Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn Nguyễn văn vịnh Những công trình đã công bố liên quan đến đề tài của luận án: Thế giới quan trong Triết học trung qu
Trang 1Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Nguyễn văn vịnh
Những công trình đã công bố liên
quan đến đề tài của luận án:
Thế giới quan trong Triết học trung quốc cổ đại
Chuyên ngành: CNDVBc và CNDVLS Mã số: 50102
Hà Nội - 2002
Trang 2môc lôc
Trang
Trang phô b×a
Lêi cam ®oan
Môc lôc
1.3.2 KhÝ vµ §¹o – Hai kh¸i niÖm quan träng trong vò trô quan Trung
Trang 32.2.1 T- t- ëng chÝnh trÞ trong Kinh DÞch vµ thiªn Cöu trï Hång Ph¹m 72
Trang 4Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, ch-a công bố ở đâu Những tài liệu trích dẫn trong công trình này là hoàn toàn chính xác
Trang 5PHầN Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Tính cấp thiết về mặt lý luận
Hiện nay xu h- ớng nghiên cứu về văn hoá ph- ơng Đông nói chung
và triết học ph- ơng Đông nói riêng đã chiếm một vị trí quan trọng trong giới học thuật của nhiều quốc gia trên thế giới ở n- ớc ta trong lĩnh vực khoa học lý luận triết học cũng vậy ở một số các cơ quan nghiên cứu, các tr- ờng đại học, triết học ph- ơng Đông trở thành một ngành nghiên cứu, một môn học bắt buộc và đ- ợc dành cho một thời l- ợng khá lớn Trong khuôn khổ của đề tài này chúng tôi không đề cập đến toàn bộ phần triết học ph- ơng Đông nói chung mà chỉ đề cập đến vấn đề thế giới quan của nền triết học của Trung Quốc thời cổ đại (từ 221 Trcn về tr- ớc) Mặt khác theo chỗ chúng đ- ợc biết cho đến nay ch- a có nhiều
những công trình chuyên biệt nghiên cứu riêng về thế giới quan của triết
học Trung Quốc cổ đại Hơn nữa việc đánh giá chung về vai trò của triết học Trung Quốc còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ng- ợc nhau Ngay tại Trung Quốc, cái nôi sinh ra nền triết học này, qua các thời
đại khác nhau, triết học cũng trải qua nhiều thăng trầm với nhiều sự đánh giá khác nhau; khi thì đề cao đến sùng bái, khi thì phê phán gạt bỏ hết mức Vả chăng, triết học Trung Quốc nói chung và thế giới quan triết học nói riêng, có những đặc điểm rất khác với các nền triết học khác trên thế giới Điều đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu tiếp tục sâu hơn nữa
Trang 6của Đảng và Nhà n- ớc ta, thì yếu tố "đồng văn" trở thành một chiếc cầu nối quan trọng giúp chúng ta hội nhập dễ dàng với các quốc gia trong khu vực, trong đó tr- ớc hết với các "con rồng châu á " Vì vậy chúng tôi cho rằng cần phải nghiên cứu triết học Trung Quốc nói chung và thế giới quan triết học nói riêng một cách có hệ thống Do vị trí, tầm quan trọng mang tính kiến tạo hệ thống, việc nghiên cứu cũng phải bắt đầu (và đặc biệt) từ thời cổ đại là hết sức cần thiết đối với chúng ta
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tr- ớc hết chúng ta thử lựợc lại một số quan điểm của giới nghiên cứu Trung Quốc về triết học Trung Quốc:
Giáo s- triết học Phùng Hữu Lan: Ông đánh giá cao Nho học, coi Nho học là bao trùm toàn bộ hệ thống học thuật Trung Quốc, các thế hệ sau Khổng Tử đã đ- a nho học phát triển đến độ cao của triết học trong việc nhận thức con ng- ời, nhận thức vũ trụ Nho học kết hợp với vũ trụ quan biện chứng của Lão học, Phật học đã giúp con ng- ời có nhận thức mới hơn về các qui luật tự nhiên trong thế giới khách quan (50 264, 265)
Nhà sử học, triết học Thang Nhất Giới cho rằng: Mệnh đề cơ bản của triết học truyền thống Trung Quốc là "thiên nhân hợp nhất",
"tri hành hợp nhất", "tình cảnh hợp nhất", trong đó con ng- ời
đ- ợc coi là trung tâm của vũ trụ, vạn vật xung quanh con ng- ời
có ý thức đều tuỳ thuộc vào con ng- ờì mà có nội hàm khác nhau, theo ông, t- t- ởng ấy của triết học Trung Quốc có ảnh h- ởng sâu sắc đến tố chất tâm lý của dân tộc Trung Hoa (50 264, 265) Chúng ta hãy thử tham khảo tiếp một số nhận định của các học giả ph- ơng Tây:
Nhà Trung Quốc học ng- ời Pháp Gian Rold: “Trí óc của ng- ời Trung Quốc quen với những quanh co bất ngờ, sự tồn tại của anh
ta đầy rẫy những mâu thuẫn gắn liền với cái đó là một mối nguy sâu sắc hơn, một căn bệnh trầm trọng hơn, đó là sự thiếu tuyệt
đối cái khả năng phán đoán một cách lô-gíc của ng- ời Trung Quốc” (48 7,8)
Trang 7 Hê-ghen trong một nhận xét về tác phẩm triết học Trung Quốc
cổ đại khi ông đọc qua bản dịch đã nói: “để mua vui tôi xin trình bày chi tiết cái cơ sở đó, tôi xin nói về ý nghĩa của những “quẻ”
ấy để thấy rằng ng- ời Trung Quốc họ hời hợt biết chừng nào” hay bằng một câu hỏi có tính chất tu từ ông đã kết thúc nhận xét một tác phẩm của Đạo giáo: “chúng ta sẽ tìm kiếm đ- ợc cái gì bổ ích trong tất cả những cái đó” Về Khổng Tử ông nói một cách ngắn gọn: “để giữ niềm vẻ vang cho ông ấy thì tốt nhất là đừng dịch những lời nói của ông ấy ra làm gì nữa” Đối với bộ Kinh Th- ông viết “nh- vậy một sự trừu t- ợng phổ biến chuyển hóa vào một cái cụ thể trong đầu óc ng- ời Trung Quốc, mặc dù sự chuyển hóa này đ- ợc thực hiện theo một trật tự từ bên ngoài và không chứa đựng một cái gì đ- ợc suy nghĩ cả, đó là cái cơ sở của tất cả “sự thông thái và khoa học Trung Hoa” (48 7,8)
Đối với các nhà nghiên cứu triết học và t- t- ởng Trung Quốc tại Việt Nam cũng có nhiều vấn đề cần phải bàn lại và đi đến các kết luận một cách khoa học và khách quan Ngoài một số các sách dịch còn hàng loạt các bài viết, sách khảo luận, bình luận của các học giả trong n- ớc về đề tài này, chúng tôi chỉ xin chỉ ra thí dụ
đơn giản trong các sách đang sử dụng vào việc giảng dạy và đào tạo trong các tr- ờng đại học và đào tạo cán bộ
Giáo trình Triết học Mác-Lênin – Nxb Giáo dục 1996, cho rằng
ở Trung Quốc có nhiều học thuyết chính trị – xã hôi, triết học, tôn giáo “ra đời và không ngừng đấu tranh với nhau trong suốt lịch sử của xã hội Trung Hoa cổ đại” Thừa nhận có một cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, coi đây là nét nổi bật của lịch sử triết học Trung Quốc
Những nhận định về các tác giả Trung Quốc thời cổ đại (Khổng
Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi) trong các tr- ớc tác của chúng ta cũng còn nhiều điểm bất đồng ở các giai đoạn lịch sử khác nhau
Trang 8 Còn hàng loạt những vấn đề lý luận đặt ra khi nghiên cứu triết học Trung Quốc nh- : có hay không cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật (?); sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội Trung Quốc có theo con đ- ờng điển hình (nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, t- bản) không (?)
Trên đây là những vấn đề về mặt lý luận chúng ta gặp phải khi nghiên cứu triết học Trung Quốc nói chung và triết học cổ đại Trung Quốc nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.l Mục đích của luận án
Trên cơ sở các tài liệu, sách vở và công trình đã có, chúng tôi cố
gắng nêu rõ những nội dung, những đặc điểm căn bản của thế giới quan
Với thế giới quan và ph- ơng pháp luận duy vật biện chứng mác-xít, chỉ ra cách giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học và thế giới quan
triết học Trung Quốc cổ đại
3.2 Nhiệm vụ của luận án
Trình bày thế giới quan của triết học Trung Quốc cổ đại theo trình tự: vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan
Xét các học thuyết tiêu biểu làm nên đặc tr- ng của thế giới quan triết học Trung Quốc cổ đại
So sánh và nêu rõ sự khác nhau về đặc tr- ng của thế giới quan triết học Trung Quốc cổ đại với thế giới quan của các nền triết học cổ đại khác
4 Cơ sở lý luận và ph- ơng pháp luận nghiên cứu
Sử dụng ph- ơng pháp biện chứng duy vật làm ph- ơng pháp luận chung để phân tích nghiên cứu
Sử dụng các ph- ơng pháp nghiên cứu cụ thể: lô-gíc kết hợp với lịch sử, phân tích với tổng hợp, qui nạp với diễn dịch, so sánh,
đối chiếu và ph- ơng pháp liên nghành
Trang 95 Cái mới của luận án
Từ tr- ớc đến nay giới nghiên cứu triết học sử th- ờng nghiên cứu và xếp loại triết học Trung Quốc hoặc là theo l- u phái hoặc theo tác giả và
thời gian lịch đại ở đây chúng tôi chọn cách nghiên cứu phân loại vấn
Quốc thời cổ đại nh- một chỉnh thể để tiếp cận, và chọn ra những vấn đề
mà chúng tôi cho là tiêu biểu cho quan niệm của ng- ời Trung Quốc cổ đại
về thế giới quan triết học
Các khái niệm các phạm trù thể hiện thế giới quan của triết học
Trung Hoa cổ đại, đ- ợc làm nổi bật để thể hiện tính duy vật và biện chứng về vũ trụ (vũ trụ quan – quá trình phát sinh phát triển, và các qui luật vận động của thế giới tự nhiên); từ vũ trụ quan này áp dụng vào lĩnh vực xã hội (xã hội quan) và vào đời sống tinh thần cũng nh- thân phận của con ng- ời (nhân sinh quan)
Từ tr- ớc tới nay trong các giáo trình lịch sử triết học chúng tôi ch- a thấy t- t- ởng của Binh gia đ- ợc đ- a ra nhìn nhận d- ới góc độ triết học, qua luận án này chúng tôi mạnh giạn giới thiệu t- t- ởng biện chứng của binh gia trong kinh tế và chính trị của lịch sử triết học cổ đại Trung Quốc Chính các binh gia đã góp phần tạo nên, thay đổi cục diện xã hội Trung Quốc cổ đại
6 ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.l ý nghĩa lý luận
Qua luận án chúng tôi muốn ít nhiều đóng góp thêm một cách nhìn, một cách đánh giá mà chúng tôi cho là khách quan và khoa học bên cạnh các ý kiến, quan điểm đã rất phong phú từ tr- ớc đến nay của giới nghiên cứu trong và ngoài n- ớc Luận án có thể đ- ợc coi nh- một chuyên luận
độc lập
6.2 ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung và sinh viên triết học chuyên về ph- ơng Đông và Trung Quốc nói riêng Ngoài ra còn là t- liệu tham khảo
Trang 10cho những ng- ời quan tâm đến triết học ph- ơng Đông nói chung và triết học Trung Quốc cổ đại nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Chúng tôi chia luận án thành 3 ch- ơng thứ tự nh- sau:
Ch- ơng 1: Vũ trụ quan
Ch- ơng 2: Xã hội quan
Ch- ơng 3: Nhân sinh quan
Trang 11Cũng chính sự gắn bó với nông nghiệp và đất đai nh- vậy tạo ra sự
ổn định của các quan hệ huyết thống - đây là quan hệ nguyên sơ nhất của nhân loại nói chung - tổ chức tông tộc là tổ chức đầu tiên của xã hội loài
Trang 12ng- ời Theo quan điểm tiến hóa lịch sử của ph- ơng Tây thì khi xuất hiện
bộ máy quốc gia, các tổ chức hành chính, khu vực sẽ thay thế cho màng l- ới tông tộc, huyết thống Song xã hội Trung Quốc do một "bí ẩn" nào đó ngay từ đầu đã đi theo con đ- ờng tông tộc và sau này vẫn tồn tại song song với các thể chế nhà n- ớc Theo Trung Quốc sử học, xã hội ba thời
đại Hạ, Th- ơng, Chu hoàn toàn lấy gia đình làm hạt nhân với hình thức gia tr- ởng phụ hệ Nhiều gia đình hợp lại thành bộ lạc tông tộc, nhiều bộ lạc tông tộc ấy hình thành quốc gia Gia đình có cha, con, tông tộc có chi
họ, quốc gia có quân thần Các quan hệ này cũng dựa vào nguyên tắc đạo
đức "trung hiếu" gắn chặt với nhau, đồng thời tạo ra sự bền vững cho các quan hệ của xã hội Trung Quốc và trở thành một đặc điểm quan trọng của văn hóa Trung Quốc Những quan niệm đó dẫn đến niềm tin rằng: tự nhiên có trời đất, vạn vật có âm d- ơng, nhân gian có nam nữ, trong đó trời cao, đất thấp, d- ơng cứng, âm mềm, nam sang, nữ hèn Tự nhiên, xã hội
và con ng- ời vốn khác biệt lại đ- ợc công nhiên thừa nhận và điều chỉnh trong những quan hệ giống nhau Lão Tử nói: "Ng- ời bắt ch- ớc đất, đất bắt ch- ớc trời, trời bắt ch- ớc đạo" Đây cũng là một trong những lý do chúng tôi trình bày luận án này theo trình tự: vũ trụ quan - xã hội quan - nhân sinh quan
ở lĩnh vực triết học, Trung Quốc là một nền triết học lớn ở Ph- ơng
Đông và có nhiều sự khác biệt với triết học ph- ơng Tây, từ những vấn đề cơ bản của triết học đến ph- ơng pháp, nội dung và mục đích Chúng tôi chia sẻ cách tổng kết các đặc điểm của triết học Trung Quốc qua giáo trình “lịch sử triết học” do PGS Bùi Thanh Quất chủ biên-NXB giáo dục,
Hà Nội 2001:
- Thứ nhất triết học không có nhiệm vụ gia tăng kiến thức hữu ích
mà chủ yếu để củng cố đời sống tinh thần làm cho con ng- ời tìm ra sự hài hòa trong trật tự xã hội truyền thống cũng nh- trong quan hệ với thế giới khách quan tạo ra sự thống nhất giữa tự nhiên xã hội và con ng- ời, con ng- ời là một bộ phận của một thế giới nhất thể
- Thứ hai triết học Trung Quốc rất giàu tính nhân văn, con ng- ời có một vị trí đặc biệt, đ- ợc xếp ngang hàng với trời đất thành một bộ tam tài (Thiên - Địa - Nhân) Vì vậy trong triết học của “Bách gia ch- tử” các vấn
Trang 13đề về nhân sinh, chính trị, lịch sử đ- ợc quan tâm nhiều hơn, những vấn đề triết học và khoa học tự nhiên có phần mờ nhạt
- Thứ ba triết học Trung Quốc coi đạo đức là vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Hầu nh- tất cả các l- u phái của triết học Trung Quốc cổ đại luôn tìm kiếm những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức cho con ng- ời trong những hoàn cảnh và địa vị xã hội nhất định Coi việc thực hành đạo đức nh- là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của đời sống con ng- ời
- Thứ t- đa phần triết học Trung Quốc coi trọng t- duy trực giác, trực quan, vì vậy th- ờng thiếu luận chứng và phân tích cho nên các phạm trù
và khái niệm nhiều khi rời rạc, thiếu lôgíc, do đó thiếu ph- ơng pháp cần thiết để xây dựng một hệ thống lý luận khoa học
Những quan niệm trên sẽ đ- ợc chúng tôi triển khai dần ở những mục có liên quan
Triết học Trung Quốc cổ đại chỉ thực sự phát sáng vào thời Xuân thu
- Chiến quốc, khi mà xuyên suốt tinh thần thời đại là sự băng hoại của lễ, nhạc, sự đảo lộn trật tự các giá trị đã đ- ợc xác lập mà nguyên nhân của nó
là do sự thay đổi của công cụ sản xuất, từ thời đại đồ đồng, xã hội cổ đại Trung Quốc b- ớc vào thời đại đồ sắt Kinh tế xã hội phát triển làm cho nhiều quốc gia nhỏ mạnh lên và tìm cách thôn tính lẫn nhau làm cho xã hội Trung Quốc cổ đại từ trật tự đến vô trật tự, hay đúng hơn đó là những cơn khủng hoảng có tính chất kiến tạo lại, khiến con ng- ời lâm vào cảnh thăng trầm khó định Những biến động đó làm cho các triết gia suy nghĩ tìm ra những con đ- ờng "cứu đời, cứu ng- ời" tạo cho bộ mặt xã hội tri thức Trung Quốc cổ đại một bức tranh đa dạng ng- ời ta gọi là thời đại của
"Bách gia ch- tử" Chỉ đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc (221 TCN) thì lịch sử Trung Quốc b- ớc sang một trang mới - quốc gia phong kiến tập quyền Trong luận án này khái niệm "triết học Trung Quốc
cổ đại" mà chúng tôi sử dụng cũng là chỉ thời đại từ 221 TCN trở về tr- ớc
1.1.2 Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc
Trang 14Hiện t- ợng mới rất quan trọng trong lĩnh vực kinh tế thời Xuân thu
là sự ra đời của đồ sắt Sắt bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc từ bao giờ, ngày nay ch- a xác định đ- ợc Chỉ đến thời Xuân thu thì mới có một số tài liệu để bảo đảm chắc chắn rằng đồ sắt đã đ- ợc sử dụng
Giữa thời Xuân thu, trên một chiếc chuông của n- ớc Tề, có một đoạn chữ khắc trong đó có câu: "Ng- ời luyện sắt bốn nghìn"
đ- ợc sử dụng t- ơng đối phổ biến ở Trung Quốc
Đến thời Chiến quốc, đồ sắt càng đ- ợc dùng rộng rãi trong các ngành sản xuất Ngày nay, ở Trung Quốc đã phát hiện đ- ợc nhiều loại công cụ bằng sắt nh- l- ỡi cày, l- ỡi cuốc, xẻng, liềm, búa và một số khuôn
đúc sắt
Bên cạnh sự tiến bộ về công cụ sản xuất, trong lĩnh vực nông nghiệp
ở Trung Quốc thời Xuân Thu còn có một số hiện t- ợng mới khác là bắt
đầu biết dùng súc vật làm sức kéo Thiên Tấn ngữ của sách Quốc ngữ
chép rằng: "Những súc vật làm vật hiến tế ở đền miếu có thể dùng trong công việc đồng áng"
Vấn đề thuỷ lợi đến thời kỳ này càng đ- ợc coi trọng mà biều hiện rõ rệt là nhiều công trình thuỷ lợi đã đ- ợc xây dựng ở n- ớc Ngô thời Phù Sai (thế
kỷ V TCN) đã đào một hệ thống kênh nối Tr- ờng Giang với sông Hoài và nối sông
danh mục sách tham khảo
1 Almanach Những nền văn minh thế giới (1997) – NXB Văn hoá
thông tin