và triết học cổ điển Đức mà đỉnh cao là phép biện chứng duy tâm đã trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủ nghĩa Mác – Lê nin.Các tham luận tập trung nghiên cứu làm rõ bản chất n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:
Một trong những cống hiến vĩ đại của Mác, Ăng-ghen là để lại cho nhân loại một di sản lý luận đồ sộ Mục tiêu của Đảng ta hiện nay là: nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho học thuyết này chiếm vị trí chủ yếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội ta, làm cho chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cho nên sự thắng lợi của Cách Mạng Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội của nước ta tùy thuộc vào việc triển khai và thực hiện lý luận Khoa Học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong qua trình phát triển, phép biện chứng trải qua ba thời kì quan trọng là : phép biện chứng chất phác của các nhà triết học cổ đại, phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức, và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lê nin Trong đó phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức là một trong những thành tựu vĩ đại Các nhà triết học cổ điển Đức tiếp thu những tư tưởng biện chứng trong các di sản triết học truyền thống từ thời cổ đại, xây dựng phép biện chứng trở thành một phương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên
Trang 3và xã hội và triết học cổ điển Đức mà đỉnh cao là phép biện chứng duy tâm đã trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủ nghĩa Mác – Lê nin.
Các tham luận tập trung nghiên cứu làm rõ bản chất nhận thức luận và đạo đức của các nhà triết học cổ điển Đức, khẳng định những giá trị cơ bản của đạo đức trong triết học cổ điển Đức, nhất là triết học của I.Cantơ, làm rõ ảnh hưởng của triết học
cổ điển Đức đối với sự hình thành của triết học Mác và các trào lưu, khuynh hướng triết học phương Tây khác sau này, khẳng định sự cần thiết của việc nghiên cứu triết học cổ điển Đức nói riêng và lịch sử triết học nói chung, trên cơ sở đó ứng dụng và tìm cách phát triển việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập triết học ở nước ta
Thông qua đề tài này , không những cho phép chúng ta nắm vững được bức tranh toàn cảnh mà còn hiểu được nguồn gốc ra đời, sự hình thành và phát triển của phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức Qua đó chúng ta hiểu được những đóng góp to lớn của chúng với tư cách là một trong ba nguồn gốc hình thành của chủ nghĩa Mác – Lê nin, một hệ tư tưởng mà nước Việt Nam chúng ta làm cơ sở lý luận cho sự phát triển đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Phân tích đặc điểm triết học Đức được thể hiện qua các nhà triết học tiêu biểu thời
đó bước đầu chỉ ra phân tích, hạn chế và thành tựu của nó
Nhiệm vụ:
- Chỉ ra và phân tích những điều kiện và tiền đề hình thành triết học cổ điển Đức
- Phân tích phương pháp luận
- Nhận xét và trình bày những ưu điểm và hạn chế từ đó chỉ ra vai trò của triết học
cổ điển Đức đối với triết học hiện đại
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong tiểu luận này chủ yếu tập trung khai thác chủ những tư tưởng biện chứng của triết học cổ điển Đức Một giai đoạn tiêu biểu của lịch sử triết học nhân loại dòng triết học có ảnh hưởng lớn tới triết học hiện đại
Trang 44.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Tiểu luận được thực hiện dựa trên quan điểm của triết học Mác – Lênin về triết học như một hình thái ý thức xã hội Đồng thời dựa trên những nghiên cứu của các nhà kinh điển Mác – Lênin về lịch sử triết học ,các sách,báo, giáo trình lịch sử, mạng internet, bài nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu về triết học cổ điển Đức, cũng như những chỉ dẫn quý báu về mặt phương pháp luận
Tiểu luận sử dụng các phương pháp: phân tích và so sánh, phân tích tổng hợp, kết hợp lôgíc và lịch sử, diễn dịch, quy nạp…
5.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
Luận văn đáp ứng phần nào yêu cầu nghiên cứu ngày một tăng đối với triết học ở nước ta; có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập lịch sử triết học
6.Kết cấu của đề tài
Trên cơ sở đó tôi xin chọn đề tài triết học cổ điển Đức tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
- Điều kiện kinh tế - xã hội của triết học Đức
- Đặc điểm của triết học cổ điển Đức
- Những thành tựu và hạn chế
- Phép biện chứng cổ điển Đức và một số nhà triết học tiêu biểu
- Nhận định về nền triết học Đức
Trang 5NỘI DUNG Chương 1
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, KHOA HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
1.1 Điều kiện kinh tế – xã hội, khoa học:
Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước Tây Âu như Italia, Anh, Pháp, v.v., đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trước đó Những thành tựu kinh tế và văn hoá thời nay mà đỉnh cao là Cách mạng công
nghiệp ở Anh càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới Cùng với Cách mạng tư sản Pháp làm rung chuyển cả châu Âu, chúng đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại
Trong khi ở nhiều nước Tây Âu đang có những thay đổi nhảy vọt như vậy, thì nước Đức cho đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực tế đất nước còn phân thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau Tình trạng đó gây nhiều trở ngại đối với sự phát triển của đất nước Năm 1822, cả nước Đức mới chỉ có 2 máy hơi nước Nông nghiệp bị đình đốn Triều đình vua Phổ Phriđrích Vinhem (1770 – 1840) vẫn ngoan cố tăng cường quyền lực và duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng Như Ph.Ăngghen nhận xét, có thể coi đây là một trong những thời kỳ yếu hèn nhất trong lịch sử nước Đức
Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kỳ này đạt được sự phát triển chưa từng có về triết học, văn hoá và nghệ thuật Đây là quê hương của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Hécđơ, Gớt, Sinlơ, Cantơ V.V Họ, một mặt, tiếp thu những di sản tư tưởng và văn hoá Đức truyền thống, kế thừa các
Trang 6quan niệm của Nicôlai Kuzan, Lépnít, v.v mặt khác, được cổ vũ to lớn của tư tưởng Khai sáng và văn hóa Pháp thế kỷ XVIII Cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794) là hậu thuẫn thực tiễn thức tỉnh giai cấp tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới
ở Đức Thể hiện nguyện vọng đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Gớt, Sinlơ, Cnatơ Phíchtơ V.V., đều toát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức thời đó
Thêm vào đó, những tiến bộ đáng kể của khoa học, nhất là các ngành khoa học tự nhiên ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình thống trị trong tư tưởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII – XVIII Việc phát minh ra điện và cách sử dụng điện năng góp phần tạo ra bước nhảy vọt trong sự phát triển của sản xuất từ công trường thủ công tới công nghiệp cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn và biến hoá năng lượng và vật chất của vũ trụ Phát minh của Lavoarê ra ôxy và bản chất của sự cháy đã đánh đổ thuyết nhiên tố,
mở ra giai đoạn phát triển mới của hoá học Những công trình nghiên cứu của
Lamác, Linnơ, việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhúc v.v đòi hỏi phải có cách lý giải mới về bản chất của sự sống
Bối cảnh lịch sử đó ở Tây Âu và nước Đức đặt trước các nhà triết học nhiều vấn đề: Siêu hình học thế kỷ XVII (với các đại biểu chính như Đềcáctơ, Xpinôza, Lépnít v.v.) từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hoá tri thức con người đã không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn và tư tưởng Tây Ẩu thế kỷ XVIII, khi mà hàng loạt các khoa học đã đủ sức phát triển tách
ra khỏi cái nôi triết học của mình, trở thành những lĩnh vực nghiên cứu độc lập Ngay từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều xu hướng xét lại siêu hình học và các giá trị tư tưởng truyền thống Tuy nhiên, triết học Tây Âu Phục hưng và cận đại (ngay cả triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII) từng là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản trong thời kỳ bình minh đầy tính cách mạng của nó, về cơ bản, vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cơ học về thế giới, đồng thời bất lực trong việc
lý giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Tóm lại, giờ đây cần có cách nhìn mới về các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch
sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt động của con người Và triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng với những sứ mạng lịch sử đó của không
Trang 7chỉ riêng nước Đức, mà cả phương Tây nói chung Cho nên nó có những đặc điểm chính như sau:
1.2 Đặc điểm của triết học cổ điển Đức:
Thứ nhất đây là thế giới quan và ý thưc hệ của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVII – nửa đầu thế kỷ XIX Hầu hết các đại biểu của nó như Cantơ, Hêghen V.V., đều xuất thần từ những tầng lớp thượng lưu trong xã hội Nhận thấy sự trì trệ của xã hội Đức phong kiến thời đó, được sự cổ vũ của giai cấp tư sản nhiều nước nhất là cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794), họ thể hiện nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức, nhằm đem lại sự thịnh vượng, phồn vinh và thống nhất đất nước Cho nên “cũng giống như ở Pháp hồi thế kỷ XVIII, cách mạng triết học Đức hồi thế kỷ XIX cũng đi trước cuộc cách mạng chính trị” Nhưng khác với giai cấp tư sản Pháp vốn triệt để cách mạng, giai cấp tư sản Đức ngay từ đầu đã muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước Phản ánh sự nhu nhược đó của giai cấp tư sản, chẳng hạn, Hêghen, bất chấp phương pháp biện chứng của mình khẳng định sự phát triển tất yếu của hiện thực, vẫn ca ngợi, tô vẽ cho nhà nước Phổ phong kiến đang thối nát, với những bất công
và tệ nạn xã hội của nó Và nói chung, trong thế giới quan của các nhà triết học cổ điển Đức thể hiện khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng và khoa học về tư tưởng với sự bảo thủ, cải lương về lập trường chính trị – xã hội
Nhưng, điều đó không làm lu mờ sứ mạng lịch sử mà triết học cổ điển Đức thực hiện là đem lại một cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiến trình lịch sử nhân loại
Vì vậy, đặc điểm thứ hai của nó là đặc biệt đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, thực hiện bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây từ chỗ chủ yếu bàn về những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận … đến chỗ coi con người như một chủ thể hoạt động là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học Dĩ nhiên, để tài con người đã được bàn đến ngay từ triết học cổ đại Xôcrát đã hiểu triết học là tự ý thức của con người về chính bản thân mình Kế tục tư tưởng đó và khuynh hướng đề cao con người từ thồi Phục hưng, Cantơ, nhà sáng lập ra triết học
cổ điển Đức, lần đầu tiên hiểu con người là chủ thể, đồng thời là kết quả quá trình hoạt động của mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận Bản thân lịch
Trang 8sử là phương thức tồn tại của con người Mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình Tư tưởng đó được Hêghen phát triển thêm, khẳng định con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định, vì vậy, mang bản chất xã hội.
Trước những thành tựu khổng lổ về kinh tế – xã hội và văn hoá mà nhân loại đạt được trong thời kỳ bình minh đầy tính cách mạng của chủ nghĩa tư bản, các nhà triết học cổ điển Đức từ Cantơ đến Hêghen đều đề cao sức mạnh trí tuệ và hoạt động con người tới mức cực đoan Họ thần thánh hoá con người tới mức coi con người là chúa tể của tự nhiên, bản thân giới tự nhiên cũng chỉ là kết quả hoạt động của con người Quan niệm duy tâm đó càng được củng cố bởi sự thống trị mạnh mẽ của tôn giáo trong xã hội Đức thời đó cũng như sự thoả hiệp của giai cấp tư sản với
ý thức hệ phong kiến Tuy vậy, cần phải nhận thấy một trong những thành tựu cơ bản của triết học cổ điển Đức là, thứ nhất, khẳng định tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới Con người là chủ thể, đồng thời là kết quả của toàn bộ nên văn minh do chính mình tạo ra; thứ hai, nghiên cứu tiến trình lịch sử của nhân loại, cũng như toàn bộ mối quan hệ “con người tự nhiên” như một quá trình phát triển biện chứng
Vì thế, đặc điểm thứ ba của triết học cổ điển Đức là nó dựa trên một cách nhìn biện chứng về thế giới hiện thực Trước những bước phát triển như vũ bão của khoa học
và thực tiễn xã hội ở châu Âu cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX cho thấy hạn chế của bức tranh cơ học về thế giới, các nhà triết học cổ điển Đức tiếp thu những
tư tưởng biện chứng trong các di sản triết học truyền thống từ thời cổ đại, xây dựng phép biện chứng trở thành một phương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội Với giả thuyết vân tinh nổi tiếng về sự hình thành
vũ trụ và cách nhìn mới về con người, Cantơ, theo nhận xét của Ph.Ăngghen, là người chọc lỗ thủng đầu tiên vào quan niệm siêu hình về tự nhiên thống trị trong khoa học và triết học suốtt thế kỷ XVI – XVII Hêghen đã phát hiện ra những quy luật và các phạm trù cơ bản của phép biện chứng, xây dựng nó trở thành một khoa học về sự phát triển của tất thảy mọi sự vật và tư tưởng Ý nghĩa thực sự và cách mạng của triết học Hêghen “là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những kết quả của tư tưởng và của hành động con người Theo Hêghen, chân lý mà triết học có nhiệm vụ phải nhận thức, không còn là một tập hợp những nguyên lý giáo
Trang 9điều có sẵn…, từ nay, chân lý nằm trong chính ngay quá trình nhận thức, trong sự phát triển lịch sử lâu dài của khoa học” Dù dưới hình thức duy tâm, triết học cổ điển Đức đã đưa lại cho chúng ta phương pháp tư duy biện chứng, một phương pháp tư duy mà sau này, khi đã được C.Mác và Ph.Ăngghen cải tạo, thì nó trở thành
“linh hồn của chủ nghĩa Mác”
Với cách nhìn biện chứng bao quát toàn bộ hiện thực, nhiều nhà triết học cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ những tri thức và thành tựu mà nhân loại đạt được từ trước tới giờ Và đây là đặc điểm thứ tư của triết học cổ điển Đức Tiếp thu những tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVII trong việc phát triển tư duy lý luận và
hệ thống hoá toàn bộ tri thức con người, các nhà triết học, từ Cantơ tới Hêghen đều
có ý đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng của mình làm nền tảng cho toàn
bộ thế giới quan con người, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học Họ thể hiện sự uyên bác không chỉ về triết học mà còn về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, pháp quyển, lịch sử V.V Dĩ nhiên, quan niệm đó hiện nay không phù hợp, nhưng về phương diện lịch sử, nó đáp ứng nhu cầu của khoa học cần hệ thống hoá toàn bộ tri thức con người mà các nhà Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là những người khởi xướng trong bộ Bách khoa toàn thư của mình
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức Luận điểm của C.Mác coi đây là “lý luận của người Đức về cách mạng tư sản Pháp”, một mặt, cho thấy đặc trưng riêng của triết học Đức so với triết học Pháp thế kỷ XVIII, dù giữa chúng có sự kế thừa to lớn; mặt khác, khẳng định giá trị tư tưởng vĩ đại của triết học
cổ điển Đức Phân tích từng đại biểu cụ thể của nó giúp ta hiểu thêm điều đó
1.3 Thành tựu và hạn chế:
1.3.1 Thành tựu:
Tuy có những hạn chế trong lĩnh vực chính trị - xã hội nhưng thành tựu của triết học Đức thật là vĩ đại
Triết học cổ điển Đức mang lại cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiến trình lịch
sử nhân loại, nó đề cao vai trò hoạt động tích cực của con người Khắc phục truyền thống phương Tây, nó coi con người là chủ thể hoạt động như là vấn đề nền tảng, xuất phát điểm của một vấn đề triết học
Trang 10Kế tục tư tưởng triết học cổ đại ( Xôcrát cho triết học là sự tự ý thức của con người
về chính bản thân mình) và phục hưng ( coi con người là trung tâm) Canto lần đầu tiên hiểu con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận Heeghen phá triển them tư tưởng này và coi bản thân lịch sử phương thức tồn tại của con người, mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình Ông khẳng định: con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định là vậy vì nó mang bản chất xã hội
Trước những thành tựu khổng lồ của kinh tế - xã hội , khoa học – văn hóa Các nhà triết học cổ điển Đức từ Canto đến Heeghen đều đề cao sức mạnh trí tuệ và khả năng hoạt động của con người tuy nhiên , khi nhấn mạnh sức mạnh của con người
họ đã rơi vào cực đoan, họ đã thần thánh hóa người, coi con người là chúa tể tự nhiên, bản thân giới tự nhiên nhiều chỗ cũng được họ luận giải như kết quả hoạt động của con người
Tuy vậy phải thấy một trong những thành tựu to lớn của triết học cổ điển đức là nó khẳng định tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới con người là chủ thể, đồng thời là kết quả của toàn bộ nền văn minh do chính mình tạo ra, nghiên cứu tiến trình lịch sử nhân loại cũng như toàn bộ mối quan hệ con người – tự nhiên như một quá trình phát triển biện chứng.Tuy từ lập trường duy tâm, các nhà triết học cổ điển đức đã xây dựng nên các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng loogich biện chứng, học thuyết về các quá trình phát triển, mà tìm tòi lớn nhất trong tất cả các tìm tòi của họ
đó là phép biện chứng
Với cách nhìn tổng quát và phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ điển Đức
có ý đồ hệ thống hóa toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được tiếp thu tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVII trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hóa toàn bộ tri thức loài người, Kant và Heeghen có ý đồ xây dựng hệ thống triết học vạn năng làm nền tảng cho thế giới quan của con người, khôi phục lại các quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học
Phải nói rằng triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử
tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Đây là đỉnh cao của
Trang 11thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây, đồng thời nó ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại.
1.3.2 Hạn chế:
Hạn chế chung nhất trong thế giới quan của các nhà triết học Đức thể hiện rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng – khoa học về tư tưởng với tinha bảo thủ về lập trường chính trị - xã hội hầu hết các nhà triết học thời kỳ này đều xây dựng được hệ thống triết học chứa đựng những tư tưởng khoa học có tính thời đại, đặc biệt là triết học Kant và Heghen Nhưng họ lại không dám tiến hành, thực hiện những cuộc cải cách, bảo vệ chính thế Nhà nước Phổ phong kiến
Chủ nghĩa duy tâm thần bí, phía trước và bên cạnh các nhà triết học cổ điển đức là một dòng triết học duy vật, đặc biệt là tư tưởng duy vật của các nhà triết học khai sáng Song các nhà triết học cổ điển Đức thấy rằng từ quan điểm duy vật, người ta không thể giải thích được thế giới bản chất của thế giới theo họ là tinh thần, do vậy chỉ có thể giải quyết được những vấn đề của thế giới bằng tinh thần họ đã từ thế giới tinh thần xây dựng nên những hệ thống triết học duy tâm, thần bí
Triết học trừu tượng tách rời hiện thực, triết học cổ điển đức đưa ra được những tư tưởng tiến bộ chống chế độ xã hội cũ nhưng đó chỉ là những tư tưởng nó không đi vào chính trị xã hội và hoạt động cách mạng mà chỉ là những hệ thống triết lý trừu tượng ở bên trên
Nếu các nhà tư tưởng tiến hành cách mạng trong thực tiễn, công khai chống lại Nhà nước và giáo hội thì các nhà triết học cổ điển Đức chỉ suy nghĩ về nó trong tư tưởng không dám công khai chống lại thực tại đó Họ là các giáo sư chính thức trong các trường Đại Học của vương quốc Phổ, do sợ hãi hiện thực cách mạng, thỏa hiệp với giai cấp tư sản, tư tưởng cách mạng của họ đã phủ bên ngoài của mình một lớp vỏ thần bí duy tâm tự biện, nặng nề, xa rời hiện thực
Trang 12 Tư tưởng biện chứng của Kant gồm:
Giả thuyết về sự hình thành vũ trụ
Biện chứng trong quá trình nhận thức
Học thuyết về mâu thuẫn (Antimoni)
Tư tưởng biện chứng của Heghen gồm:
- Logich học: trình bày về sự phát triển của “ý niệm tuyệt đối”, biểu hiện trong các học thuyết: tồn tịa , bản chất, khái niệm
- Triết học tự nhiên: có sự đóng góp trong tư tưởng về sự thống nhất giữa vật chất
và vận động, không gian , thời gian về sự thống nhất giữa tính liên tục và đứt đoạn trong vận động
- Triết học tinh thần: coi lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật, trong đó có sự
kế thừa
2.2 Một số nhà học thuyết triết học tiêu biểu.
2.2.1 Imanuen Cantơ (1724-1804)
Imanuen Cantơ (Imanuel Kant) là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch
sử tư tưởng phương Tây trước C.Mác Triết học Cantơ “là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu
mờ công lao đó của triết học Cantơ”’
Cantơ sinh năm 1724, trong một gia đình quý tộc Phổ ở Kenixbéc Đến năm 1755, ông bắt đầu giảng dạy siêu hình học, và các môn học tự nhiên ở đây Từ năm 1770, ông chủ yếu quan tâm đên những vấn đề triết học với những tác phẩm chủ yếu như Phê phán lý tính thuần tuý (1781), Phê phán lý tính thực tiễn (1788), Phê phán khả năng suy diễn (1790) V.V Hầu như phần lớn các công trình nghiên cứu của ông đều gắn liền với việc giảng dạy của ông ở trường đại học Tổng hợp Kenixbéc từ năm 1755 đến cuối đời
Thế giới quan của Cantơ phát triển qua hai thời kỳ chính, mặc dù giữa chúng có sự thống nhất nhất định Ở “thời kỳ tiền phê phán” (1746 – 1770), Cantơ chủ yếu nghiên cứu các vấn đề toán học và khoa học tự nhiên với nhiều phát minh nổi tiếng
về các lĩnh vực này Từ năm 1770 trở đi, bắt đầu “thời kỳ phê phán”, là thời kỳ ông
có nhiều đóng góp to lớn cho kho tàng triết học cổ điển Đức và triết học thế giới nói
Trang 13chung Như Hêghen đã nhận xét, triết học của Cantơ rất phức tạp và khó hiểu Vì vậy, để tiện cho việc nghiên cứu, chúng ta đi sâu phân tích từng thời kỳ.
2.2.1.1 Thời kỳ tiền phê phán
Lúc đầu, chịu ảnh hưởng lớn của các quan niệm duy tâm và thần học của Lépnít và Vônphơ, về sau, dần dần ông đứng về phía các quan niệm duy vật máy móc của Niutơn và Đềcáctơ rồi
đi đến xây dựng thế giới quan độc lập của mình Vì vậy bên cạnh nhiều quan niệm duy tâm thần bí, về cơ bản, Cantơ thể hiện như một nhà duy vật khoa học tự nhiên với luận điểm chủ yếu: “hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây đựng thế giới từ nó, nghĩa
là, hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy, thế giới phải ra đời từ vật chất như thế nào” Thế giới chúng ta, theo Cantơ được cấu từ vật chất luôn vận động và biến đổi không ngừng, mọi sự vật đều liên hệ tương tác lẫn nhau thông qua lực hút
và lực đẩy
Khái quát định luật vạn vật hấp dẫn của Niuton, Cantơ khẳng định cần phải “hiểu toàn bộ giới tự nhiên trong toàn bộ tính vô cùng tận của nó như một hệ thống duy nhất” Thế giới hiện nay là kết quả của quá trình lịch sử phát triển lâu dài theo hướng ngày càng hoàn thiện của tự nhiên Vì thế, cần “định liệu có phải trái đất đang ngày càng già đi không, và phải chăng nó đang dần dần đi đến diệt vong vì nó đang ngày càng già đi … hay cho đến nay nó vẫn chưa qua khỏi lứa tuổi trẻ thơ”
Từ những công trình nghiên cứu về trái đất và đại dương, Cantơ là người đầu tiên
đã khám phá ra ảnh hưởng của lực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng với các hiện tượng thuỷ triều
Ông cho rằng, không chỉ mọi sự vật trong thế giới chúng ta, mà cả toàn bộ vũ trụ nói chung đều nằm trong quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong như một quy luật sắt đá của tự nhiên Từ đây, dù không bác bỏ những mặt hợp lý của vũ trụ học Đềcáctơ, nhưng ông xây dựng giả thuyết vân tinh học Trong tác phấm Lịch sử tự nhiên đại cương và thuyết bầu trời (1755), ông lý giải và nguồn gốc sự hình thành
vũ trụ
Trang 14Tất cả các hành tinh, và các vũ trụ chúng ta không phải ngay từ đầu đã có được trạng thái tồn tại như hiện nay Từ thời xa xưa nhất, cả thế giới chúng ta đều nằm ở trạng thái hỗn hợp Nhờ lực vạn vật hấp dẫn, các hạt vật chất khuếch tán khắp
không gian đã dần tụ lại thành những đám mây lớn Thông qua lực hút và lực đẩy trong lòng các đám mây đó xuất hiện các luồng gió xoáy làm cho các hạt vật kết đông lại theo hình cầu Do ma sát khi va chạm nên chúng bị nóng Vì lực hút chiếm
ưu thế hơn nên các hạt vật chất kết hợp lại với nhau tạo thành mặt trời và các hành tinh có độ nóng khác nhau tuỳ thuộc mức độ ma sát Nhưng, vì khoảng không vũ trụ quá lớn và do ảnh hưởng của lực đẩy, nên lực hấp dẫn không đủ sức hút tất cả lượng vật chất của vũ trụ thành một khối, mà tồn tại nhiều hành tinh độc lập với nhau Do lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với khối lượng, cho nên những hành tinh ở gần mặt trời thì nặng hơn so với các hành tinh ở xa, và nhân của các hành tinh thì nặng hơn so với các lớp vỏ của chúng Vũ trụ là một chính thể thống nhất, cho nên “nó sẽ tạo ra những thế giới mới để bù đắp những tổn thất mà nó gánh chịu ở một nơi nào đó”.Mặc dù tiến bộ hơn hẳn các giả thuyết vũ trụ trước đây, nhưng thuyết của Cantơ vần chưa lý giải được nhiều hiện tượng thiên văn học do còn thiếu nhiều cứ liệu khoa học cụ thể Vì vậy, nửa thế kỷ sau, nhà bác học Láplát đã đưa ra giả thuyết mới độc lập về sự hình thành vũ trụ nhưng vô hình chung vẫn tiếp thu nhiều điểm hợp lý của giả thuyết Cantơ, bơi vậy người ta thường gọi là thuyết Cantơ – Láplát
Ý nghiã cách mạng của thuyết trên không chỉ ở chỗ nó chứa đựng nhiều tư tưởng duy vật và hoàn chỉnh so với các giả thuyết vũ trụ trước đó, mà còn ở chỗ nó đem lại một cách nhìn mới – cách nhìn phát triển lịch sử về thế giới Nó khẳng định không chỉ trái đất, mà cả vụ trụ chúng ta là kết quả của toàn bộ quá trình phát triển
và tiến hoá lâu dài của vũ trụ, đánh tan quan niệm siêu hình thống trị thời đó cho rằng, một khi thế giới chúng ta đã tồn tại thì nó vẫn cứ mãi mãi như thế từ xưa đến nay Nhờ vậy, “vấn đề cái hích đầu tiên đã bị loại bỏ; trái đất và tất cả hệ thống mặt trời hiện ra như là một cái gì đã hình thành trong thời gian” Với giả thuyết này, Cantơ bước đầu đã xây dựng nền tảng cho quan niệm phát triển biện chứng về tự nhiên
Bên cạnh những quan niệm sâu sắc trên đây, ở “thời kỳ tiền phê phán”, chúng ta cũng nhận thấy sự bế tắc của Cantơ trong việc tìm kiếm một quan niệm mới về các
Trang 15vấn đề triết học Một mặt, ông nhận thấy hạn chế của các phương pháp cớ học đơn thuần trong việc nghiên cứu các quá trình sinh học Mặt khác, do sự phát triển thấp của sinh học thời đó, ông đã đi đến tư tưởng bất khả tri phủ nhận khả năng nhận thức của con người về bản chất của sự sống Quan niệm này càng được củng cố khi Cantơ quá nhấn mạnh sự khác nhau giữa tư tưởng và hiện thực tới mức nhiều khi hoài nghi khả năng nhận thức thế giới của con người Những mâu thuẫn trên trong thế giới quan của Cantơ thể hiện ở sự trăn trở của một nhà tư tưởng đầy nhiệt huyết muốn xây dựng một cách nhìn mới về thế giới đáp ứng đòi hỏi của thời đại bấy giờ, nhưng lại vấp phải những hạn chế của chính thời đại đó, đặc biệt là xã hội Phổ lạc hậu thế kỷ XVIII Điều này ảnh hưởng tới triết học Cantơ “thời kỳ phê phán”.
2.2.1.2 Thời kỳ phê phán
Từ sau năm 1770 do ảnh hưởng bởi các biến động xã hội ở Pháp trước cách mạng
tư sản (1789 – 1794), cũng như bởi các quan niệm của Lépnít, Vônphơ và đặc biệt
là của Hium, thế giới quan của Cantơ chuyển sang “thời kỳ phê phán”, hay còn gọi
là “triết học phê phán” Sở dĩ gọi như vậy vì trước những biến động của xã hội và tư tưởng ở Tây Âu cuối thế kỷ XVIII, Cantơ đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu lại toàn bộ các vấn đề triết học trước đây trên tinh thần phê phán Ông xác định lại một cách có phê phán các quan niệm từ trước tới giờ về lý tính, và nói chung về các khả năng nhận thức của con người Bởi lẽ, nhiều tác phẩm triết học lớn của ông thời kỳ này đều thể hiện tinh thần đó, như Phê phán lý tính thuần tuý (1781), Phê phán, lý tính thực tiễn (1788), Phê phán khả năng suy diễn (1790) v.v
2.2.1.3 Quan niệm của Can tơ về bản chất đối tượng và nhiệm vụ của triết học
Cũng như Hium, Cantơ coi nhiệm vụ hàng đầu của mình là phải xác định bản chất của con người, cho rằng sở dĩ hiện nay các khoa học vẫn chưa có được một nền tảng phát triển vững chắc, bởi vì “khoa học về con người” vẫn chưa được chú trọng
và phát triển đúng mức Do đó, toàn bộ các vấn đề triết học, phải được hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người Triết học cần đem lại cho con người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch
ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống của con người vì những lý tưởng nhân đạo
Trang 16Nếu như Hium xuất phát từ việc quá nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa quá trình nhận thức với thể trạng tâm sinh lý của con người, hầu như quy toàn bộ các vấn đề triết học (thậm trí cả các khoa học khác) thành những vấn đề tâm sinh lý, thì Cantơ hiểu rằng, không thể khám phá ra bản chất đích thực của con người nếu như chỉ dừng lại ở những quan niệm trên, mặc dù chúng mang nhiều tính hợp lý Quá trình nhận thức cũng như mọi hoạt động khác của chủ thể, dù chịu ảnh hưởng nhiều bởi tình trạng tâm sinh lý, nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Mặt khác,
sự phát triển của thực tiễn xã hội và khoa học ở Tây Âu cuối thế kỷ XVIII đã cho phép Cantơ nhận thấy vai trò to lớn của các yếu tố xã hội đối với nhân cách con người
Cantơ là một trong số ít các nhà tư tưởng từ trước tới giờ hiểu rằng thiếu tri thức thì không ai có thể trở thành một nhà khoa học được, nhưng ngược lại, không thể đạt được điều đó nếu chỉ đơn thuần dựa vào tri thức Nói cách khác, cần phải bàn đến con người như một chủ thể nói chung, chứ không chỉ riêng hoạt động nhận thức Triết học rốt cục phải hướng nhiệm vụ chính của mình là giải đáp những vấn đề mà
ai cũng băn khoăn trong cuộc đời mình Ý nghĩa của triết học không dừng lại ở những vấn đề nhận thức luận đơn thuần Nhấn mạnh tính chất thực tiễn của thế giới quan con người; Ông viết: “sự thông thái nói chung chủ yếu thể hiện trong hành động, hơn là trong tri thức” Triết học chứa đựng ý niệm về sự thông thái một cách hoàn hảo Nó phải vạch ra những mục đích tối cao của con người về phương diện các giá trị đạo đức Cho nên “nếu như tồn tại một khoa học thực sự cần cho con người thì đó là khoa học mà tôi đang dạy, cụ thể là, xác định cho con người một vị trí xứng đáng trong thế giới từ đó có thể học được cái điều mà ai cũng phải học để làm người” Khoa học đó chính là triết học với mục đích tối cao là xác định bản chất con người Để làm được điểu đó, nó phải lý giải các vấn đề sau:
“ Tôi có thể biết được cái gì ?
Tôi cần phải làm gì ?
Tôi có thể hy vọng cái gì ?”
Trang 17Ba vấn đề trên là sự khái quát những điều mà ai cũng trăn trở trong cuộc sống
thưòng ngày Đồng thời chúng cũng phản ánh ba khía cạnh cơ bản nhất trong mối quan hệ “con người – thế giới”, đó là: nhận thức, thực tiễn và giá trị Vấn đề thứ nhất đơn thuần mang tính nhận thức luận được nghiên cứu trong triết học lý luận của Cantơ Vấn đề thứ hai mang tính thực tiễn được nghiên cứu trong triết học thực tiễn, vấn đề thứ ba bao hàm cả khía cạnh lý luận và thực tiễn được nghiên cứu trong thẩm mỹ học của ông Toàn bộ triết học Cantơ, vì vậy, chứa đựng đầy tinh thần nhân đạo, với mục đích đem lại cho con người một cách nhìn mới về thế giới và chính bản thân mình, đưa con người tới tự do và hạnh phúc Bản chất của triết học như cách hiểu của Xôcrát, là tự ý thức của con người về chính bản thân mình Và đối với con người thì cái cao quý nhất là sự tồn tại của bản thân mình, là hạnh phúc của mình Không thoả mãn với các hệ thống triết học Trước đây, Cantơ tìm cách xây dựng một hệ thống triết học thực sự mới của mình xuất phát từ những quan niệm trên
2.2.1.4 Triết học lý luận của Cantơ
Triết học lý luận của Cantơ chủ yếu đề cập đến những vấn đề nhận thức luận và lôgíc học với mục đích xây dựng một nền tảng thế giới quan mới cho con người, xác định đối tượng và giới hạn của tri thức con người hay theo ngôn ngữ của Cantơ, nhằm giải đáp vấn đề “Tôi có thể biết được cái gì ?” Xem xét lại các quan niệm triết học truyền thống trên tinh thần phê phán, Cantơ “coi nhiệm vụ phê phán này của lý tính tư biện thuần tuý là thay đổi phương pháp nghiên cứu trước đây trong siêu hình học, cụ thể là tiến hành một cuộc cách mạng triệt để trong nó”
– Nhiệm vụ cơ bản của triết học lý luận và vấn đề vật tự nó
Chịu ảnh hưỏng mạnh mẽ của sự phát triển khoa học tự nhiên lý thuyết thế kỷ XVII – XVIII, cũng như nhiều nhà triết học cận đại, Cantơ đòi hỏi ở các tri thức khoa học
và triết học một sự hoàn hảo tuyệt đối, coi đó là lý tưởng của tri thức con người Cả ông lẫn Hium và Lépnít đều cho rằng, khoa học thực sự phải dựa trên những tri thức tiên nghiệm (apriori) với hai đặc tính cơ bản là phổ quát và tất yếu Do chưa thoát ra khỏi quan niệm siêu hình tách rời các mặt đối lập một cách tuyệt đối, Cantơ cho
Trang 18rằng mọi sự vật trong thế giới bên ngoài chúng ta chỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất và
cá biệt Điều đó buộc Cantơ phải lựa chọn một trong hai quan niệm
Thứ nhất, nếu khẳng định mọi tri thức chúng ta đều là sự phản ánh các sự vật của thế giới khách quan bên ngoài, thì phải thừa nhận mọi khoa học và triết học đều chỉ dựa trên những tri thức đơn lẻ, ngẫu nhiên
Thứ hai, nếu đòi hỏi tính phổ quát và tất yếu của tri thức triết học và khoa học thì phải thừa nhận nguồn gốc của chúng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, mà là kết quả sáng tạo của riêng trí tuệ con người
Đứng trước sự lựa chọn trên, Cantơ lập luận, “từ trước tới giờ người ta cho rằng, mọi tri thức của chúng ta đều phải phù hợp với các sự vật Tuy nhiên, ở đây mọi ý
đồ thông qua khái niệm xác lập một cái gì đó tiên nghiệm (apriori) về các sự vật, cái
mà có thể mở rộng tri thức của chúng ta về chúng; kết cục đều thất bại Vì thế… liệu chúng ta sẽ giải quyết những nhiệm vụ của siêu hình học một cách có hiệu quả hơn nếu ta xuất phát từ luận điếm cho rằng, các sự vật phải phù hợp với nhận thức của chúng ta, – và điều này đã đáp ứng hơn với đòi hỏi có được tri thức tiên nghiệm
về chúng” Như vậy, với ý đồ xây dựng nền tảng tri thức tiên nghiệm của khoa học
và tri thức, Cantơ buộc phải thừa nhận “vật tự nó” (Ding an sich) không nhận thức được, mọi tri thức con người không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan tức
“vật tự nó” “Vật tự nó” được Cantơ hiểu theo mấy nghĩa sau: thứ nhất, đó là sự thể hiện những gì thuộc về lĩnh vực các hiện tượng (Phenomen) (được ông đồng nhất với các kinh nghiệm) mà chúng ta chưa nhận thức được; thứ hai, đó là bản chất của mọi vật khách quan tồn tại bên ngoài chúng ta, mà theo ông thì chúng
thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm (transendent) và về nguyên tắc – chúng ta không thể nhận thức được; thứ ba, “vật tự nó” ám chỉ những lý tương là chuẩn mực của mọi
sự hoàn hảo tuyệt đối mà con người không đạt tới được, nhưng đây là những điều
mà nhân loại hàng mơ ước – Chúa, tự do, sự bất diệt của linh hồn Đây là đối tượng của tín ngưỡng, niềm tin của loài người
Trang 19Lẽ dĩ nhiên việc Cantơ thừa nhận “vật tự nó” không nhận thức được không chỉ bởi
do tình huống buộc ông phải lựa chọn trên đây, mà còn do nhiều yếu tố khác Thứ nhất, nhiều nhà tư tưởng trước đó thừa nhận sự tồn tại của Chúa, nhưng giữa họ còn nhiều bất đồng trong việc xác định bản chất và vai trò của Chúa trong thế giới hiện thực Đây là điểm yếu để nhiều nhà vô thần công kích, phủ nhận sự tồn tại của Chúa Để cứu vãn tình hình theo tinh thần duy tâm, Cantơ coi Chúa – tự do – linh hồn bất diệt là những cái không thể biết, tức là “vật tự nó”; Thứ hai, bản thân vấn đề quan hệ tư tưởng – hiện thực vẫn luôn là vấn đề phức tạp mà giữa các nhà triết học vẩn chưa có ý kiến thống nhất “Vào thời Cantơ, sự hiểu biết của chúng ta về những
sự vật tự nhiên hãy còn khá vụn vặt, đến nỗi ở đằng sau mỗi sự vật ấy người ta còn
có thể cho rằng còn có một “vật tự nó” bí ẩn đặc biệt nữa” Bên cạnh nhiều mặt hạn chế như Cantơ đặt giới hạn nhận thức con người trước “vật tự nó”, duy trì lập
trường nhị nguyên trong quan niệm về thế giới mà Hêghen cũng như các nhà kinh điển Mác – Lê-nin nhiều lần phê phán, thì quan niệm “vật tự nó” của Cantơ vẫn chứa đựng nhiều ý nghĩa tích cực nhất định Một mặt, nó khẳng định tồn tại các sự vật khách quan bên ngoài chúng ta Trên góc độ này, theo nhận xét của Lênin,
Cantơ thể hiện như một nhà duy vật Mặt khác, nó khẳng định tính phức tạp, đầy nghịch lý của quá trình con người nhận thức thế giới cũng như mối quan hệ “con người – thê giơi” nói chung
Quan niệm của Cantơ về “vật tự nó”, theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, là cánh cửa đi vào triết học phê phán của ông Từ đây, ông coi đối tượng của triết học
lý luận của mình không phải là nghiên cứu giới tự nhiên như bản thân nó như nhiều nhà triết học trước đây quan niệm, mà là nghiên cứu hoạt động nhận thức của con người xác định những quy luật và giới hạn của trí tuệ con người, biến triết học thành lý luận vể chủ thể Theo nghĩa đó, ông gọi là triết học tiên nhiệm với nhiệm
vụ trước tiên là nghiên cứu con người như một chủ thế hoạt động Trên cơ sở thừa nhận “vật tự nó”, Cantơ khẳng định triết học và khoa học phải dựa trên các tri thức tiên nghiệm mang tính phổ quát và tất yếu, về cơ bản khác những tri thức kinh nghiệm cảm tính Ông phân biệt sự khác nhau giữa hai dạng tri thức, suy lý; chẳng hạn “tất cả các loài thiên nga đều màu trắng” với “mọi sự vật đều quảng tính” Mệnh đề thứ nhất mặc dù cũng mang tính chung nhất và tất yếu nhưng là kết quả quan sát của chúng ta từ xưa đến nay chỉ thấy một loại thiên nga màu trắng Vì thế
Trang 20nó có thể bị bác bỏ nếu như lúc nào đó ta quan sát thấy có loại thiên nga màu khác, tức là nó vẫn thuộc về kinh nghiệm cảm tính Mệnh đề thứ hai tiên nghiệm Nó là kết quả khái quát của tư duy lý luận, cho nên đúng ở mọi thời điểm Hơn nữa, Cantơ không coi trọng tri thức phân tích, mà lại đề cao trí thức tổng hợp Sự khác nhau giữa chúng, theo ông, ở chỗ “có thể gọi những mệnh đề dạng thứ nhất là những mệnh đề mang tính giải thích, còn những mệnh đề ở dạng thứ hai – là mở rộng Vì các mệnh đề dạng thứ nhất, thông qua vị ngữ của mình không bổ sung gì thêm vào chủ ngữ cả, mà chỉ bằng cách phân tích, chia chủ ngữ thành những phần nhỏ hơn, trong khi đó các mệnh đề tổng hợp gia tăng cho chủ ngữ cả một vị ngữ mà trước đó bản thân chủ ngữ không thể có được” Chẳng hạn, “chó là một động vật có 4 chân”, theo Cantơ, là một mệnh đề phân tích, vì bản thân khái niệm “chó” đã bao hàm đặc tính của một động vật 4 chần rồi Ở đây, vị ngữ chỉ có tác đụng làm rõ nghĩa thêm cho chủ ngữ Trong khi “7 + 5 = 12” là một suy lý tổng hợp, vì bản thân (7 + 5) mới
ám chỉ tổng của hai số 7 và 5, chứ chưa chỉ ra số nào bằng tổng của chúng
Tương tự, Cantơ kết luận bản thân toán học và các khoa học tự nhiên đã bao hàm các tri thức, các mệnh đề tiên nghiệm tổng hợp rồi Có như thế khoa học mới phát triển được Cho rằng tổng hợp cũng có nghĩa là làm giàu, tạo ra những tri thức mới, Cantơ coi nhiệm vụ cơ bản của triết học lý luận là luận chứng “các mệnh đề tiên nghiệm tổng hợp có được như thế nào ?, tức là làm rõ các tri thức lý luận của khoa học có được như thế nào ông nhận xét: “Siêu hình học từ trước tới giờ nằm trong tình trạng bấp bênh không đáng tin cậy và mâu thuẫn chỉ bởi một nguyên do là nhiệm vụ trên, và có thể thậm trí cả sự khác biệt giữa các suy lý phân tích và tổng hợp cũng vẫn chưa được ai bàn đến Sự bền vững hay bấp bênh của siêu hình học là tuỳ thuộc vào sự giải quyết nhiệm vụ này thoả mãn ở việc chứng minh rằng trên thực tế nói chung không thế nào làm rõ được nhiệm vụ trên”
Việc xác định nhiệm vụ của triết học nhằm luận chứng cơ sở của tri thức lý luận một cách có hệ thống là trong những thành tựu vĩ đại của triết học Cantơ Dựa trên khuynh hướng duy lý của Đềcáctơ, Lépnít và khoa học tự nhiên thế kỷ XVII – XVIII, hơn ai hết, ông nhận thấy vai trò đặc biệt của tri thức lý luận đối với khoa học, coi đây là nên tảng của quá trình nhận thức chân lý con người Vì thế, giải
Trang 21quyết nhiệm vụ trên cũng có nghĩa là luận chứng sự tồn tại của các khoa học lý luận thời đó.
– Quan niệm và cảm tính, không gian và thời gian
Thừa nhận các hiện tượng cảm tính có được là do các sự vật khách quan bên ngoài tác động vào các giác quan của con người nhưng Cantơ cũng như Hium cho rằng, những gì mà con người biết được về sự vật đều chỉ là hình ảnh, quan niệm của con người về chúng, chít chưa phải bản thân các sự vật tồn tại trên thực tế, cái mà ông gọi “vật tự nó” Theo ông, vì chúng ta chỉ biết được về sự vật thông qua các giác quan của mình những gì mà sự vật biểu hiện bên ngoài, tức là hiện tượng, cho nên không bao giờ con người có thể nhận biết được bản chất đích thực của sự vật cả Kể
cả những gì mà con người hiện chưa biết nhưng sẽ biết về sự vật cũng bị ông quy về lĩnh vực kinh nghiệm cảm tính, tức hiện tượng luận (và ông gọi dây là những kinh nghiệm khả năng) Tách rời những gì mà con người khám phá ra về sự vật với bản chất đích thực của vật đó là một trong những đặc điểm cơ bản của triết học phê phán Vì vậy, nhận thức luận (tức triết học lý luận) không phải là nghiên cứu quá trình con người nhận thức, khám phá ra bản chất đích thực của tự nhiên, mà là hoạt động nhận thức của con người như một chủ thể trong khuôn khổ hiện tượng luận Hiện tượng luận (phenomenologie) là giới hạn mọi tri thức con người
Nếu như ở thời kỳ “tiên phê phán”, Cantơ còn chịu ảnh hưởng của các quan niệm của Niutơn, coi không gian và thời gian là những cái thuộc về lĩnh vực “vật tự nó”, thì giờ đây trong triết học phê phán của mình, ông coi không gian là hình thức bên ngoài còn thời gian là bên trong của kinh nghiệm cảm tính Như vậy, chúng đều thuộc lĩnh vực hiện tượng luận Hạn chế các quan niệm này ở chỗ nó tách rời không gian và thời gian với những hình thức tồn tại của vật chất và quá trình vận động của
sự vật, coi chúng là những cái thuộc về lĩnh vực chủ quan của ý thức con người Tuy nhiên, nó gắn không gian và thời gian với đời sống và quá trình hoạt động của con người, đặt vấn đề về bản chất xã hội của chúng
Quan niệm về không gian và thời gian của Cantơ là nền tảng cho các tư tưởng toán học của ông thời kỳ “phê phán” Theo ông, các biểu tượng không gian là cơ sở của các tri thức hình học Mọi lĩnh vực toán học chỉ có thể tồn tại trong khuôn khổ hiện