Đã từ rất xa xưa trong dân gian ta đã có câu “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ” vậy căn nguyên nguồn gốc và ý nghĩa câu nói này như thế nào? Cội nguồn “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ” Xuất phát từ câu nói của sứ giả Nguyễn Thư Hiên chép ở sách Dư địa chí do Nguyễn Trãi biên soạn có lời của Nguyễn Thiên Túng liên quan đến 4 xứ: “Nguyễn Như Hiên nói” Thế xứ Thanh, thần xứ Nghệ, nước Hưng Thái, ma Cao Lạng đều rất đáng sợ”. Câu nói có liên quan đến hai xứ Thanh và Nghệ, là mảnh đất sản sinh ra những con người, vua chúa, quan thần của đất nước.
Trang 1PHÒNG GD & ĐT Nga Sơn
Trường THCS Ba Đình
BÀI DỰ THI: EM YÊU LỊCH SỬ XỨ THANH
CÂU 1 Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu (tức Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng những kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trong các vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất.
Trả lời.
Đã từ rất xa xưa trong dân gian ta đã có câu “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ” vậy căn
nguyên nguồn gốc và ý nghĩa câu nói này như thế nào?
Cội nguồn “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ”
Xuất phát từ câu nói của sứ giả Nguyễn Thư Hiên chép ở sách Dư địa chí do Nguyễn Trãi biên soạn có lời của Nguyễn Thiên Túng liên quan đến 4
xứ: “Nguyễn Như Hiên nói” Thế xứ Thanh, thần xứ Nghệ, nước Hưng Thái, ma Cao Lạng đều rất đáng sợ” Câu nói có liên quan đến hai xứ Thanh và Nghệ, là
mảnh đất sản sinh ra những con người, vua chúa, quan thần của đất nước
Năm 1428 Lê Lợi lập ra nhà Hậu Lê Ông là người Thanh Hóa.
Trang 2
Liên tiếp các triều vua, chúa xuất phát từ đất Thanh Theo thống kê thì từ thời Văn Lang cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng là triều Nguyễn với vua Bảo đại thì Thanh Hóa chính là khởi nguồn của nhiều dòng vua, chúa nhất nước vì vậy nên mới có câu “Vua xứ Thanh”.
Thanh Hóa chính là nơi vua xuất hiện nhiều nhất khi năm Mậu thìn (248) Triệu Thị Trinh đánh tan quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa Tuy chưa xưng vua nhưng quân Ngô đã gọi bà là Vua Nhà Tiền Lê do thập đạo tướng quân
Lê Hoàn lãnh đạo cũng xuất phát từ quê nhà Thọ Xuân, Thanh Hóa
Sau khi Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần, lập nên nhà Hồ đổi tên nước là Đại Ngu cũng đặt kinh đô ở thành Tây Giai, tức Tây Đô, Thanh Hóa Nơi đây cũng trở thành mảnh đất sản sinh ra những vị vua thời Hậu Lê như Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông
Không chỉ có vậy, Thanh Hóa còn là nơi xuất phát của hai dòng chúa Trịnh, Nguyễn Chúa Trịnh Kiểm thời vua Lê vốn xuất thân từ Vĩnh Lộc, Thanh Hóa sau
đó mang tiếng giúp phò Lê nhưng thực ra lấn át cả quyền lực của vua
Chúa Nguyễn lập sau thời chúa Trịnh cũng trấn trị ở đất Thuận Hóa sau mới
mở rộng khai phá tận Đàng Trong
Thanh là nơi xưng vương, xưng chúa còn Nghệ lại là nơi sản sinh ra các quan thần giỏi giang giúp vua trị vì đất nước Từ quan văn như thái sư Nguyễn Xí phò tá vua Lê Thánh Tông, bà chúa Lãnh - minh phi của Lê Thánh Tông đến quan võ, tướng quân Nguyễn Cảnh Chân giúp nhà Trần dẹp quân Minh Hơn thế, mảnh đất
“Địa linh nhân kiệt” là nơi xuất thân của vô số bậc nhân tài trong tất cả các lĩnh vực như Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh
Trang 3Đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí.
Dị bản
Ngoài câu nói được lưu truyền là “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ” thì trong dân gian còn xuất hiện dị bản “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần” hay “Thanh thế, Nghệ thần” cũng nói về 2 xứ lắm vua nhiều chúa này
Hai tác giả H.Le Breton và Đặng Thai Mai đã đưa ra giải thích cho câu nói này
có nghĩa là vùng đất Nghệ Tĩnh được thừa hưởng ân huệ của vua chúa Nơi đây cũng là vùng đất của các vị thần Nghệ Tĩnh hãnh diện vì có một trong bốn ngôi đền đẹp nhất An Nam “Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng” Giáo
sư Đặng Thai Mai còn giải thích rằng“Thanh Hóa là đất đế vương Nghệ Tĩnh là đất thần linh Thần xứ Nghệ phần lớn là những nhân vật lịch sử Lịch sử Nghệ Tĩnh luôn gắn với nước nhà Trong các thời kỳ khủng hoảng bi đát của dân tộc người xứ Nghệ vẫn tự hào với những di tích anh hùng và những nhân vật lẫy lừng của xứ sở”.
Hiện tại Thanh Hóa- Nghệ An là 2 tỉnh quan trọng của Việt Nam cả về kinh
tế và lịch sử Nơi đây vẫn luôn sản sinh ra những người con ưu tú, nhân tài giúp ích cho đất nước đúng như dân gian lưu truyền về mảnh đất “địa linh nhân kiệt”
LÊ LỢI - VỊ ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
Trang 4Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh
Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng.
Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới
Trang 5Lê Lợi - Vị anh hùng giải phóng dân tộc
Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (6-8 năm Ất Sửu) tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương" Ông là con út của Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Hương (anh lớn của ông tên Học, anh thứ là Trư) Ông nối nghiệp cha làm chúa trại Lam Sơn Khi quân Minh chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn đánh đuổi xâm lăng Quân nhà Minh nghe tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu khuất
Trang 6Ông nói: "Làm trai nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người?" Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm
nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê
hương Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo về Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa, ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả Tham Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch
Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới Không có Lê Lợi, không có phong trào khởi nghĩa Lam Sơn Nhưng Lê Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo lập ra tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn mà ông còn là nhà chỉ đạo chiến lược kiệt xuất Một nét đặc sắc, mới mẻ trong đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Minh mà Lê Lợi thực hiện
là dựa vào nhân dân để tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc Nhìn vào lực lượng nghĩa binh và bộ chỉ huy, tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính chất nhân dân rộng rãi của nó, một đặc điểm nổi bật không có ở các cuộc khởi nghĩa khác chống Minh trước đó Dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội trong một tổ chức chiến đấu, rồi từ cuộc khởi nghĩa ở một địa phương, lấy núi rừng làm căn cứ địa, phát triển sâu rộng thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên quy mô toàn quốc Đây là một cống hiến sáng tạo to lớn về đường lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham mưu của ông, để lại một kinh nghiệm lịch sử quý giá
Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo chiến lược về chính trị, quân sự, vừa là vị tướng cầm quân mưu trí, quả quyết, Lê Lợi đã vận dụng lối đánh "vây thành diệt viện"
Trang 7Theo lý thuyết quân sự ông nghiền ngẫm: Đánh thành là hạ sách Ta đánh thành kiên cố hàng năm, hàng tháng không lấy được, quân ta sức mỏi, khí nhụt, nếu viện binh giặc lại đến thì ta đằng trước, đằng sau đều bị giặc đánh, đó là đường nguy Chi bằng nuôi sức khỏe, chứa khí hăng để đợi quân cứu viện tới Khi viện binh bị phá thì thành tất phải hàng" Chiến thuật "Vây thành diệt viện" của Lê Lợi kết hợp với chủ trương "mưu phạt nhị tâm công", uy hiếp, phân hóa, chiêu dụ địch của Nguyễn Trãi tạo nên một phương thức độc đáo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Cuộc vây hãm Vương Thông ở Đông Quan và tiêu diệt viện binh giặc tại Chi Lăng, Xương Giang cuối năm 1427 là kết quả thắng lợi của tư tưởng quân sự của
Lê Lợi - Nguyễn Trãi Sau khi đuổi hết giặc Minh về nước, Lê Lợi lên ngôi hoàng
đế năm 1428, sáng lập ra vương triều Lê Lê Lợi làm vua được 5 năm thì mất
(1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái Tổ
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước buổi đầu của vương triều Lê, Lê Lợi đã có những cố gắng không nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm phục hồi, củng cố, phát triển đất nước trên mọi mặt, như tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương xuống địa phương; ban hành một số chính sách kèm theo những biện pháp có hiệu quả để khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống xã hội Lê Lợi cũng chú ý tới việc phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo nhân tài Năm 1428, lên ngôi vua, năm sau (niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, 1429), Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh Kinh Năm 1431, thi khoa Hoành từ Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn sách Đấy là chưa kể năm 1426 trong khi đang vây đánh Đông Quan, Lê Lợi đã mở một khoa thi đặc cách lấy đỗ 32 người, trong đó có Đào Công Soạn, một nhà ngoại giao xuất sắc thời Lê Lợi Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn nhất phải quan tâm giải quyết hàng đầu sau khi đất nước được giải phóng là việc tăng cường củng cố, giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc Về phương diện này, Lê Lợi đã làm được hai việc có ý nghĩa lịch sử Thứ nhất, ông đã thành công trong cuộc đấu tranh ngoại giao, thiết lập quan hệ bình thường giữa triều Lê và triều Minh Thứ hai, Lê Lợi đã kiên quyết đập tan những âm mưu và hành động bạo loạn muốn cát cứ của một số ngụy quân trước, điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Lai Châu
Lê Lợi trong 5 năm làm vua, có những công lao to lớn Đại Việt sử ký toàn thư
viết: "Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh, 20 năm mà thiên hạ đại định Đến khi lên ngôi, định luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, lập quan chức, lập phủ huyện, thu góp sách vở, mở trường học, có thể gọi là có mưu lớn, sáng nghiệp”
Trang 8Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông - NXB Giáo dục 1988) Ngày 27 -
06 - 2011, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này
Trả lời:
Thành nhà Hồ hiện nay nằm trên hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) Đây là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam Được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, thành này còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội) Xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời đô từ Thăng Long về Tây Đô
Theo sử liệu, vào năm 1397, trước nguy cơ đất nước bị giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay là Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài, đồng thời cũng là cách để hướng lòng dân đoạn tuyệt với nhà Trần
Cổng thành phía Nam là cổng chính dẫn vào Hoàng thành
Trang 9Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km Hào thành được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các hướng khoảng 50 m Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành.
Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông Chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông - Tây dài 883,5 m Bốn cổng thành theo chính hướng Nam
- Bắc - Tây - Đông gọi là các cổng Tiền - Hậu - Tả - Hữu Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau
Cổng tiền (cổng phía Nam) là cổng chính, có ba cửa Cửa giữa rộng 5,82 m, cao 5,75 m, hai cửa bên rộng 5,45 m, cao 5,35 m Ba cổng còn lại chỉ có một cửa Tường thành cao trung bình 5-6 m, chỗ cao nhất là cổng tiền cao 10 m
Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai (đường Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5 km hướng về đàn tế Nam Giao (nơi nhà vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8/1402
Trải qua hơn 600 năm với những thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, tường thành phía ngoài còn khá nguyên vẹn
Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau Các phiến đá dài trung bình 1,5 m, có tấm dài tới 6 m, trọng lượng ước nặng 24 tấn
Trang 10Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp công phu.
Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững Qua hơn 600 năm cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn, dù thời gian xây dựng rất gấp gáp, chỉ trong khoảng 3 tháng
Theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng, như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng rất nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long
Tuy nhiên, trải qua hơn 600 năm tồn tại, hầu hết công trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy Những dấu tích nền móng của cung điện xưa giờ vẫn đang nằm ẩn mình phía dưới những ruộng lúa của người dân quanh vùng
Trong số hàng nghìn hiện vật được khai quật ở thành nhà Hồ, có nhiều loại
vũ khí gồm đạn đá, chông sắt bốn cạnh, mũi dao, mũi tên, đinh thuyền
Trang 11
Ngày 27- 6- 2011, tại phiên họp lần thứ 35 của Ủy ban di sản thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra tại thủ đô
Paris (Pháp), thành nhà Hồ đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Ông Vương Văn Việt, Phó chủ tịch UBND Thanh Hóa cho biết, thời gian tới, tỉnh sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy giá trị lịch sử của di tích này Trước mắt tỉnh sẽ thực hiện việc bảo tồn, tu bổ, tôn tạo theo đúng luật Di sản văn hóa của Việt Nam và Công ước quốc tế về di sản thế giới, tiếp tục xây dựng và trình Thủ tướng phê duyệt kế hoạch bảo tồn di sản này
Tiếp đó tỉnh sẽ phối hợp với cơ quan chức năng từng bước khai quật khảo cổ học, kêu gọi nguồn lực đầu tư nhằm làm tăng thêm sức hấp dẫn di tích và thu hút
du khách “Cùng với cố đô Huế, Hoàng thành Thăng Long, tỉnh Thanh Hóa rất vinh
dự và tự hào vì có một kinh thành được công nhận là di sản văn hóa thế giới”
Câu 3: Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió
mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Bằng kiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh.
Trả lời:
Khởi nghĩa Bà Triệu (248) – sự quật cường của phụ nữ Việt Nam
Bà Triệu (225 - 248) sinh tại miền núi Nưa, quận Cửu Chân (nay là huyện Thiệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) Theo sử cũ nước ta, tên thật của Bà Triệu là Triệu Ẩn
Từ nhỏ, Bà Triệu đã thể hiện là một cô gái giàu lòng yêu nước, có khí phách lớn Bà rất chịu khó luyện tập võ nghệ Lớn lên, bà trở thành một người phụ nữ can đảm, mưu trí, có có sức khỏe hơn người Người ta đồn rằng, tuổi thanh niên, bà đã đánh được voi dữ một ngà và thu phục nó
Khi bà sang 19 tuổi, nhiều người khuyên bà nên sớm lấy chồng Bà đã đáp bằng
câu nói đầy khí phách: ''Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém
cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người ta”.
Bà cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt hiệp mưu, tính kế, tập hợp nhân dân chống lại quân Ngô Trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Tùng Sơn, Phú Điền (nay thuộc
huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa) Đây là địa điểm gần biển, lại là cửa ngõ từ đồng bằng miền Bắc vào Thanh Hoá, nên đây là một vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi cả công lẫn thủ
Hưởng ứng lá cờ khởi nghĩa của hai anh em Bà Triệu, nhân dân ở Cửu Chân theo rất đông Nghĩa quân ngày đêm luyện tập, mài gươm luyện võ, chờ ngày nổi dậy Nhân dân vùng Thanh Hoá còn truyền lại bài ca dao nói lên khí thế nô nức của