ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI CÁC BÀI TOÁN QUANG HÌNH HỌC LỚP 9 A.. Ngay chính học sinh lớp 8 học nội dung này thường nghiên về phương pháp chứng minh các tam giác đồng dạng, còn việc
Trang 1ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI CÁC BÀI TOÁN QUANG HÌNH HỌC LỚP 9
A PHẦN MỞ ĐẦU.
I ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kiến thức là một biển mênh mông vô cùng vô tận Để hội nhập vào thế giới và hòa vào cùng xu thế đó, để vượt lên và chiến thắng, cái quan trọng nhất của nhà sư phạm là tạo động cơ mạnh mẽ cho người học và rèn luyện cho người học một phương pháp tư duy, sáng tạo, tìm tòi, tích cực
Môn toán nói chung là công cụ hữu hiệu giúp học sinh tiếp thu các môn học khác Trong đó, phần quang học (vật lýlớp 9) sử dụng nhiều kiến thức hình học lớp 8, đặc biệt các định lý về tam giác đồng dạng Ngay chính học sinh lớp 8 học nội dung này thường nghiên về phương pháp chứng minh các tam giác đồng dạng, còn việc tính các giá trị đoạn thẳng trong các tam giác đồng dạng thường dừng ở một phép tính tỉ lệ thức đơn giản và chỉ cần tính một bước là có ngay đáp số
Khi giải các bài toán quang - hình học lớp 9 trong đó có một dữ liệu cho biết, với kiến thức vật lý, học sinh khá dễ dàng dựng ảnh của một vật qua thấu kính Nhưng ngay sau đó lại có các câu hỏi tính khoảng cách ảnh đến thấu kính và độ cao ảnh … , đến đây hầu hết học sinh khá và trung bình, mặc dù đã được rèn luyện, cũng gặp nhiều lúng túng khi làm dạng toán này, còn học sinh giỏi thì trở nên tập trung hơn, tuy giải được nhưng chưa tự tin và lo lắng cho kết quả của mình Còn giáo viên khi dạy phần này mới thấy được những băn khoăn và lo lắng Thông thường do thời gian, nên phần vận dụng rất ít hoặc chỉ dừng ở phần gợi ý hoặc cố giảng cho các đối tượng khác nhau trong lớp hoặc chỉ kịp cho học sinh chép bài giải sẵn để về xem … Còn có tình huống học sinh giỏi có cách giải khác, bài khó hơn hỏi đột xuất thì ngay chính giáo viên cũng khó ứng
xử kịp thời
Để có thể giải quyết phần nào những khó khăn cho giáo viên và học sinh, tôi xin đưa ra một số phương pháp giải các bài toán quang hình lớp 9, cụ thể cách tính độ cao ảnh và khoảng cách ảnh đến thấu kính
II-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện mục tiêu đào tạo môn Vật lý ở trường trung học
cơ sở (THCS) cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, có hệ thống và tương đối toàn diện
Rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng vận dụng các kiến thức Vật lý để giải thích những hiện tượng Vật lý đơn giản, những ứng dụng trong đời sống,
kỹ năng quan sát
Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển của khoa học Vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức Vật lý có giá trị lớn trong đời sống và trong sản xuất, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngày nay việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong xã hội.Trong bối cảnh toàn ngành Giáo Dục và Đào Tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong họat động học tập mà phương pháp dạy học là cách thức họat động của giáo viên trong việc chỉ đạo,tổ chức họat động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học
Trang 2Yêu cầu đổi mới PPDH đối với môn Vật lý còn có một sắc thái riêng, phải huớng tới việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua họat động thực nghiệm và cao hơn nữa, cho học sinh giải quyết một số vấn đề Vật lý trong thực tế Qua nhiều năm giảng dạy vật lý ở trường THCS đối với học sinh vấn đề học bài mới và giải ,sửa các bài tập vật lý gặp không ít khó khăn vì học sinh thường không nắm vững lý thuyết, không có giờ luyện tập, chưa có kỹ năng vận dụng kiến thức vật lý Vì vậy các em giải bài tập một cách mò mẫm, không có định hướng rõ ràng, áp dụng công thức máy móc và nhiều khi không giải được, có nhiều nguyên nhân:
- Lý thuyết chưa tốt
- Học sinh chưa biết phương pháp để giải bài tập vật lý
- Chưa có những kỹ năng toán học cần thiết để giải bài tập vật lý
- Chưa xác định được mục đích của việc giải bài tập và tìm ra từ câu hỏi điều kiện của bài toán, xem xét các hiện tượng vật lý nêu trong đề bài tập để từ đó nắm vững bản chất vật lý, tiếp theo là xác định mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm.đĐó là lí
do tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm
III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
* Phạm vi nghiên cứu đề tài :
- Phương pháp nắm vững qui trình dạy Vật lí 9 trường THCS
* Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh khối 9 trường THCS nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy
IV- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu việc làm thí nghiệm, phương pháp bài tập Vật lý nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức , từ đó học sinh nắm chắc kiến thức hơn, giải bài tập tốt nâng cao chất lượng dạy và học
B PHẦN NỘI DUNG.
I CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng Môn Vật lý có mối quan hệ
gắn bó chặt chẽ, qua lại giữa các môn khác Việc tổ chức dạy học Vật lý THCS cần rèn luyện cho học sinh đạt được:
- Kỹ năng phân tích, xử lý các thông tin và các dữ liệu thu được từ các quan sát hoặc thí nghiệm
- Kỹ năng vận dụng các kiến thức để giải thích các hiện tượng vật lý đơn giản để giải quyết một số vấn đề trong thực tế cuộc sống
- Khả năng đề xuất các dự đoán hoặc giả thiết đơn giản về mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng vật lý
- Kỹ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác bằng ngôn ngữ vật lý Khối lượng nội dung của tiết học Vật lý được tính tóan để có thời gian dành cho các hoạt động tự lực của học sinh và đáp ứng những yêu cầu sau:
- Tạo diều kiện để cho học sinh thu thập và xử lý thông tin, nêu ra được các vấn đề cần tìm hiểu
- Tạo diều kiện để cho học sinh trao đổi nhóm, tìm phương án giải quyết vấn đề, thảo luận kết quả và rút ra những kết luận cần thiết
- Tạo điều kiện để cho học sinh nắm được nội dung chính của bài học trên lớp
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thuận lợi:
Được sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như lãnh đạo nhà trường về cơ
sở vật chất và trang thiết bị dạy học
Trang 3Giáo viên được tham gia tập huấn các lớp bồi dưỡng, chuyên đề, thay sách giáo khoa, nắm được những thay đổi về phương pháp dạy học môn Vật lí
Học sinh có ý thức tự học, tự phấn đấu Nội dung sách giáo khoa Vật lí biên soạn hợp lí, logic Hầu hết các bài học đều có dụng cụ thí nghiệm, giúp học sinh dễ dàng làm quen với các dụng cụ thí nghiệm Học sinh hứng thú khi làm thực hành thí nghiệm Vật lí
2 Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi đó thì trong quá trình nghiên cứu đề tài này cũng gặp không ít khó khăn:
Nhìn chung học sinh vẫn còn quen theo lối học thụ động gây tác động tiêu cực cho việc áp dụng nghiên cứu đề tài
Đa số học sinh là con nông dân nên việc nhận biết kiến thức còn khó khăn, các em còn rụt rè thụ động trong học tập
Ý thức học tập một số em còn kém, gây không ít khó khăn cho Giáo viên trong quá trình dạy học
Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm tới việc học của con em mình
Cơ sở vật chất trường học còn chật hẹp chưa đáp ứng được yêu cầu của phòng bộ môn
III NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1 Những biện pháp hướng dẫn học sinh giải bài toán quang hình lớp 9.
- Nắm bắt được mức độ, lượng hóa mục tiêu của từng bài
- Tùy từng bài toán quang hình để đưa ra các cách giải khác nhau mà đưa đến cùng một kết quả
- Giáo viên phải sử dụng linh hoạt mọi biện pháp sư phạm đêû phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập Đối với môn vật lý nói chung và nói riêng ở chương trình vật lý trung học cơ sở để cho học sinh không nhàm chán khi làm một bài tập vật lý, vì thế tùy từng bài giáo viên giảng dạy đưa ra cách giải bằng nhiều phương pháp khác nhau
- Muốn đạt được kết quả trên đối với mỗi giáo viên không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phải biết vận dụng kết hợp các phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
- Mục tiêu kĩ năng: quan sát, nhìn nhận
- Mục tiêu thái độ: tuân thủ, tán thành, bảo vệ
2 Một số phương pháp giải bài toán quang hình lớp 9
Bài toán1:( Thấu kính hội tụ và vật đặt ngoài tiêu cự)
Vật sáng AB = h = 1cm được đặt vuông góc với trục chính của TKHT có tiêu cự
f = 12cm Điểm A nằm trên trục chính và vật AB cách thấu kính một khoảng
d = 36cm
a, Hãy dựng ảnh A’B’ của vật AB
b, Vận dụng kiến thức hình học , hãy tính khoảng cách từ ảnh đến TKHT và chiều cao của ảnh
Bài giải:
Cách 1:
Sử dụng tia đi qua quang tâm O và tia đi qua tiêu điểm F đến thấu kính cho tia ló song
song với trục chính
a, Vẽ ảnh:
B
Trang 4O F’ A’
A F
H B’
b, Tóm tắt: OF = OF’ = f = 12cm
OA = 36cm
AB = h = 1cm
Tính OA’, A’B’
Từ nhận xét: OH = A’B’ Ta có:
Tam giác ABF đồng dạng với tam giác OHF (gg)
' '
AB BE AF AB OA OF
OH HF OF A B OF
−
1 36 12 24
A B
−
' ' 12 0,5
24
A B
Tam giác ABO đồng dạng tam giác A’B’O (gg)
1 36
' 0,5.36 18
AB OA
OA
A B OA OA
Vậy khoảng cách từ ảnh đến TKHT là 18cm Độ cao của ảnh là 0,5cm
Cách 2:
Sử dụng tia tới song song với trục chính đến TKHT cho tia ló qua tiêu điểm F’ và tia đi qua tiêu điểm F đến TKHT cho tia ló song song với trục chính.
a, Vẽ ảnh:
B K
O A’
A F F’
H B’
b, Bài giải:
Tính A’B’ theo (*) cách 1 và A’B’ = 0,5cm
Tam giác OKF’ đồng dạng với tam giác A’B’F’
OK OF AB OF
A B A F A B OA OF
− (Vì OK = AB và A’F’ = OA’- OF’)
0,5 ' 12 ' 12 0,5.12 6 ' 6 12 18
OA OA OA
⇔ =
−
⇔ = + =
Vậy khoảng cách từ ảnh đến TKHT là 18cm Độ cao của ảnh là 0,5cm
Cách 3:
Sử dụng tia đi qua quang tâm O và tia song song với trục chính cho tia ló qua tiêu điểm F’.
a, Vẽ ảnh: B H
Trang 5F’ A’
A F O
B’
b, Bài giải:
Tam giác OAB đồng dạng với tam giác OA’B’ (gg)
OA OB AB
OA OB A B OA A B
Tam giác OHF’ đồng dạng với tam giác A’B’F’ (gg)
OH OF AB OF
A B A F A B OA OF
− ( Vì OH = AB và A’F’ = OA’ – OF’) 12
' ' ' 12
AB
A B OA
− (2)
Từ (1) và (2) ta có:
36 ' 432 12 '
OA =OA ⇔ − =
Thay OA’ = 18 vào (1) ta được:
(1) 36 1 36 ' ' 18 ' ' 0,5
Vậy khoảng cách từ ảnh đến TKHT là 18cm Độ cao của ảnh là 0,5cm
Bài toán 2: ( TKHT và vật đặt nằm trong tiêu cự)
Vật sáng AB = h = 1cm được đặt vuông góc với trục chính của TKHT có tiêu cự
f = 12cm Điểm A nằm trên trục chính và vật AB cách thấu kính một khoảng
d = 8cm
a, Hãy dựng ảnh A’B’ của vật AB
b, Vận dụng kiến thức hình học , hãy tính khoảng cách từ ảnh đến TKHT và chiều cao của ảnh
Bài giải:
Cách 1:
Sử dụng tia đi qua quang tâm O và tia đi qua tiêu điểm F đến thấu kính cho tia ló song
song với trục chính
a, Vẽ ảnh: ’
B’ H
B
A’ F A O F’
b, Tóm tắt: OF = OF’ = f = 12cm
OA = 8cm
AB = h = 1cm
Tính OA’, A’B’
Tam giác FAB đồng dạng Với tam giác FOH (gg)
AF AB
OF OH
⇔ = (1)
Mà AF = OF – OA và OH = A’B’ nên:
Trang 6(1) 12 8 1
OF OA AB
Tam giác OAB đồng dạng với tam giác OA’B’ (gg)
' 24
OA A B OA
OA
OA AB
Vậy độ cao của ảnh là 3cm và khoảng cách từ ảnh đến TKHT là 24cm
Cách 2:
Sử dụng tia tới song song với trục chính đến TKHT cho tia ló qua tiêu điểm F’ và tia đi qua tiêu điểm F đến TKHT cho tia ló song song với trục chính.
a, Vẽ ảnh:
B’ H
B K
A’ F A O F’
b, Bài giải:
Tam giác FAB đồng dạng Với tam giác FOH (gg)
AF AB
OF OH
⇔ = (1)
Mà AF = OF – OA và OH = A’B’ nên:
OF OA AB
Tam giác F’OK đồng dạng với tam giác F’A’B’ (gg)
' ' ' ' '
OF OK
A F A B
⇔ = Mà OK = AB = 1cm nên
' ' 36 ' ' ' ' ' ' 3
OF AB
A F
A F = A B ⇔ A F = ⇔ = cm
Mà OA’ = A’F’ – OF’ = 36 – 12 = 24cm
Vậy độ cao của ảnh là 3cm và khoảng cách từ ảnh đến TKHT là 24cm
Cách 3:
Sử dụng tia đi qua quang tâm O và tia song song với trục chính cho tia ló qua tiêu điểm F’.
a, Vẽ ảnh: B’
B H
A’ F O F’
b, Giải:
Cách 3a :
Tam giác OAB đồng dạng với tam giác OA’B’ (gg)
8
OA OB A B OA A B
Tam giác F’OH đồng dạng với tam giác F’A’B’ (gg) ' ' ' '
'
F A A B
F O AB
⇔ = Mà F’A’ = OF’ + OA’ = 12 + OA’ nên:
Trang 712 ' ' ' 12
OA A B
AB
+
Từ (1) và (2) ' 12 '
OA +OA
Giải phương trình ta cĩ kết quả OA’ = 24cm và thay vào (1) tính được
A’B’ = 3cm
Cách 3b:
Tam giác OAB đồng dạng với tam giác OA’B’(gg)
8
OA OB A B OA OB
Tam giác BB’H đồng dạng với tam giác OB’F’ (gg)
OB OF
BB BH
⇔ = = ( Vì BH = OA = 8cm) Aùp dụng tính chất dãy tỉ lệ thức , ta cĩ:
3
OB BB OB BB OB OB
OB
−
Từ (1’) và (2’) ta tính được OA’ = 24cm và A’B’ = 3cm
Như vậy riêng bài tốn 2 đã cĩ 4 cách giải khác nhau trong 3 cách vẽ hình khác nhau
Bài tốn 3: ( Thấu kính phân kỳ và vật đặt nằm ngồi tiêu cự)
Vật sáng AB = h = 3cm được đặt vuơng gĩc với trục chính của TKPK cĩ tiêu cự
f = 12cm Điểm A nằm trên trục chính và vật AB cách thấu kính một khoảng
d = 36cm
a, Hãy dựng ảnh A’B’ của vật AB
b, Vận dụng kiến thức hình học , hãy tính khoảng cách từ ảnh đến TKPK và chiều cao của ảnh
Bài giải:
Cách 1:
Sử dụng tia đi qua quang tâm O và tia hướng đến tiêu điểm F’ – đến TKPK cĩ tia lĩ
song song với trục chính
a, Vẽ ảnh:
B
B’ H
A F A' O F’
b, Tĩm tắt: OF = OF’ = f = 12cm
OA = 36cm
AB = h = 3cm
Tính OA’, A’B’
Tam giác F’OH đồng dạng với tam giác F’AB (gg) '
'
F O OH
F A AB
Vì OH = A’B’ và F’A = OF’ + OA = 12 + 36 = 48 cm ' ' ' 12 ' ' ' ' 0,75
F O A B A B
A B
F A AB
Tam giác OA’B’ đồng dạng tam giác OAB (gg)
Trang 8' ' ' ' 0,75 ' 9
OA A B OA
OA
OA AB
Vậy khoảng cách từ ảnh đến TKPK là OA’ = 9cm và độ cao ảnh A’B’ = 0,75cm
Cách 2:
Sử dụng tia song song với trục chính có tia ló kéo dài qua tiêu điểm F và tia hướng tới F’đến TKPK có tia ló song song với trục chính.
a, Vẽ ảnh:
B H
B’ K
A F
A’ O F’
b, Bài giải:
Tam giác F’OK đồng dạng với tam giác F’AB
'
'
F O OK
F A AB
Vì OK = A’B’ và F’A = OF’+ OA = 12+36 = 48cm:
12 ' '
' ' 0,75
48 3
A B
A B cm
Tam giác FA’B’ đồng dạng với tam giác FOH
FA' A B' '
OF AB
⇔ = Vì OH = AB =3cm:
12 ' 0,75
'
OA
OA
−
Vậy khoảng cách từ ảnh đến TKPK là OA’ = 9cm và độ cao ảnh A’B’ = 0,75cm
Cách 3:
Sử dụng tia đi qua quang tâm O và tia song song với trục chính đến TKPK – có tia ló kéo dài qua tiêu điểm F.
a, Vẽ ảnh:
B H
B’
A F A’ O F’
b, Giải:
Cách 3a:
Tam giác OAB đồng dạng với tam giác OA’B” (gg)
36
OA OB A B OA OB A B
OA OB AB OB AB
Tam giác FA’B’ đồng dạng tam giác FOH (gg)
Trang 9A F' FB' A B' '
OF FH AB
Vì OH = AB; A’F = OF – OA’ = 12 – OA’
12 ' ' '
12
OA A B
AB
−
Từ (1) và (2) ta cĩ : ' 12 '
' 9
OA OA
OA
−
Thay OA’ = 9cm vào (1) ta được A’B’ = 0,75cm
Vậy khoảng cách từ ảnh đến TKPK là OA’ = 9cm và độ cao ảnh A’B’ = 0,75cm
Cách 3b:
Tam giác OAB đồng dạng tam giác OA’B’(gg)
36
OA OB A B OA OB A B
OA OB AB OB AB
Tam giác FB’O đồng dạng với tam giác HB’B(gg)
FB OB OF OB
HB BB HB BB
Aùp dụng tính chất tỉ lệ thức Ta cĩ:
' ' 1 3 4
OB
OB BB = =
+ + (2).
Từ (1) và (2) ta tính được OA’=9cm và A’B’=0,75cm
Như vậy riêng bài tốn 3 đã cĩ 4 cách giải khác nhau trong 3 cách vẽ khác nhau
Qua 3 bài tốn quang – hình học điển hình nêu trên tơi nhận xét sau:
- Cĩ các phương án giải trong một bài tốn quang hình học
- Cĩ cách giải chỉ cần một bước (1 cặp tam giác đồng dạng) là cĩ được kết quả (nếu sử dụng 1 tia tới đi qua tiêu điểm F và tia 1 cịn lại)
- Cĩ cách giải cần 3 bước (2 cặp tam giác đồng dạng và thêm vận dụng tính chất tỉ
lệ thức hoặc tính chất dãy tỉ lệ thức)
IV KẾT QUẢ:
- Sau gần một tháng áp dụng các giải pháp đã nêu tơi thấy kết quả HS giải bài tốn "
Quang hình học lớp 9 " khả quan hơn Đa số các HS yếu đã biết vẽ hình , trả lời được
một số câu hỏi định tính
Tất cả các HS đã chủ động khi giải loại tốn này, tất cả các em đều cảm thấy thích thú hơn khi giải một bài tốn quang hình học lớp 9
Qua kết quả trên đây, hy vọng lên cấp III các em sẽ cĩ một số kỹ năng cơ bản để giải loại tốn quang hình học này
*Kết quả đợt khảo sát cuối tháng 4/2013:
Trang 10Lớp Sĩ số
Điểm trên 5 Điểm 9-10 Điểm 1-2 Điểm trên 5 tăng
Kết quả Khối 9: Điểm trên 5: Tăng 20,6%
Điểm 1-2 :giảm 5,3% ; Điểm 9 - 10 tăng: 6,4%
- Khi dựng ảnh đã phải rèn luyện tốt cho các đối tượng học sinh sử dụng 2 trong 3 tia bất kỳ Đây là cơ sở dẫn đến nhiều cách giải khác nhau
- Cung cấp và ôn các định lý về tam giác đồng dạng , các tính chất tỉ lệ thức mà học sinh được học ở lớp 8 Do đó học sinh đã tiếp thu các bài toán quang – hình một cách khá chủ động
- Giải các bài toán quang – hình từ dễ đến khó ( thực hiện bước 1 đến bước 2,3), giúp học sinh trung bình có thể làm một cách nhẹ nhàng
- Qua việc học sinh nắm được nhiều cách giải khác nhau, giáo viên đã rèn luyện tư duy phân tích, tổng hợp, nhất là rèn luyện tính linh hoạt, nhạy bén và khái quát được nhiều bài toán đã làm
C PHẦN KẾT LUẬN.
I NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Để sáng kiến có thể áp dụng và triển khai có hiệu quả, xuất phát từ những vấn đề cơ bản được trình bày ở trên, trong quá trình giảng dạy giáo viên cần
lưu ý một số vấn đề sau đây:
- Bản thân giáo viên, khi đưa cho học sinh làm các bài toán quang - hình phải nắm nhiều cách giải khác nhau trong một bài toán
-Giáo viên phải rèn luyện cách giảng dạy các bài toán quang hình sao cho nhuần nhuyễn, tránh sai phạm thuật ngữ và kiến thức toán học
- Giáo viên phải ôn các nội dung toán về các định lý về tam giác đồng dạng
ở lớp 8, các tính chất tỉ lệ thức ở lớp 7 ( trong đó có tính chất mở rộng mà học sinh ít gặp)
- Do thời gian làm bài tập dạng này rất ít, giáo viên phải chủ động và chuẩn bị các tài liệu ôn tập, các bài tập phải được photo cho học sinh xem và định hướng trước
Và để làm được đều đó thì chúng ta không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ thường xuyên tìm tòi và học hỏi
II NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT:
- Trong khi giảng dạy để áp dụng tốt đề tài này, tôi mong muốn các thầy cô giáo trong nhà trường cùng kết hợp tốt với nhau về mặt phương pháp
- Tuy đề tài này chỉ nghiên cứu trên một đối tượng vật lý 9, nhưng nó có thể áp dụng được cho môn lớp từ 7 chương Quang học
Trên đây là những kinh nghiệm, những suy nghĩ của bản thân trong quá trình thực tiễn dạy học và đút kết từ kinh nghiệm của đồng nghiệp nên sáng kiến này chắc