3 Bài 3, Thực hành đo điện trở H chưa luyện tập định luật Ôm Có thể thay bằng tiết bài tập về định luật Ôm vì quá ít thời gian làm bài tập.. Sai số rất lớn -Bỏ, và đưa vào bài tập -Có th
Trang 1BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH
VÀ SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÝ LỚP 9
Năm học 07-08
-o0o -I/ Đánh giá chương trình vật lý 9: (SGK xuất bản 2005)
1 Ưu điểm:
Kiến thức có tính hiện đại, hữu ích, chẳng hạn các kiến thức về ánh sáng, màu sắc
Tăng cường tính thực tiễn
Chú trọng thực hành, phù hợp với đặc trưng bộ môn
Kích thích tính tự giác, chủ động của học sinh
2 Hạn chế:
Chương trình quá chú trọng đến yêu cầu “phát hiện kiến thức từ thực nghiệm” trong khi thiết bị thực hành, công cụ hỗ trợ giảng dạy còn thiếu, kém chất lượng, mau hỏng, thiếu chính xác
Nặng về kiến thức, cung cấp nhiều kiến thức trong một tiết học
Ít thời gian để rèn kỹ năng giải bài tập, trong khi bài tập trong sách bài tập có yêu cầu cao
II/ Đánh giá sách giáo khoa Vật lý 9:
1 Bài 1, Mục II,
trang 5 Kiến thức về hàm số của H quá ít, H không
hiểu U và I tỉ lệ thuận
-Cần bổ sung phần ôn lại hiệu điện thế và cường độ dòng điện đã học từ lớp 7
- Sau khi hòan tất thí nghiệm, dựa vào bảng 1 đủ để kết luận U và I tỉ lệ thuận (theo hướng đại lượng này tăng bao nhiêu lần thì đại lượng kia tăng bấy nhiêu lần) Đồ thị chỉ để học sinh khá tham khảo
3 Bài 3, Thực
hành đo điện trở H chưa luyện tập định luật Ôm Có thể thay bằng tiết bài tập về định luật Ôm vì quá ít thời gian làm bài
tập
4 Bài 4 -C2 trang
11
-Mục II.3 trang
12
-Việc chứng minh này không đơn giản với đa
số H, không cần thiết phải thuộc công thức này
- Thí nghiệm phức tạp
Sai số rất lớn
-Bỏ, và đưa vào bài tập
-Có thể thí nghiệm kiểm chứng bằng cách đo điện trở của mạch nối tiếp gồm hai điện trở, rồi so sánh với giá trị ghi sẵn trên mỗi điện trở Cách này
dễ làm hơn
5 Bài 5,-C2 trang
14 (như bài 4)(như bài 4) -(như bài 4)-Sau mỗi bài 4 và 5 bắt buộc phải
Trang 2-Mục II.2 trang
15 có 1 tiết luyện tập để học sinh có đủ thời gian hiểu sâu ba công thức của
mỗi bài
6 Bài 6, Các bài
tập Nên cho H luyện tập mạch hỗn hợp Thay bằng các bài tập dạng mắc hỗn hợp cơ bản (R1 nt (R2//R3) và (R1 nt
(R2//R3)
7 Bài 7, Mục III
trang 21 Nhiều bài tập và quá khó Chỉ nên vận dụng đơn giản để học sinh hiểu được “chiều dài tăng/giảm n
lần thì R cũng tăng/giảm n lần và ngược lại
8 Bài 8: -Mục II
trang 23
-Mục III trang
24
-So sánh S2/S1= d2/d1 gây khó khăn không đáng có
-Nhiều bài tập và quá khó
-Thiết kế lại, để so sánh S2/S1=R1/R2 ( cho S thay vì cho d)
- Chỉ nên vận dụng đơn giản để học sinh hiểu được “tiết diện tăng/giảm n lần thì R cũng tăng/giảm n lần và ngược lại
9 Bài 9: -Mục III
trang 27
-Nhiều bài tập và quá khó, vì xây dựng khái niệm điện trở suất không dễ
-Nên vận dụng đơn giản công thức điện trở Bài tập khó đã có trong sách bài tập
12,13 Bài 12, 13:
Trang 34-39
Xem lại thứ tự của hai bài này
Thông báo khái niệm, công thức tính công của dòng điện Bài sau xây dựng khái niệm công suất
13 Bài 13:C6 trang
39
Khó và mất thời gian Thông báo 1kwh=3600000J
14 Bài 14: Các bài
tập trang 40-41 Các dạng quá khó Công thức tính A và P khá nhiều, nên thay bằng các bài cơ bản để rèn kỹ
năng vận dụng các công thức về A và P
15 Bài 15: Mục II.2
trang 42
Vì bài quá dài, và vì dụng cụ thí nghiệm làm cho giá trị cần đo thay đổi liên tục, học sinh rất
khó đo, dẫn đến tính kiểm chứng không
chính xác
Bỏ mục này
16 Bài 16: Câu C5
trang 45 Khó Nên vận dụng đơn giản hơn
17 Bài 17: Bài 3
trang 48 Khó Bỏ bài này, đưa vào sách bài tập
18 Bài 18: Cả bài
trang 49
Dụng cụ không đạt, kiến thức H chưa vững, thao tác thí nghiệm cần phải thật chính xác
Dành thời gian cho các tiết bài tập mạch điện sau các bài mạch nối tiếp, mạch song song
29 Bài 29: Cả bài H rất khólàm thí Thiết kế lại dụng cụ thí nghiệm theo
Trang 3trang 79-80 nghiệm như yêu cầu hướng dễ thực hành hơn.
31 Bài 31: Mục I
trang 85 Đi-na-mô xe đạp hiện không phổ biến, H
không biết, nên lại mất thời gian giải thích
Như vậy, mục đích gây hứng thú đầu giờ học bị phá sản
Bỏ mục này
33 Bài 33: Mục I
trang 90
Kết luận mục này mâu thuẫn với việc giải thích
sự đổi chiều của dòng điện trong khung dây quay trong từ trường
Thiết kế như sách cũ (tức là dòng điện làm kim điện kế lúc lệch bên này, lúc lệch bên kia vị trí 0 để học sinh thấy dòng điện có chiều và cường độ luôn thay đổi ) còn nguyên nhân đổi chiều dòng điện được khảo sát kỹ ở cấp 3
35 Bài 35: Mục III:
trang 96 Kiến thức về giá trị hiệu dụng khó hiểu Bỏ ý này.
40 Bài 40: Mục II:
trang 110
Thí nghiệm kiểm tra:
Phương pháp che khúât làm cho đa số H không hiểu bài
Thiết kế lại, chẳng hạn làm một dụng
cụ chiếu một chùm sáng mạnh (laser chẳng hạn) từ dưới nước lên
42 Bài 42: Câu C4
trang 114 Khó, vì đây là thí nghiệm minh họa Bỏ ý sau “Tìm cách kiểm tra điều này”
43 Bài 43: Mục I:
thí nghiệm trang
116
Bảng 1 yêu cầu quá cao
và quá nhiều thí nghiệm đối với H
Chỉ thí nghiệm 2 trường hợp: Vật ngoài OF, vật trong OF Không phân biệt d>2f và 2f>d>f
46 Bài 46: Cả bài
trang 124-125
Bài này H không thực hiện được và thiết nghĩ kiến thức này nên được tinh giảm khi chương trình đã quá hàn lâm
Thay tiết này bằng tiết bài tập về thấu kính vì quá ít tiết bài tập
49 Bài 49: Mục I:
trang 131
“điểm Cực viễn của mắt phải trùng với tiêu điểm” Muốn hiểu điều này, học sinh phải nắm thật chắc sự di chuyển của ảnh qua thấu kính phân kỳ khi vật di chuyển Điều này rất khó đối với đa số học sinh
Không nên đề cập đến ý này Nếu có thì chỉ dành cho học sinh khá giỏi trong phần bài tập có dấu sao
50 Bài 50: Số bội
giác trang 133
Nên tinh giảm vì kiến thức này dễ gây lầm lẫn, khó diễn đạt cho học sinh hiểu nó, và học sinh thiếu nhiều thời gian luyện tập
Bỏ khái niệm này, kết hợp làm bài tập
về kính lúp (trường hợp vật trong tiêu cự)
Trang 451 Bài 51: Các bài
tập trang 135 Nên có các dạng điển hình Thiết kế lại theo các dạng điển hình.
III/ Đánh giá chung về chương trình, sách giáo khoa Vật lý 9:
Với chương trình, sách giáo khoa mới, tôi nhận thấy rất khó khăn khi hướng dẫn học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức như yêu cầu căn bản của việc đổi mới phương pháp dạy học vì
Chương trình đưa nhiều kiến thức mà học sinh khó tự lực phát hiện, hiểu được nó
Số lượng học sinh trong một nhóm quá đông
Trình độ học sinh không đồng đều, ý thức học của một bộ phận không nhỏ học sinh quá thấp
Khả năng hợp tác trong họat động nhóm chưa cao
Dụng cụ thí nghiệm trong các thí nghiệm định lượng rất khó cho những kết quả chính xác
Thiếu phòng bộ môn, máy vi tính màn hình lớn để hỗ trợ
IV/ Đề xuất và kiến nghị:
Ngành giáo dục cần có một đánh giá một cách sâu sắc, tòan diện, có tính thực tiễn, đánh giá một cách khách quan tòan bộ chương trình, từ đó hòan thiện chương trình, chỉnh sửa sách giáo khoa một cách hợp lý để giáo viên thuận lợi khi lên lớp, học sinh có thể tự lực chiếm lĩnh kiến thức một cách dễ dàng, có hứng thú trong việc học
Tôi cũng mong Bộ có thể tiếp thu những ý kiến về viết sách giáo khoa đã xúât hiện trên mặt báo: Bộ chỉ quy định chương trình khung, hoặc kỹ hơn, quy định nội dung chính cho từng chương và số tiết chương đó, còn hãy cho các nhà giáo có trình độ, có năng lực và đang trực tiếp giảng dạy viết sách Chính họ mới biết kiến thức nào gây khó khăn cho học sinh, và kinh nghiệm giảng dạy mới cho họ biết cách nào để học sinh nắm được kiến thức
đó dễ dàng Chỉ cần một tỉnh, có một cuốn sách vật lý 9, thì cả nước có hơn 60 cuốn sách để giáo viên lựa chọn Vả lại, các môn khoa học tự nhiên không bao hàm các yếu tố nhạy cảm
về chính trị
Vài ý kiến chủ quan nhưng tâm huyết, nếu có gì phạm thượng mong được lượng thứ
Hòa Hưng ngày 5/4/2008
GIÁO VIÊN: NGUYỄN VĂN THI Nguyenvanthi27@yahoo.com.vn
-o0o -(P/S: Tôi mạnh dạn đưa vấn đề này lên, với một mong muốn duy nhất: Mong sự phê bình
của Quý Thầy Cô Nhân đây, chúng ta hãy xây dựng một diễn đàn góp ý cho SGK (tôi có ghé qua các diễn đàn, nhưng không thấy, hoặc rất ít ý kiến nhận xét về SGK một cách chi tiết, chỉ phê bình chung chung.)