1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tìm hiểu văn trên tri tân tạp chí

170 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chíTìm hiểu văn trên tri tân tạp chí

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN

TÌM HIỂU VĂN TRÊN TRI TÂN TẠP CHÍ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62.22.34.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS Lại Văn Hùng

2 TS Phạm Thị Thu Hương

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực, được nghiên cứu từ thực tế và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Lan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, sự biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy cô

giáo hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lại Văn Hùng và TS Phạm Thị Thu Hương đã

tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu của Viện Văn học Việt Nam, Ban lãnh đạo, phòng đào tạo, các phòng ban chức năng của Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình

Hà Nội đã động viên, tạo điều kiện cho tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận án

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm

ơn những tình cảm tốt đẹp đó

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Lan

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Báo chí Việt Nam ra đời vào cuối thế kỷ XIX và thật sự phát triển vào khoảng giữa thế kỷ XX Sự xuất hiện của báo và tạp chí không chỉ phản ánh thực trạng

xã hội nước ta trong thời kỳ bị áp đặt, cưỡng chế bởi văn minh phương Tây mà còn là:

“Sự phản ánh của lịch sử văn hóa ngôn ngữ (chữ quốc ngữ), văn học, nghề in…” [79,

7] Dưới ách cai trị của thực dân, dù bị kiểm soát chặt chẽ, song báo chí Việt Nam vẫn tìm được nguồn sống riêng và gắn chặt với đời sống văn hóa tư tưởng của dân tộc Ngoài việc chuyển tải những nội dung thông tin về thời sự, chính trị, khoa học, giáo dục, báo chí còn thể hiện mục đích văn chương rõ rệt

1.2 Một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX diễn ra khẩn trương, dồn dập, mau lẹ không thể không kể đến sự hình thành và xuất hiện của các nhóm phái văn học Việc các tác giả tập trung quanh một tờ báo hoặc một nhà xuất bản có ý nghĩa quan trọng: Vừa định hướng người viết theo một tôn chỉ mục đích rõ ràng, vừa quy tụ các tác giả trong một khuynh hướng, trường phái và thúc đẩy phong trào sáng tác văn học thêm phong phú, đa dạng Điều này cũng chứng tỏ, người cầm bút ngày càng có ý thức sâu sắc về vai trò, giá trị và sứ mệnh của mình

1.3 Tri tân (1941-1946) là một tạp chí văn hóa lớn, có vai trò quan trọng trong

đời sống báo chí và văn học Việt Nam những năm 40 của thế kỷ XX So với nhiều tờ

báo, tạp chí xuất hiện ở nửa đầu thế kỷ XX thì Tri tân tạp chí tuy chỉ tồn tại trong thời

gian 5 năm (từ ngày 3/6/1941 đến ngày 16/7/1946) nhưng với 214 số ra đều đặn hàng tuần thì tự thân nó đã xác lập được vai trò vị trí của mình

Là loại tạp chí chuyên về khảo cứu nhưng thực chất Tri tân lại mang đặc điểm

của loại hình báo chí tổng hợp Có thể tìm thấy trên tờ tuần báo này tri thức của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực: Lịch sử, địa lý, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, tôn giáo,

mỹ thuật, văn học… Riêng mảng văn học phải kể đến sự phong phú của nhiều thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, thơ ca, kịch, nghiên cứu, phê bình, dịch thuật… Mỗi thể

loại được Tri tân đón nhận và giới thiệu đều nhằm hướng tới chủ đích riêng của tờ báo với mệnh đề thống lĩnh: Ôn cố tri tân (ôn cũ, biết mới) Thực tế, các tác phẩm được

Tri tân lựa chọn đăng tải lại chủ yếu nghiêng về khuynh hướng ôn cố Đồng thời,

những đóng góp của Tri tân tạp chí đối với nền văn học hiện đại Việt Nam tập trung

chính ở các sáng tác văn học, các bài nghiên cứu, phê bình, sưu tầm, hiệu đính, dịch

thuật theo khuynh hướng phục cổ Đó cũng chính là đặc điểm riêng biệt làm nên diện

Trang 6

mạo độc đáo của Tri tân trước sự nở rộ của báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhất

là những năm 40 Đề tài của luận án đi vào Tìm hiểu văn trên Tri tân tạp chí, thiết nghĩ

là một hướng nghiên cứu khả thi, đặt ra nhiều vấn đề gợi mở và có ý nghĩa khoa học.1.4 Trong sự phát triển phong phú, đa sắc của đời sống báo chí nửa đầu thế kỷ

XX, Tri tân là một trong số những tạp chí điển hình và có sắc thái riêng Là một tạp

chí văn hóa, sinh tồn trong thời điểm lịch sử gay cấn, bối cảnh chính trị phức tạp, đời

sống văn hóa đầy thử thách nhưng Tri tân vẫn được coi là một tạp chí “chất lượng” và

“trí tuệ” Bởi tôn chỉ mục đích mà Tri tân hướng tới là: “Ôn cũ biết mới Nhằm cái

đích ấy, Tri tân riêng đi vào con đường văn hóa với cặp kính khảo cứu” Đồng thời với

mục đích “ôn cố”, tạp chí cũng chủ trương “tri tân” mở mang tầm nhìn, “ngó rộng

chân trời tri thức, mạnh bạo tiến bước trên đường chân lý” (Lời Phi lộ).

Là loại tạp chí mang tính “bách khoa thư” (giống như kiểu tạp chí Nam phong),

Tri tân đã tạo nên những ưu thế đặc biệt của loại hình báo chí tổng hợp Tìm trên tờ

tuần báo này, có thể thấy đủ các thể loại từ báo chí chuyên biệt (thời sự chính trị, khoa học kỹ thuật, thông tin văn hoá xã hội, quảng cáo…) đến văn học nghệ thuật (thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, kịch…) rồi đến các lĩnh vực khác như lịch sử, địa lý, kinh

tế, dân tộc học, tôn giáo… Trong đó, đáng chú ý nhất là mảng văn học được tạp chí dành một số lượng trang báo đáng kể để in ấn, giới thiệu đều đặn, cần mẫn trong suốt

5 năm tồn tại

Qua việc khảo sát 214 số tạp chí với gần 5000 trang báo và hơn 1400 văn bản văn học, kết quả mà chúng tôi thống kê bước đầu là: Có 388 bài khảo cứu về các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, địa lí, tôn giáo, xã hội; 427 bài nghiên cứu, phê bình văn học, 39 bài khảo cứu văn học dài kỳ (trong đó có những bài dài gần 100 số tạp chí); 167 bài

sưu tầm, dịch thuật văn học có giá trị Đặc biệt tạp chí Tri tân còn đón nhận và đăng tải gần 500 sáng tác văn học mới với những thể loại làm nên đặc trưng chỉ có ở Tri

tân: Ký khảo cứu, tiểu thuyết lịch sử, kịch thơ lịch sử…

Một số lượng văn chương đáng kể và có sắc thái riêng biệt như vậy thiết nghĩ cần được nhìn nhận và đánh giá đích đáng để không những khẳng định vai trò, vị trí của tờ tạp chí này trong đời sống báo chí và văn học nửa đầu thế kỷ XX mà còn góp phần nhìn nhận đầy đủ hơn quá trình vận động của nền văn chương hiện đại trong tiến trình văn học dân tộc

Vì vậy, khi nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam không thể không xác định vai

trò của báo chí như “một động lực văn học”, bởi: “Từ Tri tân cũng có thể hình dung

được vai trò của báo chí đối với văn học đầu thế kỷ” [158, 9].

Trang 7

1.5 Tìm hiểu bộ phận văn học trên báo chí nửa đầu thế kỷ XX là vấn đề thực sự

cần thiết và có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học sử bởi nó mở ra nhiều hướng tiếp cận trong quá trình khôi phục, nhìn nhận và đánh giá lại một cách nghiêm túc những giá trị văn hóa, văn học quá khứ Đề tài luận án đi vào khái quát một cách có hệ

thống về diện mạo và chỉ ra những đặc điểm cơ bản của các thể văn trên Tri tân tạp

chí Nói cách khác, luận án đi vào tìm hiểu quá trình hình thành, sự vận động của các

thể loại văn học những năm 40 của thế kỷ XX được Tri tân đón nhận và giới thiệu có

đóng góp như thế nào đối với nền văn học hiện đại Việt Nam

Luận án luôn đặt đối tượng nghiên cứu trong sự so sánh, đối chiếu với các báo,

tạp chí xuất hiện trước và cùng thời với Tri tân để lí giải về sự vận động của các thể

loại văn học Việt Nam Từ đó xác định vai trò tiên phong của báo chí trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc, đồng thời mở ra một hướng tiếp cận có nhiều triển vọng: Nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam trong môi trường báo chí Đó cũng là yêu cầu thực tiễn và cấp thiết mà chuyên ngành nghiên cứu văn học sử đặt ra

2 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận án chọn toàn bộ văn bản Tri tân làm đối tượng nghiên cứu chính: Gồm

214 số tạp chí, trong đó khảo sát thống kê chi tiết phần văn trên tạp chí Tri tân.

- Đồng thời, luận án lựa chọn một số báo và tạp chí xuất hiện trước và cùng thời

với Tri tân để có điều kiện so sánh đối chiếu như:

+ Trước Tri tân: Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, An Nam tạp chí,

Phong hóa, Ngày nay…

+ Cùng thời với Tri tân: Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu thuyết thứ Năm, tạp chí Tao

đàn, Thanh nghị, Hàn Thuyên …

Luận án sẽ khảo sát phần Văn in trên Tri tân tạp chí qua các phương diện sau:

- Phần 1: Văn sáng tác gồm:

+ Văn xuôi với các thể loại chính: Truyện ngắn, ký, tiểu thuyết

+ Văn vần: Chủ yếu là thơ

+ Kịch: Chủ yếu là kịch thơ

Trong khi nghiên cứu về các thể loại văn học đó, luận án tập trung và nhấn mạnh vào

các thể tài làm nên giá trị của Tri tân như tiểu thuyết lịch sử, kịch lịch sử, ký khảo cứu…

- Phần 2: Văn khảo cứu, phê bình và sưu tầm dịch thuật

+ Văn khảo cứu: Luận án đặc biệt quan tâm đến các bài khảo cứu về văn hóa, văn học, lịch sử dài kỳ, có giá trị của các cây bút khảo luận danh tiếng như Nguyễn

Trang 8

Văn Tố, Hoa Bằng, Nguyễn Tường Phượng, Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Nguyễn Triệu, Lê Văn Phúc…

+ Văn phê bình: Người viết sẽ nhấn mạnh vào vai trò vị trí các bài phê bình tác phẩm mới của các cây bút tiêu biểu: Lê Thanh, Kiều Thanh Quế, Hoàng Thiếu Sơn, Phạm Mạnh Phan…

+ Văn sưu tầm dịch thuật: Chúng tôi tập trung vào phần sao lục, trích dịch, hiệu

đính các tác phẩm văn học cổ.

2.2 Mục đích nghiên cứu:

Luận án đi vào khái quát một cách hệ thống về diện mạo của bộ phận văn học trên Tri

tân tạp chí Từ đó, tìm hiểu đặc điểm về nội dung và hình thức của các thể loại Văn trên Tri tân

Đồng thời, xác định vai trò, vị trí, sự đóng góp cũng như mặt hạn chế của Văn trên Tri tân và lí giải sự hình thành, suy vong của các thể loại văn học Việt Nam

những năm 40 của thế kỷ XX

Luận án khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa báo chí và văn học trong quá

trình hiện đại hóa văn học và vai trò của tạp chí Tri tân đối với đời sống báo chí, văn

chương, học thuật nửa đầu thế kỷ XX cũng như nội lực của nền văn học dân tộc

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm

vụ cơ bản sau:

Khảo sát, thống kê một cách chi tiết cụ thể về mảng văn qua hơn 5000 trang văn

bản Tri tân.

Trên kết quả khảo sát, luận án sẽ phân tích lí giải nguyên nhân xuất hiện, quá

trình hình thành, hưng thịnh và suy vong của các thể Văn trên Tri tân Từ đó, khái quát

sự vận động của các thể văn trên Tri tân trong sự so sánh đối chiếu với văn trên các báo, tạp chí trước và cùng thời với Tri tân.

Định vị vai trò của mảng Văn trên Tri tân nói riêng và tạp chí Tri tân trong đời

sống báo chí và văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

3 Giới thuyết khái niệm Văn

Trong quá trình tiếp cận Tri tân, chúng tôi nhận thấy: Đặc điểm riêng của tờ tạp

chí này là chất khảo luận văn học nổi lên như một điểm nhấn làm cho khuôn diện của

tạp chí Tri tân không lẫn, không nhòa vào bất cứ một khuôn diện nào khác Là một tạp chí văn hóa, Tri tân là địa hạt thuận lợi cho các nhà văn, nhà nghiên cứu thể nghiệm

Tạp chí dành sự ưu ái cho các bài khảo cứu về văn hóa, văn học, lịch sử dài kỳ; các bài

Trang 9

nghiên cứu, nhất là các bài phê bình tác phẩm mới; tiểu thuyết lịch sử; các bài ký khảo cứu và các vở kịch lịch sử…

Khi sử dụng khái niệm Văn (mà không phải là văn học hay văn chương), chúng tôi

đã cân nhắc tìm hiểu công phu về vấn đề này để lựa chọn và đưa ra quyết định cuối

cùng Trước hết, Văn là một phạm trù rộng, một khái niệm đa nghĩa, đa sắc thái Theo

Hán ngữ đại từ điển, Văn có 27 nghĩa, trong đó quá nửa nét nghĩa tồn tại trên cả hai

bình diện: Tác phẩm văn học và quan niệm văn chương Như vậy, nội hàm khái niệm

Văn mở rộng từ văn lý thuyết mang tính lý luận (văn nghiên cứu, dịch thuật) đến văn

sáng tác (các thể loại văn học); từ khái niệm văn bản văn học (với tư cách là một ngành khoa học ngữ văn chuyên nghiên cứu tác phẩm văn học) đến văn chương (Nghĩa rộng là tác phẩm văn nói chung, bao gồm cả triết học, chính trị, lịch sử, quân sự, văn học…, nghĩa hẹp hơn là tác phẩm văn học, nghệ thuật ngôn từ, thường chỉ tác phẩm thơ) Do

đó, luận án không sử dụng khái niệm văn chương hay văn học để thay thế bởi cái lõi của các thuật ngữ này đều nằm trong và bị bao ở khái niệm rộng hơn, bao trùm hơn là Văn

Hơn nữa, một dấu hiệu đặc thù của nền văn học trung đại Việt Nam là tình trạng văn –

sử bất phân, với tinh thần “phục cổ”, Tri tân đã thực hiện sứ mệnh khai quật những di sản văn hóa, văn học cổ, cho nên biên độ của khái niệm Văn sẽ được mở rộng hơn, phù

hợp hơn với đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu của luận án

Đề tài dựa trên cơ sở lý thuyết về phương thức sáng tác và thể loại văn học làm căn cứ để phân loại, phân tích, nhận định, đánh giá những ưu thế và hạn chế của mảng

Văn trên Tri tân Do vậy, khái niệm Văn được chúng tôi sử dụng trong luận án có ý

nghĩa bao quát toàn bộ những vấn đề thuộc về văn nghiên cứu phê bình, sưu tầm dịch thuật, văn sáng tác, văn khảo cứu về các đề tài lịch sử, văn hoá, tôn giáo, địa lý, dân tộc, triết học… Đồng thời khái niệm này có ý nghĩa khu biệt với khái niệm văn báo chí

Nghĩa là những bài mang tính thời sự chính trị (trong mục Thời đàm,Tin vắn hàng tuần)

hay những trang mục quảng cáo trên tạp chí không thuộc phần khảo sát của luận án

Như vậy, luận án sẽ khảo sát trực tiếp mảng văn chương sáng tác trên Tri tân (trong mục Tuỳ hứng, truyện ngắn, du ký, kịch, tiểu thuyết); văn khảo cứu phê bình, sưu tầm dịch thuật (trong chuyên mục Sử liệu sống, chuyện thơ, giai thoại văn học,

phê bình tác phẩm mới, dịch thơ Ta, dịch thơ Tây…) Tuy nhiên, trong khi phân loại

và nghiên cứu để khái quát đặc điểm của các thể văn trên Tri tân, chúng tôi cũng dựa

theo tiêu chí nguồn gốc, đề tài, thể loại

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu và các thao tác sau:

4.1 Phương pháp nghiên cứu văn học sử

Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt quá trình nghiên cứu của luận án Sử

dụng phương pháp nghiên cứu này, người viết đặt Tri tân trong bối cảnh lịch sử sinh

thành, tồn tại, tiếp diễn của tạp chí trong lịch sử báo chí và văn học nửa đầu thế kỷ XX (nhất là những năm 40) Vận dụng phương pháp này chúng tôi phục dựng diện mạo

phần văn trên Tri tân một cách có hệ thống Từ đó, luận án phân tích đánh giá về vai trò, vị trí của tác giả, tác phẩm, đặc biệt về các thể loại loại văn học trên tạp chí Tri

tân.

4.2 Phương pháp so sánh

Đây cũng là một phương pháp nghiên cứu quan trọng Đối chiếu đồng đại và lịch

đại với một số báo và tạp chí trước hoặc cùng thời với Tri tân để từ đó, nhìn nhận đối

tượng như một bộ phận trong tính chỉnh thể cũng như quá trình vận động liên tục của nó

4.3 Phương pháp tích hợp - liên ngành

Luận án sử dụng phương pháp này với mục đích nhìn nhận đối tượng trong mối liên hệ giữa văn học với lịch sử, chính trị, văn hóa, triết học, báo chí… nhằm xem xét đối tượng một cách đa chiều, soi chiếu trên nhiều phương diện khác nhau

4.4 Thao tác thống kê - phân loại:

Thao tác này là cơ sở, giúp người nghiên cứu có những đánh giá, nhìn nhận

chính xác và khách quan từ những số liệu thống kê, phân loại cụ thể về các thể loại,

tiểu loại văn học trên Tri tân.

4.5 Thao tác phân tích - tổng hợp

Thao tác này được vận dụng một cách thường xuyên trong quá trình nghiên cứu

Phân tích tác phẩm, sự hình thành, phát triển, thoái trào của các thể loại văn học sẽ làm

cơ sở cho việc tổng hợp thành những vấn đề cần đạt được trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Phương pháp tổng hợp sẽ nhằm quy nạp các vấn đề đã nghiên cứu một cách tổng quát sau khi đã luận giải chi tiết Với cách nhìn khái quát đó, công trình nghiên cứu sẽ có diện mạo đầy đủ và sâu sắc hơn

5 Đóng góp mới của luận án

Về mặt tư liệu: Luận án là công trình đầu tiên phục dựng, nhìn nhận đánh giá hệ

thống và toàn diện về mảng Văn trên Tri tân tạp chí, góp một tư liệu thực sự có ý

nghĩa cho chuyên ngành văn học sử

Trang 11

Về mặt lý luận: Luận án góp phần lí giải sự hình thành, phát triển, thậm chí suy

vong của các thể loại văn học hiện đại Việt Nam trên cơ sở lý luận về thi pháp thể loại

Về mặt thực tiễn: Khẳng định giá trị của bộ phận văn học trên tạp chí Tri tân đối

với đời sống văn học nửa đầu thế kỷ XX

Định vị vai trò của Tri tân tạp chí trong quá trình sinh thành, diễn tiến của báo

chí và văn học nửa đầu thế kỷ XX

Nghiên cứu Văn trên Tri tân tạp chí, nhất là đối với mảng văn khảo cứu, phê bình hay các thể loại, thể tài văn học như tiểu thuyết lịch sử, kịch lịch sử, du ký thực sự giúp

ích cho công việc học tập và giảng dạy các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học cận hiện đại Việt Nam

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần: Mở đầu, Kết luận, phần nội dung luận án có bốn chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Văn trên Tri tân tạp chí.

Chương 2: Tri tân tạp chí trong sự hình thành và phát triển của báo chí Việt Nam

những năm 1940-1945

Chương 3: Văn sáng tác trên Tri tân tạp chí.

Chương 4: Văn khảo cứu, phê bình và sưu tầm dịch thuật trên Tri tân tạp chí.

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VĂN TRÊN TRI TÂN TẠP CHÍ Tri tân là một tạp chí ra đời và phát triển trong một bối cảnh đặc biệt Tình hình

chính trị trên thế giới diễn ra những biến động dữ dội, chứa đựng các mâu thuẫn chồng chéo, phức tạp Thế chiến lần thứ hai bùng nổ cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít… đã tạo nên tâm lý hoang mang, bất ổn trong nhân loại, nhất là đối với các dân tộc thuộc địa

Ở trong nước, những năm 40 của thế kỷ XX, không khí chính trị cũng bức bối, căng thẳng; tình hình văn hóa, tư tưởng thì bộn bề, đa tạp; đời sống báo chí và văn học

bị kiểm soát ngặt nghèo Trước tất cả khó khăn, thách thức ấy, Tri tân tạp chí vẫn

vượt qua và đứng vững để hoàn thành sứ mệnh: “Xây dựng một nền văn hóa chân

chính cho nước nhà” (Lời Phi lộ).

Theo dõi lịch trình nghiên cứu về Tri tân tạp chí và những vấn đề có liên quan đến việc tìm hiểu, nghiên cứu về bộ phận văn học trên tạp chí Tri tân từ trước tới nay,

chúng tôi tập hợp, tiếp nhận và đánh giá thành tựu của những công trình đi trước trên

ba phương diện:

Thứ nhất, đặt Tri tân tạp chí trong những công trình nghiên cứu về báo và tạp chí nửa đầu thế kỷ XX, luận án xác định vai trò của báo chí nói chung và tạp chí Tri

tân nói riêng đối với lịch sử báo chí và nền văn chương hiện đại.

Thứ hai, đặt Tri tân tạp chí trong những công trình nghiên cứu về văn học, luận án

nhấn mạnh đến mối quan hệ gắn bó, tương tác không thể tác rời giữa báo chí và văn học

Thứ ba, từ những công trình trực tiếp nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn về Tri tân

tạp chí, chúng tôi phân tích, đánh giá những vấn đề có liên quan mật thiết đến đề tài,

những vấn đề còn tồn tại Từ đó, luận án nêu lên vấn đề mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu và giải quyết

1.1 Tri tân trong những công trình nghiên cứu về báo, tạp chí nửa đầu thế kỷ XX.

Không phải là một hiện tượng đột hiện trong văn học Việt Nam, có thể khẳng

định, tạp chí Tri tân ra đời do nhu cầu bức thiết của lịch sử văn học và lịch sử dân tộc

Ở phần này, chúng tôi đặt tạp chí Tri tân trên nền phát triển của lịch sử báo chí nói chung để thấy Tri tân đã kế thừa báo chí đi trước trên hai phương diện: Sự phát triển của

Trang 13

báo chí từ khởi thủy đến trước khi Tri tân ra đời và sự phát triển của văn học trên báo chí

từ tờ báo Quốc ngữ đầu tiên (Gia Định báo, 1865) đến khi tạp chí Tri tân ra đời.

Báo chí Việt Nam xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và thực sự dành được địa hạt, nguồn sống riêng từ những năm 20 của thế kỷ XX Trong rất nhiều điều kiện, nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của nền báo chí tiếng Việt, cần phải khẳng định nguyên nhân

có ý nghĩa tiên quyết là do âm mưu xâm lược và đồng hóa của chính quyền thực dân Song, người Việt Nam (nhất là người trí thức) với tinh thần dân tộc, với niềm tự tôn,

tự hào về truyền thống, đặc biệt với bản lĩnh của mình đã nắm lấy cơ hội, xoay chuyển tình thế, âm thầm xây dựng một nền báo chí tiếng Việt tồn tại độc lập, song hành với báo chí tiếng Pháp

Khi nghiên cứu về Lịch sử báo chí Việt Nam, các ông Huỳnh Văn Tòng, Hồng

Chương, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành… dù có những cách lập luận và dẫn giải khác nhau song tựu chung lại các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định vai trò, vị trí của báo chí đối với văn học, đặc biệt là về mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa báo chí

và văn học Báo chí là cái nôi nâng đỡ, tạo đà cho văn học phát triển và văn học làm cho khuôn diện và đời sống báo chí thêm phong phú, đa sắc Hơn nữa, sự ra đời và phát triển của báo chí Việt Nam đã đánh dấu một bước trưởng thành của nền quốc văn Việt Nam

Tác giả Huỳnh Văn Tòng trong công trình Lịch sử báo chí Việt Nam, từ khởi

thuỷ đến năm 1930 (1973) đã sớm xác định vai trò của báo chí Việt Nam trên cả hai

phương diện: chính trị và văn học Về phương diện văn học, ông đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của báo chí trong việc khai sinh, truyền bá, thúc đẩy chữ Quốc ngữ phát triển Bởi đó là điều kiện thuận lợi mở ra cơ hội tiếp xúc với những chân trời tri

thức mới và dần dần hiện đại nền văn học nước nhà: “Chính báo chí là phương tiện

duy nhất lúc bấy giờ đã cho phép nhà văn phổ biến trong dân chúng nền văn học mới, nền văn học chữ Quốc ngữ cùng với những tư tưởng, những học thuyết Tây phương (…) Tuy nhiên trên thực tế, những nhà trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đã biết lợi dụng chính sách tuyên truyền văn hóa của người Pháp để phục vụ và làm cho hoàn hảo nền văn học nước nhà còn ở trong tình trạng phôi thai” [188, 119].

Mặc dù Nam Kỳ được coi là cái nôi đầu tiên của báo chí và chữ Quốc ngữ, nhưng Bắc Kỳ lại là địa hạt để báo chí trưởng thành, lớn mạnh đồng thời cũng là mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho nền văn chương hiện đại Việt Nam Hầu hết báo chí miền

Bắc giai đoạn trước năm 1930: “Chỉ chú trọng vào vấn đề văn chương, khảo cứu lịch

Trang 14

sử, nhờ đó góp phần tích cực vào văn học” [188, 184] Đến giai đoạn sau (1940-1945),

có thể thấy mảng văn chương hoài cổ là đặc thù của báo chí miền Bắc Bởi so với

Nam Kỳ, chính quyền thực dân đã áp đặt một quy chế chính trị chặt chẽ, thu hẹp quyền tự do của nhà văn, nhà báo ở Bắc Kỳ Cho nên, ký giả miền Bắc không được phát biểu ý kiến cởi mở như ở Nam Kỳ, họ chỉ còn một cách quay về với các di sản tinh thần trong quá khứ qua việc tìm kiếm, thu lượm, sưu tầm, giới thiệu các bài văn

cổ Đây là một điểm khả thủ để lí giải vì sao, trong sự tăng tốc của báo chí và văn học hiện đại, lại định vị một dòng riêng luôn tìm về văn hóa, văn học quá khứ Đồng thời,

việc tìm nguồn ấy cũng chính là vùng đất sống cho các tờ báo, tạp chí sinh tồn trong thời điểm chính trị nhạy cảm như Nam phong, Thanh nghị, Tri tân…

Tiếp thu ý kiến của ông Huỳnh Văn Tòng, tác giả Đỗ Quang Hưng thêm một lần nữa khẳng định về mối quan hệ mật thiết giữa báo chí với văn học, nhà báo với nhà văn:

Trong cuốn Nhập môn văn học Việt Nam, M Durand và Nguyễn Trần Huân đã

nhìn nhận báo chí từ một bộ phận của tiến trình văn học và được coi là một chương của

bộ sách này, với ý nghĩa như một thể loại, một động lực của văn học Vấn đề cũng không chỉ là phương tiện Một thời gian dài gần như tất cả các sáng tác văn học, kể cả dịch thuật đều đăng tải trên báo chí (…) Vấn đề còn là, khi văn chưa tách khỏi báo (giữa thập

kỷ 30 về trước) thì phần lớn các nhà văn đều phải đi từ nghề báo [79, 234-235].

Điểm khác biệt của báo chí Việt Nam so với báo chí phương Tây là ra đời trước

và tạo nên nền văn học hiện đại Điều đó cũng lí giải vì sao nhiều tờ báo không hề có

chủ trương về văn học, nghệ thuật nhưng chính những chuyên mục “ngoài lề” đó lại

luôn có sức thu hút độc giả

Chẳng hạn như Gia Định báo (1865), tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ ở

Việt Nam do Soái phủ Nam Kỳ - ông Ernest Potteau khởi lập, sau đó chuyển cho Trương Vĩnh Ký đảm nhiệm vai trò chính Đây cũng là tờ công báo của chính phủ thuộc địa, có cấu tạo gồm hai phần: Phần chính đăng các công văn, nghị định, thông

tư, những tài liệu chính thức của chính phủ Pháp và những tin tức trong nước Phần phụ đăng những bài nghiên cứu về lịch sử, thơ, truyện cổ tích… Tuy nhiên, phần phụ lại được số đông độc giả quan tâm chú ý nhiều hơn Mặc dù là tờ báo ra đời vì mục

đích chính trị nhưng Gia Định báo lại góp phần xây dựng căn bản cho báo chí nước

nhà và hướng tới mục tiêu tạo dựng một nền quốc văn độc lập Vai trò khởi đầu của tờ báo này có ý nghĩa đặt nền móng cho báo chí và văn học nước nhà

Trang 15

Một tờ báo lớn như Đông Dương tạp chí trong quá trình tồn tại cũng dần dần dịch

chuyển và thay đổi khuynh hướng cho phù hợp với tâm lí của độc giả Nếu như ở giai

đoạn đầu, Đông Dương tạp chí (từ số 1 đến số 85, ra ngày 15/05/1913- 31/12/1914) chủ

yếu tập trung đăng tải tin tức, thời sự, mảng văn chương còn mờ nhạt thì đến giai đoạn sau (từ số 86 đến số 102, ra ngày 10/01/1915- 31/12/1916) bản báo lại chú trọng đến

việc đăng tải mảng văn chương, học thuật Đặc biệt hơn, đến Đông Dương tạp chí, văn

phong tiếng Việt đã: “Bắt đầu được cấu kết có mạch lạc trôi chảy Có thể tạm gọi là

thời kỳ khởi đầu của nền văn học chữ Quốc ngữ” [188, 92].

Cũng như vậy, với các tờ báo chủ trương về kinh tế (Nông cổ mín đàm, 1924), tôn giáo (Vì chúa, ra đời 1936) thì chuyên mục: “Văn uyển (vườn văn), thậm

1901-chí trang văn học, trang tiểu thuyết (dịch, sáng tác) thường kỳ trở nên một chuyên mục câu khách” [79, 235] Nếu báo chí Việt Nam sản sinh ra nền văn học hiện đại Việt

Nam thì tương quan lại, văn học chính là điều kiện cần thiết cho vận mệnh sinh tồn của một tờ báo

Bùi Đức Tịnh khi tìm hiểu Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu

thuyết và thơ mới (1865-1932), (2002, tái bản lần 2) cũng đã xác định báo chí như một

bộ phận của nền văn học hiện đại Việt Nam Cho nên khi nghiên cứu các thể loại văn học mới (truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ) ông rất quan tâm đến báo chí với tư cách là

môi trường thúc đẩy sự sinh sôi, nảy nở của các thể loại văn học: “Sở dĩ cần quan tâm

nhiều đến báo chí là vì đó là bộ môn tiền phong của nền văn học mới Đồng thời, đó cũng là môi trường để nảy sinh và phát triển của tất cả các bộ môn khác như tiểu thuyết, thơ, văn nghị luận, phê bình…” [185, 13].

Ngay từ khi tìm hiểu về những tờ báo đầu tiên, ông cũng đã khẳng định vai trò

của chúng đối với văn học Với Gia Định báo thì việc: “Truyền bá thứ chữ viết dùng

mẫu tự La Tinh để ghi âm thanh của tiếng Việt cần được lưu tâm đến khi nghiên cứu

những bước đầu của nền văn chương hiện đại” [185, 29] Với những tờ như Nông cổ

mín đàm, Lục tỉnh tân văn một mặt: “Để thực hành sứ mạng giúp đồng bào văn minh

tiến bộ hơn”, mặt khác, “Góp công xây dựng nền quốc văn mới trong giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương hiện đại” [185, 35].

Báo chí càng phát triển phong phú thì càng phân hóa phức tạp Có thể hình dung lược trình của nền báo chí tiếng Việt như sau:

Lúc đầu báo chí ra đời do nhu cầu thống trị và xâm lăng văn hóa của chủ nghĩa thực dân nên mang tính chức năng Chính quyền thực dân dùng báo chí chủ yếu nhằm

Trang 16

thực hiện mục đích chính trị Chủ thuyết của A.Sarraut là dựa vào sức mạnh của báo

chí để tạo ra: “Một thứ huyền thoại độc tôn về nền văn minh Pháp và thứ mặc cảm tự

ti nơi những nhà trí thức Việt Nam lúc bấy giờ” [188, 88] Cho nên hầu hết, nội dung

của các báo, tạp chí thời kỳ đầu tập trung đăng tải những thông tin mang tính thời sự,

xoay quanh các vấn đề về kinh tế, chính trị, tuyên truyền văn hóa, văn minh nước Đại

Pháp … Các tờ báo tiếng Việt tiêu biểu buổi đầu như: Gia Định báo (1865), Lục tỉnh

tân văn (1907), Đông Dương tạp chí (1913), Nam phong tạp chí (1917)… được ra

đời trước hết để thực hiện chức năng và nhiệm vụ cụ thể đó

Càng về sau, báo chí dần chuyên biệt và xuất hiện những tờ báo chuyên hẳn về

văn chương nghệ thuật Tờ Phong hóa (1932) - Ngày nay (1935) của nhóm Tự lực

văn đoàn chủ yếu đăng bài và bàn luận xoay quanh phong trào Thơ mới Tiểu thuyết thứ Bảy (1934), Tiểu thuyết thứ Năm (1937) là loại tạp chí chuyên về văn học, Thanh nghị (1941), Tri tân (1941) là loại tạp chí chuyên về khảo cứu Rõ ràng, không

thể phủ nhận vai trò của báo chí đối với sự phát triển của nền văn học hiện đại Vai trò

ấy lại: “Càng rõ rệt hơn vào thời kỳ sau năm 1930 khi chúng ta thấy xuất hiện những

tờ báo dành hẳn cho văn học hoặc phần văn học là chủ yếu như: Ngày nay, Tiểu

thuyết thứ Ba, Tiểu thuyết thứ Năm, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tương lai, Hà Nội báo, Tao đàn, Tân văn … (trước năm 1945)” [135, 29].

Đồng quan điểm với Bùi Đức Tịnh, nhà nghiên cứu Phong Lê trong bài: Báo chí

và văn học trong chặng đầu của tiến trình hiện đại hóa đã viết: “Báo chí và văn học

đã có cơ hội đến với nhau ngay từ Gia Định báo (1865) ở Nam Kỳ trong mục khảo cứu - nghị luận và trong các thông tri yêu cầu bạn đọc viết bài phải bám chắc vào sự thật” [102, 55].

Đặc biệt trong các cuốn hồi ký của các nhà văn nhà báo như Đời viết văn của tôi (1994), Nguyễn Công Hoan; Bốn mươi năm nói láo (2008, in lần đầu 1969), Vũ Bằng; Hồi ký Thanh nghị (1997), Vũ Đình Hòe… các tác giả đã ghi lại chân thực sinh

động gương mặt của báo chí và văn học giai đoạn giao thời Báo chí và văn học có

những điểm giao thoa, cộng hưởng, nhà báo và nhà văn không tách bạch: “Người viết

báo nói thực ra là làm văn chớ không phải làm báo Một cái đoản thiên ngắn bao giờ cũng bắt đầu bằng một đoạn tả cảnh biền ngẫu, kiểu Tuyết Hồng lệ sử; còn xã thuyết thì bàn về chữ tín, chữ nghĩa và thường là phải bắt đầu bằng câu Phàm người ta ở trên đời Vì thế, người viết báo trước hết phải tập viết văn cho nhịp nhàng thánh thót”

[12, 15]

Trang 17

Văn chương được bồi đắp từ cái nôi của báo chí, do đó, bản thân các nhà văn

cũng không thể phủ nhận ý nghĩa, tác động của báo chí trong quá trình trưởng thành

của họ: “Có thể rút ra rằng, chính làm báo đã giúp cho tôi làm văn Nếu không có làm

báo chắc chắn tôi sẽ không làm văn được và không thể trở thành nhà văn (…) Tôi cho rằng, không có nghề báo thì tôi sẽ không có vốn sống, không có nền tảng để tôi viết văn” [38, 9] Quả thật, “Báo và tạp chí là nơi thử thách ngòi bút của nhiều người, trước khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp”.

Tác giả Trần Thị Trâm trong chuyên luận Văn học và báo chí từ một góc nhìn

(2003) thêm một lần nữa khẳng định mối quan hệ “đan xen, cộng hưởng, nâng đỡ,

chuyển hóa” lẫn nhau giữa báo chí và văn học để “cùng phát triển với một gia tốc lớn”

Có khi tác giả lại “tuyệt đối hóa” vai trò của báo chí: “Tìm hiểu sự phát triển của báo

chí cũng chính là nói đến đời sống của bản thân văn học bởi vì trong thời kỳ đầu, đặc biệt trước khi có sự ra đời của các nhà xuất bản thì hầu như báo chí là phương tiện duy nhất để truyền bá tác phẩm, nơi giới thiệu kinh nghiệm sáng tác, nghiên cứu phê bình

Có những lúc, báo chí là phương tiện duy nhất, quan trọng nhất để truyền bá tác phẩm

văn chương, đồng thời còn là trung tâm văn hóa lớn của thời đại” [191, 196].

Đến nay, khi đã có khá đầy đủ tư liệu về báo chí và có đủ độ lùi về thời gian để nhìn lại thì rõ ràng cách đánh giá của tác giả Trần Thị Trâm chưa thật khách quan và thỏa đáng song cái đích cuối cùng mà tác giả hướng tới cũng là nhằm khẳng định vai

trò “quan trọng, duy nhất” của báo chí và các nhà xuất bản đối với nền văn chương

hiện đại Việt Nam

Như vậy, khi nghiên cứu về lịch sử báo chí, các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định vai trò quan trọng của báo chí đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX:

Sự thật dần dần chứng tỏ: Báo chí cần sử dụng và mở rộng địa bàn cho văn chương (gồm cả sáng tác và nghiên cứu - dịch thuật) để phát triển số lượng người đọc Còn văn chương cần dựa vào báo chí để rèn luyện và nâng cao khả năng diễn đạt, miêu

tả, qua đó từng bước hoàn thiện các thể văn mới đến từ các ảnh hưởng phương Tây đồng thời đưa tiếng Việt - chữ Quốc ngữ lên tầm một ngôn ngữ phong phú, linh hoạt, có năng lực thể hiện mọi trạng huống sinh hoạt xã hội và tâm lý con người [102, 57].

Hay nói cách khác, báo chí như một bộ phận của tiến trình văn học Đó là mối quan hệ biện chứng, thẩm thấu tạo nên nét đặc thù của báo chí cũng như của văn học Việt Nam

Trang 18

1.2 Tạp chí Tri tân trong những công trình nghiên cứu về văn học.

Trong các tài liệu nghiên cứu về Lịch sử văn học Việt Nam như: Việt Nam văn

học sử yếu (1944) của Dương Quảng Hàm, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam

(1957) của nhóm Lê Quý Đôn, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của các tác giả Văn Tân, Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Giáo trình lịch sử văn học Việt

Nam (1961), tập 4 của nhóm Lê Trí Viễn, Phan Côn, Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam,

Nguyễn Đình Chú, Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) của Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Lược truyện các tác gia Việt Nam (1972) của Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu hay bộ Lược khảo văn học của Nguyễn

Văn Trung, Thanh Lãng … dù ít nhiều các tác giả đều đề cập đến vai trò của báo chí

đầu thế kỷ XX đối với tiến trình lịch sử văn học dân tộc: “Trên mặt các báo chí

thường là xuất hiện nhiều nhà văn và nhiều tác phẩm thuộc mọi xu hướng khác nhau, cho nên trước hết chúng ta cần điểm các báo chí bằng Quốc ngữ từ khi ra đời đến năm 1945” [52, 24].

Tác giả Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Ất tị) khi khái quát “Bộ mặt đặc biệt của mấy năm 1940-1945” đã rất chú ý đến sự hình

thành của các báo phái: Nếu như năm 1918 Nam phong chiếm địa vị độc tôn đến 1932 địa vị ấy nhường lại cho Phong hóa (những ai có học cao phải đọc những báo này) thì

từ sau 1940:

Người trí thức để tâm đến quốc văn nhiều hơn, công chúng có học cũng mở rộng hơn, cơn gió phục hưng lại thổi đến một không khí đua chen giữa những người làm văn nghệ cùng một trình độ và nhiệt huyết, chỉ khác nhau ở đường lối và họ tung ra những ấn phẩm khuynh hướng đa tạp, có thể làm phân vân độc giả sành sỏi đi lựa chọn Tựu trung có ba khuynh hướng đáng nêu làm tiêu biểu cho mấy năm 1940-1945 này được đúc kết vào ba nhóm: Tri tân, Thanh nghị, Hàn Thuyên Tri tân đại biểu cho khuynh hướng phục cổ, học cổ, lấy khẩu hiệu: “Ôn cố nhi tri tân” của Khổng Tử mà đặt tên cho tờ tuần báo của họ [125, 615].

Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại (1994, in

lần đầu 1942) đã nói đến vai trò của chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ được khẳng

định bởi các nhà văn tiên phong xuất thân từ báo chí: “Quốc văn bắt đầu thịnh, bắt

đầu có cái giọng hoa mỹ, dồi dào và chú trọng về tư tưởng là công các nhà biên tập hai tờ tạp chí Bắc Hà: Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí” [139, 33].

Trang 19

Chuyên luận Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900-1945 (2000) do

Mã Giang Lân chủ biên là cuốn sách tập hợp được các bài viết quan trọng cung cấp cho ta những điểm nhìn gợi mở, có ý nghĩa khái quát về văn học Việt Nam trên tiến trình hiện đại hóa Đặc biệt, các tác giả đều khẳng định vai trò không thể thiếu của báo

chí đối với quá trình hiện đại hóa văn học: “Có thể nói, đối với công việc nghiên cứu

văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX, những tờ báo Quốc ngữ xuất bản công khai đương thời mang ý nghĩa của những hoa thạch văn hoá” [94, 128]

Đồng thời, tác giả nhấn mạnh đến báo chí với tư cách là: “Môi trường lưu giữ

những tác phẩm văn học Quốc ngữ viết theo lối mới, mà đặc biệt là các thể đoản thiên tiểu thuyết, ký… đều được đăng tải trên báo chí hoặc để lại dấu ấn trên báo chí qua những bài giới thiệu sách, phê bình văn học, tranh luận văn học Những khuynh hướng khác nhau tác động đến sự ra đời của văn học hiện đại viết bằng Quốc ngữ đều hiện diện và quy tụ ở môi trường báo chí, từ những hoạt động dịch thuật cho đến việc kiểm kê, thức nhận lại kho tàng văn học truyền thống Hoàn toàn có thể khẳng định ít nhất trong ba thập niên đầu thế kỷ (nếu thậm chí không muốn nói là một khoảng thời gian còn rất dài sau đó) các nhà văn hiện đại đã xuất hiện, định hình và trưởng thành trong môi trường báo chí” [94, 128-129].

Vì vậy, nghiên cứu quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam: “Cần phải khai

thác mối quan hệ đặc thù giữa văn chương và báo chí” [94, 131] Hơn nữa, cũng cần

phải khẳng định: “Vị trí đặc biệt quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp xây dựng

quốc văn, quốc học lúc bấy giờ” [94, 14] Có nghĩa việc nghiên cứu văn học hiện đại

Việt Nam những năm nửa đầu thế kỷ XX không thể tách biệt khỏi môi trường báo chí

Từ đó cho thấy, ý nghĩa, tác động thiết thực của báo chí đối với văn học và ngược lại

Khi nghiên cứu Tổng quan về văn học Quốc ngữ trên báo chí 30 năm đầu thế

kỷ, tác giả Phạm Xuân Thạch xem báo chí là cầu nối gắn kết và giữ vai trò chuyển tiếp

giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại Bởi quá trình cách tân văn học truyền

thống chuyển động dần dần trên các mặt báo viết: “Trong bối cảnh khi cái cũ tiếp tục

đi đến cùng những khả năng cách tân và cái mới vẫn đang trong một giai đoạn thể nghiệm, tìm đường, khẳng định khả năng tồn tại, cho phép hình dung về một lối phát triển điều hoà, thỏa hiệp mà sản phẩm tất yếu là hình thức pha tạp, không trọn vẹn, dứt khoát Tất cả những hiện tượng cũng như những khuynh hướng đó, một phần cơ bản cũng đã hiện diện trên báo chí” [94, 150].

Trang 20

Chính môi trường báo chí đã tác động trực tiếp đến quá trình sinh thành các thể

loại văn học mới, góp phần làm thay đổi bộ mặt của nền văn học dân tộc: “Mặt khác,

chúng ta cũng thấy rõ hơn vai trò của báo chí trong việc xã hội hóa văn học, hiện đại hóa văn học, nhất là hiện đại hóa các thể loại văn học” [137, 29].

Đặc biệt, thành tựu của văn học hiện đại Việt Nam kết tinh ở giai đoạn

1930-1945 phải kể đến sứ mệnh hết sức quan trọng của báo chí: “Giai đoạn hoàn thiện diện

mạo hiện đại của nó, trên cơ sở một phong trào báo chí - xuất bản thực sự là bà đỡ, là mảnh đất nuôi dưỡng cho văn chương - học thuật có được một mùa màng bội thu, với các tác gia, tác phẩm đỉnh cao trên tất cả các khu vực: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, các loại ký, phê bình khảo cứu, nghị luận… Đóng góp nổi bật và có vai trò quan trọng cho sự nuôi dưỡng đó là các tờ Phong hóa, Ngày nay của Tự lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tao đàn, Ích hữu của ông chủ Tân Dân Vũ Đình Long và Tri tân, Thanh nghị…” [102, 62].

Phong Lê khi tìm hiểu về “Cuộc đồng hành ngoạn mục” của văn học và báo chí

trước 1945 đã chỉ ra quá trình vận động của báo chí đã hình thành nên những phong trào

và khuynh hướng đối với sáng tác văn chương, học thuật: “Nếu từ trong thế chiến thứ

nhất đến đầu những năm 30, gương mặt báo chí nổi bật trên hai tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh và Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh, thì chuyển vào những năm 30, trên nền rộng của nhiều loại báo chí đưa tới sự xuất hiện những tờ chuyên cho văn chương và học thuật như Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy, Ích hữu, Tao đàn, Tiểu thuyết thứ Năm, Tri tân, Thanh nghị… ” [102, 63].

Đồng hướng nghiên cứu với chúng tôi có luận án Tiến sĩ của Nguyễn Đức Thuận

với đề tài “Tìm hiểu văn trên Nam phong tạp chí” (2006) đã có ý nghĩa định hướng,

gợi mở cho chúng tôi trong quá trình tiếp cận, thực thi đề tài Tuy kế thừa thành tựu

của người đi trước nhưng luận án không rập theo khuôn mẫu sẵn có Người viết luôn

cố gắng tạo một hướng tiếp cận riêng với Tri tân Điều đó được quy định bởi những

đặc điểm riêng mang tính thời đại về hoàn cảnh lịch sử cụ thể, bối cảnh tư liệu cũng

như tâm lí của công chúng tiếp nhận để giải mã Tri tân Nam phong là một tờ tạp chí

bề thế, có khuynh hướng tư tưởng khá phức tạp nên khi đánh giá về tờ tạp chí này, dù

ít dù nhiều, người nghiên cứu vẫn phải giữ thái độ thận trọng, đôi khi phải né tránh

Tạp chí Tri tân ra đời độc lập, không chịu sự chi phối của tư tưởng chính trị mà hoàn

toàn trên tinh thần tự chủ của các trí thức có tâm huyết trong việc gìn giữ, khôi phục

Trang 21

các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Cho nên, những nghiên cứu về Tri tân

đảm bảo tính khách quan, khoa học

Những tham luận tại Hội thảo về Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam diễn

ra hai ngày 18 và 19 tháng 3 năm 2010 tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh mà chúng tôi cập nhật được từ trang web: khoavanhoc-ngonngu.edu.vn cũng đã đặt ra vấn đề cần nghiên cứu mảng văn chương trên báo chí đầu thế kỷ XX với mục đích xác nhận giá trị, ý nghĩa của mảng văn chương đó trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc cũng như khôi phục gìn giữ, bảo tồn kho tư liệu quý hiếm này để phục vụ cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu

Gần đây nhất là công trình nghiên cứu Những sự kiện văn học Việt Nam (từ

1865 đến 1945) của Vũ Tuấn Anh do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào

tháng 11 năm 2012 đã ghi lại những nét cơ bản của diễn trình văn học Việt Nam theo trình tự thời gian từ năm 1865 (năm có tờ báo quốc ngữ đầu tiên) đến năm 1945 thông qua các sự kiện văn học Có thể nói, đây là công trình chứa đựng khối lượng thông tin

tư liệu phong phú, dù không phải là một chuyên khảo về báo chí nhưng cuốn sách đã:

“Lựa chọn những tờ báo có vai trò nổi bật trong các sự kiện văn học, các tờ báo – tạp chí có sức tập hợp đông đảo các cây bút đương thời và ghi dấu ấn rõ nét trong lịch sử

báo chí, văn học, chẳng hạn như: Gia Định báo, Nông cổ mín đàm, Phụ nữ tân văn,

Tiếng dân, Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, Phong hóa, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu thuyết thứ Năm, Tao đàn, Tri tân, Thanh nghị ” [6, 25] Cuốn

sách giúp cho người đọc có cái nhìn toàn cảnh nền báo chí tiếng Việt và bao quát tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Đồng thời, nó cũng giúp cho độc giả “nhận ra những mối tương quan, ảnh hưởng và tác động của chính trị, xã hội, văn hóa đối với các sự kiện văn học” [6, 28]

Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định: Nền văn học hiện đại Việt Nam sở dĩ

có được tốc độ phát triển nhanh mạnh như vậy là do quá trình thai nghén, ấp ủ rồi bung nở từ báo chí Mối quan hệ giữa báo chí và văn học là mối quan hệ hữu cơ, hai chiều đan xen, quyện hòa Báo chí là mảnh đất gieo mầm cho văn học và văn học là chất kích thích tạo đà cho báo chí phát triển thêm phong phú, đa dạng Vì vậy, khi

bước sang thời đại mới, việc: “Nhìn nhận lại những thành tựu văn học thế kỷ XX là

quan trọng cần thiết Nhưng có được thành tựu ngày hôm nay rõ ràng không thể không có công của báo chí, nhất là báo chí giai đoạn 32-45 khá phong phú và đăng tải nhiều thể loại văn học” [43, 456].

Trang 22

Từ đó, cho thấy việc nghiên cứu văn học trên báo, tạp chí khu vực đầu thế kỷ XX

là thực sự cần thiết Bởi nó tạo ra cái nhìn đa chiều khi nghiên cứu văn học đồng thời đặt ra một vấn đề nghiêm túc là cần thức nhận lại kho tàng văn học quá khứ, phục dựng thêm đầy đặn khuôn diện của nền văn học sử, trả chúng về đúng vị trí trước khi

bị lãng quên

1.3 Những công trình sưu tầm, giới thiệu về tạp chí Tri tân

Nhìn lại lịch trình nghiên cứu Tri tân tạp chí, chúng tôi nhận thấy việc nghiên

cứu tờ tạp chí này tựu chung lại đã được những người đi trước đề cập trên ba phương diện sau:

1.3.1 Công trình nghiên cứu tổng quan về tạp chí Tri tân

Công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng quan về tạp chí Tri tân phải kể đến

là Mục lục phân tích tạp chí Tri tân (1941-1945) (1998) của Hồng Nhuệ Nguyễn

Khắc Xuyên Với mục đích tổng hợp, thống kê, phân loại các đề mục xuất hiện trên

Tri tân, nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên đã phân chia một cách chi tiết và sắp xếp

tương đối hệ thống về các đề mục xuất hiện trên Tri tân dựa trên hai tiêu chí: Mục lục

các tác giả và Mục lục các bộ môn

Phần một, về Mục lục các tác giả, Nguyễn Khắc Xuyên đã tổng hợp, sắp xếp tên

các tác giả theo thứ tự A, B, C… Đối với mỗi tác giả lại có phần thống kê cụ thể bài

viết của họ được đăng trên các số của tạp chí Tri tân trong suốt 5 năm Các bài viết

này cũng được tác giả sắp xếp theo thứ tự A, B, C… dựa vào chữ cái đầu tiên của tiêu

đề bài báo Để tiện cho việc tra cứu, Nguyễn Khắc Xuyên đã đặt ra quy ước, kí hiệu rất

rõ ràng: đặt số tạp chí đứng trước và số trang của bài viết đứng sau: Chẳng hạn, phần

mục lục về tác giả Cây Thông, có các bài: 1- Ban kịch Hà Nội với Thế chiến quốc;

Bóng giai nhân (68, 16); 2- Học thêm; (32, 19-21); 3- Nên luyện cho trẻ em tập đọc quốc văn (42, 4)… Với cách hệ thống, phân loại công phu, tỉ mỉ, Hồng Nhuệ Nguyễn

Khắc Xuyên đã cung cấp cho độc giả một hình dung “tổng thể” về diện mạo của tờ tạp chí này

Phần hai, về Mục lục các bộ môn được tác giả chia thành 21 bộ môn: Tôn giáo,

Kinh tế, Mỹ thuật, Kịch, Chính trị, Triết học, Giáo dục, Du ký, Sách báo, Địa lý, Học đường, Thời sự, Khoa học, Ngữ học, Báo chí - thư viện – truyện, Tiểu thuyết dài – khảo cứu dài, Phê bình giới thiệu sách, Xã hội – phong tục – phụ nữ - thanh niên, Thơ, Văn học, Lịch sử Với cách phân chia này, ta thấy các bài viết trong từng bộ môn chủ

yếu được lựa theo tiêu chí đề tài và thể loại Tuy nhiên, đây là cách phân chia còn

Trang 23

nhiều vấn đề cần luận bàn Bởi nó chưa thật khoa học và chưa đồng nhất về tiêu chí

phân loại: Có phần thuộc về các lĩnh vực trong đời sống (Kinh tế, chính trị, khoa học,

xã hội…), phần thì thuộc về các môn học (Triết học, lịch sử, địa lý, văn học…), phần

thì thuộc về các thể loại văn học (Thơ, truyện, kịch, phê bình…), có phần thuộc về thể loại báo chí (Thời sự), có phần lại thuộc về đề tài (Phong tục, phụ nữ, thanh niên…) hay các thể tài văn học (Du ký, tiểu thuyết dài, khảo cứu dài…) Vì vậy, nếu đặt là

Mục lục các bộ môn thì tiêu chí, cơ sở phân loại chưa thật bình đẳng, thậm chí còn

chồng chéo

Cho đến nay, cuốn sách của Nguyễn Khắc Xuyên vẫn là công trình duy nhất khái

quát một cách đầy đủ và tương đối hệ thống về diện mạo của tạp chí Tri tân Với vai

trò của người tiên phong phục dựng tổng quan về tạp chí Tri tân thì công trình của

Nguyễn Khắc Xuyên có ý nghĩa tổng hợp bước đầu về diện mạo Tri tân tạp chí và là

cuốn sách thực sự hữu dụng cho những ai quan tâm đến mảnh đất còn bỏ ngỏ này

1.3.2 Công trình nghiên cứu về các tác gia

Với các công trình lựa chọn đối tượng là các tác giả lớn - những cây bút đắc lực

làm nên linh hồn của Tri tân như Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, Hoa Bằng,

Nguyễn Văn Tố, Lê Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Phan Khắc Khoan… đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm, tập hợp, tuyển chọn các tác phẩm của họ thành các tuyển tập lớn

Các tác giả Băng Hồ, Hải Hồng, Hải Yến trong công trình Tuyển tập Nguyễn

Tường Phượng (sưu tập, Nxb Văn học, 1996) đã giới thiệu những nét cơ bản về thân

thế, cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình Nguyễn Tường Phượng Sau đó, tác giả tập hợp, giới thiệu các bài viết tiêu biểu của Nguyễn Tường Phượng về các lĩnh vực: Văn hóa, văn học, lịch sử chủ yếu đã được đăng trên tạp chí

Tri tân Cuốn sách đã giúp ích rất nhiều cho những ai quan tâm đến tác giả Nguyễn

Tường Phượng đồng thời cũng có ý nghĩa định hướng, gợi mở cho những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả này

Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn danh tiếng đương thời, chính sự cộng tác của ông

đã góp phần làm “sang” tên tuổi của tạp chí Tri tân Với hai thể tài: Tiểu thuyết lịch sử

và Kịch lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng đã xác lập vị trí, vai trò không thể thiếu trong nền

văn học hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là vào những năm 1940 Vì thế, ông là tác gia được giới nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm, chú ý trong việc

sưu tầm, biên soạn các sáng tác của ông thành các tuyển tập: Nguyễn Huy Tưởng,

Trang 24

Tuyển tập ký sự (Nxb Văn học, 1963), Nguyễn Huy Tưởng, Tác phẩm chọn lọc (Nxb

Hội Nhà văn, 1994), Nguyễn Huy Tưởng toàn tập (Nxb Văn học, 1996)… hoặc chọn

các sáng tác của ông làm đối tượng nghiên cứu của luận văn, luận án Ngoài ra, các

tiểu thuyết lịch sử (Đêm hội Long Trì, An Tư), các vở kịch lịch sử (Vũ Như Tô, Bắc

Sơn) của ông được các nhà xuất bản in ấn, phát hành, tái bản nhiều lần Điều đó chứng

tỏ sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng có sức hút lớn đối với độc giả đương thời Từ

Nguyễn Huy Tưởng, Tri tân tạp chí đã được mở rộng hơn về đối tượng tiếp nhận Tác giả Lại Nguyên Ân là người có công lớn trong việc giới thiệu tạp chí Tri tân

qua các bài viết, các công trình sưu tầm, biên soạn thành tuyển tập Công trình Nghiên

cứu và phê bình văn học của Lê Thanh (Nxb Hội Nhà văn, 2002) là cuốn sách được

tác giả sưu tầm, biên soạn, tập hợp các bài viết của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lê Thanh trên nhiều phương diện Trong đó, có các bài viết về các tác giả (Tản Đà, Tú Mỡ, Trương Vĩnh Ký), có các bài phỏng vấn các nhà văn (Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Song An Hoàng Ngọc Phách, Vệ Thạch Đào Duy Anh…), có các bài nghiên cứu về văn học, sử học, triết học, có các bài

phê bình văn học (Phê bình Khói lam chiều, Sách Kỹ nghệ lấy Tây, Người bạn gái; Giới thiệu Hàn Mặc Tử, Ảnh hưởng của văn chương Pháp trong văn chương Việt Nam, Ba

người thợ cần mẫn…) Các bài viết này đều được đăng trên các báo Tin văn, Tiểu thuyết thứ Bảy và phần lớn là Tri tân Lê Thanh là cây bút nghiên cứu, phê bình tiêu biểu của

văn học Việt Nam những năm 40 Tên tuổi của Lê Thanh xuất hiện trên nhiều mặt báo

nhưng gắn bó và tâm huyết nhất dành cho Tri tân.

Với tác giả Phan Khắc Khoan, người có sở trường đặc biệt về thể tài kịch thơ lịch

sử, ông đã đóng góp 5/11 vở kịch thơ, chiếm 46% mảng kịch thơ được Tri tân đăng

tải Ông cũng là đối tượng được các nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý Tuyển tập Phan

Khắc Khoan: kịch thơ và thơ (Nxb Hội nhà văn, 1999) là cuốn sách sưu tầm, tuyển

chọn các vở kịch thơ và các bài thơ viết theo hình thức kịch (đối thoại) của Phan Khắc Khoan Trong đó không thể không kể đến các tác phẩm kịch gắn liền với tên tuổi của

Phan Khắc Khoan như Trần Can, Lý Chiêu Hoàng, Phạm Thái… Đó cũng là những

vở kịch đã được tạp chí Tri tân sớm đón nhận và giới thiệu Với những vở kịch chỉ được Tri tân trích đăng (Vua Lê Chiêu Thống, Nguyễn Hoàng) thì cuốn sách giúp ích cho những ai nghiên cứu về thể loại kịch thơ trên tạp chí Tri tân có điều kiện đối

chiếu, so sánh với toàn văn

Trang 25

Ngoài ra, các cây bút có ảnh hưởng lớn đến tạp chí Tri tân là Hoa Bằng Hoàng Thúc

Trâm, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Chu Thiên Hoàng Minh Giám, Biệt Lam Trần Huy Bá… cũng được các nhà nghiên cứu văn học sử đề cập, giới thiệu, tuyển chọn, trích đăng

các tác phẩm chính trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam…

Có thể nói, công trình tuyển chọn, sưu tầm, biên soạn, giới thiệu về lực lượng

nòng cốt viết cho tạp chí Tri tân đã cung cấp cho người viết cơ sở nhất định để phân

loại tác giả, thể loại, định tính và định lượng một số khái niệm trong quá trình thống

kê, giới thuyết vấn đề nghiên cứu

1.3.3 Công trình nghiên cứu về các thể loại

Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các thể loại văn học phải kể đến các công trình sưu tập tư liệu, khai thác vốn bài vở đã đăng trên Tri tân: Đó là bộ sưu tập của Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn về phần phê bình văn học - Tạp chí Tri tân 1941-

1945: Phê bình văn học (1999); của Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hữu Sơn về phần

Truyện và Ký - Tạp chí Tri tân 1941-1945: Truyện và ký (2000) Những cuốn sách

này thực sự hữu dụng cho những người nghiên cứu văn học được tiếp xúc thuận lợi hơn, tập trung hơn với các tư liệu cũ mà không phải lúc nào cũng dễ dàng tìm kiếm.Với thể loại nghiên cứu về đề tài lịch sử, văn hóa, phải nhắc tới hai bộ sách có

giá trị là công trình do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản năm 1997 Ứng Hòe

Nguyễn Văn Tố: Đại Nam dật sự Sử ta so với sử Tàu; của Nguyễn Quang Ân, Phạm

Đình Nhân, Phạm Hồng Toàn với các bài viết về lịch sử và văn hóa Việt Nam - Tạp chí

Tri tân 1941-1946: Các bài viết về lịch sử và văn hóa Việt Nam (2000) Đây là bộ sưu

tập có ý nghĩa đối với những ai nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và văn học

Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về các thể loại văn học ít nhiều có liên quan đến đề tài luận án được đề cập phần nào trong các luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ, các

chuyên luận như Vai trò của văn học dịch đối với quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết

Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (2008), Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Đình Vĩnh; công

trình Những vấn đề lịch sử văn học kịch Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1996) của Phan Trọng Thưởng; Luận án Tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm đầu

thế kỷ XX đến năm 1945 (Diện mạo và đặc điểm) (1999) của tác giả Bùi Văn Lợi…

đã có những gợi mở, định hướng không nhỏ cho luận án

Tác giả của những công trình kể trên đã công phu, miệt mài làm công việc sưu

tầm, tập hợp, tuyển chọn các bài viết trên tạp chí Tri tân trong nhiều lĩnh vực Đồng

thời, các nhà biên soạn cũng bước đầu đi vào phân tích, nhận định, đánh giá về đặc

Trang 26

điểm, ưu thế của các thể văn trên Tri tân qua các bài giới thiệu về tác giả, về tuyển tập,

về thể loại Đó là những cứ liệu khoa học cung cấp cho chúng tôi cái nhìn định tính

về diện mạo và đặc điểm của phần văn trên tạp chí Tri tân.

1.3.4 Công trình số hóa văn bản Tri tân

Đề tài luận án được chúng tôi xây dựng ý tưởng và triển khai thực hiện từ đầu

năm 2007 Ở thời điểm đó, chúng tôi thu thập tư liệu và tiếp cận Tri tân trên bản phô

tô được PGS.TS Lại Văn Hùng cung cấp (từ số 1 đến số 146) Trong quá trình tìm

kiếm tư liệu ở Thư viện Quốc gia, chúng tôi tiếp cận Tri tân trên bản vi - phim đồng

thời tiến hành scan từ số 147 đến số 214 Nhưng thực tế, nhiều trang mờ, nhòe, cũ rách không scan được hoặc không đọc được, nhất là các số ra đời vào năm 1945-1946 (khoảng hơn 20 số cuối) Với những khó khăn đó, song chúng tôi đã cố gắng tập hợp

và có đủ 214 số văn bản Tri tân (ở dạng phô tô và scan)

Đến năm 2009, để hoàn thiện thêm cho các công trình sưu tầm, tuyển chọn khai

thác vốn bài vở đăng trên tạp chí Tri tân, Viện Viễn Đông bác cổ Pháp đã thực hiện một công trình số hóa, tập hợp đầy đủ tạp chí Tri tân “dưới dạng ảnh chụp từng trang

của tất cả các số tạp chí đã in” được nén trong đĩa DVD Đó là điều kiện thuận lợi để

người làm luận án có thể đối chiếu với những trang, số mờ rách làm cơ sở khoa học cho quá trình thống kê, phân loại

Bản số hóa là công trình sưu tầm đầy đủ nhất về tạp chí Tri tân từ trước đến nay

Công trình này đã khắc phục được đáng kể tình trạng “thất bản”, rách cũ, mờ nhòe của phần văn bản báo giấy, vi – phim hiện còn ở Thư viện Quốc gia và tránh được “những sai lệch phát sinh” trong quá trình thực hiện các sưu tập của những người đi trước

Cũng từ công trình số hóa tạp chí Tri tân, Viện Viễn Đông bác cổ Pháp đã tiếp tục

hành trình khôi phục, lưu giữ các sách, báo, tạp chí trước năm 1945 đang trong nguy

cơ hư tổn, mất mát bằng kỹ thuật hiện đại qua các công trình số hóa tạp chí Thanh

Nghị (1941-1945), báo Phong hóa (1932-1935) – Ngày nay (1935-1940) …

Nhìn chung, tác giả của những công trình kể trên dù sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu với những mục đích khác nhau song đều đồng nhất khẳng định vai trò không thể

thiếu của tạp chí Tri tân đối với đời sống báo chí đương thời: “Trong số những cơ

quan báo chí có vai trò quan trọng đối với sinh hoạt văn hóa, học thuật ở nửa đầu thế

kỷ XX, bên cạnh những tờ như Đông Dương tạp chí (1913-1919), Nam phong 1934), Thanh nghị (1941-1945) người ta không thể không kể tới tạp chí Tri tân (1941- 1945)” [159, 5] Nhất là đối với văn học, Tri tân đã định vị một “nguồn riêng” giữa

Trang 27

(1917-“dòng chung” của đời sống văn học bấy giờ: “Tri tân đã kích thích và giành “đất” cho

sự phát triển mảng sáng tác về đề tài lịch sử ở văn học công khai những năm 40- một khuynh hướng không đặc trưng cho sự nhạy cảm với văn hóa đô thị hiện đại và với những tìm tòi mới mẻ về văn chương nghệ thuật, nhưng đặc trưng ở tinh thần “tìm nguồn”, “về nguồn”, trước hết là về đề tài văn học” [153, 7].

Từ đó, các tác giả cũng nhận thấy ý nghĩa cần thiết trong việc nghiên cứu Tri tân

và mảng văn chương trên tạp chí này Bởi từ trước tới nay các nghiên cứu về tạp chí

Tri tân nói riêng và các sáng tác văn học trên báo chí nói chung vẫn chưa được đặt

trong tính chỉnh thể với môi trường báo chí:

Các tác giả, tác phẩm văn học thường được nghiên cứu trong dạng tách rời với

báo chí, xuất bản, vốn là nơi chúng xuất hiện và đến với công chúng Trong tình trạng các thiết chế đặc trưng cho văn học hiện đại là báo chí và xuất bản còn chưa lọt vào tầm nhìn của giới nghiên cứu, thì không chỉ Tri tân mà một loạt tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản từng góp công sức đáng kể vào đời sống văn hóa văn học, giờ đây chỉ xuất hiện như những ký tự mờ nhạt, đôi khi cái tên cũng bị nhớ sai, viết sai trong các bài

vở nghiên cứu [159, 9].

Mặt khác, Tri tân tạp chí còn là một công trình khoa học đã: “Cung cấp nhiều

nguồn tư liệu quý, từ tư liệu thành văn thông qua việc tra cứu tham khảo, khai thác các văn bản gốc trong nước, có đối chiếu so sánh với một số văn bản nước ngoài, đến

tư liệu điền dã, kết quả của nhiều cuộc điều tra công phu trong nhân dân các địa phương Người đọc làm công tác nghiên cứu ngày nay vẫn có thể khai thác sử dụng có lợi một số tư liệu sử học và văn hóa quý qua các luận văn, bài viết của tạp chí Tri tân

để vận dụng, bổ sung và nâng cao các công trình của mình” [159, 7-8].

Hơn nữa, tạp chí Tri tân còn có ý nghĩa và tác động nhất định đối với tinh thần

thời đại Mặc dù tạp chí tuyên bố không làm chính trị, chỉ thực hiện sứ mệnh cho một nền văn hóa chân chính:

Nhưng trong thực tế thì với những bài khảo luận, nghiên cứu lịch sử và văn hóa

Việt Nam chủ yếu do một số trí thức, học giả có uy tín viết, rõ ràng Tri tân đã đóng một vai trò quan trọng trong công tác giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước chống xâm lược đối với một bộ phận nhân dân ta thời đó, giúp họ hồi cố để tri tân, từ đó có điều kiện đối chiếu liên hệ với tình hình đang diễn ra trước mắt trong nước và trên thế giới

để suy nghĩ và có thái độ đúng Có thể khẳng định đây là một bước chuẩn bị tinh thần

tư tưởng cần thiết cho bước hưởng ứng, ra nhập cách mạng khi thời cơ tới [160, 7].

Trang 28

Như vậy, từ nhiều hướng và từ nhiều quan điểm nghiên cứu, song Tri tân tạp chí

luôn được ghi nhận trên các phương diện: Lịch sử, văn hóa, địa lý, khoa học, giáo dục,

đặc biệt về phương diện văn học thì không thể phủ nhận được vai trò của tạp chí Sự ra

đời của Tri tân quả là: “Một đóng góp không nhỏ cho công việc khảo cứu các giai

đoạn lịch sử văn học, sử học và các truyền thuyết lịch sử” [197, 13].

Điểm lại tình hình nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài của luận án, chúng tôi nhận thấy các tác giả đi trước chủ yếu tập trung ở việc nghiên cứu tổng quan

về tạp chí Tri tân qua những thống kê, phân loại, lập thư tịch, sưu tầm, biên soạn, tuyển chọn những bài vở được đăng trên Tri tân; có một số công trình hướng vào

nghiên cứu một vài thể loại văn học (kịch, tiểu thuyết) và một số tác giả quen thuộc (Nguyễn Huy Tưởng, Chu Thiên, Phan Khắc Khoan)… nhưng đó là những nghiên cứu độc lập, tách rời, không đặt trong môi trường báo chí cũng như không đặt các tác giả,

tác phẩm, thể loại đó với tư cách của người viết và là những đóng góp riêng của Tri

tân Hay nói cách khác chưa có những công trình, chuyên luận trực tiếp nghiên cứu,

chuyên sâu về tạp chí Tri tân Đây là điểm khác biệt rõ nhất giữa việc nghiên cứu Nam

phong và Tri tân Tạp chí Nam phong vừa ra đời đã tạo nên một cuộc bút chiến sôi nổi

xoay quanh các bài viết của Phạm Quỳnh về Truyện Kiều có tác động và ảnh hưởng không nhỏ trên văn đàn đương thời Hơn nữa, Nam phong luôn là đối tượng thu hút

các nhà nghiên cứu (kể cả trước và sau cách mạng): Có nhiều công trình, luận văn,

luận án trực tiếp nghiên cứu về Nam phong và bộ phận văn học trên Nam phong với các cách tiếp cận và giải mã khác nhau Chẳng hạn như Luận án Tiến sĩ Tìm hiểu tạp

chí Nam phong 1917-1934 của Phạm Thị Ngoạn (Nguyên tác Pháp văn đăng trong tập

Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt của Hội nghiên cứu các vấn đề Đông Dương, bản

dịch của Phạm Trọng Nhân, do Ý Việt xuất bản năm 1973); cuốn sách Chủ đích Nam

phong (Tủ sách tìm về dân tộc, do Trí Đăng xuất bản, Sài Gòn, 1975) của tác giả

Nguyễn Văn Trung; công trình sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu Truyện ngắn Nam

phong (Nxb Khoa học xã hội, 1989) của Lại Văn Hùng; các chuyên luận, luận văn

Thạc sĩ, Tiến sĩ: Tìm hiểu tiểu thuyết trên Nam phong tạp chí 1917-1934 (1984) của Nguyễn Đức Thuận; Nam phong tạp chí với sự hình thành và phát triển của văn xuôi

tự sự tiếng Việt buổi giao thời đầu thế kỷ XX (1995) của Nguyễn Ngọc Thiện; Bước đầu tìm hiểu nội dung văn học trên Nam phong tạp chí (1996) của Trịnh Vĩnh Long; Nam phong tạp chí trong diễn trình văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX (1999) của Lê

Trang 29

Viết Thọ Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về tạp chí Nam phong khá bộn bề

và phức tạp nhưng có tính hệ thống và chuyên sâu Trong khi đó, những nghiên cứu về

tạp chí Tri tân còn đơn lẻ, thiếu tính hệ thống Điều đó đặt người viết luận án trước

những khó khăn trong việc xử lí tư liệu, phân tích, nhận định đánh giá vấn đề đảm bảo

tính khách quan với một tầm bao quát rộng Tuy vậy, khi nghiên cứu tạp chí Tri tân cũng như phần Văn trên Tri tân tạp chí, chúng tôi luôn ghi nhận các công trình đi trước có ý nghĩa khởi đầu, gợi mở dù chưa đặt mảng văn trên tạp chí Tri tân trong môi

trường sinh thành, diễn tiến của báo chí 50 năm đầu thế kỷ XX, nhất là những năm 40 Các công trình kể trên chưa khai thác đầy đủ, sâu sắc về diện mạo và đặc điểm của bộ

phận văn học trên tạp chí Tri tân cũng như nghiên cứu mảng văn học đó trong mối

quan hệ mật thiết với báo chí, nhất là thể loại tạp chí

Vì vậy, chúng tôi khẳng định chắc chắn rằng: Chưa có một công trình nào nghiên

cứu về tạp chí Tri tân, nhất là về phương diện Văn trên Tri tân một cách hệ thống và toàn diện Luận án của chúng tôi tìm hiểu vấn đề Văn trên tạp chí Tri tân với mong

muốn: Khái quát một cách hệ thống về diện mạo, chỉ ra những đặc điểm cơ bản của

các thể văn trên Tri tân tạp chí cũng như phân tích, kiến giải, đánh giá về sự xuất hiện

và vận động của các thể loại văn học đó trong những năm 40 của thế kỷ XX Từ đó,

luận án đánh giá những tác động và ảnh hưởng của tạp chí Tri tân đối với đời sống báo

chí, văn học và văn hóa tư tưởng của thời đại

Nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt luận án được chúng tôi sử dụng là nguyên tắc thể loại hóa Căn cứ trên phương thức sáng tác và đặc điểm về thể loại, chúng tôi chia toàn

bộ phần văn được đăng trên tạp chí Tri tân trong 214 số làm hai phần lớn Phần thứ

nhất là mảng văn sáng tác gồm văn vần, văn xuôi và kịch Phần thứ hai là mảng văn nghiên cứu, phê bình, sưu tầm, dịch thuật Đó cũng là cơ sở để người viết luận án nhận

định về vai trò, vị trí, ý nghĩa của tạp chí Tri tân nói chung và bộ phận văn học trên

Tri tân nói riêng trong sự vận động của đời sống văn học nửa đầu thế kỷ XX Đồng

thời, những cơ sở đó cũng cung cấp cho chúng tôi điểm nhìn để khái quát về quy luật vận động và phát triển nội tại của văn học và báo chí – một dấu hiệu đặc thù của nền văn chương hiện đại Việt Nam

Trang 30

Chương 2

TRI TÂN TẠP CHÍ TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1940-1945 2.1 Đặc điểm của báo chí Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1941

2.1.1 Lịch trình của báo chí Việt Nam qua các giai đoạn hình thành và phát triển

Báo chí Việt Nam ra đời trước hết nhằm thực hiện mục đích chính trị “khôn khéo, tinh vi” của nhà cầm quyền Pháp Sau công cuộc chinh phục thuộc địa bằng

quân sự, khai thác, bóc lột về kinh tế, chính phủ thực dân dùng báo chí như một công

cụ tuyên truyền hữu hiệu nhất để phổ biến nền văn minh phương Tây, phô trương công khai hóa của mẫu quốc, “thu phục nhân tâm” bản xứ, nhất là tầng lớp trí thức bằng các

phương tiện thông tin báo chí Tuy nhiên, sau những chặng đường thử nghiệm, báo chí Việt Nam dần đi vào quỹ đạo và vận động theo quy luật nội tại riêng Nếu tính từ đầu

thế kỷ XX đến thời điểm tạp chí Tri tân ra đời (1941) thì lịch trình của báo chí Việt

Nam có thể chia làm ba chặng: Ở mỗi chặng đường báo chí lại có những đặc điểm riêng, đánh dấu từng bước trưởng thành và phát triển của nền báo chí tiếng Việt

2.1.1.1 Từ buổi sơ khai đến khi xuất hiện tạp chí Nam phong (1865-1917)

Giai đoạn khởi đầu, chủ yếu báo chí xuất hiện ở Nam Kỳ Ngoài những tờ báo

bằng tiếng Pháp thì những tờ báo được viết bằng chữ Quốc ngữ cũng dần ra đời (Gia

Định báo - 1865, Nam Kỳ địa phận – 1883, Nông cổ mín đàm - 1901, Lục tỉnh tân văn

– 1907 ) Có thể thấy, đặc điểm chung của báo chí tiếng Việt giai đoạn này “còn ở

trong tình trạng phôi thai”, gặp không ít khó khăn, trở ngại: Kỹ thuật in ấn còn hạn

chế; chữ Quốc ngữ chưa được phổ rộng; độc giả còn xa lạ với việc tiếp cận thông tin qua báo chí Những tờ báo tiếng Việt buổi đầu hầu hết được thành lập bởi ông chủ

người Tây (Pháp) Gia Định báo lúc đầu chính phủ Pháp giao cho Ernest Potteau phụ

trách, sau đó mới chuyển giao cho Trương Vĩnh Ký làm Chánh tổng tài, Huỳnh Tịnh

Của làm chủ bút; Nông cổ mín đàm được Canavaggie sáng lập, sau khi Canavaggie

mất, quyền điều khiển tờ báo này thuộc về Nguyễn Chánh Săt (chủ bút) và Nguyễn

Tấn Phong (quản lý); tờ Lục tỉnh tân văn do một người Pháp là P Jeantet đảm nhiệm

cùng với sự cộng tác của các nhà trí thức Việt như Thọ An, Giác Ngã, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Trạc Dần dần báo chí cũng gặp được những điều kiện thuận lợi và ngày

càng nở rộ Ở Nam Kỳ xuất hiện các tờ: Công luận báo - 1916, Nam Trung nhật báo – 1917 Ở Bắc Kỳ không thể không kể đến vai trò của hai tờ Đông Dương tạp chí

Trang 31

(1913) và Nam phong tạp chí (1917) Có thể nói, đây là hai tờ tạp chí làm nên đặc

điểm của báo chí miền Bắc trong chặng đường đầu tiên

Thực chất, Đông Dương tạp chí là một phiên bản của tờ Lục tỉnh tân văn từ Nam

tiến ra Bắc do F.H Schneider sáng lập Mặc dù tờ báo được hình thành bởi mục đích chính trị, không nằm ngoài chủ thuyết của A Sarraut – tuyên truyền cho chính sách

bảo hộ của Pháp, truyền bá văn minh Thái Tây nhưng Đông Dương tạp chí “cũng là

nơi chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện mong muốn cổ động và truyền bá chữ quốc ngữ” qua việc đăng tải các bài có khuynh hướng văn học: Các bản dịch tiểu thuyết Pháp, những bài khảo cứu về lịch sử, phong tục, tập quán, những sáng tác văn chương Tờ tạp chí này đã tập hợp được đội ngũ cầm bút là những học giả danh tiếng đương thời như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Khắc Hiếu Với các bài

khảo cứu, các sáng tác văn học, đặc biệt là các bài dịch thuật, Đông Dương tạp chí đã:

“Đưa câu văn quốc ngữ đạt đến một trình độ mới, tạo đà cho sự phát triển của quốc văn giai đoạn sau” [6, 86]

Tiếp nối sứ mệnh của Đông Dương tạp chí trong việc tuyên truyền, ca tụng và

phổ biến nền văn minh Pháp, tạp chí Nam phong ra đời số đầu tiên vào ngày 1.7.1917

do Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh và chính trị của chính phủ Đông Pháp sáng

lập, Phạm Quỳnh đảm nhiệm vai trò chủ bút Nam phong là tờ tạp chí mang tính bách khoa mặc dù được ra đời vì “mục đích chính trị cấp thời” (chữ dùng của Phạm Thế

Ngũ) và để tuyên truyền văn hóa Pháp nhằm đồng hóa người dân Annam nhưng những

người làm báo Nam phong lại chủ trương giữ gìn “quốc hồn, quốc túy” của dân tộc

bằng cách tìm về nguồn di sản văn hóa, văn học dân tộc Có thể nói, tờ tạp chí này đã khởi đầu quá trình khôi phục các giá trị văn học truyền thống bằng cách nỗ lực tìm

kiếm, thu lượm, sưu tầm, giới thiệu những “mảnh thơ mảnh văn vụn vặt, tản mát của

người đi trước soạn ra” để vừa bảo tồn vốn văn học cổ, vừa kiến thiết một nền văn học

mới Điều đó chứng tỏ rằng Nam phong coi trọng việc: “Xây dựng một nền văn học

mới, văn học Quốc ngữ trên nền tảng kế thừa tinh hoa văn chương truyền thống của dân tộc” [176, 129].

Sở dĩ, chúng tôi lựa chọn Nam phong là giới hạn cuối của chặng đầu trong lịch sử hình thành và phát triển của báo chí tiếng Việt vì ở Nam phong hội tụ đầy đủ nhất đặc điểm của báo chí giai đoạn này Đồng thời, Nam phong cũng là dấu mốc quan trọng

của lịch sử phát triển báo chí Việt Nam đặt nền móng và tạo đà cho sự phát triển văn

Trang 32

học nước nhà theo hướng hiện đại hóa Lực lượng cầm bút chính của Nam phong là

các học giả có vốn kiến thức sâu rộng về văn hóa, văn học phương Đông, uyên bác về Hán học lại am hiểu văn hóa phương Tây, thạo Pháp văn như Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Phạm Quỳnh, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn,

Trần Trọng Kim, Nguyễn Khắc Hiếu, Phan Khôi, Đông Hồ, Tương Phố Nam phong

có ảnh hưởng lớn đối với đời sống báo chí và văn học đương thời bởi từ tờ tạp chí này câu văn quốc ngữ cũng dần sáng rõ, những tư tưởng và thể loại mới của văn học phương Tây dần trở nên quen thuộc, người cầm bút và người đọc dần làm quen với thể

loại văn học mới như du ký, tiểu thuyết, phê bình văn học, kịch nói Tạp chí Nam

phong như một “trường học” để các nhà văn, nhà báo, nhà phê bình tích lũy kiến thức,

học hỏi, trao đổi, tranh luận mà từ đó trưởng thành

Ở giai đoạn đầu, hầu hết các tờ báo ra đời do chủ ý của chính phủ thuộc địa: Coi báo chí là một thứ vũ khí mới có khả năng chinh phục tinh thần người dân bản xứ, thu hút lực lượng trí thức qua việc quảng bá thông tin chính sự, tạo ra sức lan truyền nhanh mạnh và ảnh hưởng sâu rộng của nhà cầm quyền Pháp đến người dân thuộc địa Tuy nhiên, báo chí Việt Nam tồn tại và phát triển còn chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố Trong đó, nhân tố có ý nghĩa thúc đẩy, tạo nên đặc điểm riêng của nền báo chí tiếng Việt, “thoát ly” khỏi mục đích của nhà cầm quyền là ý thức tự tôn tự hào về giá trị truyền thống, là tinh thần tự chủ của con người Việt Nam, đặc biệt là người trí thức

Do vậy, báo chí từ thời kỳ sơ khai đến tạp chí Nam phong đã vượt khỏi giới hạn là

công cụ tuyên truyền cho chính phủ Pháp để vươn tới thể hiện đời sống tinh thần, nhu cầu tình cảm của con người Việt Nam qua các bài viết về văn học, lịch sử, văn hóa

(dịch thuật, sưu tầm, khảo cứu, sáng tác mô phỏng ) Hơn nữa, từ Đông Dương tạp

chí đến Nam phong, báo chí đã có một bước tiến đáng kể trong việc chú trọng đăng tải

các bài viết về lịch sử, văn hóa, văn học có tính học thuật cao Tờ báo không đơn thuần

cung cấp thông tin về thời sự, chính trị mà trở thành cuốn bách khoa thư Quả thật,

Nam phong đóng vai trò khá quan trọng trong chặng đầu hình thành nền báo chí tiếng

Việt Bởi từ tạp chí Nam phong, dù độc giả không hiểu biết gì về Pháp văn và Hán văn cũng có thể: “Có được một trình độ tri thức cần thiết cho sự sống hàng ngày, học giả

chỉ cần đọc tạp chí này cũng có được kiến thức rộng rãi Và khi đọc tờ Nam phong, người ta cũng có thể học hỏi được nền văn hoá phương Đông” [152, 27]

Trang 33

2.1.1.2 Giai đoạn từ Nam phong đến Phong hóa – Ngày nay (1917-1935)

Nếu Nam Kỳ là cái nôi của báo chí thì Bắc Kỳ là địa hạt thuận lợi thúc đẩy cho báo chí phát triển với những vụ mùa bội thu Khác với báo chí miền Nam, nhìn chung báo chí miền Bắc bị kiểm duyệt chặt chẽ, gắt gao hơn cho nên hầu như báo, tạp chí ở miền Bắc kín đáo trong việc bộc lộ khuynh hướng chính trị, ít có tờ đối lập đồng thời đều quan tâm việc đăng tải các tác phẩm văn chương Tiêu biểu cho chặng thứ hai này

có thể kể đến các tờ báo như Hữu Thanh (1921), An Nam tạp chí (1926), Hà Thành

ngọ báo (1927), Tiếng dân (1927), Phụ nữ tân văn (1929), Phong hóa (1932) – Ngày nay (1935)

Hữu Thanh (1921) là tờ báo được chính phủ Pháp đỡ đầu, do Hội tương tế

Thương mại và Kỹ nghệ Bắc Kỳ thành lập, được phát hành mỗi tháng hai số Mặc dù

tờ báo chủ yếu đề cập đến vấn đề về kỹ thuật, kinh tế song bên cạnh đó vấn có các bài viết về luân lý, về văn học Tờ báo nổi danh nhờ sự có mặt của các cây bút chủ lực như Nguyễn Mạnh Bổng, Đào Trinh Nhất, Trịnh Đình Rư, nữ sĩ Đạm Phương , đặc biệt là tên tuổi của hai cây bút danh tiếng đương thời - Tản Đà và Ngô Đức Kế

Đến An Nam tạp chí (1926), báo chí Việt Nam đã bước qua loại hình tổng hợp

(đăng đủ các nội dung, có nhiều thể loại ) dần thể hiện khuynh hướng chuyên môn

hóa An Nam tạp chí là tờ báo đầu tiên chuyên viết về văn chương do thi sĩ Tản Đà vừa

đảm nhiệm vai trò chủ báo, chủ nhiệm vừa là người trực tiếp viết bài Số phận của tờ tạp chí này tuy khá long đong, lận đận: Sinh tồn một cách chật vật vì Tản Đà đơn độc chèo chống trong tình cảnh thiếu tiền, thiếu cơ sở vật chất, không có người hỗ trợ nhưng tờ báo là nơi thu hút được nhiều cây bút văn chương đương thời, trong đó phải

kể đến vai trò của hai tác giả được người đọc yêu thích là cộng tác viên Nguyễn Công Hoan và thư ký Ngô Tất Tố Trải qua nhiều thăng trầm giống như cuộc đời của người

chủ báo, An Nam tạp chí là tờ báo in rõ nhất dấu ấn nổi chìm của người làm báo và là

bức tranh hiện thực về đời sống báo chí Việt Nam trước cách mạng Dù Tản Đà cố gắng, nỗ lực để duy trì nhưng sau nhiều lần tái bản rồi lại đình bản, thậm chí phải thu hẹp số trang, số khổ, tờ báo cũng chỉ gắng gượng được đến tháng 3 năm 1933 thì đình bản hẳn (Lần đầu đình bản vào tháng 3.1927 – sau khi ra được 10 số; đến tháng 7.1930 tái bản lần thứ nhất, ra được 3 số lại ngừng; từ tháng 12.1930 đến tháng 4.1931, báo chuyển xuống Nam Định, tiếp tục ra lần thứ ba; đến năm 1932, báo lại trở

về Hà Nội tiếp tục tái bản ) Tuy tồn tại đầy khó nhọc trong thời gian ngót 7 năm trời

(từ tháng 7.1926 đến tháng 3.1933), An Nam tạp chí không chỉ là “một phần quan

Trang 34

trọng trong hoạt động văn chương báo chí của Tản Đà” mà còn có “những đóng góp đáng kể vào giai đoạn chuyển mình của văn học cận đại sang thời kỳ hiện đại” [6, 163].

Ở Trung Kỳ phải kể đến tờ Tiếng dân (ra số đầu tiên vào ngày 10.8.1927, số cuối

cùng kết thúc vào ngày 21.4.1943) do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Đây là tờ báo đầu tiên xuất bản ở Trung Kỳ, có thời gian tồn tại lâu nhất (hoạt

động liên tục trong 16 năm) Có thể nói, Tiếng dân đã bao quát và phản ánh các sự

kiện diễn ra ở Trung Kỳ, đồng thời: “Là nơi tập hợp tiếng nói của các lực lượng có tinh thần dân tộc, dân chủ trong tầng lớp tiểu tư sản miền trung Việt Nam”[6, 172].Đối với báo chí miền Nam không thể không kể đến tờ tuần báo có sự ảnh hưởng

rộng rãi và sức lan tỏa lớn là Phụ nữ tân văn (1929-1935) Mặc dù tờ báo chủ trương

đề cập những vấn đề liên quan đến phụ nữ với tư tưởng tiến bộ, khơi nguồn cho phong

trào đấu tranh đòi bình quyền và giải phóng phụ nữ nhưng Phụ nữ tân văn còn đăng

nhiều sáng tác văn học (tiểu thuyết của Bửu Đình, Đào Trinh Nhất), đặc biệt tờ báo đã

mở đầu cho cuộc tranh luận giữa Thơ cũ và Thơ mới tạo diễn đàn sôi nổi, ghi dấu

những sự kiện văn học mang tính thời sự Vì vậy, Phụ nữ tân văn là tờ báo có vai trò

khá quan trọng trong đời sống văn học đương thời, được độc giả cả ba miền Bắc – Trung – Nam hân hoan đón nhận

Đặc biệt, hành trình của báo chí đến năm 1932 với sự xuất hiện của tờ Phong

hóa đã làm nên “một cuộc cải hoán lớn, một sự lạ trong làng báo” Việt Nam (Phong hóa, số 13) Đây là tờ báo tập hợp được nhiều cây bút tên tuổi đương thời, là cơ quan

ngôn luận của nhóm Tự lực văn đoàn với chủ trương: “Hăng hái theo con đường mới;

tìm lí tưởng mới; không chịu khuất phục thành kiến; không làm nô lệ cho ai; không xu phụ một quyền thế nào; lấy lương tri mà xét đoán; theo lẽ phải mà hành động; lấy thành thực làm căn bản; lấy trào phúng làm phương pháp; lấy tiếng cười làm vũ khí” [chuyển dẫn từ 6, 216] Vì vậy, tư tưởng cổ hủ của đạo Khổng, chế độ quan trường

cũ mòn, lạc hậu và tờ Nam phong là đối tượng mà tờ báo công kích Trên tinh thần ấy,

Phong hóa đã tập hợp được một lực lượng cầm bút theo khuynh hướng nghệ thuật tư

sản, tự lập thành một nhóm văn phái đề cao tinh thần tự do dân chủ “không dính líu đến Triều đình, thân hào, quan chức”, không dựa vào sự giúp đỡ của chính quyền nhà

nước Sự ra đời của Phong hóa đã đánh dấu bước trưởng thành độc lập của nền báo

chí Việt Nam Đây là tờ báo đầu tiên tự thành lập một tổ chức văn học không chịu sự

chi phối của quyền lực, tư tưởng nào do tư nhân đứng ra chủ xướng Cũng từ Phong

Trang 35

hóa mà các văn phái, báo phái giai đoạn sau nở rộ, in sắc thái riêng của nền báo chí

tiếng Việt và nội lực của nền văn học dân tộc

Do tính chất trào phúng, đả kích mạnh mẽ, báo Phong hóa đứng trước nguy cơ bị

đình bản vào khoảng giữa năm 1935, chủ báo Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) đã

nhanh chóng cho ra đời tờ Ngày nay (30.1.1935) để tiếp tục sự nghiệp của Phong hóa

dưới một hình thức “hiền lành hơn”, chất trào phúng, đả kích kín đáo hơn Tờ báo chủ

yếu thể hiện đường lối văn hóa – xã hội của nhóm Tự lực văn đoàn trong việc “đổi

mới, canh tân nền văn học nước nhà, đả kích sự hủ lậu ngu dốt, phơi bày mặt trái của

xã hội, cổ vũ lối sống văn minh Tây phương, vui vẻ, trẻ trung, hưởng thụ vật chất và niềm vui trong cuộc sống” [6, 218] Tờ báo đăng tải được nhiều sáng tác (truyện ngắn,

tiểu thuyết) quan trọng, nổi bật của các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn, giới thiệu sáng tác của các nhà Thơ mới như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính,

Phạm Huy Thông, Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ, Phạm Văn Hạnh ; các sáng tác kịch của

Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Khái Hưng

Cùng với hai tờ báo Phong hóa và Ngày nay, nhà xuất bản Đời nay cũng đóng góp một phần không nhỏ trong hoạt động của Tự lực văn đoàn Có nhà xuất bản riêng, nhóm

Tự lực văn đoàn chủ động trong việc in ấn, phát hành, giới thiệu, quảng bá sách báo, tên

tuổi của nhiều nhà văn, nhà thơ Điều đó có ý nghĩa thúc đẩy công việc làm báo và sáng

tác ngày càng chuyên nghiệp hơn Đặc biệt, nhóm Tự lực văn đoàn còn tổ chức trao giải

thưởng riêng về văn học đã thôi thúc và tạo một phong trào sáng tác đối với các văn nghệ sỹ Từ đó, người ta nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, sứ mệnh của người cầm bút

cũng như của nghề viết Rõ ràng, đến Tự lực văn đoàn báo chí đã thể hiện khá rõ tính

chuyên môn hóa Tờ Phong hóa, Ngày nay ngay từ khi mới thành lập đã rất coi trọng

việc in ấn, đăng tải các sáng tác, những bài nghiên cứu, phê bình văn học mới Đó là một dấu hiệu khởi sắc để có giai đoạn văn học phát triển toàn diện trên báo chí

2.1.1.3 Giai đoạn từ Phong hóa (1932) – Ngày nay (1935) đến khi tạp chí Tri tân ra đời (1941).

Sau Phong hóa – Ngày nay, những tờ báo chuyên về văn chương ngày càng phát triển mạnh mẽ, có tính chuyên môn hóa cao: Có thể điểm diện qua các tờ báo như Tiểu

thuyết thứ Bảy (1934), Phổ thông bán nguyệt san (1936), Tiểu thuyết thứ Năm (1937),

Tạp chí Tao đàn (1939)

Tiểu thuyết thứ Bảy ra số đầu tiên vào ngày 2.6.1934 với tôn chỉ mục đích: “Mỗi

ngày thứ bảy, sau một tuần lao động, chúng tôi hiến các bạn: vài ba truyện ngắn, hai

Trang 36

thiên tiểu thuyết dài, hoặc tự chúng tôi soạn ra, hoặc dịch theo sách Tây, sách Tàu” Kết cấu của tờ báo được chia thành ba phần tương đối khoa học, dành đăng tải ba lĩnh vực chính là: Các sáng tác văn học đương thời (Truyện ngắn, tiểu thuyết); các tiểu thuyết dịch của Phương Tây và tiểu thuyết Trung Quốc Tờ báo thu hút được đông đảo nhà văn, nhà thơ có tên tuổi trong làng báo, làng văn bấy giờ: Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Thanh Châu, Ngọc Giao, Lưu Trọng Lư, Nam Cao, Bùi Hiển, Kim Lân, Thâm Tâm,

J.Leiba Tiểu thuyết thứ Bảy có sức đăng tải lớn, rộng rãi khắp ba miền Bắc – Trung –

Nam, đặc biệt được độc giả Nam Kỳ mến mộ Tồn tại trong một thời gian khá dài

(khoảng hơn 10 năm), Tiểu thuyết thứ Bảy được phát hành với số lượng lớn ấn phẩm

(500 số), số trang tương đối dày (44 trang), số lượng in ngày càng tăng nhanh (từ 5 ngàn bản, tăng lên 6-7 ngàn, rồi hàng vạn số) Đây là tờ báo gắn với sinh kế của nhiều

nhà văn đương thời Với sức sống mạnh mẽ, Tiểu thuyết thứ Bảy đã mang lại một thực

tiễn nội sinh độc lập của đời sống báo chí và văn học nửa đầu thế kỷ XX

Bên cạnh Tiểu thuyết thứ Bảy, tờ Phổ thông bán nguyệt san (1936-1945) do Vũ Đình Long quản lý tiếp nối nội dung và hình thức của Tiểu thuyết thứ Bảy trong việc

đăng tải các sáng tác văn học ở hai thể loại chính là tiểu thuyết và truyện ngắn, tờ nguyệt san này còn ra thêm một loại mới, mỗi tháng một tập: Chuyên san về văn học,

sử học, triết học nhằm cung cấp tri thức phổ thông cho độc giả Góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học nhanh hơn và toàn diện hơn không thể không kể đến tủ sách

Những tác phẩm hay của nhà in Tân dân đã kịp thời in ấn, phát hành nhiều tác phẩm

hay, có giá trị không chỉ với người đương thời như Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, Trước đèn của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Truyện hai người của Vũ Bằng,

Loạn kiêu binh và Chúa Trịnh Khải của Nguyễn Triệu Luật, Bảy Hựu của Nguyên

Hồng, bản dịch Liêu Trai chí dị của Tản Đà

Đến giai đoạn này, báo chí Việt Nam ngày càng thể hiện rõ tính chuyên nghiệp đối với cả người viết và cả việc in ấn, phát hành Bên cạnh những tờ chuyên biệt, chủ

yếu dành riêng cho việc đăng tải các sáng tác văn chương (Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu

thuyết thứ Năm, Phổ thông bán nguyệt san ), lại có những tờ theo xu hướng tổng hợp

(Ích hữu, Tao đàn ) đã mở ra dấu hiệu đặc thù cho báo chí giai đoạn sau (1941-1945)

Ích hữu (1936-1938) là tuần báo đăng đủ các chuyên mục: Từ thông tin, thời sự

đến nghị luận xã hội, tản văn châm biếm, du ký bốn phương, hộp thư bạn đọc Giá trị

Trang 37

của tờ báo là đóng góp ở mảng nghị luận xã hội với những bài viết sắc sảo, ở các bài tạp văn hóm hỉnh, thể hiện tinh thần dân chủ

Trong giai đoạn này, không thể không kể đến vai trò của tạp chí Tao đàn (1939)

do Vũ Đình Long làm chủ nhiệm Mặc dù tờ tạp chí có đời sống ngắn ngủi trong vòng gần một năm (số đầu tiên ra mắt ngày 1.3.1939, số cuối cùng kết thúc vào tháng

12.1939) nhưng với tinh thần cởi mở, tạp chí Tao đàn là diễn đàn rộng mở nhằm: “Thu

hút và tập trung văn nghệ sỹ có chung lập trường bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy mọi cá tính sáng tạo văn chương” [6, 378] Tất cả cùng hướng đến

mục đích là gây dựng nền văn hóa Việt Với chủ trương như vậy, tạp chí Tao đàn luôn

chú ý đến các bài khảo cứu, dịch thuật, phê bình, giới thiệu tinh hoa văn hóa, văn học

nước ngoài; các cuộc trao đổi xung quanh chủ đề Gây dựng nền văn hóa Việt Nam

như thế nào Các chuyên mục Điểm sách, Giới thiệu sách mới, Thư cho bạn đã cập

nhật những thông tin văn học mang tính thời sự Bởi thế, Tao đàn là nơi hội tụ của

nhiều cây bút danh tiếng như Tản Đà, Phan Khôi, Nguyễn Triệu Luật, Trương Tửu, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Hải Triều Sự có mặt của các nhà văn có tên tuổi lớn trên

văn đàn đã tạo cho tạp chí Tao đàn một dấu ấn riêng, có đóng góp quan trọng về văn chương, tư tưởng và học thuật đương thời.

Là một tờ tạp chí có nội dung hay, in ấn đẹp mắt, thu hút được nhiều nhà văn có

uy tín đương thời, vậy mà Tao đàn chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn, chưa đầy một năm, thiết nghĩ có thể lí giải điều này như sau: Tạp chí Tao đàn xuất hiện vào thời

điểm Đại chiến thế giới lần thứ hai búng nổ, tình hình chiến tranh loạn lạc là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của tạp chí Hơn nữa, đây là một tờ tạp chí khá

kén độc giả cho nên số lượng người mua ít đã làm cho Tao đàn phải tự đình bản Tuy nhiên, sự ra đời và tồn tại của Tao đàn cho thấy một sự chuyển hướng thành công (hay

một sự bẻ lái cho tinh thần yêu nước) từ mục tiêu đấu tranh sang các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật Đây là một xu thế có ảnh hưởng khá rõ đến việc ra đời và phát triển của

các tờ báo, tạp chí sau này như Hàn Thuyên, Thanh nghị, Tri tân

Tri tân tạp chí (1941-1946) sinh thành trong giai đoạn báo chí tiếng Việt nở rộ và

phát triển toàn diện: Phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, kiểu, loại Điều đó cũng đặt ra cả mặt thuận lợi và khó khăn cho tạp chí Thuận lợi vì có đủ điều kiện, nhu cầu và động lực cần thiết để sinh tồn Khó khăn là bởi trong sự phát triển rầm rộ đầy tính cạnh tranh của các báo và tạp chí khác, nhất là sự ra đời của các tạp chí chuyên

ngành có chất lượng cao (Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu thuyết thứ Năm, tạp chí Tao đàn,

Trang 38

Thanh nghị…) thì việc tìm được con đường đi riêng, mang bản sắc riêng mà vẫn nhận

được sự ủng hộ của độc giả và cộng tác viên lại là một thử thách không nhỏ…

Nhìn lại lịch trình của báo chí Việt Nam qua các giai đoạn hình thành và phát

triển từ sơ khai đến khi xuất hiện tạp chí Tri tân, ở mỗi giai đoạn chúng tôi tìm hiểu về

chủ trương, tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của những tờ báo tiêu biểu để thấy vai trò của báo chí cũng như sự hình thành các nhóm phái văn học có ý nghĩa tác động như thế nào đến tiến trình hiện đại hóa văn học Việt nam nửa đầu thế kỷ XX Đó là cơ

sở để luận án khẳng định: Báo chí có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học diễn ra nhanh mạnh, khẩn trương và đồng bộ Nếu ở giai đoạn đầu, báo chí được coi là “bà đỡ”, nâng bước, tạo đà cho văn học hình thành và phát

triển thì đến giai đoạn sau (kể từ khi xuất hiện Phong hóa) văn học đã thực sự lớn

mạnh, chiếm ưu thế trên các tờ báo, nhiều nhà báo trở thành người viết văn chuyên nghiệp (Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng ), nhiều nhà văn, nhà thơ trưởng thành trên báo chí (Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Thế Lữ, Xuân Diệu ) Cũng từ môi trường phát triển, cạnh tranh của báo chí, sự ra đời của các nhà xuất bản đã kịp thời in ấn, phát hành được nhiều tác phẩm văn học đăng lẻ tẻ trên

báo chí qua các kỳ được tập hợp thành sách, thành tuyển tập (Bỉ vỏ của Nguyên Hồng,

Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, Chí Phèo của Nam

Cao ) tạo ra một “thị trường văn học” vừa khích lệ người sáng tác vừa thu hút người đọc Lực lượng cầm bút ngày càng chín chắn, trưởng thành và chuyên nghiệp hơn, có nhiều cây bút chuyên sống bằng nghề viết Các thể loại văn học trên báo chí cũng ngày một phong phú và đa dạng hơn để phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của độc giả Giai đoạn

đầu (thời của báo Nam phong) các thể văn dịch, biên khảo, sưu tầm chiếm ưu thế Đến

giai đoạn báo chí phát triển mạnh mẽ, độc lập thì văn sáng tác, phê bình chiếm lĩnh với

sự nở rộ của các thể loại văn học mới như tiểu thuyết, truyện ngắn, du ký, kịch, phê

bình văn học Sự thay đổi của thị hiếu và tâm lí tiếp nhận qua từng thời kỳ đòi hỏi

văn học phải đổi mới, bắt nhịp với yêu cầu đời sống văn hóa tinh thần của con người thời đại (phần này luận án sẽ trình bày chi tiết ở mục 2.2, chương 2)

Từ đặc điểm của lịch sử báo chí Việt Nam qua các giai đoạn hình thành và phát triển có thể nhận thấy: Dù báo chí ra đời với bất kỳ mục đích nào (do người Pháp sáng lập vì mục đích chính trị hay do các trí thức văn nghệ sỹ sáng lập vì mục đích văn chương nghệ thuật) đều ẩn sâu ý thức về văn hóa và tinh thần dân tộc của người trí thức

Việt Nam Có thể thấy một mạch chảy liên tục từ Nam phong qua Phong hóa đến Tri

Trang 39

tân như sau: Nam phong đề cao tinh thần phục cổ, nhằm bảo tồn quốc hồn, quốc túy;

đến Phong hóa, báo chí và văn học đã mở rộng ra các vấn đề xã hội (chống lễ giáo

phong kiến, chống lại sự cổ hủ, lạc hậu của đạo Khổng; nêu cao quyền bình đẳng tự do

trên tinh thần dân chủ); khi Tri tân ra đời lại là sự trở về của tinh thần dân tộc, trung thành với lối viết cổ, với các đề tài về lịch sử Sự ra đời của tạp chí Tri tân chính là sự kế thừa, tiếp nối từ Nam phong kết hợp với tinh thần thời đại Nếu những sáng tác trên

Nam phong nặng về thể nghiệm văn quốc ngữ buổi đầu thì sáng tác trên Tri tân nhằm

vun vén tinh thần của lịch sử nên có tầm rộng rãi trong sự bao phủ toàn bộ nền văn hóa Việt

2.1.2 Về sự xuất hiện của ba nhóm văn phái nổi bật.

Mặc dù chính quyền thực dân thi hành chế độ kiểm duyệt chặt chẽ, gắt gao nhưng thực tế đời sống báo chí những năm 1940-1945 vẫn diễn ra sôi nổi với sự xuất hiện đồng loạt của các báo, tạp chí, các nhà xuất bản tư nhân, các hội bút, nhóm bút…

đã tác động tích cực đến tốc độ phát triển mau lẹ của nền văn chương hiện đại Sự xuất hiện và lớn mạnh của các nhà in, hiệu sách, nhà xuất bản, diễn đàn, rạp hát đã tạo nên một thị trường cạnh tranh lành mạnh, văn học trở thành một sản phẩm hàng hóa “có ganh đua, loại trừ” Sự hình thành đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp cùng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của lớp công chúng mới có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của sáng tác văn học và tất yếu phải tìm đến sự phong phú về đề tài, kiểu loại để tránh nhàm chán và thu hút độc giả

Với sự ra đời đồng loạt của các báo phái, văn phái như báo Ngày nay của nhóm

Tự lực văn đoàn; tạp chí Văn mới của nhóm Hàn Thuyên; Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, tạp chí Ích hữu, Tao đàn của nhóm Tân dân… đã làm nên

không khí “trăm hoa đua nở” của đời sống văn học hiện đại Báo chí càng phát triển thì ngày càng được chuyên môn hóa cao: Có loại báo chí dành cho các ngành, các lĩnh

vực (Tin mới thể thao, Hội Nam Kỳ Công Nông Thương gia…), có loại dành cho lứa tuổi (Đàn bà, Bạn gái, Tuổi ngọc, Nhi đồng hoa ban ), có loại giải trí (Ngọ báo, Vịt

đực, Con ong…) Đặc biệt, phải kể đến sự hình thành của loại báo chí chuyên biệt

(Tiểu thuyết thứ Bảy, Tiểu thuyết thứ Năm, Tao đàn, Thanh Nghị, Tri tân …) Trong

đó, không thể không kể đến vai trò của ba nhóm văn phái tiêu biểu xuất hiện cùng thời

điểm năm 1941 là: Thanh Nghị, Hàn Thuyên và Tri tân.

Thanh Nghị (1941-1945) là tờ tạp chí “nghị luận, văn chương, khảo cứu” do Vũ

Đình Hòe làm chủ nhiệm Nhóm Thanh Nghị đã tập hợp được lực lượng cộng tác

Trang 40

chính là các trí thức tân học cấp tiến thuộc nhiều lĩnh vực như Vũ Văn Hiền, Phan Anh (chính trị), Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Văn Cẩn (kinh tế và xã hội); Vũ Đình Hoè, Đinh Gia Trinh (giáo dục và văn học); các học giả Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên (sử học), Nguyễn Văn Tố, Đặng Thai Mai (nghiên cứu văn học), các văn nghệ sĩ (Vũ Đình Long, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Tô Ngọc Vân ,

Nguyễn Xuân Khoát…) Tôn chỉ, mục đích của Thanh Nghị là đưa nhiệm vụ “khảo cứu” lên hàng đầu Vì vậy, các bài viết trên báo Thanh Nghị “đạt tới độ phong phú, sâu

sắc hiếm thấy” Giá trị hơn cả là các bài khảo cứu về nhiều lĩnh vực: Chính trị, xã hội,

luật pháp, kinh tế, giáo dục, văn chương Đặc biệt, Thanh nghị chính là diễn đàn thể hiện quan điểm sáng tác, tuyên ngôn nghệ thuật của nhóm Xuân Thu nhã tập

Nhóm Hàn Thuyên tập hợp lực lượng trí thức “tân văn hóa” với chủ trương:

“Kiến thiết được một hệ thống văn hóa mới để làm kim chỉ nam cho sự hoạt động tiến

thủ” [201, 1269] Các cây bút chủ chốt của Hàn Thuyên là Nguyễn Bách Khoa

(Trương Tửu), Nguyễn Đức Quỳnh (Thiên Hạ Sĩ), Lương Đức Thiệp, Lê Văn Siêu, Nguyễn Tế Mỹ… Họ lấy “phương pháp mác - xít” làm cơ sở cho hành trình đi “tìm một triết lí mới về nhân sinh, có ích lợi thiết thực cho quốc dân Việt Nam” Hoạt động

của nhóm Hàn Thuyên trên văn đàn Việt Nam từ năm 1941 đến năm 1946 được ghi

nhận với một số lượng ấn phẩm khá lớn, phong phú ở nhiều kiểu, loại: Có các sáng tác

văn học (tiểu thuyết, kịch, truyện dã sử cho thiếu nhi, truyện trinh thám); có các bài

nghiên cứu về lịch sử, về kinh tế, chính trị, triết học… Đáng chú ý nhất là các công

trình lý luận và nghiên cứu văn học như Kinh thi Việt Nam (1940) của Trương Tửu,

Việt Nam cổ văn học sử (1942) của Nguyễn Đổng Chi, Văn học khái luận (1944) của

Đặng Thai Mai, Nghệ thuật thi ca của Lương Đức Thiệp… So với các nhóm phái khác (Thanh Nghị, Tri tân), quan điểm về nghệ thuật và tư tưởng của nhóm Hàn Thuyên không đồng nhất, khá phức tạp Tuy nhiên, vẫn có một điểm tương đối nhất quán của

nhóm là: “Các tác giả thường có thiên hướng nhìn văn hóa, văn học dưới góc độ triết

học, luôn luôn lấy nguyên tắc duy vật sử quan làm phương pháp luận” [201, 1270] Nhóm Tri tân được thành lập xoay quanh tờ tạp chí Tri tân với chủ trương phục

cổ, lấy mệnh đề Ôn cố nhi tri tân làm khẩu hiệu Lực lượng nòng cốt của nhóm là các

nhà trí thức danh tiếng đương thời: Đó là các học giả lớp trước uyên bác về Hán học: Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Tuyết Huy Dương Bá Trạc, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục; các trí thức lớp sau, xuất thân từ Tây học và am hiểu Hán học như Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Chu Thiên Hoàng Minh Giám, Đào Duy Anh,

Ngày đăng: 22/02/2017, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w