Kinh tế quốc tế nghiên cứu đối tượng của mình không phải trong trạng thái tĩnh mà trong trạng thái động, tức là nghiên cứu sự vận động của hàng hoá, dịch vụ, các yếu tố sản xuất, sự chuy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ CỦA KINH TẾ QUỐC TẾ 5
1.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học 5
1.2 Khái quát về nền kinh tế thế giới 5
1.3 Những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới 6
1.4 Khả năng và điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam 7
Câu hỏi ôn tập 8
CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 10
2.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 10
2.2 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 12
2.3 Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler 16
2.4 Lý thuyết chuẩn về thương mại quốc tế 19
2.5 Lý thuyết của Heckcher – Ohlin 27
Câu hỏi ôn tập 30
CHƯƠNG 3: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 32
3.1 Ý nghĩa của thương mại quốc tế và sự phát triển kinh tế 32
3.2 Tỷ lệ trao đổi của quốc gia trong thương mại quốc tế 32
3.3 Chiến lược công nghiệp hoá của quốc gia 34
Câu hỏi ôn tập 36
CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 37
4.1 Khái quát chung về chính sách thương mại quốc tế 37
4.2 Thuế quan 38
4.3 Công cụ phi thuế quan 38
Câu hỏi ôn tập 41
CHƯƠNG 5: TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ 42
5.1 Tỷ giá hối đoái 42
5.2 Thị trường ngoại hối 50
5.3 Hệ thống tiền tệ quốc tế 53
Câu hỏi ôn tập 60
Trang 3CHƯƠNG 6: SỰ DI CHUYỂN QUỐC TẾ CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT 61
6.1 Khái niệm và vai trò của di chuyển quốc tế các yếu tố sản xuất 61
6.2 Sự di chuyển vốn quốc tế 61
6.3 Sự di chuyển lao động quốc tế 63
CHƯƠNG 7: LIÊN KẾT VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 65
7.1 Những vấn đề chung về liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế 65
7.2 Các hình thức liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế 67
Tài liệu tham khảo 83
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện hiện nay, khi hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, hoạt động kinh doanh nói chung, kinh doanh quốc tế nói riêng trở thành một yếu tố khách quan đối với mọi quốc gia Trong những thập kỷ gần đây, đã chứng kiến sự bùng nổ của hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn cầu
Kinh tế quốc tế là một môn học không thể thiếu trong chương trình đào tạo ngành Quản trị kinh doanh, chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập của giáo viên và sinh viên, chúng tôi tổ chức biên soạn bài giảng “Kinh tế quốc tế” phù hợp với điều kiện kinh doanh trong giai đoạn hội nhập Với kinh nghiệm giảng dạy được tích luỹ qua nhiều năm, cộng với
sự nỗ lực nghiên cứu từ các nguồn tài liệu khác nhau, bài giảng có nhiều thay đổi
và bổ sung để đáp ứng yêu cầu do thực tiễn đặt ra Bài giảng “Kinh tế quốc tế” là tài liệu chính thức sử dụng giảng dạy và học tập cho sinh viên hệ đào tạo đại học ngành Quản trị kinh doanh, chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp; đồng thời cũng
là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này Nội dung cuốn sách gồm 7 chương đề cập đến toàn bộ những kiến thức về Kinh tế quốc tế
Biên soạn bài gảng là một công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực cao Tác giả đã giành nhiều thời gian và công sức với cố gắng cao nhất để hoàn thành Tuy nhiên, với nhiều lý do nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong sự chỉ giáo, đóng góp, xây dựng của các đồng nghiệp, anh chị em sinh viên
và bạn đọc để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng bài giảng
Xin trân trọng cám ơn!
Quảng Bình, tháng 05 năm 2015
Tác giả
Trang 5CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ CỦA KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học
Đối tượng nghiên cứu môn học
Đối tượng nghiên cứu của nền kinh tế quốc tế chính là nền kinh tế thế giới
Kinh tế quốc tế nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia Kinh tế quốc tế nghiên cứu đối tượng của mình không phải trong trạng thái tĩnh mà trong trạng thái động, tức là nghiên cứu sự vận động của hàng hoá, dịch vụ, các yếu tố sản xuất, sự chuyển đổi tiền tệ và thanh toán quốc tế giữa các nước thông qua con đường mậu dịch, đầu tư, chuyển giao công nghệ, liên kết Việc nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc trên còn cần phải xem xét tới những ảnh huởng của các mối quan hệ về chính trị, xã hội, văn hoá, quân sự, ngoại giao Bởi
vì tất cả các mối quan hệ đó nằm trong một chỉnh thể thống nhất, có mối liên hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau
Phương pháp nghiên cứu môn học
Kinh tế quốc tế sử dụng các phuơng pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phương pháp mô hình hoá, phuơng pháp trừu tượng hoá, phương pháp kiểm soát bằng thực nghiệm, phuơng pháp suy diễn và quy nạp vv Thông qua việc sử dụng tổng hợp các phương pháp trên mới có thể tìm hiểu đuợc các quy luật kinh tế trong tổng thể nền kinh tế thế giới vô cùng phức tạp
và đa dạng
1.2 Khái quát về nền kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới là tổng thể nền kinh tế của các quốc gia trên trái đất có mối liên hệ hửu cơ và tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau thông qua phân công lao động Nền kinh tế thế giới ngày nay là tổng thể nền kinh tế của hơn 200 quốc gia
Trang 6và vùng lãnh thổ với tỗng số dân khoảng 6 tỉ người, hàng năm tạo ra khối lượng tổng sản phẩm quốc dân trị giá trên 30.000 tỷ USD Nền kinh tế thế giới có 2 bộ phận cấu thành sau:
Bộ phận thứ nhất làcác chủ thể kinh tế quốc tế gồm các công ty đơn vị kinh doanh, các nền kinh tế của các quốc gia độc lập trên thế giới, các tổ chức quốc tế, đặc biệt trong nền kinh tế thế giới ngày nay còn có các công ty đa quốc gia
Bộ phận thứ 2 là các quan hệ kinh tế quốc tế gồm các quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ, các quan hệ về di chuyển quốc tế tư bản, các quan hệ về di chuyển quốc tế sức lao động, các quan hệ về di chuyển quốc tế các phương tiện tiền tệ
1.3 Những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới
Có 4 xu thế vận động chủ yếu:
Sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ (CM KHCN)
Sự bùng nổ của cuộc CM KHCN thể hiện ở chỗ các ngành công nghiệp cổ điển giảm dần tỉ trọng và vai trò của nó, trong khi đó các nghành có hàm lượng KHCN cao tăng nhanh đặc biệt là các ngành dịch vụ kĩ thuật phục vụ sản xuất Cơ cấu kinh tế trở nên mềm hoá, khu vực kinh tế phi hình thức được mở rộng, nền kinh tế tượng trưng có quy mô lớn hơn nền kinh tế thực nhiều lần Cơ cấu lao động có sự thay đổi sâu sắc và có sự đan xen của nhiều lĩnh vực KHCN
Ở Việt Nam cơ cấu kinh tế có sự thay đổi nghành dịch vụ đặc biệt là những ngành bao hàm nhiều KHCN tăng trưởng với tốc độ nhanh như CNTT, các dịch vụ viễn thông như điện thoại, internet Cơ cấu lao động cũng có sự thay đổi, lao động chất xám nhiều thay thế dần cho lao động chân tay
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng mạnh mẽ
Trang 7Quá trình này với hai cấp độ là toàn cầu hoá và khu vực hoá Ở nuớc ta thể hiện rõ nhất ở việc trở thành thành viên của các tổ chức thế giới và khu vực như WTO, ASEAN, APEC quá trình này vừa tạo ra cơ hội nhưng cũng mang lại nhiều thách thức cho nuớc ta Đó là nền công nghiệp của nuớc ta còn non trẻ, nông nghiêp còn lạc hậu, chưa ứng dụng nhiều KHCN vào sản xuất nên có nhiều mặt hàng của nuớc
ta không cạnh tranh được với nước ngoài
Các quốc gia từ đối đầu chuyển sang đối thoại, từ biệt lập chuyển sang hợp tác
ưu tiên phát triển kinh tế
Truớc đây khi còn trong thời kì chiến tranh lạnh, thế giới chia thành hai cực rõ rệt luôn có xung đột lẫn nhau Nhưng hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
có quan hệ với các quốc gia khác với mục tiêu ưu tiền phát triền Trước xu thế nàyViệt Nam chúng ta luôn muốn làm bạn với các quốc gia trên thế giới
Trung tâm của nền kinh tế thế giới đang dịch chuyển dần về khu vực châu Á Thái Bình Dương
Khu vực Châu Á Thái Bình Duơng với các quốc gia có nền kinh tế năng động, đạt nhịp độ tăng trưởng cao như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc làm cho trung tâm kinh tế thế giới dịch chuyển dần về khu vực này Khu vực này chiếm khoảng 2 tỷ dân, chiếm khoảng 40% GNP của toàn thế giới Đây là một điều kiện thuận lợi cho
VN do chúng ta còn nằm trên con đường biển thuận lợi và thu hút nhiều đầu tư nước ngoài; có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đặc biệt là kinh tế biển
1.4 Khả năng và điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Những khả năng để phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Nguồn nhân lực của Việt Nam
Dân số Việt Nam gần 80triệu nguời, trong đó có khoảng 50% là lực luợng lao động Tư chất con ngời Việt Nam rất cần cù, tiếp thu nhanh nghề nghiệp mới, có
Trang 8khả năng ứng xử linh hoạt, giá nhân công rẻ Do đó Việt Nam là một thị trưòng
màu mỡ đối với thế giới Tuy nhiên để phát huy các yếu tố trên cần phải nâng cao
thể lực, trình độ, tổ chức kỉ luật, khả năng hợp tác trong công việc và tạo thêm
nhiều việc làm cho người lao động
Tài nguyên thiên nhiên
Việt Nam là nước giàu tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là rừng, biển, các loại
khoáng sản khá phong phú, đa dạng tạo điều kiện cho việc xây dựng một nền kinh
tế đa ngành Bên cạnh đó nước còn có tiềm năng du lịch khá lớn với nhiều phong
cảnh đẹp như động Phong Nha, Vịnh Hạ Long, Huế, Phú Quốc tuy nhiên nguồn
tài nguyên còn phân tán, có trường hợp điều kiện khai thác khó khăn đòi hỏi cần có
nguồn vốn lớn và công nghệ hệ đại
Vị trí địa lý
Việt Nam nằm ở cửa ngõ Đông Nam Á có bờ biển dài hơn 3000 km trải dài từ Bắc
đến Nam Việt Nam nằm trên đường hàng không và hàng hải quốc tế với sân bay
Tân Sơn Nhất quan trọng bậc nhất khu vực Đông Nam Á Vị trí đó giúp cho Việt
Nam có thể phát triển các hoạt động trung chuyển qua các nước
Những điều kiện để phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Ổn định về chính trị và kinh tế, giữ vững môi trường hoà bình, hữu nghị với các
nước trong khu vực và trên thế giới
Đẩy mạnh cải cách hành chính và bộ máy quản lý
Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật phù hợp với kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN
Tăng cường xây dựng hệ thống kêt cấu hạ tầng kinh tế xã hội
Đào tạo xây dựng một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ
Câu hỏi ôn tập
1 Trình bày Đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học
Trang 92 Nêu Khái quát về nền kinh tế thế giới
3 Phân tích xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới
4 Nêu các điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
2.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Học thuyết này bắt đầu với sự thật giản đơn, hai quốc gia trao đổi thương mại trên
cơ sở tình nguyện thì cả hai quốc gia đều thu được từ thặng dư Nếu một quốc gia không thu được gì, hoặc bị lỗ, họ sẽ từ chối thương mại Thặng dư qua lại từ thương mại đã được phát sinh và chuyển dịch như thế nào?
Thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối Khi một quốc gia sản xuất một hànghóa có hiệu quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hóa thứ hai, hai quốc gia có thể thu được lợi ích bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hóa không có lợi thế Thông qua quá trình này, các nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả nhất và sản lượng của cả hai hàng hóa đều tăng Sự tăng lên về sản lượng của hai hàng hóa này do lượng thặng
dư từ chuyên môn hóa trong sản xuất được phân bố lại giữa hai quốc gia thông qua thương mại Theo khía cạnh này, một quốc gia cũng tương tự như một cá nhân, không nên cố gắng sản xuất tất cả hàng hóa cho mình, mà nên tập trung sản xuất hàng hóa mình có sở trường nhất, đem trao đổi một phần sản phẩm đó lấy sản phẩm khác cần dùng, theo cách này tổng sản lượng của các cá nhân cộng lại sẽ tăng, phúc lợi của mỗi các nhân cũng tăng Như vậy, trong khi học thuyết kinh tế trọng thương tin tưởng một quốc gia chỉ có thể thu được thặng dư từ thương mại bằng cách tước đoạt của nước khác và ủng hộ sự quản lý chặt chẽ của Chính phủ
về hoạt động kinh tế và thương mại, thì Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith tin tưởng rằng một quốc gia có thể thu được thặng dư từ thương mại và ủng
hộ mạnh mẽ cho chính sách tự do kinh doanh Thương mại tự do có thể làm cho nguồn lực của thế giới được sử dụng một cách hữu hiệu nhất và có thể tối đa hóa phúc lợi toàn thế giới Có thể có một vài trường hợp ngoại lệ bằng cách tự do kinh
Trang 11doanh, một trong số này là sự bảo hộ các ngành công nghiệp quan trọng của quốc gia Dường như có nghịch lý là ngày nay hầu hết các quốc gia sử dụng nhiều biện pháp hạn chế thương mại tự do Các biện pháp hạn chế thương mại được tỷ lệ hóa theo phúc lợi của quốc gia Trên thực tế, các biện pháp hạn chế thương mại được một số ngành công nghiệp và những công nhân của ngành đó những người bị tổn thất vì hàng nhập khẩu ủng hộ Như vậy, các biện pháp hạn chế thương mại tạo ra lợi ích cho thiểu số nhưng làm tổn thất tới đa số (những người phải trả giá cao hơn
để cạnh tranh với hàng hoá trong nước)
Minh họa về Lợi thế tuyệt đối
Bảng số liệu bên cho thấy một giờ lao động sản xuất được 6 dạ lúa mì tại Hoa Kỳ, nhưng chỉ được một dạ tại Anh Ngược lại, một giờ lao động sản xuất được 5 thước vải tại Anh nhưng chỉ được 4 thước vải tại Hoa Kỳ Như vậy Hoa Kỳ có hiệu quả hơn hay nói cách khác, có lợi thế hơn so với Anh trong sản xuất lúa mì, đồng thời kém lợi thế trong sản xuất vải; trong khi đó, Anh có hiệu quả hơn trong sản xuất vải nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuất lúa mỳ so với Hoa Kỳ Khi đó, thương mại Hoa Kỳ sẽ chuyên môn hóa trong sản xuất lúa mỳ, đem một phần lúa
mì trao đổi với Anh để lấy
vải; còn ở Anh thì ngược lại
Bảng 1
Với tương quan trao đổi giữa Hoa Kỳ và Anh, là một dạ lúa mỳ đổi được một thước vải, nếu Mỹ trao đổi 6 dạ lúa mỳ lấy 6 thước vải, họ sẽ thu thêm được 2 thước vải hoặc tiết kiệm được 1/2 giờ lao động (vì tại Hoa Kỳ nếu đổi 6 dạ lúa mì chỉ được 4 thước vải sản xuất trong nước) Tương tự như vậy, tại Anh, 6 dạ lúa mỳ
Trang 12nhận được của Mỹ tương ứng 6 giờ lao động của Anh, 6 giờ lao động này có thể sản xuất ra được 30 thước vải (vì tại Anh mỗi giờ lao động sản xuất được 5 thước vải) Sau khi sử dụng 6 thước vải trao đổi với Mỹ, họ còn thu được 24 thước vải, hoặc tiết kiệm được 5 giờ lao động
Điều quan trọng ở đây không phải là Anh thu được nhiều thặng dư hơn Hoa Kỳ,
mà điều quan trọng là cả Hoa Kỳ và Anh có thể đều thu được từ chuyên môn hóa trong sản xuất và thương mại Lợi thế tuyệt đối, tuy vậy, chỉ giải thích được một phần nhỏ thương mại hiện tại như thương mại giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Hầu hết thương mại thế giới, đặc biệt thương mại giữa các nước phát triển với nhau, không thể giải thích được bằng học thuyết về lợi thế tuyệt đối
2.2 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Năm1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage) Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác Lý thuyết của Ricardo được xây dựng trên một số giả thiết, nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên đơn giản và trực tiếp hơn
Các giả thiết của Ricardo
+ Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xác định
+ Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi 1 quốc gia
+ Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài
+ Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về giá trị lao động
+ Công nghệ của hai quốc gia như nhau
+ Chi phí sản xuất là cố định
Trang 13+ Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ)
+ Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo
+ Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế
+ Chi phí vận chuyển bằng không
+ Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá
Quy luật lợi thế so sánh
Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh
Kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo đã nhấn mạnh:
Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế
so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế Quy luật này có thể làm sáng tỏ bằng cách xem xét trên bảng 2
Trang 14Trong trường hợp này, nước Anh không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai loại hàng hoá là lúa mỳ và vải so với Mỹ
Tuy nhiên, vì lao động ở nước Anh có năng suất lao động trong việc sản xuất vải bằng 1/2 của Mỹ và có năng suất trong việc sản xuất lúa mì bằng 1/6 của Mỹ Do
đó, nước Anh có lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải Ngược lại, dù nước Mỹ có lợi thế tuyệt đối trong cả hai loại hàng hoá là vải và lúa mì nhưng vì lợi thế tuyệt đối trong sản xuất lúa mì của Mỹ (6:1) lớn hơn lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải (4:2) nên Mỹ có lợi thế so sánh trong việc sản xuất lúa mì
Tóm lại, nước Mỹ có cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong việc sản xuất lúa
mì Nước Anh tuy không có lợi thế tuyệt đối về sản xuất sản phẩm nào, nhưng vẫn
có lợi thế so sánh trong việc sản xuất vải Theo quy luật lợi thế so sánh, cả hai quốc gia sẽ có lợi từ thương mại quốc tế nếu nước Mỹ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì
và xuất khẩu một phần để đổi lấy vải được sản xuất tại Anh (cùng lúc đó, nước Anh sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu vải)
Lợi ích từ thương mại
Vừa rồi, chúng ta mới phân tích giản đơn về lợi thế so sánh và chưa chứng minh được quy luật này Để làm được điều này, chúng ta phải xem Anh và Mỹ có lợi như thế nào từ việc sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá chúng có lợi thế so sánh Để bắt đầu chứng minh, chúng ta cần hiểu rằng Mỹ sẽ bàng quan với việc tham gia thương mại quốc tế nếu nó chỉ trao đổi được 6W lấy 4C Lý do là Mỹ có thể sản xuất chính xác 4C bằng cách không sản xuất 6W (xem bảng 1.1) và Mỹ sẽ không tham gia thương mại quốc tế nếu nó trao đổi 6W được ít hơn 4C Tương tự, nước Anh sẽ bàng quan với việc tham gia thương mại quốc tế nếu nó chỉ trao đổi được 2C lấy 1W và nó sẽ không tham gia thương mại quốc tế nếu nó trao đổi 2C được ít hơn 1W Để cho thấy cả hai quốc gia đều có lợi từ thương mại quốc tế, có thể giả sử rằng Mỹ có thể đổi 6W lấy 6C của Anh Nước Mỹ sẽ có lợi 2C (tương đương 1/2h lao động) vì nếu không tham gia thương mại quốc tế Mỹ chỉ có thể đổi
Trang 156W lấy 4C ở trong nước Để thấy được việc nước Anh cũng có lợi từ thương mại, chúng ta thấy rằng với 6W mà Anh nhận được từ việc trao đổi với Mỹ, Anh sẽ cần phải bỏ ra 6h lao động để sản xuất ra nó Nước Anh sẽ dùng 6h này để sản xuất ra 12C và chỉ phải trao đổi 6C lấy 6W của Mỹ Chính vì vậy, nước Anh sẽ có lợi 6C hay tiết kiệm được 3h lao động Một lần nữa, việc nước Anh có lợi hơn Mỹ khi tham gia vào thương mại quốc tế Điều đó cũng không quan trọng Điều quan trọng
là cả hai quốc gia đều có lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế, cho dù một quốc gia (trong trường hợp này là nước Anh) gặp bất lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai loại hàng hoá Có thể nêu lên những ví dụ thực tế trong cuộc sống thường ngày Ví dụ: một luật sư có thể đánh máy nhanh gấp hai lần một cô thư ký
Và luật sư có lợi thế tuyệt đối về cả việc đánh máy lẫn tư vấn luật pháp so với cô thư ký Tuy nhiên, vì cô thư ký không thể tư vấn luật mà không có bằng luật sư nên
vị luật sư có cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh ở công việc tư vấn luật pháp và
cô thư ký chỉ có lợi thế so sánh trong việc đánh máy Theo quy luật về lợi thế
so sánh, vị luật sư nên dành toàn bộ thời gian vào tư vấn pháp luật và để cô thư ký đánh máy Ví dụ, nếu vị luật sư có thể kiếm 100 đôla/h bằng việc tư vấn luật và chỉ phải trả cô thư ký 10 đôla/h đánh máy Nếu vị luật sư đánh máy thì mỗi giờ ông sẽ mất 80 đô la vì ông ta có được 20 đô la mỗi giờ đánh máy (lưu ý kết quả này là do
vị luật sư có thể đánh máy nhanh gấp hai lần cô thư ký) nhưng ông ta sẽ mất 100 mỗi giờ vì không tư vấn luật Quay lại với ví dụ của nước Mỹ và nước Anh, chúng
ta thấy rằng cả hai quốc gia sẽ có lợi nếu đổi 6W lấy 6C Tuy nhiên, đây không phải là tỷ lệ trao đổi duy nhất mà cả hai quốc gia đều có lợi Vì nước Mỹ có thể đổi 6W lấy 4C ở trong nước (cùng mất 1 giờ lao động) nên nước Mỹ chỉ có lợi nếu đổi 6W được nhiều hơn 4C của Anh Mặt khác, ở nước Anh 6W tương đương với 12C (Anh cần 6 giờ lao động để có được 6W) Ở bất kỳ tỷ lệ trao đổi nào mà 6W có thể đổi được ít hơn 12C sẽ là lợi ích của nước Anh Tóm lại, nước Mỹ sẽ có lợi từ thương mại nếu nó trao đổi 6W được nhiều hơn 4C của Anh và nước Anh chỉ sẽ có
Trang 16lợi nếu trao đổi được ít hơn 12C để có được 6W từ Mỹ Do đó, miền trao đổi để cả hai quốc gia cùng có lợi là:
Ví dụ, nếu nước Mỹ trao đổi 6W lấy 8C của Anh thì mỗi quốc gia đều có lợi 4C và tổng lợi ích của 2 quốc gia vẫn là 8C Nếu nước Mỹ đổi 6W lấy 10C thì Mỹ sẽ có lợi 6C và Anh chỉ có lợi 2C (dĩ nhiên lợi ích có được từ thương mại sẽ thay đổi nếu
Mỹ trao đổi nhiều hơn 6W) Chúng ta sẽ thấy rằng tỷ lệ trao đổi trong thực tế được quyết định bởi cung và cầu Ngoài ra, tỷ lệ trao đổi cũng bị quyết định bởi sự phân chia tổng lợi ích có được từ thương mại của các quốc gia Cho đến lúc này, tất cả những điều mà chúng ta đã làm là chứng minh thương mại quốc tế có lợi cho cả hai quốc gia, cho dù một quốc gia có kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai mặt hàng
2.3 Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler
Lợi thế tương đối xem xét từ góc độ chi phí cơ hội
Theo quan điểm của một số nhà kinh tế thì quy luật về lợi thế tương đối được giải thích theo lý thuyết chi phí cơ hội đúng hơn nhiều so với cách lý giải của Ricacdo dựa trên lý thuyết về giá trị lao động
Theo Haberler, chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng các hàng hoá khác phải cắt giảm để có được thêm các nguồn tài nguyên để sản xuất thêm một đơn vị hàng
Trang 17hoá thứ nhất Như vậy, quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp trong việc sản xuất một loại hàng hoá nào đó thì họ có lợi thế tương đối ( lợi thế so sánh) trong việc sản xuất hàng hoá đó và không có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá thứ hai
Đường giới hạn khả năng sản xuất xét trong trường hợp chi phí cơ hội không đổi
Giả sử thế giới có hai quốc gia là Mỹ và Anh cùng sản xuất hai mặt hàng là thép và vải Chi phí cơ hội của Mỹ là một đơn vị thép bằng hai phần ba đơn vị vải, còn ở Anh là một đơn vị thép bằng hai đơn vị vải Với một nguồn lực nhất định ở cùng thời điểm thì:
+ Ở Mỹ nếu tập trung hết nguồn lực để sản xuất thép thì được hơn 180 đơn vị thép
Trang 18Bảng 2.1: Các phương án cắt giảm thép để sản xuất vải của Anh và Mỹ
Hình 2.1: Đường giới hạn khả năng sản xuất giữa Mỹ và Anh
Những điểm ở trong đường giới hạn tiềm năg sản xuất là những điểm mà nền sản xuất có thể đạt tới nhưng với hiệu quả thấp vì chưa sử dụng hết tài nguyên sẵn có Mặt khác những điểm ở bên ngoài đường giới hạn tiềm năng sản xuất là những điểm không thể nào đạt được trong điều kiện kinh tê đóng Trên thực tế chi phí cơ hội rất ít khi là một hằng số Phần lớn các quốc gia gặp phải cơ hội tăng dần
Trang 19 Lợi ích thu được qua thương mại trong điều kiện chi phí cơ hội không thay đổi
+ Trong trường hợp không có trao đổi quốc tế thì đường tiêu dùng trùng với đuờng giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó Khi đó các quốc gia phải tự tính toán cân nhắc để lựa chọn phuơng án tối ưu
+ Trường hợp có trao đổi quốc tế, giả sử hai quốc gia Mỹ và Anh thực hiện chuyên môn hoá hoàn toàn và tỉ lệ trao đổi giữa Mỹ và Anh là 70 đơn vị thép bằng 70 đơn
vị vải Khi đó Mỹ sẽ sản xuất thép tại A (180 đơn vị thép và không vải) , Anh sẽ sản xuất tại B’( 120 đơn vị vải và không có thép) Sau đó nhờ trao đổi mà Mỹ có thể tiêu dùng tại D( 110 đơn vị thép, 70 đơn vị vải), Anh tiêu dùng tại D’( 70 đơn
vị thép, 50 đơn vị vải) So với trường hợp không có quan hệ buôn bán với nhau, thì trao đổi thương mại giữa Mỹ và Anh đã đưa lại lợi ích cho cả hai quốc gia và cả thể giới như hình 2.2
Hình 2.2 : Lợi ích của trao đổi mậu dịch quốc tế
2.4 Lý thuyết chuẩn về thương mại quốc tế
Trang 20 Hạn chế của các lý thuyết cổ điển:
+ Lý thuyết cổ điển nghiên cứu thương mại với chi phí cơ hội không đổi:
Thực tế chi phí cơ hội gia tăng
+ Chỉ tập trung nghiên cứu về cung, Chưa đề cập tới cầu
Khái niệm chi phí cơ hội gia tăng
+ Chi phí cơ hội gia tăng (CPCHGT) có nghĩa là một quốc gia phải hy sinh tăng dần số lượng một sản phẩm để sản xuất thêm mỗi một đơn vị tiếp theo của sản phẩm khác
+ Chi phí cơ hội của một sản phẩm tăng dần theo qui mô sản lượng
Nguyên nhân chi phí cơ hội gia tăng
+ Nguyên nhân cơ bản là do tính đặc thù sản phẩm của yếu tố sản xuất
Tính thích hợp (hữu ích) của một yếu tố trong sản xuất các sản phẩm khác nhau là không như nhau
Ví dụ:
Việt Nam sản xuất lúa và mía
Đất cao thích hợp trồng mía,
Đất thấp thích hợp trồng lúa
Giả sử hiện thời tất cả đất dùng sản xuất lúa
+ Khi bắt đầu chuyển trồng lúa sang mía, đầu tiên đất cao chuyển sang trồng mía, (mỗi lần chuyển 1 ha đất) do đó sản lượng mía tăng nhiều và sản lượng lúa giảm ít,
tức là CPCH của mía còn thấp
+ Khi sản xuất mía tiếp tục tăng, đất thấp thích hợp cho sản xuất lúa, ít thích hợp hơn cho mía, chuyển sang trồng mía, do đó sản lượng mía tăng chậm hơn, trong khi sản lượng lúa giảm mạnh hơn, có nghĩa là CPCH của mía gia tăng
b) Chi phí cơ hội gia tăng và đường giới hạn khả năng sản xuất
+ Với CPCHGT thì đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là đường cong lõm
hướng về gốc tọa độ
Trang 21+ Chi phí cơ hội (CPCH) tại một điểm sản xuất (tại một mức sản lượng) bằng độ nghiêng tuyệt đối của đường PPF tại điểm sản xuất, Chính là độ nghiêng của đường tiếp tuyến với đường PPF tại điểm sản xuất
+ CPCH của sản phẩm nào thì bằng độ nghiêng với trục tọa độ biểu thị sản lượng của sản phẩm đó
Hình 2.3: Chi phí cơ hội gia tăng và PPF
Trang 22Khái niệm đường bàng quan đại chúng:
Thị hiếu tiêu dùng của người tiêu dùng cá thể được biểu thị bằng sơ đồ bàng quang (sơ đồ đẳng ích)
Thị hiếu tiêu dùng của một quốc gia được biểu thị bằng sơ đồ bàng quan đại chúng
Khái niệm:
“Đường bàng quan đại chúng của một quốc gia là đường biểu thị những kết hợp tiêu dùng khác nhau của hai sản phẩm, mang lại một mức thoả mãn tiêu dùng như nhau cho xã hội”
Hình 2.4: Đường bàng quan đại chúng
Tính chất đường bàng quan đại chúng
Các điểm trên cùng 1 đường BQĐC biểu thị mức độ thoả mãn tiêu dùng như nhau
BQ1: (A = B = C = D);
BQ 2: (M = N = L)
Các đường bàng quan không cắt nhau:
Đường bàng quan càng cao thì mức độ thoả mãn tiêu dùng càng cao:
Trang 23BQ3 > BQ2 > BQ1
Đường bàng quan dốc xuống về bên phải
Đường bàng quan là một đường cong lồi về phía gốc toạ độ
Tỷ lệ thay thế biên của s/p X cho Y (MRSxy),
là số lượng s/p Y mà người tiêu dùng phải cắt giảm để tiêu thụ thêm 1 đơn vị s/p X, sao cho mức thỏa mãn chung là không đổi
Tỷ lệ thay thế cận biên của X (MRSxy) bằng độ nghiêng tuyệt đối của đường bàng quan tại điểm tiêu dùng
(Với trục OX, biểu thị tiêu thụ sản phẩm X)
Khi lượng tiêu dùng X tăng thì tỷ lệ thay thế biên của X (MRSxy) giảm dần:
Độ nghiêng của đường bàng quan giảm dần khi lượng tiêu dùng X tăng (điểm tiêu dùng dịch chuyển từ trái qua phải)
Điều kiện tối ưu hóa tiêu dùng:
Điều kiện tối ưu hoá tiêu dùng là khi đường ngân sách (đường giới hạn tiêu dùng) tiếp xúc với đường bàng quan
Tiếp điểm là điểm tiêu dùng tối ưu
Trang 24 Tại điểm tiêu dùng tối ưu, tỷ lệ thay thế biên của một sản phẩm bằng giá so
sánh của sản phẩm đó: MRSxy(A) = (Px/Py)
Nguyên tắc này cũng sẽ được áp dụng cho một quốc gia trong mô hình lý thuyết chuẩn về mậu dịch quốc tế
Hình 2.5: Tiêu dùng tối ưu
b) Thương mại với chi phí cơ hội gia tăng (Trường hợp quốc gia nhỏ)
Mô hình:
2 quốc gia: Quốc gia 1 và quốc gia 2
Quốc gia 1 nhỏ so với quốc gia 2 Quốc gia 2 – Thế giới (Phần còn lại của thế giới)
Quốc gia nhỏ là bên chấp nhận giá của quốc gia lớn (thế giới)
Trạng thái cân bằng khi không có thương mại (tự cung tự cấp):
Trang 25Khi không có thương mại:
Đường giới hạn tiêu dùng là đường giới hạn khả năng sản xuất
Thị hiếu tiêu dùng được biểu thị bởi sơ đồ các đường bàng quan đại chúng
Trạng thái cân bằng (tối ưu hoá sản xuất và tiêu dùng) đạt được tại điểm sản xuất mà tại đó đường giới hạn khả năng sản xuất tiếp xúc với đường bàng quan đại chúng
Hình 2.6: Trạng thái Cân bằng khi không có thương mại
Cân bằng của quốc gia 1 là điểm A
điểm tiếp xúc của đường giới hạn khả năng sản xuất và đường bàng quan 1:
CPCHx(A) = MRSxy(A) = (Px/Py)1 = PA
PA = 1/4 – là giá sản phẩm so sánh cân bằng nội địa – Giá so sánh khi
không có thương mại)
Tại điểm cân bằng nội địa A, sản xuất và tiêu dùng của quốc gia 1 là tối ưu, quốc gia 1 sản xuất và tiêu thụ tại A (50X; 60Y)
Xác định lợi thế so sánh
Khi không có thương mại:
Trang 26 Giá so sánh s/p X tại quốc gia 1:
Khi có thương mại
Quốc gia 1 nhỏ tham gia vào thương mại quốc tế không ảnh hưởng tới giá thế giới
Quốc gia 1 CMHSX s/p X và trao đổi với thế giới lấy s/p Y
Điểm sản xuất từ A dịch chuyển xuống dưới, chi phí cơ hội s/p X tăng dần,
Chuyên môn hoá tại quốc gia 1 diễn ra cho tới khi chi phí cơ hội s/p X cân
bằng giá thế giới (Px/Py)w = Pw =1
Điểm sản xuất mới tại quốc gia 1 là
B(130X; 20Y):
Hình 2.7: Thương mại với Chi phí cơ hội gia tăng
Trang 27 Tại B: CPCHx(B) = PB = (Px/Py)w = Pw = 1
Quốc gia 1 xuất khẩu s/p X và nhập khẩu s/p Y theo giá thế giới (Px/Py)w =
Pw = 1
Tiếp tuyến BK đi qua điểm sản xuất B, có độ nghiêng là giá cân bằng PB =
Pw = 1, là đường giới hạn tiêu dùng của quốc gia 1 khi có mậu dịch
Quốc gia 1 có thể tiêu dùng trên đường BK thông qua mậu dịch bằng cách trao đổi với thế giới theo giá (Px/Py) = 1
Tiêu dùng khi có mậu dịch là tiếp điểm E của đường giới hạn tiêu dùng BK với đường bàng quan đại chúng 3
Quốc gia 1 tiêu thụ tại E(70X; 80Y), bằng cách trao đổi 60X lấy 60Y với quốc gia 2 theo giá thế giới (Px/Py)w = 1 (xem tam giác mậu dịch BCE)
Điểm tiêu dùng E trên đường bàng quan 3 cao hơn so với đường bàng quan
1, tức là tại E mức độ thoả mãn tiêu dùng cao hơn so với điểm A khi chưa có mậu dịch: đây chính là lợi ích mậu dịch
Lợi ích mậu dịch:
Sản xuất: B (130X; 20Y)
Trao đổi: (–60X; +60Y)
Tiêu thụ (có mậu dịch): E (70X; 80Y)
Tiêu thụ (Ko có mậu dịch): A (50X; 60Y)
Lợi ích mậu dịch
(Tiêu thụ↑): E(BQ3) > A(BQ1)
Với chi phí cơ hội gia tăng thì chuyên môn hoá là không hoàn toàn:
Quốc gia 1 chuyên môn hóa sản xuất s/p X là sản phẩm có lợi thế so sánh, vẫn tiếp tục sản xuất cả s/p Y (sản phẩm không có lợi thế so sánh)
2.5 Lý thuyết của Heckcher – Ohlin
Các giả thuyết của Heckcher - Ohlin:
Trang 28+ Thế giới chỉ có hai quốc gia chỉ có hai loại hàng hóa ( x và y) và chỉ có hai yếu
ở cả hai quốc gia
+ Các yếu tố đầu vào tự do di chuyển trong từng quốc gia nhưng bị cản trở trong phạm vi quốc tế
+ Không có chi phí vận tải, không có hàng rào thuế quan và các trở ngại khác trong thương mại giữa hai nước
Hàm lượng các yếu tố sản xuất trong các hàng hóa và đường giới hạn tiềm năng sản xuất
Chúng ta rằng hàng hóa y là hàng hóa chứa đựng nhiều tư bản với quốc gia thứ nhất nếu tỉ giá giữa tiền thuê tư bản lãi suất trên tiền lương (r/w) ở quốc gia này thấp hơn so với quốc gia thứ nhất Như vậy đường giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia thứ hai sẽ nghiêng về oy và của quốc gia thứ nhất nghiêng về ox
Ta giả thiết để sản xuất mặt hàng vải cần nhiều lao động còn mặt hàng thép cần nhiều vốn hơn Đài Loan có nhiều tư bản nên họ sản xuất tương đối nhiều thép hơn Mặt khác do Việt Nam có nhiều lao động nên sản xuất tương đối nhiều vải hơn Từ đó hình dạng của đường giới hạn tiềm năng sản xuất của hai quốc gia được thể hiện như hình 2.8
Trang 29Hình 2.8: Quá trình hình thành giá cả sản phẩm khung cân bằng tổng quát của lý thuyết Heckchers – Ohlin
Cấu trúc cân bằng chung của học thuyết Heckcher – Ohlin
Cấu trúc cân bằng chung của học thuyết Heckcher – Ohlin được tóm tắt trong sơ
đồ hình 2.8 Bắt đầu tại góc phải phía dưới của sơ đồ ta thấy rằng sở thích và sự phân phối theo quyền sở hữu các yếu tố sản xuất ( nghĩa là phân phối thu nhập) xác định nhu cầu hàng hóa Nhu cầu hàng hóa xác định nhu cầu sản xuất về yếu tố cầu
để sản xuất chung Lượng cầu về các yếu tố sản xuất cùng với lượng cung sẽ xác định giá cả và yếu tố sản xuất trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo Giá cả các yếu
tố sản xuất cùng với công nghệ sẽ xác định giá cả của hàng hóa cuối cùng Sự khác biệt về giá tương đối cuối cùng của hàng hóa giữa các nước quyết định lợi thế so sánh và mô hình thương mại Sơ đồ trên hình 2.8 cho thấy tất cả các lực lượng cùng với nhau quyết định giá cả hàng hóa cuối cùng như thế nào Đây chính là cái
mà chúng ta nói rằng mô hình Heckcher – Ohlin là mô hình cân bằng chung Tuy
Trang 30nhiên trong số tất cả các lực lượng tương tác này, định lý Heckcher – Ohlin tách riêng sự khác biệt về khả năng vật chất hay khả năng cung cấp các yếu tố sản xuất giữa các nước ( với sở thích và công nghệ như nhau) để giải thích sự khác biệt về giá tương đối của hàng hóa và thương mại giữa các nước Đặc biệt Ohlin giải thích
sở thích và phân phối thu nhập giống nhau giữa các nước Điều này dẫn đến nhu cầu giống nhau về hàng hóa cuối cùng và yếu tố sản xuất ở các nước khác nhau
Do đó sự khác biệt về cung các yếu tố sản xuất ở các nước khác nhau là nguyên nhân của sự khác biệt yếu tố khác nhau dẫn đến giá tương đối của hàng hóa khác nhau và diễn ra thương mại giữa các nước Sự khác biệt về khả năng cung cấp tương đối các yếu tố dẫn đến sự khác biệt về giá cả tương đối của các yếu tố và giá
cả hàng hóa mà chúng được chỉ ra bởi đường đậm trong hình 2.8
Câu hỏi ôn tập
1 Trình bày tóm tắt lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
2 Trình bày tóm tắt Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
3 Trình bày tóm tắt Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler
4 Cho mô hình thương mại quốc tế sau:
a) Các quốc gia nên xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng nào? Vì Sao?
b) Nếu VN trao đổi 4 kg gạo lấy 4 thước Thép, VN sẽ thu thêm được bao nhiêu thước thép hoặc tiết kiệm được bao nhiêu giờ lao động
c) Tại ĐL, 4 Kg gạo nhận được của VN tương ứng với bao nhiêu giờ lao động của
ĐL, số giờ lao động này có thể sản xuất ra được bao nhiêu thước thép
d) ĐL còn thu được bao nhiêu thước thép, hoặc tiết kiệm được bao nhiêu giờ lao động sau khi đổi 4 Kg gạo với VN
5 Cho mô hình thương mại quốc tế sau:
Trang 31Sản Xuất Đài Loan Việt Nam
e) Theo David Ricardo, Việt Nam nên chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu
và nhập khẩu mặt hàng gì? Tại sao?
6 Trình bày tóm tắt Lý thuyết chuẩn về thương mại quốc tế
7 Trình bày tóm tắt Lý thuyết của Heckcher – Ohlin
Trang 32CHƯƠNG 3: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
3.1 Ý nghĩa của thương mại quốc tế và sự phát triển kinh tế
+ Thương mại quốc tế là động lực để tăng trương quốc tế
GDP của một quốc gia được xác định theo phương pháp chi tiêu và luồng sản phẩm theo công thức: GDP = C + I + G + (X-M)
Như vậy theo công thức trên tổng thu nhập quốc dân phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất nhập khẩu
3.2 Tỷ lệ trao đổi của quốc gia trong thương mại quốc tế
+ Khi phân tích các tác động của thương mại và sự bảo hộ đối với 1 nền kinh tế, để đơn giản hóa các mô hình phân tích, chúng ta giả định rằng tỷ lệ thương mại và giá quốc tế của các loại hàng hóa không đổi
+ Điều này đúng với các quốc gia nhỏ vì các quốc gia này không thể tự thay đổi tỷ
lệ thương mại hay giá quốc tế
+ Tuy nhiên, một số quốc gia đóng vai trò những nhà xuất khẩu chính trên thế giới
ở một số mặt hàng
+ VD:
Nam Phi với kim cương
Úc xuất khẩu len
Mỹ xuất khẩu máy bay
Trang 33Như vậy, thị trưởng ớ 1 quốc gia có thể tác động đến giá quốc tế và kim ngạch xuất nhập khẩu của một loại hàng hóa nếu như nền kinh tế của nó đủ lớn so với thế giới
=> Tỷ lệ thương mại tt của 1 quốc gia cũng thay đổi nếu như các yếu tố sản xuất cũng như thị hiếu ở quốc gia đó đủ lớn để tác động đến giá thế giới
+ Tỷ lệ thương mại giữa 2 nền kinh tế được xác định bởi các tương tác của dư cầu (excess demand) và dư cung (excess supply)
Đường PPF và thị hiếu trong mỗi quốc gia sẽ xác định chiều hướng của thương mại, tỷ lệ và mức độ thương mại (kim ngạch xuất nhập khẩu)
Các tiến bộ kỹ thuật, sự tăng trưởng kinh tế và các thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng cũng sẽ tác động đến tỷ lệ và kim ngạch xuất nhập khẩu
Đường cong ngoại thương (offer curve) sẽ chứng minh mối quan hệ thương mại giữa các bên
Tỷ lệ thương mại tăng cùng với chuyên môn hóa
Sự chuyên môn hóa và tỷ lệ thương mại
Đường hữu dụng của người tiêu dùng tăng lên đến đường II
+ Khi tt=2, nền kinh tế sẽ chuyên môn hóa vào sản xuất TS và trao đổi thương mại
để có thể tiêu thụ nhiều hơn ở cả 2 mặt hàng tại điểm T (so với điểm A)
+ Kim ngạch thương mại tăng trưởng từ 0 (tại điểm A) đến tam giác thương mại TDE, trong đó, nền kinh tế sẽ xuất khẩu 30 TS để nhập khẩu 60 XM
Trang 34Tỷ lệ thương mại
+ Khi tt tăng lên 3, nền kinh tế sẽ chuyên môn hóa nhiều hơn vào sản xuất TS và
có thể tiêu thụ càng nhiều hơn ở cả 2 mặt hàng tại điểm T’ (so với điểm T)
+ Kim ngạch thương mại tăng trưởng từ đến tam giác thương mại T’D’E’, trong
đó, nền kinh tế sẽ xuất khẩu 35 TS để nhập khẩu 105 XM
Sự chuyên môn hóa gia tăng cùng với tỷ lệ thương mại
Đường hữu dụng ở vị trí III cao hơn đường II
3.3 Chiến lược công nghiệp hoá của quốc gia
chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam chúng ta trong giai đoạn 2011 - 2020 phải nhằm hỗ trợ nông nghiệp nâng cao số lượng và chất lượng, tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường thế giới, duy trì và phát triển thế mạnh của một số ngành công nghiệp chế biến, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến để sản phẩm chủ yếu của nền kinh tế nước ta là sản phẩm công nghiệp thay vì sản phẩm nông nghiệp như hiện nay, như Đại Hội Đảng lần thứ IX và X đã khẳng định: “Sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
Trang 35đại” Từ những nhận định trên, chúng tôi đề nghị chiến lược phát triển công nghiệp giai đoạn 2011-2020 cần tập trung vào những điểm sau đây:
1 Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng cạnh tranh trong tương lai, đó là các ngành có công nghệ thích hợp, dễ tiếp thu và có nhu cầu cao trong tương lai, vừa đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước để tránh nhập khẩu, vừa đáp ứng xuất khẩu trên thị trường thế giới, đồng thời tăng thu nhập cho người lao động
2 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuyệt đối không thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có những công nghệ thấp Chính sách thu hút đầu tư phải năng động, linh hoạt đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa trong từng thời kỳ phát triển của đất nước Thu hút đầu tư có trọng điểm, kết hợp với phát triển kinh tế theo vùng Thái Lan là một quốc gia theo đuổi chiến lược thu hút đầu tư có trọng điểm, trên cơ sở xây dựng các bộ phận chuyên trách riêng biệt cho từng nguồn đầu tư Chính sự chuyên môn hóa và hoạt động độc lập chuyên biệt của các tổ chức này đã góp phần vào sựthành công trong việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến nước ngoài thông qua con đường cho phép đầu
tư có trọng điểm
3 Thực hiện chính sách nhập khẩu công nghệ Ta có thể tham khảo kinh nghiệm các nước, chẳng hạn: Hàn Quốc đã nhập khẩu công nghệ, mua các sáng kiến kỹ thuật và tự đầu tư bằng chính ngân sách Nhà nước, để xuất khẩu hàng công nghiệp Trong trường hợp, phải nhập khẩu công nghệ nước ngoài thông qua con đường đầu
tư trực tiếp, Hàn Quốc hạn chế tỉ lệ góp vốn đầu tư nước ngoài không vượt quá 50% vốn, nhằm tạo điều kiện phát triển cho công nghiệp đất nước, thể hiện tính tự chủ trong công nghiệp và phát triển kinh tế Ngoài ra, Hàn Quốc thành lập Ủy Ban chuyên trách quyết định việc chọn lựa công nghệ tiên tiến và định giá công nghệ nhập khẩu Đây là một kinh nghiệm có thể cần thiết cho công nghiệp Việt Nam
4 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp Hiện nay, chúng ta có thể phát triển nguồn nhân lực bằng nhiều con đường khác nhau, thông qua chuyển Thực tiễn phát triển kinh tế nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải, với nhiều cơ hội và thách thức Cùng một lúc, không thể nào giải quyết toàn bộ các vấn đề, và trong từng thời điểm lịch sử phát triển của đất nước chúng ta có thể ưu tiên cho
Trang 36lãnh vực này, cho lãnh vực kia, nhưng không bao giờ được phép xem nhẹ việc thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp, xương sống của nền kinh tế, mà trước đây, Đảng ta đã từng xác định “cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt” Thuật ngữ sử dụng có thể khác nhau, nhưng bản chất và ý nghĩa đích thực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật càng ngày càng có giá trị hơn trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, để “Sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Câu hỏi ôn tập
1 Hãy nê ý nghĩa của thương mại quốc tế và sự phát triển kinh tế
2 phân tích các tác động của thương mại và sự bảo hộ đối với 1 nền kinh tế
3 trình bày Chiến lược công nghiệp hoá của Việt nam
Trang 37CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
4.1 Khái quát chung về chính sách thương mại quốc tế
Khái niệm, nhiệm vụ và các bộ phận trong chính sách thương mại quốc tế + Khái niệm Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế hành chính và pháp luật dùng để thực hiện những mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực thương mại quốc tế của một nước trong một thời kỳ nhất định
+ Nhiệm vụ: Bảo hộ hợp lý thị trường và nền sản xuất nội địa; Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra bên ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế
+ Các bộ phận trong chính sách thương mại quốc tế a Chính sách mặt hàng b Chính sách thị trường c Các chính sách hỗ trợ khác
Các hình thức trong chính sách thương mại quốc tế gồm: Chính sách bảo hộ mậu dịch, Chính sách mậu dịch tự do
+ Chính sách bảo hộ mậu dịch là một hình thức trong chính sách thương mại quốc
tế, trong đó nhà nước áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ thị trường nội địa, bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài
Đối tượng áp dụng là những ngành sản xuất tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội, những ngành sản xuất có nguy cơ bị hàng nhập khẩu đe doạ sự tồn tại, những ngành công nghiệp còn non trẻ chưa đủ sức cạnh tranh, các loại hình trong chính sách bảo hộ mậu dịch Chính sách bảo hộ mậu dịch kiểu cũ
Trang 38+ Chính sách mậu dịch tự do là một hình thức trong chính sách thương mại quốc
tế, trong đó nhà nước từng bưóc giảm dần và tiến tới xoá bỏ những cản trở trong quan hệ buôn bán với bên ngoài, thực hiện việc tự do hoá thương mại
Công cụ thực hiện - Các biện pháp phi thuế quan - Hiệp định thương mại c ưu nhược điểm ưu điểm nhược điểm
4.2 Thuế quan
Khái niệm: Thuế quan là loại thuế đánh vào hàng hoá khi hàng hoá đó đi qua một lãnh thổ hải quan
Phân loại thuế quan:
+ Theo mục đích đánh thuế: Thuế quan tài chính Thuế quan bảo hộ
+ Theo đối tượng đánh thuế Thuế quan xuất khẩu Thuế quan nhập khẩu Thuế quan quá cảnh
+ Theo phương pháp tính thuế Thuế quan tính theo số lượng: Thuế quan tính theo giá trị Thuế quan tính hỗn hợp
4.3 Công cụ phi thuế quan
Các hàng rào phi thuế quan khác bao gồm:
Trang 39 Hạn ngạch:
Khi chính phủ bảo hộ một ngành hàng nào đó chính phủ sẽ đưa ra mức nhập khẩu tối đa và phân cho các nhà nhập khẩu theo hình thức cấp phép Hạn ngạch này khác với thuế quan hạn ngạch vì đối với thuế quan hạn ngạch thì vượt hạn ngạch sẽ phải đóng thuế cao nhưng vẫn được nhập còn cái này là cấm
Hiệu ứng của hạn ngạch là : giá nội địa của hàng hóa đó tăng lên, nhu cầu của HH
đó giảm xuống, sản lượng sx trong nước tăng lên Nhược điểm là dễ phát sinh tiêu cực trong cấp phép và khiến cho ngành được bảo hộ sx không hiệu quả, lãng phí nguồn lực quốc gia
Gần đây nhất ta thấy nổi lên là vụ án Mai Văn Dâu (nguyên thứ trưởng bộ thương mại) liên quan tới mua bán hạn ngạch dệt may
Khi gia nhập WTO các nước bắt buộc phải bãi bỏ hạn ngạch vì vậy nếu như báo chí có nhắc tới hạn ngạch hiện nay thì là nói tới Hạn ngạch thuế quan
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Trang 40Hai quốc gia ngồi lại với nhau đàm phán bảo là anh giảm xuất khẩu mặt hàng A vào nước tôi nếu không tôi sẽ áp dụng biện pháp trả đũa; hoặc tôi đổi lại một lợi ích nào đó
Để làm được điều này thì hai nước phải là bạn hàng lớn của nhau thì khi đàm phán giảm nó mới ảnh hưởng đáng kể Vì vậy ta sẽ thấy hình thức này chỉ có ở các nước lớn đặc biệt là trong ngành sản xuất ô tô giữa Mỹ và Nhật, EU
Trợ cấp xuất khẩu
Biện pháp của chính phủ tác động tới xuất khẩu như hoãn, giảm thuế, ưu đãi vốn, bảo lãnh các khoản vay… cho các doanh nghiệp sx hàng xuất khẩu
Hàng rào kỹ thuật (Tiêu chuẩn kỹ thuật)
Hàng hóa muốn nhập khẩu vào nước tôi phải đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, …Ví dụ như với EU thì là tiêu chuẩn CE; hàng hóa nào nhập vào châu âu cũng phải đáp ứng tiêu chuẩn này
Về hình thức thì là để bảo vệ người tiêu dùng trong nước nhưng thực tế là để bảo
hộ hàng hóa sản xuất trong nước tương ứng
Các công cụ phi thuế quan khác:
Biện pháp ngoại hối như tăng giảm tỷ giá giữa đồng nội địa và đồng tiền trao đổi
Ví dụ như nếu như Việt Nam giảm giá tiền đồng xuống còn 25.000đ/usd thì đương nhiêu là nhà xuất khẩu sẽ được hưởng thêm 4000 đ trên mỗi đô la mỹ thu về so với hiện nay vì vậy mà sẽ kích thích xuất khẩu; còn nhập khẩu thì ngược lại Các nước yêu cầu Trung quốc tăng giá nhân dân tệ cũng là vì lý do này
Ngoài ra còn nhiều các biện pháp khác như vụ bò điên của Mỹ khi EU cấm nhập khẩu bò từ Mỹ,…