1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Triết học cổ điển Đức từ Kant đến Hegel – Phần VII doc

17 539 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khoa học tuyệt đối (Triết học)
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tài liệu
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 228,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trở lại nguồn gốc của hệ thống triết học Hegel trong cuốn Hiện tượng luận của Tinh thần, ta sẽ thấy cơ sở của lập trường duy tâm tuyệt đối.. Trong khi trình bày và phê phán mâu thuẫn đó,

Trang 1

Triết học cổ điển Đức từ Kant đến Hegel – Phần VII

Chương VII - KHOA HỌC TUYỆT ĐỐI (Triết học)

Hệ thống triết học Hegel là hệ thống khái niệm qua 3 giai đoạn:

1 Luận lý học là tư tưởng thuần túy phát triển trong phạm vi khái niệm Kết quả của công cuộc phát triển của tư tưởng thuần tuý càng ngày càng cụ thể Nếu mức

cụ thể tuyệt đối thì biến thành tự nhiên

2 Tự nhiên Với những mâu thuẫn trong nội bộ phát triển chuyển lên tinh thần Đây là tinh thần cụ thể của người ta chứ không phải là tư tưởng thuần túy nữa

3 Tinh thần gồm 3 phần:

a) Tinh thần chủ quan (tâm lý cá nhân)

b) Tinh thần khách quan (ý thức xã hội)

c) Tinh thần tuyệt đối (mỹ thuật, tôn giáo và triết học)

Trang 2

Phê phán

Từ tự nhiên lên là một quá trình diễn biến cụ thể và có thực, tuy rằng quan niệm theo duy tâm Nhưng bước quá độ chuyển từ khái niệm tư tưởng thuần túy sang tự nhiên lại là một điểm huyền bí Theo Hegel, tư tưởng xuất phát từ khái niệm đơn giản nhất là khái niệm thực tại (phạm trù thực tại) Do những mâu thuẫn trong thực tại nó chuyển lên thực chất Vì thực tại gồm những sự vật xuất hiện một cách trực tiếp, vậy phải có liên quan với nhau Do những liên quan ấy, ta phải nhận định rằng nó có thực chất Trong thực chất lại xuất hiện mâu thuẫn nội bộ: mâu thuẫn giữa thực chất và hiện tượng, giữa bên trong và bên ngoài Nếu thực chất và hiện tượng là một, thì hai cái không còn mâu thuẫn với nhau nữa, và nó chuyển lên khái niệm, tức là thực chất có thật, thực chất nắm được thực tế Khái niệm lên đến ý niệm thì bao gồm toàn bộ thực tế, vậy ý niệm tức là tự nhiên Đó là bước chuyển

từ ý niệm sang tự nhiên

Marx và Lénine có phê bình đoạn chuyển biến này Cách chuyển biến này chứng minh rằng tự nhiên là chân lý của ý niệm Do đó, tư tưởng phải bắt đầu bằng tự nhiên chứ không thể bắt đầu bằng lý luận được Ý nghĩa chân chính của nó là ý nghĩa duy vật, và không thể nào ta giữ được lập trường tư tưởng thuần túy Vì chính lập trường tư tưởng thuần túy cũng bắt buộc ta phải chuyển sang tự nhiên

Nhưng tại sao Hegel đảo lộn cái chân lý ấy, và cho rằng chính tự nhiên xuất phát

từ tư tưởng thuần túy? Trở lại nguồn gốc của hệ thống triết học Hegel trong cuốn Hiện tượng luận của Tinh thần, ta sẽ thấy cơ sở của lập trường duy tâm tuyệt đối

Cơ sở đó là toàn bộ kinh nghiệm của lịch sử tư tưởng loài người từ Cổ đại đến thời

kỳ cách mạng tư sản Hegel thu thập những kinh nghiệm ấy, nhưng lại đứng về phe thống trị để mà phê phán Hegel có bộc lộ những mâu thuẫn trong xã hội nô

lệ, rồi xã hội phong kiến, nhưng Hegel đã đứng trên lập trường của chủ nô và phong kiến Rồi sau này, Hegel lại đứng trên lập trường giai cấp tư sản mà bộc lộ những mâu thuẫn của xã hội tư bản trong đó con người bị tha hóa Mâu thuẫn cuối

Trang 3

cùng trong tư tưởng tư sản là mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tế Trong cách mạng thì giai cấp tư sản đề ra khẩu hiệu đấu tranh chống phong kiến, để thống nhất xã hội trên cơ sở tự do bình đẳng Nhưng trong thực tế khách quan, khi cách mạng đã hoàn thành, thì nó làm ngược lại Trong khi trình bày và phê phán mâu thuẫn đó, Hegel vẫn đứng trên lập trường tư sản: Hegel công nhận rằng lý tưởng

ấy không thể thực hiện được trong thực tế, nhưng Hegel duy trì nó, và nói rằng nó

có thể thực hiện được trong tinh thần Theo Hegel, sở dĩ nó thực hiện được là nhờ

có ý thức bản ngã của tinh thần, tức là tôn giáo chuyển lên hình thái triết học duy tâm tuyệt đối Hegel đã giải quyết những mâu thuẫn của tư tưởng giai cấp thống trị trên cơ sở giai cấp thống trị Do đó, Hegel biện chính cho chế độ thống trị trong tinh thần, trong phạm vi tư tưởng, vậy nhất định cũng phải biện chính nó trong thực tế Xét hệ thống triết học duy tâm tuyệt đối, ta thấy Hegel đi đến chỗ biện chính cho chế độ chính trị hiện hành, tức là chế độ quân chủ lập hiến của Nhà nước Phổ[14] lúc bấy giờ Hegel đã bác bỏ những thành tích tương đối tiến bộ của cách mạng tư sản trong giai đoạn «tự do tuyệt đối và chế độ khủng bố» và cho rằng tự do tuyệt đối không thể thực hiện được Rồi một khi đã phát triển hệ thống triết học, ông lại kết luận rằng chính Nhà nước Phổ đã thực hiện được tự do tuyệt đối

Vì sao với một phương pháp tư tưởng có phần căn bản chân chính, có bộc lộ được những mâu thuẫn thực sự trong lịch sử mà Hegel lại đi đến chỗ bảo thủ, đề cao chế

độ Nhà nước Phổ là chế độ phản động nhất nhì ở Âu châu, sau Nga Hoàng?

Tại sao Hegel lại kết luận rằng chính chế độ quân chủ lập hiến của Phổ đã thực hiện được ý niệm tự do tuyệt đối?

Đó là vì phương pháp biện chứng ngay từ đầu đã bị lộn ngược Ngay từ đầu, Hegel đã đứng trên lập trường của phe thống trị mà bộc lộ mâu thuẫn, từ chủ nô đến phong kiến đến tư sản Đến giai đoạn tư sản thống trị thi Hegel đề cao tất cả những chế độ thống trị cũ, cho rằng những chế độ ấy đều là đúng, và những tôn

Trang 4

giáo cũ đều là chân chính cả Trong đó còn có những phần thiếu sót mà Hegel tự đảm nhận trách nhiệm sửa chữa và hoàn thành

Nhưng dù sao, với cách sử dụng biện chứng pháp đó Hegel cũng có nắm được những phạm trù phổ cập nhất của thực tại biển chuyến, và chính những phạm trù

đó lộn lại sẽ thành cái tiền đề cho phương pháp biện chứng duy vật Marx và Engels đã có công trình rút kinh nghiệm của biện chứng pháp duy tâm và bộc lộ phần chân chính của nó, phát triển biện chứng pháp duy vật

12-6-1956

GHI CHÚ

(Phần Hegel)

Schelling

Bản ngã không là tuyệt đối mà cả tự nhiên nữa Tự nhiên và bản ngã là 2 mặt của thực thể tuyệt đối (khác Fichte cho bản ngã là tuyệt đối), nhưng đây là cái Tôi tuyệt đối đã đặt ra cái tôi cá nhân và khách quan Cái tôi tuyệt đối là tôi đặt ra chân

lý và nó bao gồm tự nhiên và cái tôi cá nhân So sánh với Schelling, Kant còn cho cái tôi là hữu hạn, không biết được thế giới tự tại

Tôi của Descartes là cá nhân và nhờ Thượng đế bảo đảm Hai mệnh đề của Fichte hiểu theo duy vật: «Chính quá trình sáng tạo của nhân loại đã đặt ra quan hệ của tự nhiên và cá nhân» Cả 2 quan hệ về mặt thực tiễn và lý luận đều phải thông qua cái chủ quan nhân loại - cái tôi, phổ cập và tuyệt đối - Fichte nhằm phê phán sự kiện con người sáng tạo ra xã hội tự nhiên trong đó có cá nhân

Trang 5

- Đề cao lao động trí óc Kant còn hạn chế (vật tự tại), Fichte không còn hạn chế nhưng nội dung còn nghèo nàn và bị hạn chế trong 2 phương diện: khoa học, thực tiễn Tôi xây dựng thế giới trong khoa học - thực hiện nhiệm vụ

Hegel còn thêm khoa học xã hội thống nhất khoa học tự nhiên và nhiệm vụ

Hegel là người sáng lập hệ thống triết học duy tâm Marx đã bắt nguồn một phần ở đây

+ Schelling đối với Jacobins[15] Thể hiện 2 điểm:

- Duy tâm hơn Fichte là không công nhận chủ quan là tuyệt đối, vì như thế là đề cao sự sáng tạo của giai cấp tư sản Schelling phê phán giai đoạn xuống của tư sản, chuyển biện chứng pháp chủ quan vào khách quan Khách quan đây có tính chất thần bí ở chỗ vận dụng biện chứng pháp một cách lúng túng, không cơ sở

Trong Schelling: tuyệt đối là một quá trình biện chứng của mỹ thuật là có thể hình dung được

Schelling sáng tác vào giai đoạn xuống của cách mạng Pháp: Barras[16] truy tố Jacobins

- Napoléon[17] 2 lần cũng vì sợ Jacobins, không dám kêu gọi nhân dân lúc ở Đức

về, không nghe lời Lazare Carnot[18] lần 2 lúc ở đảo Elbe[19] về

+ Phong trào Bavery[20] vượt quá mức tư sản nữa

+ Biện chứng pháp của Schelling không dựa vào ý thức mà vô ý thức, còn Fichte

là biện chứng pháp của ý thức «tôi» đặt Trong Schelling, ý thức là một động cơ căn bản, không là nguồn gốc như với Fichte

Trang 6

+ Kant: yếu tố biện chứng căn bản là chủ quan sáng tạo ra khách quan - sinh ra mâu thuẫn Chủ quan tạo ra khách quan là cái mâu thuẫn với nó Nhưng mâu thuẫn trong Kant còn máy móc, chỉ mới có hạt nhân, chưa vận dụng được phương pháp biện chứng Fichte kế tục, không lấy lại những mâu thuẫn này nhưng dùng phương pháp

+ Đả phá tư tưởng duy tâm: căn bản để đưa về duy ngã, vậy thì nói với ai?

- Dùng lịch sử để chứng minh là duy tâm cũng có tính chất duy vật, vì có phê phán một giai đoạn lịch sử và giai cấp nhất định

Đến một trình độ nào tư tưởng Kant hạn chế khoa học:

- Thực tế khoa học tự nhiên bị bế tắc (sinh vật vì không có điều kiện xây dựng một số thực nghiệm hay đặt một số vấn đề)

+ Ý thức cảm giác: Căn bản là sự tranh luận giữa hai phái cảm giác và khái niệm

Phái cảm giác cho cái căn bản là cảm giác, còn khái niệm và lý luận là suông (có

cả duy tâm và duy vật) Phái khái niệm là hệ thống từ Platon-Hegel cho cái mà nắm vững là đại thể, khái niệm

(Liên hệ: cảm giác chủ nghĩa và hình thức chủ nghĩa, lý luận suông) Truyền thống

có từ Cổ đại cho đến bây giờ Hegel tổng kết thôi: Hegel lấy cảm giác với ngay nội dung của nó Phân tích và nêu mâu thuẫn trong nó Cảm giác thay đổi luôn, không

có gì nắm vững chắc (Phật cho thế gian là mơ hồ), cái mà ta tưởng nắm được trong cảm giác có tính cá thể thì sự thực chỉ là khái niệm, đại thể Đối tượng cảm giác biến chuyển luôn, nên tư tưởng ngây thơ của cảm giác thực ra rất mơ hồ Lúc cảm giác muốn định nghĩa một cá thể phải dùng những khái niệm đại thể

(Cuộc tranh luận Platon-Héraclite)

Trang 7

Phê phán của Hegel từ trong, nằm trong cảm giác trên mâu thuẫn của nó Điểm duy tâm của Hegel là chỉ nêu mâu thuẫn trong tinh thần, và chỉ tinh thần thôi, nên

đi đến chỉ có đại thể là thực tại, thoát hẳn kinh nghiệm Hegel lộn đầu: một khái niệm là do một mức của phát triển sản xuất, lúc đó ta mới có mâu thuẫn trong cảm giác, và đòi hỏi một sự nắm vững chắc, nhưng Hegel không thấy sự phản ánh thực

tế đó, mà cho quá trình ấy hoàn toàn ở tinh thần, không dựa vào đâu, nên duy tâm lộn đầu

+ Tri giác: đã nắm được đại thể nhưng còn có tính chất cảm giác, những thuộc tính

mà ta nhằm trong cảm giác - mâu thuẫn tính đại thể của thuộc tính và tính cá thể của vật có thuộc tính đó Do sự gắn liền với cảm giác với cá thể nên tri giác vẫn chưa nắm được Giải quyết: lấy sự thay đổi theo cá thể là do sai lầm chủ quan như thô sơ xây dựng được một đối tượng có tính chất khách quan

Nhưng lại xuất hiện mâu thuẫn mới: những vật mà tôi định nghĩa là những vật cá thể có liên quan với nhau, vậy cái gì là chân lý, vật ấy hay quan hệ của chúng Thực ra vật thể luôn biến đổi, vậy nó không thể là chân lý, vậy có quan hệ của chúng là có nghĩa, quan hệ này là siêu giác, ta tính toàn bằng trí tuệ

Thực tế, khoa học cận đại phát hiện quan hệ là khẳng định và bổ túc thêm sự tồn tại của thực tế, nhận định tri giác và cảm giác trên cơ sở của chúng, nhưng Hegel phủ định hoàn toàn và chỉ giữ lấy quan hệ hoàn toàn trong tinh thần nên phủ định thực tại

Về điểm này Hegel chỉ tổng kết triết học duy tâm cận đại thôi (Descartes, Kant: phê phán quan niệm thuộc tính, đặt quan hệ toán pháp là nội dung thực tế - phê phán tri giác) Nhưng Hegel đã mô tả đúng trong tinh thần, và đặc sắc là cách vận dụng phương pháp (cái bàn nếu định nghĩa bằng chất gỗ, vuông, tròn thì ta chưa thực nắm được mà bằng công thức của gỗ và những phản ứng của nó chẳng hạn

Trang 8

thì chúng ta nắm được tính chất hơn, nhưng Hegel cho chỉ định nghĩa theo cách 2 mới nắm được còn cách đầu bị phủ định)

+ Không phải học thuyết triết học như Hegel quan niệm: ví dụ phương pháp cảm giác tức phương pháp luận lý triết học lấy cảm giác làm căn cứ

+ Ý thức bản ngã

Mâu thuẫn đại thể và cá thể trong Hoài nghi: Đại thể là chân lý giá trị, cá thể là vô giá trị Hoài nghi cho mọi cái là vô giá trị, nhưng như thế nó có một giá trị tuyệt đối (tự đề cao) Thực ra, lúc phê phán sự việc cũng là tự phê phán, nhưng nó vẫn

đi đôi với tự đề cao về phương diện cảm thức Ý thức hoài nghi đi từ cái nọ sang cái kia, nhưng nó nắm cả 2 (phê phán và đề cao) - trong lịch sử tư tưởng, để đáp lại Hoài nghi có một cách: «Chủ nghĩa hoài nghi có giá trị không?» - Lúc đặt hai vấn đề một lượt là chuyển sang tư tưởng gian khổ (Trong lịch sử, các nhà hoài nghi không đáp: Pyrrhon[21] - hoài nghi nổi tiếng đi vấp vào tường không biết có đau không)

+ Nhiều thứ anh hùng cá nhân: phong kiến nhằm hiển vinh Thái ấp và cuối cùng lên vua Còn tư sản thì dựa vào quan niệm tốt xấu cá nhân, nhận định chủ quan mà cải tạo thế giới

+ Khi ý thức nhận được phê phán và đề cao cùng một lúc thì cũng là lúc Hoài nghi

đi từ cái này sang cái kia để thoải mái hơn (từ đại thể sang cá thể, và khi sang Tâm hồn gian khổ thì không bao giờ hưởng được gì: nhận thấy tôi là có giá trị nhưng lại thấy không xứng đáng với giá trị đó (Pascal[22]: «Nếu tự cao, tôi dìm nó xuống, nếu tự ti, tôi kéo nó lên»)

Sự thực, từ Hoài nghi lên Tâm hồn gian khổ không phải tự nó mà là do sự khủng hoảng cuối nô lệ, lúc đầu nó bị đe dọa và còn tin tưởng vì có Khắc kỷ Khi trầm trọng hơn và trong tầng lớp thấp hơn, sinh ra Hoài nghi: tự bảo vệ, tiêu cực Đó là

Trang 9

thái độ của thống trị khi tan rã Khi phủ nhận cái cũ thì sự thực là phần nào, một cách tiêu cực, nó công nhận một tình thế mới Đến lúc tan rã hẳn và sang chế độ mới, nó phải có biện pháp 2 giai đoạn: công nhận chế độ mới một cách tích cực (tự thấy vô giá trị - chủ nô đồng hóa với nô lệ: thời Hoàng đế La Mã), đồng thời nó vẫn giữ ý thức thống trị cũ với tính chất một giá trị đã mất đi rồi, đã xa xôi, nó đã

từ Thiên đường xuống thế gian (Pêché originel, tội tổ tông) Bị trị: cá nhân vô giá trị Hồi tưởng Thiên đường cũ xa xôi: giá trị đại thể xa

+ Tái lập quyền thống trị dưới hình thức phong kiến công nhận phần nào quyền làm người của bị trị dưới hình thức ban ơn Thể hiện trong tư tưởng: nó đã xa chân

lý, nhưng chân lý chỉ là nó thôi, Thượng đế cũng là ta thôi (chế độ phong kiến: Thượng đế - bọn chúa phong kiến vẫn là thống trị, lệ nông là người); nhân loại được cứu thế sau khi Gia Tô lên trời Sau giao ước thì chủ nô trở thành Chúa và nô

lệ được thành người, nhưng chỉ cứu thế ở trên trời thôi, bình đẳng ở Thiên đường (sức hấp dẫn của Gia tô là ở chỗ đó)

+ Cấm dục là của phong kiến chống lại cá nhân chủ nghĩa Chịu ảnh hưởng phong kiến, tiểu tư sản và tư sản cũng sử dụng hình thức này để phục vụ các quyền lợi giai cấp của mình, nhưng trong ý thức thì quá trình diễn biến là như Hegel trình bày

+ Hegel:

Trong quan niệm thì làm ăn là do Thượng đế ban ơn nhưng thực ra là tự nó

Nhưng trong thực tế bấy giờ, mọi người sản xuất vẫn quan niệm do Chúa nên phải tìm công lao của mình, «đưa về cho Chúa» Đến một lúc nào đấy người là chính

Người là bản ngã ý thức trong Tâm hồn gian khổ, thấy mình bị đầy trong thế giới rồi đi đến quan niệm thế giới là mình Nhưng Hegel nói ngược lại: mình là thế giới

- duy tâm hóa ý thức bản ngã tự cho mình là thế giới Sự phê phán của Hegel là có thực, nhưng không cho thấy là phương thức sản xuất mới quy định thế giới mà cho

Trang 10

là ý thức bản ngã tự thực hiện mình Quá trình phong trào chống phong kiến thì đã trở thành quá trình diễn biến của Lý tính

+ Lý tính là sự phê phán trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản trên 3 mặt:

Khoa học tự nhiên góp phần phát triển sản xuất Sự phát triển khoa học thế kỷ XVI, XVII, XVIII có tác dụng đấu tranh giai cấp thực sự chống kinh viện (Vũ trụ quan)

Đạo đức: Chống đạo đức và trật tự xã hội phong kiến bằng hưởng lạc và anh hùng

cá nhân và chủ nghĩa đạo đức (hy sinh cá nhân để cải tạo thế giới và đặt thành nhiệm vụ chung)

Thế giới quan: lấy quan niệm đời sống mới chống lại quan niệm đời sống cũ: quan niệm cá nhân chủ nghĩa lấy sự kiểm nghiệm cá nhân làm chân lý: «tôi làm ra sự nghiệp, và sự nghiệp của tôi là tôi» Lấy luật pháp mình đặt ra: sự cụ thể hóa lương tâm bằng một số mệnh đề, pháp luật (đây là tư tưởng tương đương với thái

độ anh hùng); như thế nào là người sinh cá nhân (mệnh pháp phổ cập)

+ Ghi chú ở chương 5 - Lý tính

- Sinh hoạt tôn giáo gồm 3 mặt:

Sùng bái - nhiệt tín

Làm ăn - lao động, hưởng thụ

Tự phạt, cấm dục

- Nơi sinh hoạt thực tế: lao động và tổ chức sản xuất đều ở trong Gia Tô nên nó thành một giai đoạn ý thức

Ngày đăng: 25/01/2014, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm