1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thương Vợ - Trần Tế Xương

3 1,7K 45
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương vợ
Tác giả Trần Tế Xương
Người hướng dẫn Gs. Trần Thanh Mại
Trường học Trường Đại Học
Thể loại bài làm
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 59,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề : Anh chị hãy phân tích bài “Thương vợ” của Tần Tế Xương để làm nỗi bật hình ảnh của bà Tú, và qua đó thấy được nét điển hình của người phụ nữ Việt Nam.. Có lẽ cảm kích tấm lòng cuả b

Trang 1

Đề : Anh (chị) hãy phân tích bài “Thương vợ” của Tần Tế Xương để làm nỗi bật hình ảnh

của bà Tú, và qua đó thấy được nét điển hình của người phụ nữ Việt Nam

Bài làm

Người ta thường nói, đằng sau người đàn ông thành đạt luôn có sự hiện diện của một

người phụ nữ Quả thật như vậy, chẳng hạn như Tú Xương, tuy đường thi cử gặp nhiều trắc

trở, nhưng có thể nói những đóng góp văn chương của ông thật không nhỏ trong kho tàng

thi ca Việt Nam Điều đó được khẳng định qua qua nhận định của JEAN COURIER:

“Trong bầu trời thi ca Việt Nam từ xưa đến nay, nếu chọn lấy năm ngôi sao sáng nhất thì

Tú Xương là một trong năm ngôi sao ấy”

Nhưng để có được một Tú Xương như vậy, thì phải kể đến công lao bà Tú “ Bà Tú

không chỉ là một người đàn bà Bà còn là một vị thiên thần được trời sai xuống không phải

giúp ông Tú trên đường công danh, mà để Việt Nam có một đại thi hào” (Gs Trần Thanh

Mại – “ Trông dòng sông Vị”) Có lẽ cảm kích tấm lòng cuả bà Tú, ông Tú đã làm bài thơ

“Thương vợ” đậm tình để bày tỏ tình cảm của mình Và qua hình ảnh của bà Tú trong bài

thơ, ta bắt gặp hình ảnh điển hình của người phụ nữ Việt Nam

Nếu như người vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay làm, thắt lưng buộc que,

xắn váy quai cồng, tất tả chân nam đá chân chiêu, vì tớ mà đỡ đần trong mọi việc”, thì bà

Tú cũng không kém gì Tuy mang danh là bà Tú, nhưng bà phải lam lũ tất bật:

“Quanh năm buôn bán ở mon sông”

Công việc của bà cứ âm thầm tiếp nối từ ngày này sang ngày khác, tháng này qua

tháng khác… Từ “quanh năm” như hkẳng định thêm vòng xoay của thời gian, vòng xaoy

công việc của bà Tú Ngày nối ngày, bà tất tả ngược xuôi, dãi nắng dầm mưa, đương đầu

với biết bao khó khăn cực nhọc Ta lại hiểu thêm cái vất vả của bà Tú khi thấy nơi buôn

bán của bà chỉ là cái “mom sông” Đó chẳng qua chỉ là một dải đất nhô ra, ba bề sông

nước vơi cái thế chênh vênh chẳng có gì là vững chắc Theo cái thế chênh vênh ấy, việc

buôn bán của bà Tú lại càng thêm khó Vậy mà bà vẫn cố gắng vượt qua để:

“ Nuôi đủ năm con với một chồng”

Thật thú vị khi nhà thơ làm phép so sánh giữa mình và năm đứa con Câu thơ được

ngắt nhịp 4/3 như cố ý tô đậm thêm điều này Trên đôi quang gánh của bà Tú ta ngỡ tưởng

một bên là năm con, một bên là “đức ông chồng” Câu thơ thật hóm hỉnh, bông đùa, ông

nghĩ mình cũng là một gánh nặng của bà, và cũng như m ột thứ con lớn đầu,nên ông mới tự

xếp mình ngang hàng với năm đứa con qua cách sắp xếp của một biểu thức ngôn từ được

kết hợp bằng giới từ “ với ” Câu thơ đã bộc lộ niềm cảm động và sự ngưỡng mộ của nhà

thơ đối với vợ mình Quả thật, bà Tú đã làm cho ta thật sự khâm phục Gánh nặng gia đình

đè nặng trên đôi vai, nuôi năm con đã là sự vất vả khôn lường, ấy thế mà lại còn phải hầu

một ông chồng phóng túng, lúc nào củng dương dương tự đắc :

“ Tiền bạc phó cho con mụ kiếm ” Trong khi mình thì :

“Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ, Rượu chè trai gái đủ tam khoanh ” Đường ăn chơi của ông là vậy, chưa đủ ông còn trau chuốt trong cách ăn mặc , rất lich

lãm, đúng “mode”của một văn nhân thi sĩ đương thời :

“ Áo hàng tàu, khăn nhiễu tím,

Ô lục soạn xanh, quần tố nữ ,

Trang 2

Bít tất tơ, giày Gia Định bóng”

Ấy thế Bà vẫn nuôi đủ Đủ ở đây không phải chỉ đơn thuần là về số lượng, mà còn cả

về chất lượng Và cũûng không phải là “nuôi”, mà xem ra còn là “ cung phụng “:

“Sáng nem, bữa tối đòi ăn chả “ Trên đôi vai nhỏ bé, bà phải gánh vác một gia đình con đông, với một “ ông chồng “

ăn chơi, phóng túng, thế nên bà phải ngược xuôi, vất vả, tần tảo một nắng hai sương :

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng ,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông “ Đến lúc này, ngôn ngữ thi ca chuyển đổi, nhiều “ gam” màu nối tiếp nhau đã khắc

hoạ rõ chân dung bà Tú Qua đó, gợi cho ta sự liên tưởng đến hình ảnh con cò trong ca dao

Việt Nam :

“Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non”

Con cò là biểu tượng thân phận người phụ nữ lao động ngày xưa: một hình tượng

nghệ thuật ; mãnh mai, lững thững , một thân, một mình, tội nghiệp làm sao?

Ông Tú không có mục đích so sánh bà Tú với “con cò”, mà ông chỉ có mục đích

đồng nhất hoá thân phận bà Tú với con cò Vì con cò trong ca dao và hình ảnh bà Tú có

những nét tương đồng, cũng cảnh sông nước, cũng chiếc đòn gánh trên vai, cũng tần tảo

hôm sớm nuôi chồng, nuôi con Chỉ khác chăng “con cò” là hình ảnh cụ thể, còn “thân cò”

mang ý nghĩa khái quát, gợi sự liên tưởng về cuộc đời vất vả, ngậm ngùi, đáng thương

Trong ca dao, ông cha ta đã hơn một lần căn dặn:

“Con ơi nhớ lấy câu này, Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”

Vậy mà bà Tú vẫn phải qua sông trên những con đò như thế, cùng với những lời

giằng co, chen lấn để kiếm mối, tìm hàng Vì vậy, ông Tú đã đổi từ “đầy" thành từ “đông”

kết hợp với những từ tượng thanh, tượng hình tạo nên câu thơ mang hình ảnh của một bến

sông hỗn độn, với những con đò đầy ắp, chòng chành đáng sợ Lúc thì một mình “quãng

vắng”, khi thì chen lấn “buổi đò đông”, bà dường như sinh ra để lãnh nhận sự hy sinh với

trăm dắng ngàn cay, và gian lao vất vả Với nghệ thuật đảo câu, thay một vài tư tố trong

ngôn ngữ dân gian, nhà thơ đất Vị Hoàng đã sáng tạo một một hình tượng tuyệt vời, chân

thực, và giản dị, thấm đượm chất dân tộc, gần gũi, thân thương Trần Tế Xương khắc hoạ

hình ảnh vợ mình, nhưng khi ta nhìn ngắm, thấy lung linh ẩn hiện đường nét và dáng dấp

của người phụ nữ Việt Nam hôm qua và hôm nay

Bước chân hiện thực của bài thơ vẫn gắn bó với chất trữ tình Tình cảm của nhân

vật trữ tình – nhà thơ đã ấp ủ ngay từ dòng đầu, và càng thấm thía hơn theo từng bước thơ

còn lại Tấm lòng của bà Tú đối với chồng, với con một thêm sâu nặng, lời thơ của ông Tú

mỗi lúc thêm tha thiết, dạt dào Ông đã nói hộ những suy nghĩ độc thoại của bà Tú để làm

nỗi bật phẩm chất tinh thần đáng trân trọng của người đàn bà cùng chung bước đường trần

“Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng, mười mưa dám quản công”

Lại một sự biến thể sáng tạo của ca dao, nhà thơ đã gợi cho người đọc sự liên tưởng

về câu ca dân gian:

“Một duyên, hai nợ, ba tình Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh”

Tú Xương chỉ nói đến “một duyên hai nợ”, nhưng cũng thầm mang chữ “tình” Câu

thơ vừa miêu tả, vùa cảm thông nghĩa phu thê, cùng với những cực khổ mà chính ông,

người chồng “vô tích sự” đã gieo xuống đời bà, người vợ đáng thương, đáng trọng

Trang 3

“Duyên” bà chỉ được “một” mà “nơ” bà phải chịu gấp hai, vậy mà bà vẫn cam tâm chấp

nhận Ba chữ “âu đành phận” nghe ngọt ngào pha lẫn đắng cay, thế nhưng ở đây nó đã toát

lên một tình cảm của người vợ thục hiền Tình nghĩa của bà Tú thựcï sự đã xao động ngòi

bút của nhà thơ

Bà Tú đã lặn lội viø chữ tình, thế nên “năm nắng mười mưa” bà cũng chẳng “dám

quản công” Người đời thường nói “một nắng, hai sương” nhưng ông Tú đổi thành “năm

nắng mười mưa” để nhấn mạnh công lao cùng biết bao nỗi nhọc nhằn mà bà Tú đã chịu

đựng, không một lời than thân, trách phận, và phàn nàn, oán giận chồng con, mà chỉ ngời

sáng một phẩm chất nhẫn nại, tảo tần, một biểu tượng của người vợ, người mẹ Việt Nam

Cuối bài thơ là một câu chửi đổng:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không”

Nếu hai câu luận, ông Tú đã hoá thân vào bà Tú để nói lên nỗi lòng của bà, để cuối

cùng, hai câu kết ông đã lên án mình Ông Tú coi mình “có” cũng như “không” Vì sự hiện

diện của ông chỉ có trong sự hưởng thụ vật chất, và sự phiến diện trong công việc lo toan,

tính toán gia đình Câu thơ là lời tự kiểm, nhưng trong lòng ông vẫn dành cho bà Tú nỗi

yêu thương, kính mến vô bờ Trong thời đại của ông Tú, có mấy người nghĩ được như ông

trước cảnh nhiễu nhương, vàng thau lẫn lộn của buổi giao thời, nữa thực dân, nữa phong

kiến Và cũng qua lời tự chửi mình, ông chửi đổng cái xã hội nhố nhăng lúc bấy giờ

“Thương vợ”, bài thơ nằm ở giữa giao điểm trào phúng, trử tình, nội dung và hình

thức mang nhiều tần lớp, và rồi đi đến kết luận là tình thương thắm thiết, chân thành Qua

hình ảnh bà Tú, Trần Tế Xương cũng mang đến cho ta hình ảnh người phụ nữ Việt Nam

xưa và nay, đó là những con người tháo vát, hiền thục, đảm đang, hết mực yêu chồng,

thương con, suốt đời họ chỉ biết hy sinh, cho đi và không bao giờ lấy lại

“Thương vợ” là một trong những bài thơ của các thi sỹ viết về vợ mình và cũng là

bài nghiêm trang và sâu sắc nhất

NGUYỄN MINH SƠN

Trung Học PT Mỹ Thới – Long Xuyên 10/1998

Ngày đăng: 24/06/2013, 01:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w