1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI dự THI lien mon 2016 chuan

13 366 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 614 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI DỰ THIVẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN: “ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CÁ, TÔM CHẾT TRONG CÁC ĐẦM NUÔI THỦY SẢN TẠI XÃ ĐẢO HOÀN

Trang 1

BÀI DỰ THI

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH

HUỐNG THỰC TIỄN: “ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CÁ, TÔM CHẾT TRONG CÁC ĐẦM

NUÔI THỦY SẢN TẠI XÃ ĐẢO HOÀNG TÂN”

1/ TÌNH HUỐNG:

Được ngày chủ nhật Tôi theo bố ra đầm cho cá, tôm ăn Trên xe chở một lượng thức ăn xanh và thức ăn tinh khá lớn Tôi quay sang hỏi bố:

- Ao nhà mình nhỏ mà sao bố mang nhiều thức ăn cho tôm, cá vậy ạ?

- Bố tôi trả lời: sắp đến tết rồi, phải tăng cường liều lượng cho ăn, cá tôm lớn nhanh để tết bán lấy tiền mà tiêu con ạ!

Ngày hôm sau: Tôi thấy bố hớt hải chạy về nhà với vẻ mặt buồn, lo lắng gọi

mẹ và anh trai tôi ra đầm

Tôi hỏi thì được bố trả lời: Cá tôm đang lờ đờ trên mặt nước, nhanh nhanh

mà ra vớt không nó chết hết rồi, năm nào cũng thế, đen đỉu thế là cùng.

- Mới hôm qua con và bố cho cá, tôm ăn có sao đâu, sao hôm nay chúng lại chết được? tôi nói.

- Bố cũng không biết nữa, sáng nay dậy, bố nhìn xuống ao thấy nước chuyển màu đen, có mùi hôi tanh và cá, tôm bơi lờ đờ, vớt lên thì thấy mắt cá, tôm trắng, thở rất yếu Mà thôi, con hỏi gì mà nhiều vậy, nhanh nhanh ra giúp

bố mẹ 1 tay.

- Tôi thầm nghĩ: cả năm vất vả nuôi tôm cá để mong sao có cái tết như mọi nhà thế mà giờ thấy bố mẹ sắp trắng tay, nguyên nhân do đâu và liệu có biện pháp nào giảm thiểu cá, tôm chết trong các đầm, ao nuôi thủy sản, đó

là nỗi chăn trở của tôi và tôi quyết tâm nghiên cứu đề tài này.

2/ MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

- Giúp mọi người, đặc biệt là người dân nuôi thủy hải sản biết các nguyên nhân nói chung và hiểu rõ hơn tác hại của việc cho cá, tôm ăm thức ăn bừa bãi, không đúng liều lượng gây ô nhiễm nguồi nước, thiệt hại kinh tế

- Từ đó giúp người dân biết và hiểu một số biện pháp khắc phục tình trạng

cá tôm chết để không bị thua lỗ, đem lại giá trị kinh tế cao

- Khi giải quyết tình huống này chúng em được tìm hiểu sâu rộng kiến thức các môn đã học và vận dụng chúng trong thực tế

Trang 2

3/ TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

a/ Thành lập nhóm nghiên cứu:

- Gồm hai thành viên: Trần Ngọc Việt, Phạm Ngọc Mơ ( 9B )

b/ Tiến hành nghiên cứu: Bằng các phương pháp:

- Thu thập thông tin, tìm hiểu tư liệu liên quan: Tìm hiêu thông tin qua sách báo, mạng xã hội

- Thông kê: thống kê con số các gia đình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã

- Tích hợp: tích hợp những điều đã biết, đã học, kiến thức liên môn với thực

tế đời sống

- Phân tích, đánh giá: phân tích cụ thể các mặt tác hại, bày tỏ quan điểm về vấn đề

c/ Tổng hợp nghiên cứu và đề ra giải pháp:

- Chúng em đã vận dụng kiến thức liên môn để nghiên cứu và giải quyết tình huống:

+ Công nghệ 7: Biết được biện pháp sử dụng, cải tạo và bảo vệ môi trường

nuôi thủy sản (Bài 50); thức ăn của động vật thủy sản (Bài 52); Chăm sóc, quản lý và phòng trị bệnh cho động vật thuỷ sản (Bài 54); Bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ sản (Bài 56); ( Chương 1: Đại cương về kỹ thuật

nuôi thủy sản; Chương 2: Quy trình sản xuất và bảo vệ môi trường trong

nuôi thuỷ sản)

+ Môn Sinh 8: Tác hại của ô nhiễm môi trường nước (Bài 54, 55: ô nhiễm

môi trường)

+ Môn Hóa học 9: Thành phần và quá trình phân giải của các chất vô cơ.

Độ tan của một chất trong nước (Tiết 61); Nước (Tiết 54)

+ GDCD 7: Giáo dục, tuyên truyền tới mọi người ý thức bảo vệ môi trường

nước (Bài 14: Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên)

+ Môn Toán 7: Thống kê và tính phần trăm số người dân nuôi trồng thủy

sản

+ Môn Ngữ Văn: Nắm vững các kĩ năng viết văn, thuyết minh, nghị luận để

viết bài Bài thuyết trình có bố cục rõ ràng, diễn đạt mạch lạc, lập luận chặt chẽ…

+ Môn Tin học: Sử dụng mạng tìm kiếm thông tin, soạn bài tuyên truyền

bằng phần mềm Microsoft Powerpoit

Trang 3

d/ Nội dung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc giải quyết tình huống:

- Tình hình ô nhiễm môi trường trong các đầm nuôi trồng thủy sản

- Tình hình nhận thức của người dân địa phương

- Tìm hiểu chung về thức ăn của thủy sản

- Tác hại của việc cho cá, tôm ăn thức ăn bừa bãi không đúng liều lượng

- Nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước dẫn đến cá tôm chết

- Tác hại đối với môi trường

- Tác hại đối với con người

4/ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

- Vận dụng các kiến thức đã học ở nhà trường, bằng phương pháp khảo sát, điều tra, phân tích, tổng hợp để khảo sát tình hình, nguyên nhân

- Sử dụng các kiến thức ở các môn học khác nhau để xử lý lần lượt các vấn

đề trong tình huống

- Xây dựng cơ sở lý thuyết về các nguyên nhân phát sinh tình huống, giải quyết tình huống

- Lên kế hoạch phân tích và giảng giải tuyên truyền tác hại của ô nhiễm nguồn nước do cho cá, tôm ăn thức ăn bừa bãi trong các đầm nuôi thủy sản

5/ THUYẾT MINH TIẾN TRÌNH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

5.1 Sử dụng các tư liệu tham khảo sau:

+ SGK các môn: Công nghệ 7, Sinh 8, Hóa 9, Toán 7, GDCD 7…

+ Các loại sách báo, các trang mạng xã hội

5.2 Các phương pháp thực hiện:

+ Phương pháp đề nghị

+ Phương pháp tuyên truyền

+ Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin

+ Phương pháp trực quan

+ Phương pháp hợp tác

5.3 Tiến trình thực hiện:

a Tình hình ô nhiễm môi trường trong các đầm nuôi thủy sản:

Như chúng ta đã biết, Quảng Ninh là một tỉnh ven biển miền Bắc, có khoảng 40% người dân nuôi trồng thủy sản như cá, tôm Ngay ở địa phương em, xã đảo Hoàng Tân – thị xã Quảng Yên – tỉnh Quảng Ninh cũng có tới khoảng 60% người dân làm nghề nuôi trồng thủy sản, nhưng sự hiểu biết của họ về các biện pháp để hạn chế cá, tôm chết trong các mùa còn hạn chế Qua đài báo, tivi em được biết không chỉ ở xã em mà trên khắp các tỉnh thành của

Trang 4

đất nước còn có rất nhiều gia đình chưa hiểu và biết các biện pháp làm giảm thiểu cá, tôm tết tại các ao nuôi Việc cá, tôm chết càng gia tăng trong những năm gần đây do ô nhiễm môi trường nước, liều lượng thức ăn chưa hợp lý, còn dư thừa, nên có những gia đình cá tôm chết làm trắng tay, đã là gánh nặng họ

Hình ảnh tôm, cá chết do ô nhiễm nguồn nước tại các đầm nuôi thủy sản

b Tình hình nhận thức của người dân địa phương:

Chúng em đã sử dụng kiến thức môn Toán 7, tiến hành điều tra trên 30 hộ gia đình của học sinh trường THCS Hoàng Tân trên địa bàn xã Hoàng Tân

về hiểu biết của người lớn về tác hại của việc ô nhiễm nguồn nước và việc cho cá tôm ăn không đúng liều lượng

Mẫu phiếu điều tra:

Nội dung

điều tra

Biết về tá c hại của việc việc ô nhiễm nguồn nước và việc cho cá tôm ăn không đúng liều lượng

Biết về tá c hại của việc việc ô nhiễm nguồn nước và việc cho cá tôm ăn không đúng liều lượng

Hoàn toàn không biết về tác hại của ô nhiễm nguồn nước

và việc cho cá tôm

ăn không đúng liều

Trang 5

nhưng còn mơ hồ lượng.

Nhận thức

Thông kê kết quả và tính tỉ số phần trăm là:

Biết về tác hại của việc việc ô nhiễm nguồn nước

và việc cho cá tôm ăn không đúng liều lượng 15 50% Biết về tác hại của việc việc ô nhiễm nguồn nước

và việc cho cá tôm ăn không đúng liều lượng

nhưng còn mơ hồ

Hoàn toàn không biết về tác hại của ô nhiễm nguồn

nước và việc cho cá tôm ăn không đúng liều lượng 6 20%

Những con số này đã phần nào nói lên nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nguồn nước là do việc người dân cho cá tôm ăn thức ăn bừa bãi làm tôm cá chết ngày càng gia tăng

c Tìm hiểu chung về thức ăn của thủy sản:

Vận dụng kiến thức môn Công nghệ 7, chúng em tiến hành tìm hiểu về thức ăn chủ yếu cho tôm cá ăn gồm 2 loại chính:

*Thức ăn xanh(cỏ, lá):

*Thức ăn tinh (ngô, cám, đậu tương ): là các dạng cám công nghiệp hay cám tự nhiên, dạng thức ăn này thường bổ sung một nguồn đạm và tinh bột xuống môi trường nước phần dư thừa sẽ bị phân giải thành các chất vô cơ theo chuỗi sau:

Đạm  NH3(NH 4+ )  NO2  NO3

-(Nếu môi trường acid thì môi trường có NH4+, môi trường bazo thì có NH3)

( Vận dụng kiến thức môn Công nghệ 7)

Trang 6

Hình ảnh người dân cho cá ăn thức ăn tinh

d Tác hại của việc cho cá, tôm ăn thức ăn bừa bãi, không đúng liều lượng làm ô nhiễm môi trường nước:

Do khi nuôi tôm, cá người ta thường sử dụng 2 dạng thức ăn chính:

*Thức ăn xanh(cỏ, lá): Nếu nguồn thức ăn này không được kiểm soát phần

dư thừa sẽ bị lắng đọng và bị phân hủy bởi các vi sinh vật yếm khí, tạo ra các chất hữu cơ độc hại như CH4, làm giảm lượng oxi hòa tan

*Thức ăn tinh là các dạng cám công nghiệp hay cám tự nhiên, dạng thức ăn này thường bổ sung một nguồn đạm và tinh bột xuống môi trường nước phần dư thừa sẽ bị phân giải thành các chất vô cơ theo chuỗi sau:

Đạm  NH3(NH 4+ )  NO2  NO3

-(Nếu môi trường acid thì môi trường có NH4+, môi trường bazo thì có NH3)

Trang 7

Về cơ bản các chất trên sẽ không gây ngộ độc cho tôm, cá, …tuy nhiên nếu nồng độ vượt quá giới hạn thì sẽ làm giảm lượng oxi, ngoài ra khi đó các vi sinh vật gây hại sẽ tăng lên đáng kể và sẽ gây bệnh cho thủy sản ( Vận dụng kiến thức môn Công nghệ 7)

e Nguyên nhân ô nhiễm nguồn nước dẫn đến việc cá tôm chết:

- Tình trạng ô nhiễm môi trường đang xảy ra nghiêm trọng trong nuôi trồng thủy sản nguyên nhân là do phần lớn các chất hữu cơ dư thừa từ thức ăn, phân và các rác thải khác đọng lại dưới đáy ao nuôi Ngoài ra, còn các hóa chất, kháng sinh được sử dụng trong quá trình nuôi trồng cũng dư đọng lại

mà không được xử lý Việc hình thành lớp bùn đáy do tích tụ lâu ngày của các chất hữu cơ, cặn bã là nơi sinh sống của các vi sinh vật gây thối, các vi sinh vật sinh các khí độc như NH3, NO2, H2, H2S, CH4 Các vi sinh vật gây bệnh như: Vibrio, Aeromonas, Ecoli, Pseudomonas, Proteus,

Staphylococcus nhiều loại nấm và nguyên sinh động vật ( vận dụng môn

công nghệ 7 và môn Sinh học 8, Hóa học 9)

- Ngoài ra sau mỗi trận mưa môi trường ao nuôi bị thay đổi đáng kể làm cho

cá bị sốc dẫn đến dịch bệnh nếu nặng thì có thể chết cá, tôm ( Vận dụng

môn hóa học 9)

- Cơ chế gây lên hiện tượng thủy sản bị ngộ độc, thiếu oxi như sau:

- Khi ô nhiễm hàm lượng NO2, NO3- tăng lên, một phần NO2 sẽ được tạo thành acid nitric, đây là một loại acid gây độc cho các tế bào, làm phá hủy tế bào và làm cá mất dưỡng khí Ngoài ra phần NO2 và NO3- còn lại đặc biệt

là lượng NO2 sẽ kết hợp với Hemoglobin trong máu(khí này được cá thẩm thấu qua mang đưa vào máu) Mà Hemoglobin(HbFe) là hồng huyết cầu có vai trò vận chuyển oxi trong máu giúp cá hô hấp Tuy nhiên khi NO2 quá lớn trong máu sẽ chuyển HbFe2 thành methaemoglobinemia (HbFe3) làm mất khả năng vận chuyển oxi của Hemoglobin Từ đó làm cho cá, tôm bị ngạt do thiếu ôxi

4HbFe2+(O2) + 4 NO2- + 2 H2O > 2 HbFe3+ + OH- + 4 NO3- + O2

( Vận dụng kiến thức môn Hóa học 9)

f Tác hại đối với sinh vật:

- Trong các vùng nước nuôi thủy sản có rất nhiều sinh vật sống như thực vật phù du, thực vật đáy, động vật phù du và động vật đáy nếu nguồn nước bị ô nhiễm sẽ làm cho các sinh vật này bị hủy diệt

g Tác hại đối với con người:

gian dài thì lập tức NO2 sẽ kết hợp với các acid amin tạo nên chất Nitrosamine đây là hợp chất gây ung thư cực mạnh, ban đầu nó gây lên hiện tượng đột biến ở các tế bào từ đó tạo ra các tế bào ung thư và các tế bào

Trang 8

này nhanh chóng được nhân lên tạo nên khối u ác tính và gây lên bệnh là ung thư ( Vận dụng môn Hóa 9)

6/ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG TÔ, CÁ CHẾT TRONG CÁC ĐẦM NUÔI THỦY SẢN:

Để giải quyết tình huống trên cần có nhiều giải pháp sâu rộng, toàn diện Nhóm chúng em xin được đề nghị một số giải pháp sau:

dụng kiến thức môn Sinh học 8)

Trang 9

Trong quá trình nuôi nếu thủy sản bị bệnh, môi trường nuôi không ổn định chúng ta có thể dùng 2 sản phẩm sau đây (dùng kết hợp mới đem lại hiệu quả kinh tế:

*Nếu thủy sản đang bị bệnh: có thể dùng dung dịch Nano Bạc(N200) để té xuống mặt nước ao nuôi, các hạt nano bạc có kích thước rất nhỏ bé chỉ vài nano mét đến vài chục nano mét sẽ phân tán vào trong môi trường nước bao bọc lấy các bào tử nấm và vi khuẩn gây bệnh và không cho các loại vi sinh vật này lấy oxi từ môi trường bên ngoài để thực hiện các phản ứng hóa sinh trong cơ thể từ đó vi sinh vật mất năng lượng và chết từ từ (chết yểu) => Tiêu diệt được nguồn bệnh Ngoài ra các phân tử nano bạc này còn

có tác dụng khử mùi nước rất cao, các sản phẩm dư thừa như phân gia súc gia cầm thải xuống nước đều gây tác hại lớn tuy nhiên nếu chúng ta dùng định kỳ 1 tháng té N200 một lần sẽ có tác dụng phòng bệnh rất tốt Ở Kim Động –Hưng Yên một gia đình nuôi tới 5000 vịt đẻ hàng ngày thải một lượng phân rất lớn ruống môi trường nước, sau vài tháng triển khai nuôi vịt môi trường nước chuyển sang đen sẫm, có mùi hôi, tanh, thối(NH3, H2S…) tuy nhiên sau 3-5 ngày xử lý thì môi trường nước đã chuyển dần sang màu

xanh nõn chuối ( Vận dụng kiến thức môn công nghệ 7)

- Giải pháp 3: Sử dụng chế phẩm sinh học ( Vận dụng kiến thức môn công nghệ 7)

Ngày nay, chế phẩm sinh học được coi là một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong ao nuôi, tạo nền tảng vững chắc cho phần lớn hoạt động nuôi trồng thủy sản trên thế giới Chế phẩm sinh học đã được chấp nhận rộng rãi để khống chế dịch bệnh, tăng sức đề kháng Khác với biện pháp hóa học và kháng sinh, chế phẩm sinh học cung cấp một phương thức an toàn bền vững đối với người nuôi và tiêu dùng

Trang 10

Nhìn chung chế phẩm sinh học phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:

Thứ nhất: Làm cân bằng hệ vi sinh vật trong nước, ức chế sự phát triển quả

mức của các nhóm vi sinh vật gây hại, đưa về ngưỡng an toàn cho các động vật thủy sinh

Thứ hai: Các vi sinh vật có lợi trong chế phẩm sinh học phải đủ lớn để khi

đưa vào môi trường ao nuôi có hiệu quả nhanh và mạnh giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hạn chế dịch bệnh trên thủy sản

Thứ ba: Các vi sinh vật trong chế phẩm phải có khả năng phân giải các chất

vô cơ, hữu cơ trong ao nuôi làm giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm từ Nito như NO2, NH3, NO3-…từ đó cải thiện chất lượng nước đáng kể

Thứ tư: Cung cấp nguồn dưỡng chất cần thiết cho cá, tôm, hệ vi sinh vật

trong nước phát triển như cung cấp dinh dưỡng khoáng thiết yếu, các acid

amin, vitamin… ( Vận dụng kiến thức môn công nghệ 7)

- Kết hợp với việc sử dụng chế phẩm Vườn Sinh Thái để bổ sung vi sinh vật

có lợi, cung cấp dưỡng chất cho môi trường nước Với chế phẩm sinh học Vườn sinh thái có 5 thành phần cơ bản như: acid amin, dinh dưỡng khoáng, vitamin, vi sinh vật hữu ích, các loại men Sẽ đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn nói trên vì vậy khi chúng ta xử lý chế phẩm Vườn Sinh Thái xuống môi trường ao nuôi về cơ bản sẽ góp phần cải tạo môi trường nước, hạn chế các nguồn gây bệnh như các vi sinh vật có hại, hạn chế các chất vô cơ và hữu cơ, cung câp nguồn oxi hòa tan, làm cho thủy hải sản tăng sức đề kháng,

ít dịch bệnh… ( Vận dụng kiến thức môn công nghệ 7)

4/ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

Để giải quyết tình huống trên cần có nhiều giải pháp sâu rộng, toàn diện Nhóm chúng em xin được đề nghị một số giải pháp sau:

- Thông qua các cơ quan truyền thông tăng cường giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho mọi người hiểu được tác hại của việc đổ vỏ

hà bừa bãi đối với môi trường và sức khoẻ con người cũng như sinh vật

- Đưa vấn đề về tác hại của việc đổ vỏ hà bừa bãi vào các buổi hội họp của các tổ chức đoàn thể ở địa phương

-Vận động toàn dân đổ vỏ hà đúng nơi quy định

- Nêu cao khẩu hiệu về nội dung giảm thiểu tác hại của việc đổ vỏ hà bừa bãi ở nhiều nơi công cộng Tổ chức kí cam kết “Không đổ vỏ hà bừa bãi”

- Đặt thêm nhiều thùng rác ở nơi công cộng, đường sá đến tận các ngõ xóm

- Xử phạt những người đổ vỏ hà bừa bãi do thiếu ý thức và hiểu biết Thưởng cho những người phát hiện hành vi vi phạm

* Nhà trường:

Ngày đăng: 25/01/2017, 11:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh tôm, cá chết do ô nhiễm nguồn nước tại các đầm nuôi thủy sản - BÀI dự THI lien mon 2016 chuan
nh ảnh tôm, cá chết do ô nhiễm nguồn nước tại các đầm nuôi thủy sản (Trang 4)
Hình ảnh người dân cho cá ăn thức ăn tinh - BÀI dự THI lien mon 2016 chuan
nh ảnh người dân cho cá ăn thức ăn tinh (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w