩa của thước
Thuộc tính này của ngữ định danh gián tiếp được gọi là tính tổng hợp về nghĩa, hay tính
nhất thể về nghĩa
Cơ chế ngữ nghĩa- tâm lý của ngữ định danh gián tiếp thường dựa trên sự tương đồng
giữa đối tượng cần được gọi tên và đối tượng mà nó nhận (hay mượn) tên gọi hay dựa trên lối nói biểu trưng:
Trang 15- "viêm tấy, sưng to ở kẽ ngón tay" được gọi là càng cua vì tay khi bị bệnh này thì sưng lên trông như càng của con cua
- "đai ốc có hai cánh để vặn" được gọi là tai hồng vì nó có hình dạng giống với tai của trái
hồng
- " khuôn phép hay theo đúng khuôn phép; mẫu mực" được gọi là mực thước là gọi theo
lối biểu trưng
- "có tinh thần không lùi bước trước nguy hiểm" được gọi là gan dạ là gọi theo lối biểu trưng
Như vậy có thể nói ẩn dụ và biểu trưng là hai cách thức chính để hình thành ngữ định danh gián tiếp
Thực tế cho thấy trong tiếng Việt, phổ biến hơn là ngữ định danh trực tiếp Có nhiều cách
thức để hình thành ngữ định danh trực tiếp (chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ trong chương li) Vì
vậy, đặc điểm tâm lý của người bản ngữ được thể hiện nhiều hơn và rõ nét hơn trong các ngữ định danh trực tiếp Do vậy, trong luận văn này chúng tôi chỉ giới hạn phần nghiên cứu của mình trong việc tìm hiểu cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý của một bộ phận ngữ định danh trực tiếp
1.3 Kích thước của ngữ định danh trực tiếp
Về kích thước, những tổ hợp định danh này có thể gồm hai hay hơn hai từ ghép lại với nhau Nhưng trong tiếng Việt, những tổ hợp định danh chủ yếu là tổ hợp song tiết về cơ chế hình thành, những tổ hợp định danh có hơn hai âm tiết cũng có cùng các cơ chế với những tổ
hợp định danh song tiết Có khác là, ở một tổ hợp định danh song tiết cụ thể chỉ có một cơ chế định danh thì ở một tổ hợp định danh có hơn hai âm tiết lại là sự cộng lại của hai hoặc hơn hai
cơ chế định danh mà thôi
Ví dụ:
- bánh đa: định danh trực tiếp, thông qua so sánh với một sự vật khác (bánh giống lá đa)
- bánh phở : định danh trực tiếp, thông qua sự liên tưởng tới một yếu tố gần gũi là công
dụng của sự vật (bánh để làm phở)
Trang 16Thì "bánh đa nem" lại định danh trực tiếp, vừa thông qua so sánh với một sự vật khác (bánh giống lá đa) lại vừa thông qua sự liên tưởng tới một yếu tố gần gũi là công dụng của sự
vật (bánh để cuốn nem)
Vì vậy trong luận văn này chúng tôi sẽ khảo sát những tổ hợp định danh song tiết
Về tính chất, những thành tố cấu tạo của tổ hợp song tiết định danh đại bộ phận là những thành tố thuộc về các từ loại: danh từ, động từ và tính từ Vì, có thể nói về chức năng định danh
của những đơn vị như: áo, quần, ăn, uổng, xấu, tốt, Nhưng không thể nói rằng những đơn vị như: và, tuy, dù, với, đã, sẽ, đang; à, ôi, ối, ái; tôi, nó, đấy, nọ, kia, có chức năng định danh,
bởi những đơn vị này không gọi tên sự vật hiện tượng nào cả Những đơn vị có chức năng định danh đã được liệt kê trên đây đều là thực từ Định danh là chức năng của thực từ "Một thực từ miêu tả chuyển thành một từ hư thì đồng thời mất luôn chức năng định danh" [6, tr.165] Tuy
có thể có trường hợp một trong hai thành tố của tổ hợp song tiết định danh không phải là thực
tứ (ví dụ trong tổ hợp ăn liền thì liền là phụ từ) nhưng trường hợp này rất hãn hữu Vì vậy trong
luận văn của mình chúng tôi chỉ khảo sát những tổ hợp song tiết định danh có các yếu tố trong
tổ hợp là danh từ, động từ, tính từ
Trong tiếng Việt chúng tôi chia các tổ hợp song tiết định danh thành hai dạng lớn:
Dạng thứ nhất là các tổ hợp Hán Việt như: giáo viên, phi công, đoàn viên, Dạng này
nằm ngoài sự khảo sát của luận văn chúng tôi Việc nhận diện từ Hán Việt cũng rất khó khăn Trong một bài viết, tác giả Lê Anh Hiền đã nêu ý kiến mang tính tổng kết: Cho đến nay, gần như chưa có một tiêu chí nào có thể giúp phân biệt từ Hán Việt với từ thuần Việt [16, tr 42] Chúng tôi nhận diện từ Hán Việt qua Hán - Việt Từ điển của Đào Duy Anh [1]
Dạng thứ hai là những tổ hợp thuần Việt như: áo quần, đi lại, ăn uống, ăn đong, làm duyên, Căn cứ vào quan hệ ngữ pháp giữa hai thành tố, các nhà nghiên cứu thường chia ra từ ghép đẳng lập ( áo quần, ăn uống, đi lại, cưới hỏi, xinh đẹp, ) và từ ghép chính phụ ( áo dài, cà chua, dưa hấu, xanh ngắt, )
Trên những nét chung nhất có thể thấy cơ chế tạo nghĩa của các tổ hợp định danh nói trên như sau:
Trang 171.4.1 Dựa vào những thuộc tính riêng có quan hệ tương đồng, tương phản hay cùng cáp
để biểu đạt những khái niệm chung hơn, trừu tượng hơn, khái quát hơn [11, tr.72] Cơ chế tạo nghĩa này tạo ra những tổ hợp định danh đẳng lập (từ ghép đẳng lập)
Gọi những tổ hợp này là tổ hợp có mô hình AB thì xét theo quan hệ cú pháp thành tố A bao giờ cũng là thành tố chính và thành tốB bao giờ cũng là thành tố phụ nghĩa cho thành tố A Trong ngữ định danh AB, nếu A là đơn vị từ vựng biểu thị sự vật thì B là đơn vị từ vựng
biểu thị thuộc tính của sự vật đó (kiểu: cà chua, thuốc tím, xe đạp ); nếu A là đơn vị từ vựng
biểu thị hoạt động, trạng thái thì B là đơn vị từ vựng miêu tả thuộc tính của hoạt động, trạng thái đó (kiểu: cười mát, bay hơi, nói dóc, trả lời ); nếu A là đơn vị từ vựng biểu thị tính chất thì
B là đơn vị từ vựng miêu tả thuộc tính của tính chất đó (kiểu: vui tính, mát tay, đỏ au, xanh
ngắt, )
Trong những tổ hợp này lại có những tổ hợp trong đó có một yếu tố không được dùng độc
Trang 18tr.l96] Ví dụ như nai chỉ duy nhất đi với lưng, è chỉ đi với cổ, hấu chỉ đi với dưa, ngắt chỉ đi
với một vài từ như tím, xanh Có yếu tố như hấu cố người còn cho là không có nghĩa [35, tr.54] Một số yếu tố lai được cho là vốn nằm trong tổ hợp song tiết đẳng lập, về sau một yếu tố
bị quên nghĩa cũ và trở thành yếu tố bổ sung nghĩa cho yếu tố kia Tức là nó biến thành yếu tố
phụ bổ sung cho yếu tố chính (như nghịt trong đông nghịt, lẻm trong sắc lẻm, phau trong trắng phau, ngầu trong đỏ ngầu, ngắt trong vắng ngắt, au trong đỏ au, lè trong xanh lè, phay trong dao phay, kềnh trong nằm kềnh, nghịt trong đen nghịt), tức là nó trở thành yếu tố mất nghĩa [25, tr.196-199] Như vậy, về mặt đồng đại, các tổ hợp nói trên là những tổ hợp song tiết chính
- phụ, không khác gì những trái lè, chơi khăm, trong veo, cúi rạp, sâu huếch
Chúng tôi không phủ nhận tư cách từ cũng như không phủ nhận tính có nghĩa của những thành tố đi sau này Nhưng rõ ràng, những thành tố này chỉ có một nghĩa là nghĩa gốc của nó
Từ được dùng với nghĩa gốc thì mối quan hệ giữa khái niệm mà từ biểu thị với vỏ ngữ âm là không có lí do Điều này Perdinand de Saussure đã khẳng định trong nguyên lý nổi tiếng "dấu
hiệu ngôn ngữ là võ đoán" [18, tr.142] Nhưng khi những từ đó được mượn để tạo ra những tổ
hợp định danh thì nó lại được mượn vì một lý do nào đó Nói cách khác, ở đây từ lại được dùng
một cách "có lý do" Vì vậy gần như không giải thích được vì sao con vật đó được gọi là ngựa nhưng lại giải thích được vì sao giống gấu đó lại được gọi là gấu ngựa Như vậy những từ chỉ được dùng theo một nghĩa là nghĩa gốc của nó như nai, è, hấu, nành, ngắt, veo, khăm, gần như không có sức sản sinh, trong khi những từ như: áo, cà, mát, ăn, có thể kết hợp với những
từ khác để tạo nên những tổ hợp định danh khác nhau như: áo rét, áo bay, áo ấm; cà chua, cà bát, cà tím; mát tay, mát tính; ăn đong, ăn hàng, ăn chực, ở những tổ hợp mà cả hai thành tố đều có nghĩa rõ ràng này, cơ chế ngữ nghĩa - tâm lý trong sự định danh mới được thể hiện
Chẳng hạn tại sao cùng chỉ một loại áo mặc trong mùa rét mà được gọi bằng các tên khác nhau:
áo rét, áo lạnh, áo ấm, ở đây có thể giải thích rét, lạnh hay ấm là gì Trong khi trong các tổ
hợp như xanh ngắt, dưa hấu thì không thể nói rõ ngắt hay hấu có nghĩa là gì, chỉ có thể nói được ngắt gia thêm một sắc thái về mức độ cho xanh, hấu là tên một chủng loại dưa để phân
biệt với dưa bở, dưa chuột, dưa gang, Hay có thể giải thích đượcrgọi là đậu đũa vì giống đậu này ra từng cặp trái giống đôi đũa thì không thể giải thích vì sao lại gọi là đậu nành (vì nành chỉ
có một nghĩa)
Trang 19Do vậy, luận văn của chúng tôi chỉ đề cập đến tổ hợp song tiết chính - phụ định danh trong đó cả hai thành tố đều có nghĩa rõ ràng (không phải là "những hình thái ràng buộc tuyệt đối", cũng không phải là những yếu tố mất nghĩa) Nói cách khác, chúng tôi chỉ khảo sát những
tổ hợp song tiết chính - phụ định danh trong đó cả hai yếu tố được dùng một cách có lý do
1.5.1 Định danh không thông qua liên tưởng: là cách gọi tên một đối tượng chỉ căn cứ
Ví dụ: đèn chùm, dế dũi, mở rộng, to tiếng, sắc ngọt,
Như vậy, trong ngữ định danh chính - phụ loại này, thành tố phụ đi sau chỉd9 của đối tượng do thành tố chính biểu thị mà không cần thông qua một sự so sánh hay liên tưởng với bất
cứ đối tượng nào khác Định danh không thông qua liên tưởng bao gồm 2 kiểu nhỏ hơn:
1.5.1.1 Không dùng lối nói biểu trưng, ước lệ: Thành tố phụ chỉ thuộc tính của sự vật hay
chỉ thuộc tính, phạm vi của hoạt động hay thuộc tính được dùng theo nghĩa gốc ( nghĩa đen): đèn chùm, bánh trôi, lương khố, bó chiếu, to tiếng)
Ví dụ: - đèn chùm', đèn gồm nhiều bóng nhỏ, được kết nối thành chùm, dùng để chiếu sáng và trang trí
- bánh trôi, bánh làm bằng bột gạo nếp, viên tròn, có nhân đường, bỏ vào nước sôi, chín thì nổi lên
- lương khố thức ăn làm sẩn, ở dạng khô, dùng để dự trữ
- bó chiếu: bó xác vào chiếu để chôn
- to tiếng: lớn tiếng cãi cọ nhau
1.5.1.2 Dùng lối nói biểu trưng, ưởc lệ: thành tố phụ không còn được dùng theo nghĩa
gốc nữa, mà được hiểu một cách biểu trưng, ước lệ: làng bẹp, bồ nhí, cấm cung, bán non, nhạc vàng,
- làng bẹp: những người nghiện thuốc phiện ( nằm bẹp cạnh bàn đèn)
- bồ nhí: nhân tình còn rất trẻ tuổi của một người đã đứng tuổi
Trang 20- cấm cung: cấm không được phép ra khỏi nhà, không được phép tự do tiếp xúc với người ngoài
- bán non: bán rẻ trước mùa thu hoạch để nhận tiền trước
- nhạc vàng: nhạc bi lụy {vàng có nghĩa là phản động [12, 40])
1.5.2 Định danh thông qua liên tưởng
Là cách gọi tên một đối tượng có liên tưởng đến đối tượng khác
Ví dụ: áo mưa, bánh cày, biển hể, bơi ếch, chín sữa,
Trong ngữ định danh chính phụ loại này, thành tố phụ đi sau chỉ thuộc tính của đối tượng
do thành tố chính biểu thị thông qua sự liên tưởng tới một đối tượng khác Định danh thông qua liên tưởng bao gồm 2 kiểu nhỏ hơn:
1.5.2.1 Định danh thông qua liên tưởng tương đổng: thành tố phụ chỉ thuộc tính của đối tượng do thành tố chính biểu thị, thông qua sự liên tưởng với một đối tượng khác, dựa trên sự tương đồng giữa hai đối tượng này
Ví dụ: bánh cày, biển hồ,
- bánh cày: bánh làm bằng bỏng gạo nếp xay nhỏ trộn với lạc, vừng, mật, mỡ, gừng, có nhuộm màu giông màu trứng con cày và đóng thành bánh
- biển hồ: biển không được nối liền với các biển khác, tựa như một hồ rất lớn
Có thể gọi đây là cách định danh thông qua so sánh, trong đó thành tố chính gọi tên hình ảnh được so sánh, thành tố phụ gọi tên hình ảnh so sánh
1.5.2.2 Định danh thông qua liên tưởng gần gũi: thành tố phụ chỉ thuộc tính của đối tượng do thành tố chính biểu thị, thông qua sự liên tưởng với một đối tượng khác, dựa trên mối quan hệ gần gũi giữa hai đối tượng này
Ví dụ: áo mưa, bánh khúc, của chìm, gấu trúc, buồn tình, dạo mát, chín ép,
- áo mưa', áo bằng loại vải không thấm nước để đi mưa (liên tưởng tới mục đích, công
dụng của sự vật được thành tố chính gọi tên)
Trang 21- bánh khúc: bánh làm bằng bột gạo nếp trộn với lá rau khúc giã nhỏ, có nhân đậu xanh và
mỡ, đồ lẫn với gạo nếp (liên tưởng tới chất liệu của sự vật được thành tố chính gọi tên)
- của chìm: của cải tư hữu cất giấu kín, người ngoài không thể trông thấy; phân biệt với
cửa nổi (liên tưởng tới sự vật đối lập)
- buồn tình: buồn Vỉ ở trong tình trạng không có việc gì làm, không biết làm gì (liên tưởng tới nguyên nhân của tình trạng được thành tố chính gọi tên)
- dạo mát: đi dạo để hóng mát (liên tưởng tới mục đích của hành động được thành tố chính gọi tên)
- chín ép: qua cây được râm cho chín một cách không được tự nhiên, trong khi điều kiện chưa đủ (ép) (liên tưởng tới nguyên nhân của tình trạng được thành tố chính gọi tên)
- gấu trúc: thú thuộc họ gấu mèo, hình dạng giống gấu, có thân hình nhỏ, lông màu trắng,
có vá đen ở chân, vai tai, thường hay ăn lá trúc, măng tre, (liên tưởng tới sự vật đặc trưng
gắn liền với sự vật được thành tố chính gọi tên)
Chúng tôi chia các tổ hợp song tiết chính - phụ định danh này theo tiêu chí từ loại, thành
những tổ hợp Danh ngữ, Động ngữ và Tính ngữ Những tổ hợp Danh ngữ là những tổ hợp có
yếu tố chính là Danh từ, như: cà chua, xe đạp, gấu ngựa, Những tổ hợp Động ngữ là những tổ
hợp có yếu tố chính là Động từ như: bay hơi, cai nghiện, làm đẹp, Và những tổ hợp Tính ngữ
là những tổ hợp có yếu tố chính là Tính từ như: đẹp mắt, khó coi, dễ gần, Chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát chúng theo tiêu chí từ loại như trên Những trường hợp có sự lưỡng lự giữa hai
khả năng quy từ loại, thường là động từ hay tính từ, trong từ điển chú là: "đg hay t." thì chúng tôi sẽ thống nhất chọn động từ hoặc tính từ ở tất cả những ngữ định danh mà từ này xuất hiện
Ví dụ: chín đg hay t chúng tôi chọn chín là động từ trong tất cả các ngữ: chín bói, chín cây, chín rục, chín sáp, chín sữa,
Trang 22
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU CƠ CHẾ NGỮ NGHĨA - TÂM LÝ TRONG
T ổ HỢP SONG TIẾT CHÍNH PHỤ
Ngữ định danh song tiết có thành tố chính là danh từ chiếm số lượng lớn nhất trong các
ngữ định danh song tiết với 1.056 tổ hợp theo thống kê của chúng tôi Chúng tối gọi những ngữ định danh này là danh ngữ
Ngữ định danh song tiết có tính chất danh ngữ được cấu tạo theo ba mô thức: 1) những tổ
hợp song tiết danh - danh có thành tố chính và thành tố phụ đều là danh từ như : áo sô, chè tàu,
gấu ngựa, ốc hương,
2) những tổ hợp song tiết danh - động có thành tố chính là danh từ và thành tố phụ là động từ như : áo lặn, con chạy, giây lọc, máy bay,
3) những tổ hợp song tiết danh -tính có thành tố chính là danh từ và thành tố phụ là tính từ như : áo lạnh, bí đỏ, hết nhẵn, sữa chua,
Trong các tổ hợp danh ngữ, mô thức danh - danh chiếm số lượng lớn nhất, đến 591/ 1056
tổ hợp; mô thức danh - động có 268 tổ hợp; mô thức danh - tính chỉ có 197 tổ hợp
Trong tổ hợp song tiết chính phụ là danh ngữ , thành tố chính biểu thị tổng loại về sự vật,
hiện tượng và thành tố phụ thể hiện những ý nghĩa sau:
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng Ở những tổ hợp này, thành tố chính
chỉ ra tổng loại sự vật còn thành tố phụ tố phụ nêu hình thức bên ngoài của sự vật đó Có 34 tổ
hợp danh - danh được định danh theo cơ chế này, xin xem danh sách ở Phụ lục
Ví dụ: cơm hộp (cơm bán theo suất, đựng trong hộp, được chuyển đến theo yêu cầu của khách hàng), đèn chùm (đèn gồm nhiều bóng nhỏ, được kết nối thành chùm, dùng để chiếu sáng và trang trí), vôi bột (vôi ở dạng tơi ra thành bột),
Trang 23Chúng ta có thể thấy hình thức bên ngoài của những đối tượng trên được coi là những thuộc tính khu biệt làm cơ sở cho sự định danh, đó là những đặc điểm không bản chất nhưng lại quan trọng trong sự tri nhận
được thành tố chính gọi tên
Đây cũng là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi: liên tưởng giữa sự vật do thành
tố chính biểu thị với cái xuất xứ, môi trường sinh sống hay xuất hiện của nó được thành tố phụ
gọi tên:
Ví dụ: chè tàu (nguyên sản xuất ở Trung Quốc), cua đá (với nghĩa: một số loài cua sống ở
hốc đá ven biển hoặc ở núi đá, gần khe suối), thuốc bắc ( thuốc chữa bệnh chế biến từ thảo mộc
nhập khẩu từ Trung Quốc)
Xét những tổ hợp song tiết có thành tố phụ biểu thị xuất xứ (nguồn gốc), nhưáơ khách, chè tàu, bài tây, cân ta, cân tây, táo tàu, táo tây, tỏi tây, chúng tôi thấy:
Ngoại trừ một số tổ hợp hãn hữu như áo khách, chè tàu các thành tố nghĩa bao gồm các nét nghĩa tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của tên gọi là có đặc trưng xuất xứ {áo khách: chỉ áo cánh
của phụ nữ, vốn kiểu của người Hoa, cổ cao, xẻ giữa và có khuy tết; chè tàu: hiện nay chỉ loại chè sản xuất từ búp chè không ủ lên men, cánh nhỏ, nước xanh, có hương thơm, nguyên sản
xuất ở Trung Quốc) còn ở các tổ hợp còn lại, đặe trưng xuất xứ dùng để gọi tên không có trong
cấu trúc ngữ nghĩa của nó Và cũng xét những tổ hợp song tiết có thành tố phụ biểu thị xuất xứ (nguồn gốc) này, chúng tôi thấy trong cách lựa chọn thuộc tính khu biệt về nguồn gốc làm cơ
sở cho sự định danh, người Việt trong qua khứ có xu hướng phân chia một cách khái quát thành những cặp đối lập: bắc - nam, ta - tàu, ta - tây, tàu - tây
Hiện nay, những tô hợp dinh danh như thế này ngày càng có xu hướng ít được sử dụng,
nhất là các tổ hợp A+ta, A+tây (như: bài tây, bánh tây, cân ta, cân tây, dầu ta, dầu tây, giày ta, giày tây, mẫu ta, mẫu tây)
Khảo sát những tổ hợp có thành tố chính biểu thị tổng loại sự vật còn thành tố phụ biểu
thị xuất xứ nói trên, chúng tôi thấy thành tố phụ phần lớn được hiểu theo nghĩa gốc, song cũng
Trang 24có một số ít trường hợp được dùng một cách biểu trưng, ước lệ: cải trời, giá chợ, hàng chợ, hàng thùng, lang vườn, lúa trời, ngỗng trời, tiền túi, vua bếp
Ví dụ: "trời" trong cải trời, lúa trời, ngỗng trời biểu trưng cho đặc điểm mọc hay sống hoang dại; "chợ" trong giá chợ biểu trưng cho thị trường tự do, trong hàng chợ biểu trưng cho
chất lượng thấp, giá rẻ; "vườn" trong lang vườn biểu trưng cho sự làm nghề không chuyên nghiệp, thường ở thôn quê Nhờ tính biểu trứng của các thành tố phụ mà nghĩa của cả tổ hợp
trở nên sinh động, có sắc thái đánh giá
Đây là cách thức gọi tên sự vật rất được người Việt ưa chuộng, có tới 91 đơn vị định danh
mô thức danh - danh hình thành theo cách này (xin xem Phụ lục)
Đây cũng là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi: liên tưởng giữa sự vật do thành
tố chính biểu thị với sự vật hoặc hiện tượng đặc trứng gắn với sự vật đó được thành tố phụ biểu
thị
Ví dụ: chuối hột, ốc hương, gấu trúc, nhà vườn,
Sự vật hoặc hiện tượng đặc trưng đó có thể là bộ phận hoặc hiện tượng đặc trưng nằm bên trong sự vật được thành tố chính gọi tên Đó là các trường hợp như: chuối hột (chuối qua có nhiều hạt, ăn hơi chát), ốc hương (ốc biển tròn và nhỏ bằng qua táo, vỏ trắng có vệt nâu, thịt thơm) Có 62 tổ hợp loại này đã được chúng tôi thống kê ở Phụ lục
Hoặc có thể là sự vật hoặc hiện tượng đặc trưng gắn liền với sự vật được thành tố chính
gọi tên Đó là các trường hợp như: gấu trúc (thú thuộc họ gấu mèo, hình dạng giống gấu, có thân hình nhỏ, lông màu trắng, có vá đen ở chân, vai, tai, thường hay ăn lá trúc, măng tre, ), nhà vườn (nhà có vườn hoặc người chủ có vườn chuyên trồng các loại cây để bán cây giống, hoa qua) Có 18 đơn vị định danh theo quan hệ liên tưởng này, xin xem danh sách ở Phụ lục
Đây là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi, đây là sự liên tưởng giữa sự vật do thành tố chính biểu thị với mục đích mà con người hướng tới từ sự vật ấy Như vậy, ở đây
Trang 25thành tố chính biểu thị tổng loại về sự vật còn thành tố phụ chỉ ra thuộc tính riêng về mục đích
sử dụng
Ví dụ: áo mưa (áo bằng loại vải không thấm nước để đi mưa), bánh phở (bánh để làm
phở), bát hương (bát dùng để cắm hương ở bàn thờ), chợ người (nơi tụ họp những người lao động chân tay để chờ bán sức lao động), tủ đá (tủ lạnh có khả năng tạo nhiệt độ thấp, chuyên dùng để làm nước đá), Những tổ hợp còn lại xin xem ở Phụ lục
Đây là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi, ở đây là sự liên tưởng giữa sự vật do thành tố chính biểu thị với chất liệu làm ra sự vật ấy Chất liệu của sự vật được dựa vào để gọi tên có thể là chất liệu chính hoặc chất liệu đặc trưng
Ví dụ: áo gai (áo thường dệt bằng sợi gai thưa), bánh khúc (trong thành phần của bánh có nguyên liệu đặc trưng là lá khúc), hoa giấy (với nghĩa: hoa giả bằng giấy), (Xin xem danh sách ở phụ lục)
Đây cũng là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi: liên tưởng giữa một bộ phận
của sự vật do thành tô" chính biểu thị
với toàn thể sự vật được thành tố phụ biểu thị Có 26 đơn vị định danh kiểu này chúng tôi
đã liệt kê ở Phụ lục
Ví dụ: bánh xe (bộ phận của xe hoặc máy, ), dăm kèn (bộ phận lắp trong kèn, ), vòm
miệng (thành trên của khoang miệng, ),
Đây cũng là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi: liên tưởng giữa sự vật do thành
tố chính biểu thị với phương tiện làm cho sự vật đó hoạt động được được thành tố phụ biểu thị:
Trang 26Ví dụ: cối nước (cối giã có chày gắn vào cần gỗ, dùng sức nước chảy vào đầu kia của cần làm cho chày nhấc lên hạ xuống), quạt điện (tên gọi chung các loại quạt có cánh quay bằng động cơ điện),
Qua xem xét cứ liệu, chúng tôi thấy, thành tố phụ chỉ phương tiện làm cho sự vật được thành tố chính gọi tên hoạt động được là do từ loại danh từ đảm nhiệm Có 11 tổ hợp có cách định danh này là: bút máy, cối nước, ghế điện, quạt điện, quạt máy, xe bò, xe điện, xe lửa, xe máy, xe ngựa, xe tay Những tổ hợp này có chung một đặc điểm là gọi tên những sự vật do con người tạo ra
Đây là cách định danh thông qua liên tưởng tương đồng: liên tưởng giữa sự vật với một hình ảnh giống với nó do thành tố phụ biểu thị Nói cách khác, thành tố phụ biểu thị hình ảnh được so sánh với sự vật được tổ hợp gọi tên
Ví dụ: bánh bèo (bánh làm bằng bột gạo tẻ xay ướt đổ vào bát hoặc vào khuôn rồi hấp chín, trên rắc hành mỡ, ruốc tôm, hình giống cánh bèo), rau muối (cây thân cỏ mọc hoang, ngoài mặt có nhiều tuyến chứa nước làm cho cây trông như có phủ một lớp muối, có thể dùng làm rau ăn), biển hồ (biển không được nối liền với các biển khác, tựa như một hồ rất lớn)
Về phương diện so sánh, hình ảnh được so sánh có thể được so sánh với sự vát thành tố chính gọi tên về hình dáng, màu sắc bên ngoài (1) hoặc về một tính chất nào đó (2) Những tổ
hợp như bánh bèo, rau muối, chuối lửa, giun kim, nem rê, thuộc trường hợp (1) và những trường hợp như biển hồ, giặc cỏ, chợ cóc, ong thợ, thuộc trường hợp (2)
Giữa hai phương diện so sánh nói trên, chúng tôi thấy sự so sánh về hình dáng, màu sắc bên ngoài có mặt nhiều hơn trong số các tổ hợp định danh loại này (117/127) Như vậy có thể
thấy, xét từ góc độ tâm lí tri nhận, khi định danh theo phương thức này, tiếng Việt cũng có xu hướng lựa chọn yếu tố bề ngoài của sự vật làm thuộc tính khu biệt
Và qua đây, chúng ta có thể thấy, người Việt Ưa định danh theo quan hệ liên tưởng tương đồng
Có thể mô hình hoá những phân tích ở 2.1.1 thành bảng 2.1:
Trang 27B ảng 2.1
CƠ CHẾ NGỮ NGHĨA -TÂM LÝ CỦA TỔ HỢP
bên trong bút b ỉ, cua gạch, ong mật,
Trang 28Hình ảnh tương đồng với bề ngoài
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng, thành tố chính biểu thị sự vật còn thành tố phụ biểu thị chức năng của sự vật đó Chức năng được hiểu là hoạt động, tác dụng bình thường của một sự vật
Ví dụ: máy bay (chức năng của máy là bay), chất nổ ( chất có khả năng gây nổ), máy khoan (máy công cụ dùng để khoan lỗ), Có 60 tổ hợp thuộc cách định danh này, phần còn lại xin xem Phụ lục
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng, là cách gọi tên một đối tượng chỉ căn
cứ vào bản thân đối tượng đó mà thôi ở đây, các thành tố nghĩa bao gồm các nét nghĩa tạo nên
cấu trúc ngữ nghĩa của tên gọi đều xuất phát từ các đặc điểm của bản thân sự vật được gọi tên
đó, mà không có qua trình liên tưởng tới bất cứ một đối tượng nào khác
Ví dụ: dao xếp ( dao có lưỡi có thể gập vào chuôi được), váy bó (váy may ôm sát, ), bể treo (bể chứa nước, có thể treo, đặt ở một vị trí trên cao, án treo (án tù không phải thi hành
Trang 29lần nữa), bánh trôi (bánh bỏ vào nước sôi, chín thì nổi lên) Những trường hợp như: án treo, bánh trôi, tù ngồi nghĩa của treo, trôi, ngồi có tính chất biểu trứng, ước lệ (chưa thi hành ngay thì gọi là treo, nổi trong nước thì gọi là trôi, và bị giam thật sự thì gọi là ngồi) nhưng vẫn trực
tiểp gắn với sự vật do thành tố chính biểu thị mà không cần thông qua một sự liên tưởng dù
trực tiếp hay gián tiếp nào cả
Những tổ hợp song tiết định danh có thành tố chính biểu thị tổng loại của sự vật còn thành
tố phụ biểu thị thuộc tính riêng về hình thức bên ngoài do động từ biểu thị có thể chia làm hai
loại: loại có thành tố phụ được hiểu theo nghĩa gốc có 25 ngữ định danh là: bánh phồng, bom chìm, bóng bay, cây leo, dao xếp, gói xếp, lò đứng, lúa nổi, mưa bay, nước ngầm, thước cuộn, thước gấp, váy bày váy cuốn, váy xòe, dưa leo, cửa cuốn, cửa xếp, cân treo, cân chìm, đèn xếp,
bể treo, ghế dựa, tàu ngầm, dây chuyền và loại có thành tố dược dùng theo nghĩa biểu trứng, ước lệ có 09 ngữ định danh là: án treo, bánh bò, bánh trôi, chợ nổi, ảnh nổi, tờ rời, tù treo, tù
ngồi, phim nổi
tên
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng, thành tố chính biểu thị sự vật còn thành tố phụ biểu thị hoạt động có định hướng của sự vật đó Có 28 ngữ định danh được tạo thành theo cơ chế này
Ví dụ: dế dũi (dũi không phải là chức năng bẩm sinh của nó mà là một hoạt động có định hướng hoặc có mục đích của nó), gái nhảy (người phụ nữ làm nghề khiêu vũ trong các tiệm
nhảy), thợ săn (người làm nghề săn bắn thú rừng và chim)
Đây cũng là cơ chế định danh của các ngữ định danh sau đây: anh nuôi, bà đỡ, bọ nhảy,
cá chọi, cá lóc, chị nuôi, con hát, con nghiện, cô đỡ, cô hầu, dân cày, kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ trộm, làng chơi, ngựa thồ, ngựa chiến, gà chọi, nhà thầu, thợ cạo, thầy bói, thầy cãi, tàu chiến, xe thồ
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng, thành tố chính biểu thị sự vật còn thành tố phụ biểu thị tính chất hoạt động bao trùm của sự vật đó
Trang 30Ví dụ: con suốt (dụng cụ để suốt chỉ), tay quay (dụng cụ để quay bằng tay các công cụ như mũi khoan, chìa vít), Có thể kể thêm các ngữ định danh có cùng cơ chế trên là: bước đi, bước ngoặt, cầu quay, con chạy, con lăn, con suốt, con trượt, qua lắc, tay lái, tiếng nói (có li tổ
hợp) Do thành tố phụ biểu thị tính chất hoạt động bao trùm của sự vật đó nên nghĩa thực của toàn bộ tổ hợp lại hầu như là nghĩa của thành tố phụ " Đó cũng là lí do để cho nghĩa của thành
tố chính trở thành trừu tượng hóa và hư hóa: tay, bánh, con, bước, không còn giữ ở đây cái nghĩa thực của nó nữa" [27, tr.44]
Đây là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi, đây là sự liên tưởng giữa sự vật do thành tố chính biểu thị với mục đích mà con người hướng tới từ sự vật ấy Có 72 tổ hợp danh - động được hình thành từ quan hệ liên tưởng này
Ví dụ: đồ chơi ( đồ vật dùng vào việc vui chơi, giải trí), nhà ăn ( nhà dành làm nơi ăn
uống của một tập thể), thuốc ngủ (thuốc dùng để gây trạng thái ngủ), Các tổ hợp còn lại xin xem ở phần Phụ lục
Đây cũng là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi: liên tưởng giữa sự vật do thành
tố chính biểu thị với qua trình chế tác, tác động để có sự vật đó do thành tố phụ gọi tên Thành
tố phụ chỉ qua trình chế tác, tác động để có thành phẩm do thành tố chính gọi tên chỉ có thể do động từ đảm nhiệm:
Ví dụ: bánh nướng (bánh có nhân thập cẩm, mặn hoặc ngọt, ở ngoài có lớp áo bột mỏng, nướng chín trong lò), gà pha (gà lai nhiều giống với nhau), nước lọc (nước đã được lọc cho trong và khử trùng)
Trong các tổ hợp định danh này, thành tố phụ của tổ hợp đều được dùng theo nghĩa gốc
Đó cũng là đặc điểm chung của tất cả các ngữ định danh còn lại có cùng cách định danh nói trên: bánh bao, bánh cắt, bánh cuốn, bánh đúc, bánh rán, bánh tráng, da lộn, da thuộc, đá rửa, đồng hun, gạo giã, giếng khoan, giếng khơi, gỗ dán, gỗ xẻ, khoai trụng, lúa cấy, lúa sạ, nem
Trang 31rán, nhãn lồng, nước cất, sông đào, tiền đúc, vôi tôi, xôi vò, xôi xéo Chúng tôi thống kê được
29 ngữ định danh loại này
Đây cũng là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi: liên tưởng giữa sự vật do thành
tố chính biểu thị với cách thức sử dụng sự vật đó do thành tố phụ gọi tên
Ví dụ: bóng đá (môn thể thao , người chơi tìm cách dùng chân hoặc đầu đưa bóng lọt vào khung thành của đối phương), quạt kéo (quạt lớn , kéo bằng dây), xe đạp (xe người đi, dùng sức người đạp cho quay bánh hoặc hai bánh sau), xe ôm (xe gắn máy chuyên dùng chở khách)
Ở cách định danh này, thành tố chính biểu thị tổng loại sự vật còn thành tố phụ nêu ra thuộc tính riêng về cách thức sử dụng sự vật đó Cổ 25 ngữ định danh có cơ chế thành lập như trên, các ngữ định danh còn lại là: bàn đạp, báo nói, báo viết, băng lăn, bình xịt, bóng ném, cầu chui, cờ vây, dây rút, đèn bấm, đu quay, gái gọi, gái bao, ghế chao, khóa kéo, hộp quẹt, số cào, thước kẹp, tiệc đứng, trục lăn, túi xách, xe kéo, xe lăn, xe om
Chúng tôi thấy trong các tổ hợp định danh này, thành tố phụ được dùng theo nghĩa gốc
Vì vậy chỉ những trường hợp có sự kết hợp bất ngờ về nghĩa giữa hai thành tố mới đưa lại
những cách định danh sinh động, ở đây chúng tôi muốn nói đến những tổ hợp như: gái gọi, gái bao, xe ôm - những tổ hợp mà thành tố chính và thành tố phụ thuộc những trường từ vựng khác
xa nhau
Đây cũng là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi: liên tưởng giữa sự vật do thành
tố chính biểu thị với cái xuất xứ của nó được thành tố phụ gọi tên Chúng tôi mới chỉ thấy 05 trường hợp thành tố phụ chỉ xuất xứ của sự vật được thành tố chính gọi tên do động từ đảm nhiệm là tổ hợp bánh hỏi, chất bốc, con đẻ, con nuôi, nước thải Trong đó ở tên gọi con đẻ đặc trưng xuất xứ dùng để gọi tên không có trong cấu trúc ngữ nghĩa của tên gọi
Trang 32Đây là cách định danh thông qua liên tưởng tương đồng: liên tưởng giữa hình ảnh do thành tố chính biểu thị với hình ảnh của hoạt động hay trạng thái giống nó do thành tố phụ biểu
thị
Chúng tôi tìm được 04 tổ hợp có cơ chế ngữ nghĩa nói trên là cỏ may, da rạn (mặt ngoài
của đồ sành, đồ sứ có những đường nhỏ trông giống như vết nứt rạn), gàu ngoạm (gầu có động tác xúc giống như động tác há mồm ngậm mồi), sâu đo
Những phân tích ở 2.1.2 được tổng hợp qua bảng 2.2
Chức năng máy bay, ch ất nổ, máy
khoan, 60
Đặc điểm, hình
thức bên ngoài
Trang 33Cơ chế hoạt động bóng đá, quạt kéo, xe
đạp, 25
Xuất xứ bánh h ỏi, chất bốc, con
đẻ, con nuôi, nước thải 05
Thông qua so sánh với
Hình ảnh hoạt động, trạng thái
tương đồng
c ỏ may, da rạn, gà ngo ạm, sâu đo 04
2.1.3 T ổ hợp danh- tính
Đây cũng là cách định danh không thông qua liên tưởng, nghĩa của thành tố phụ trực tiếp
gắn với sự vật do thành tố chính biểu thị cả khi thành tố phụ nêu lên một tính chất biểu trưng
của sự vật
Các ngữ định danh này được chia làm hai nhóm trên cơ sở phân loại thành tố phụ:
a) Nhóm 1: gồm những ngữ định danh có thành tố phụ được hiểu theo nghĩa gốc như: ao
tù, bánh chay, bánh dẻo, chuối chát, Có 55 đơn vị, xin xem Phụ lục
b) Nhóm 2: gồm những ngữ định danh có thành tố phụ được hiểu như một tính chất biểu trưng: bia tươi, bìa giả, bồ nhí, bồ ruột, bùn non, hầu non, nhạc sống, nhà lành, ruột thừa, sách đen, sách đỏ, sách trắng, sổ đen, sổ vàng, sữa chua, sữa tươi, nhạc vàng, điện nóng, máu nóng, tay trắng, tiếng thơm (có 21 đơn vị)
Ví dụ: áo dài (tên một kiểu áo dài đến giữa ống chân), thuốc tím (tên gọi thông thường
của một loại thuốc sát trùng màu tím), chợ xanh (chợ tạm, thường bán các loại rau quả), ngành
Trang 34dọc (ngành chuyên môn có quan hệ chỉ đạo từ trung ương đến địa phương, không hoặc ít có quan hệ với các cơ quan, đơn vị thuộc các ngành khác trong cùng địa phương), tóc xanh (tóc còn đen, chỉ người còn trẻ),
Như vậy trong các tổ hợp này nghĩa của thành tố phụ trực tiếp gắn với sự vật do thành tố chính biểu thị mà không thông qua so sánh, liên tưởng Kể cả các thành tố phụ nêu lên một đặc điểm biểu trưng của sự vật như: chợ xanh, ngành dọc, tóc xanh ,
Các ngữ định danh này được chia làm hai nhóm:
a) Nhóm 1: gồm những ngữ định danh có thành tố phụ được hiểu theo nghĩa gốc như: áo dài, áo rộng, bảng đen, đậu đỏ, thân mềm, thẻ đỏ, Có 61 đơn vị, xin xem Phụ lục
b) Nhóm 2: gồm những ngữ định danh có thành tố phụ được hiểu như một đặc điểm có tính biểu trưng: cây xanh, chợ xanh, làng bẹp, má đào, má hồng, ngành dọc, tóc xanh (có 07 đơn vị)
2.1.3.3 Liên tưởng với sự vật đối lập với nó
Có những tên gọi mà khi nhắc đến nó là người ta liên tưởng ngay đến tên gọi một sự vật,
hiện tượng khác đối lập với nó Tức là khi đặt tên cho đối tượng đó, người bản ngữ đã có sự đối sánh với đối tượng kia Đó là cơ chế hình thành của những ngữ định danh thường xuất hiện thành từng cặp như: ảnh ảo - ảnh thực, bánh mặn - bánh ngọt, của chìm - của nổi, dây nguội - dây nóng, đất nặng - đất nhẹ, đĩa cứng - đĩa mềm, đò dọc - đò ngang, giun dẹp - giun tròn, hạt kín - hạt trần, mít ráo - mít ướt, nếp con -nếp cái, nhà ngang - nhà chính, nước cứng - nước
mềm, nước lợ -nước mặn - nước ngọt, ruột già - ruột non, rượu nặng - rượu nhẹ, tàu chậm - tàu nhanh, tàu chợ - tàu suốt, than béo - than gầy Trong các trường hợp kể trên chỉ có một cặp là tàu chợ - tàu suốt, thành tố phụ có sự khác nhau về từ loại và cặp của chìm -của nổi có thành tố
phụ là động từ song xét về sự tương đồng trong cơ chế định danh, chúng tôi đã xếp vào đây Và như vậy, có tổng cộng 39 ngữ định danh xếp thành 18 cặp và một bộ ba nước lợ - nước mặn - nước ngọt là dinh danh theo quan hệ liên tưởng với sự vật đối lập
Đây là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi, đây là sự liên tưởng giữa sự vật do
ố chính biểu thị với mục đích mà con người hướng tới từ sự vật ấy
Trang 35Ví dụ: áo ấm (áo mặc mùa đông cho ấm), máy lạnh (máy thực hiện việc làm lạnh nhân
tạo), pháo sáng (phương tiện chiếu sáng, )
Có thể kể thêm tên các tổ hợp sau: áo lạnh, áo rét, bọ hà, điện lạnh, kính mát, tủ lạnh Như
vậy có 09 ngữ định danh có cơ chế hình thành nói trên
Đây là cách định danh thông qua liên tưởng gần gũi, đây là sự liên tưởng giữa sự vật do thành tố chính biểu thị với xuất xứ của sự vật ấy Chúng tôi tìm được 03 tổ hợp danh - tính có thành tố chính biểu thị tổng loại sự vật còn thành tố phụ biểu thị xuất xứ là: cần dại, dứa dại, răng khôn Cả 03 tổ hợp đều có thành tố phụ mang tính biểu trưng
Những phân tích ở 2.1.3 được tổng hợp ở bảng 2.3:
CƠ CHẾ NGỮ NGHĨA – TÂM LÝ CỦA TỔ
so sánh
Tính chất
của sự vật
Không mang tính biểu trưng, ước lệ
ao tù, c ải cay, chân giả,
d ầu bóng, đá quý, tin
bu ồn,
55
Mang tính biểu trưng, ước lệ
bia tươi, hầu non, nhạc
s ống, nhà lành, tiếng
thơm,
21
Đặc điểm, hình thức bên ngoài
của sự vật
Không mang tính biểu trưng, ước lệ
áo dài, b ảng đen, cóc tía,
thu ốc tím, 63
Mang tính biểu trưng, ước lệ
cây xanh, ch ợ xanh, làng
b ẹp, má đào, má hồng, 07
Trang 36biểu thị ngành d ọc, tóc xanh
Thông qua liên tưởng
l ạnh
09
Xuất xứ, môi trường sinh
sống hay xuất hiện của sự vật
răng khôn, cần dại, dứa
d ại 03
Ngữ định danh song tiết có thành tố chính là động từ có số lượng là 738 tổ hợp theo thống
kê của chúng tôi Chúng tôi gọi những ngữ định danh này là động ngữ
Ngữ định danh song tiết có tính chất động ngữ được cấu tạo theo ba mô thức: 1) những tổ
hợp song tiết động - danh có thành tố chính là động từ và thành tố phụ là danh từ như: ăn tiền, đánh cá, làm trò, ngậm miệng, trả miếng , (có 527 ngữ định danh cấu tạo theo mô thức này); 2) những tổ hợp song tiết động - động có thành tố chính và thành tố phụ đều là động từ như : ăn bám, bàn lùi, cười góp, nói leo, (có in ngữ định danh cấu tạo theo mô thức này); 3)những tổ
hợp song tiết động - tính có thành tố chính là động từ và thành tố phụ là tính từ như : ăn gian,
giặt khô, mua vui, sửa sai, (có 100 ngữ định danh cấu tạo theo mô thức này)
Trong tổ hợp song tiết chính phụ là động ngữ , thành tố chính là đơn vị từ vựng biểu thị ý nghĩa trừu tượng về hoạt động, trạng thái còn thành tố phụ là đơn vị từ vựng ghép vào để hạn định và phụ nghĩa cho thành tố chính ở những phương diện sau:
Trang 372.2.1 T ổ hợp động - danh
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng, thành tố chính biểu thị ý nghĩa trừu tượng về hoạt động còn thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của hoạt động đó
Phạm vi tác động ở đây có thể là một sự vật, hiện tượng; cũng có thể là một trạng thái hay
một đặc điểm Vì vậy thành phần phụ này có thể do danh từ, động từ hay tính từ đảm nhiệm Qua khảo sát của chúng tôi, khi thành phần phụ của tổ hợp song tiết chính - phụ động ngữ hạn định nghĩa của tổ hợp về phạm vi tác động thì thành phần này chủ yếu do danh từ đảm nhiệm, động từ và tính từ chỉ chiếm số lượng rất nhỏ Có 226 ngữ định danh động - danh có thành tố chính biểu thị ý nghĩa trừu tượng về hoạt động còn thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của
hoạt động đó lại có thể chia làm hai nhóm:
a) Nhóm có thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của hoạt động được hiểu theo nghĩa
gốc: 118 tổ hợp
Ví dụ: ăn khách (bán chạy, được khách Ưa chuộng), bán nước (phản bội tổ quốc, làm tay sai cho kẻ ngoại xâm để mưu lợi riêng), cắt cơn (làm cho nhanh chóng dứt hẳn cơn bệnh hoặc
cơn nghiện)
Trong những ngữ định danh này, có nhiều trường hợp nghĩa của thành tố chính hư hóa và
trừu tượng hóa như: ăn khách, ấn lời, ăn người, ăn tiền, bán nước, chào giá, chào hàng, chào đời, đánh cá, đánh đường, đánh gió, đánh máy, đánh phấn, đánh số, đâm đơn, đội giá, đội ơn, làm cỏ, làm lông, làm thịt, mua đường, mua việc, nuốt lời, phá cỗ, phá đám, phá giá, phá lưới,
rửa oan, rửa tiền, tẩy não, tẩy oan, trả lời, trả nghĩa, trả phép, tráng miệng Vì vậy, thành tố phụ tuy về danh nghĩa là thành tố hạn định nhưng về nội dung thì hòa đúc rất chặt với thành tố chính để tạo ra một khối nghĩa mới mà không thể phân biệt rạch ròi đâu là cái nghĩa hạn định
và đâu là cái nghĩa bị hạn định Bởi vậy, ăn khách, ăn lời, ăn ngườU ăn tiền không phải để trả
lời cho câu hỏi ăn gì ?; đánh cá, đánh đường, đánh gió, đánh máy, đánh phấn, đánh số cũng không phải để trả lời cho câu hỏi đánh cái gì ? Bởi vậy coi đây là những ngữ định danh có thành phần phụ hạn định nghĩa của tổ hợp về phạm vi tác động cũng chỉ là phân chia một cách chung nhất
Trang 38b) Nhóm có thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của hoạt động mang tính biểu trưng:
108 tổ hợp
Ví dụ: bó cẳng (chịu cảnh ngồi một chỗ, không đi đâu được), chạm ngõ (đến nhà người con gái để hai gia đình chính thức ước hẹn cho đôi trai gái đính hôn với nhau), đề mắt (để ý trông coi, theo dõi; để ý, chú ý đến một nguời khác giới tính nào đó với nhiều thiện cảm), tóm
cổ (bắt giữ) Ở đây, cẳng, ngõ, mắt, cổ đều được hiểu một cách biểu trưng: cẳng, cơ biểu trưng cho thân thể; ngõ biểu trưng cho nhà người con gái, mắt biểu trưng cho tâm trí, sự quan tâm; Thành tố phụ mang tính biểu trưng thường là những từ chỉ sự vật cụ thể và trong đó có nhiều từ
chỉ các bộ phận cơ thể người (85/93 ngữ định danh), về hướng biểu trưng của các từ chỉ các bộ
phận cơ thể người xin xem thêm phần 2.3.1.1
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng, thành tố chính biểu thị ý nghĩa trừu tượng về trạng thái hay quá trình còn thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của trạng thái hay quá trình đó Cũng giống như ngữ định danh động - danh có thành tố chính biểu thị ý nghĩa
trừu tượng về hoạt động còn thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của hoạt động đó, các đơn
vị định danh này cũng được chia làm hai nhóm:
a) Nhóm có thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của trạng thái hay quá trình được hiểu theo nghĩa gốc có 50 đơn vị như: biến chất, mất giá, mất hồn, mất mạng, tới số, CéiC tổ hợp còn lại xin xem Phụ lục
b) Nhóm có thành tố phụ biểu thị phạm vi tác động của trạng thái mang tính biểu trưng
có 42 tổ hợp
Ví dụ: mất lòng, mất mặt, cháy chợ, cháy túi, ngứa mắt, ngứa miệng, ngứa mồm, ngứa nghề, ngứa tai, ngứa tay, Các tổ hợp còn lại xin xem Phụ lục
Đây là cách định danh không thông qua liên tưởng, thành tố chính biểu thị hoạt động còn thành tố phụ biểu thị kết qua của hoạt động đó