Những thành tựu cơ bản của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Trước hết, thành tựu quan trọng nhất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta chính là quá trình đất nước ta
Trang 1VIỆT NAM TỰ TIN VỮNG BƯỚC TRÊN CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP
Kế tục tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách phù hợp về chủ trương, đường lối cũng như biện pháp tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra thế và lực mới cho đất nước.
Chúng ta hiện đang chứng kiến xu thế phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Đó là quá trình gắn kết nền kinh tế của một nước với nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào tiến trình phân công lao động quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan, cuốn hút mọi quốc gia, dân tộc và có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế - chính trị thế giới
Ngay sau khi đất nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những tư tưởng, chủ trương về mở cửa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác quốc tế Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã không có điều kiện triển khai một cách đầy đủ tư tưởng về mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Người
Kế tục tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình triển khai công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách phù hợp về chủ trương, đường lối cũng như biện pháp tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng, tranh thủ có hiệu quả các nguồn lực và sự ủng hộ của quốc tế, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra thế và lực mới cho đất nước, vị thế quốc tế thuận lợi chưa từng có Bên cạnh đó, ngày càng hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới và khu vực, chúng ta đồng thời phải đối phó, vượt qua không ít khó khăn, quan tâm xử lý nhiều vấn đề để tiến trình hội nhập của đất nước phát triển vững chắc và hiệu quả
Những thành tựu cơ bản của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trước hết, thành tựu quan trọng nhất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta chính
là quá trình đất nước ta đã tự đổi mới theo yêu cầu của hội nhập, từng bước chủ động, tích cực chuẩn
bị và tham gia ngày càng sâu rộng và hiệu quả vào tiến trình toàn cầu hóa thông qua việc thiết lập quan hệ và tham gia hoạt động trong các thể chế kinh tế quốc tế ở nhiều tầng nấc: song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu
Triển khai chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế trong công cuộc đổi mới, nước ta đã phá vỡ bao vây cấm vận, đồng thời từng bước tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc tế: khởi đầu là việc khôi phục lại quan hệ với nhiều nước, các trung tâm tài chính - tiền tệ, cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế và ký kết các hiệp định kinh tế, thương mại và đầu tư song phương đầu những năm 90 (thế kỷ XX); tiếp đó, tham gia các cơ chế hợp tác khu vực (ASEAN), liên khu vực (hợp tác Á - Âu, ASEM, APEC), và toàn cầu (WTO) Đến nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ kinh tế - thương mại với trên 170 quốc gia, nền kinh tế, đã ký kết gần 60 hiệp định kinh tế - thương mại song phương, trong đó có toàn bộ các nước, nền kinh tế phát triển, thị trường lớn Chúng ta ngày càng hoạt động tích cực và hiệu quả, nâng cao vị thế đất nước trong các thể chế hợp tác quốc tế Đặc biệt là, sau 11 năm đàm phán, ngày
11012007, chúng ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của thể chế kinh tế thương mại toàn cầu -Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Tiến trình hội nhập với các bước đi và hoạt động như trên đã mang lại cho đất nước ta những cơ hội lớn để tận dụng được nguồn ngoại lực quan trọng bổ sung cho nội lực, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc, an ninh - quốc phòng và định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của nước ta trên trường quốc tế
Thứ hai, chúng ta đã tăng cường mạnh mẽ hoạt động và hiệu quả của kinh tế đối ngoại, góp phần
tăng cường tiềm lực của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
Trang 2Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng mở rộng thị trường và đối tác kinh tế - thương mại, tăng cường xuất nhập khẩu Từ chỗ kim ngạch thương mại đạt chưa tới 5 tỉ USD và bạn hàng chủ yếu là một số nước Đông Âu vào cuối những năm 80 (thế kỷ XX), đến nay, với trên 170 đối tác thương mại, kim ngạch hai chiều năm 2006 của nước ta đã đạt xấp xỉ 85 tỉ USD và tiếp tục có triển vọng tăng cao trong năm nay và các năm sắp tới
Thông qua hội nhập, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực thu hút đầu tư và tranh thủ nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) của nước ngoài Hiện nước ta có quan hệ đầu tư với hơn 70 nước và lãnh thổ, với nhiều tập đoàn và công ty đa, xuyên quốc gia lớn, có tiềm lực về công nghệ và tài chính Với khoảng 7.000 dự án, tổng số vốn đăng ký trên 60 tỉ USD, Việt Nam hiện đang được đánh giá là một trong những nước có sức hấp dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cao trong khu vực, với một làn sóng đầu tư nước ngoài mới Đầu tư nước ngoài đã và đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất và tạo việc làm cho người lao động Khu vực kinh tế có vốn FDI đã trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đóng góp khoảng 16% GDP của cả nước, 60% tổng kim ngạch xuất khẩu Thông qua hội nhập, chúng ta còn tranh thủ được nguồn ODA khá lớn, với tổng vốn các nhà tài trợ cam kết từ năm 1993 đến nay đạt khoảng 35 tỉ USD - nguồn vốn đặc biệt quan trọng để phát triển hạ tầng cơ sở, phục vụ các chương trình thu hẹp khoảng cách phát triển, xóa đói, giảm nghèo
Mở cửa và hội nhập cũng góp phần thúc đẩy lĩnh vực du lịch - dịch vụ của nền kinh tế Với khoảng
4 triệu du khách nước ngoài đến ta hằng năm, du lịch đang ngày càng trở thành một ngành mũi nhọn của nền kinh tế, góp phần tạo công ăn việc làm và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước
Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần đẩy nhanh quá trình cải cách, tăng cường nội lực
nền kinh tế đất nước trên cơ sở nâng cao khả năng cạnh tranh và năng lực hội nhập
Công cuộc cải cách, đổi mới theo hướng thuận lợi hóa, tự do hóa đầu tư - thương mại của chúng ta có xuất phát điểm từ những đòi hỏi cấp thiết về vượt qua khủng hoảng, tăng trưởng và phát triển của nội tại nền kinh tế, đồng thời được đẩy mạnh do yêu cầu của mở cửa và hội nhập quốc tế Thành quả là, chúng ta đã dần hình thành và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cần thiết cho việc quản lý - điều hành vĩ mô, tạo môi trường thông thoáng cho sản xuất - kinh doanh và phát triển kinh tế Mặt khác, thông qua hội nhập, nền kinh tế và các doanh nghiệp của chúng ta đã từng bước làm quen và tham gia cạnh tranh quốc tế, do vậy, năng lực cạnh tranh được cải thiện và ngày càng nâng cao Nguồn nhân lực cũng được đào tạo ngày càng đáp ứng yêu cầu hội nhập và trưởng thành trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước
Những thuận lợi và thách thức đối với nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trước hết, cần khẳng định thuận lợi có tính tiền đề và quyết định đối với thành - bại trong toàn bộ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đó là, Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm và chủ trương rất đúng đắn về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó định ra những lộ trình, biện pháp triển khai thích hợp Trên cơ sở đánh giá toàn diện và khách quan tình hình và xu hướng phát triển của toàn cầu hóa, Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) đã đề ra chủ trương lớn: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường", đồng thời, cần "khẩn trương xây dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế với lộ trình hợp lý và chương trình hành động cụ thể"[1] Cụ thể hóa đường lối của Đại hội IX, tháng 11-2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 07 NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nêu rõ mục tiêu, các quan điểm chỉ đạo cũng như những nhiệm vụ cụ thể Nghị quyết này mang tính đột phá, đóng vai trò quan trọng, là “kim chỉ nam” hướng dẫn,
Trang 3thống nhất về mặt nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân về tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Những quan điểm, chủ trương cũng như những quyết sách triển khai hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta đã được sự đồng thuận, hưởng ứng và tích cực tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp
Một thuận lợi lớn khác là đất nước ta triển khai tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trên nền tảng của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ năm 1986 Những nội hàm và thành tựu mọi mặt của công cuộc đổi mới đã tạo những điều kiện thuận lợi để chúng ta triển khai và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh những thành tựu to lớn về tăng trưởng và phát triển kinh tế, những thành quả khác của công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực ổn định chính trị - xã hội, mở rộng và tăng cường quan hệ đối ngoại cũng tạo thêm nền tảng vững chắc, môi trường thuận lợi để chúng ta tăng cường triển khai hội nhập kinh tế quốc tế Mặt khác, việc triển khai và đạt được những kết quả to lớn bước đầu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế lại trở thành những động lực thúc đẩy tiếp công cuộc đổi mới nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng
Hơn nữa, chúng ta triển khai hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh quốc tế và khu vực khá thuận lợi, với hòa bình, ổn định và hợp tác là xu thế chủ đạo; đồng thời, tiến trình toàn cầu hóa/hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, do vậy, chúng ta có thêm đà thúc đẩy hội nhập
Vị trí đặc biệt của nước ta về địa - chiến lược trong bản đồ phát triển kinh tế thế giới và khu vực cũng tạo cho chúng ta những lợi thế so sánh nhất định trong quá trình tham gia toàn cầu hóa/hội nhập kinh tế quốc tế
Cuối cùng, sức ép tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện buộc ta phải quyết tâm, tích cực cải cách thể chế, thay đổi tư duy phát triển để không chỉ tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, mà còn biến thách thức thành cơ hội
Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cơ bản nói trên, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta đã và tiếp tục phải đối phó với nhiều khó khăn, thách thức, cả chủ quan, nội tại lẫn khách quan, từ bên ngoài
Về chủ quan, đó là những khó khăn, thách thức về nhận thức, quan điểm và chủ trương, chính sách; những tồn tại trong công tác chỉ đạo, điều hành; những hạn chế, bất cập về năng lực hội nhập của nền kinh tế
Đến nay, có thể khẳng định, Đảng và Nhà nước ta đã có nhận thức, quan điểm khách quan, đúng đắn và chủ trương, chính sách phù hợp về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ nhân dân, doanh nghiệp, thậm chí đảng viên, cán bộ, nhất là ở các địa phương, vẫn chưa theo kịp với đòi hỏi của tình hình, chưa thực sự đổi mới và nâng cao nhận thức và quan điểm về toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
Trong công tác chỉ đạo, điều hành, chúng ta chưa tạo được sự nhất quán cao của các cấp, các ngành và toàn nền kinh tế trong việc tích cực chủ động chuẩn bị và tiến hành hội nhập Chúng ta vẫn đang hoàn chỉnh chiến lược và lộ trình hội nhập tổng thể, ít nhiều còn bị động hoặc thiếu sự bổ sung, hỗ trợ, thống nhất giữa các cấp độ, các kênh hội nhập Do vậy, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta còn chậm, hiệu quả chưa thật cao; một số bước đi, biện pháp vẫn thể hiện tư tưởng bảo hộ và lợi ích cục bộ của các ngành, lĩnh vực, chưa đứng trên lợi ích vĩ mô nền kinh tế và của toàn xã hội Năng lực hội nhập nền kinh tế nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập, thể hiện ở những mặt sau:
- Năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, doanh nghiệp và cả nền kinh tế của nước ta còn yếu
do chúng ta tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế trên nền tảng một nền kinh tế có trình độ phát triển thấp, cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch, khu vực kinh tế nhà nước còn kém hiệu quả, khu vực kinh tế tư nhân phát triển còn chậm Đây là một trong những yếu tố cơ bản cản trở nền kinh tế đất nước hội nhập sâu rộng, hiệu quả vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực
Trang 4- Cơ chế kinh tế thị trường của chúng ta chưa thật hoàn thiện, còn nhiều khiếm khuyết cơ bản, nhiều thị trường quan trọng, nhất là các thị trường vốn, lao động, bất động sản, khoa học - công nghệ v.v., còn chưa phát triển
- Những yếu kém về quản lý và điều hành của các cơ quan nhà nước cũng tạo ra những cản trở đối với hội nhập kinh tế quốc tế Hệ thống luật pháp của ta vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, nhất là về các lĩnh vực kinh tế, thương mại; nhiều quy định pháp lý còn lạc hậu so với thực tiễn quốc tế về phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư, cản trở việc hoạch định các lộ trình hội nhập, cản trở khả năng và hoạt động hội nhập, đồng thời không bảo vệ được lợi ích của ta khi cần thiết
Song hành những vấn đề chủ quan, nội tại, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức khách quan, từ bên ngoài Đó là:
- Toàn cầu hóa, tự do hóa tạo ra cả cơ hội và thách thức Các nước phát triển, có tiềm lực kinh tế thường tranh thủ được nhiều cơ hội hơn, có khả năng tránh hoặc vượt qua được những thách thức và rủi ro, trong khi các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, do yếu kém về nội lực, thường rơi vào thế ngược lại Bên cạnh những thời cơ, điều kiện thuận lợi để phát triển, chúng ta luôn đứng trước nguy cơ tụt hậu, phát triển không đồng đều, chịu những hệ lụy tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế
- Hệ thống thương mại đa phương vốn do các nước phát triển khởi xướng, xây dựng và chi phối, do vậy, chứa đựng nhiều quy định bất bình đẳng và bất lợi cho các nước có trình độ phát triển thấp, tham gia sau, trong đó có Việt Nam Mặt khác, những nguyên tắc, quy định ngày càng chặt chẽ, đòi hỏi cao hơn Hội nhập sau, nước ta phải thực hiện các nghĩa vụ đã được thành viên khác thỏa thuận và thực hiện từ lâu Những quy định mang tính linh hoạt ưu tiên đối với các nước đang phát triển cũng ngày càng hạn chế và khó thương lượng, đạt được
- Tiến trình toàn cầu hóa, tự do hóa ẩn chứa xu hướng gia tăng rào cản thương mại và biện pháp bảo hộ rất tinh vi của các nước tư bản phát triển, gây thiệt hại và khó khăn cho các nước đang phát triển Tình trạng gia tăng các vụ kiện, tranh chấp thương mại mà chúng ta phải đối phó trong thời gian qua là những minh chứng rất rõ về vấn đề này
- Những hệ lụy phi kinh tế của tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế cũng không nhỏ Đó là những thách thức đối với độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, những tác động tiêu cực về xã hội và môi trường sống
Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới
Công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta vẫn đang trong giai đoạn đầu, với không ít khó khăn, thách thức đang còn ở phía trước Do vậy, trong bối cảnh đất nước ngày càng chủ động và tích cực hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào đời sống kinh tế - chính trị quốc tế, chúng ta cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cả về chủ trương, chính sách và giải pháp để hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mang lại hiệu quả cao, góp phần phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Về chủ trương, đường lối, chúng ta cần kiên định chủ trương đúng đắn "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn và đầy đủ hơn , trên cơ sở lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo " và " theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường" đã được khẳng định tại các Đại hội IX, X của Đảng cũng như các nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Mặt khác, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vẫn trong quá trình vận động, phát triển, với nhiều biến chuyển cả về nội dung lẫn hình thức Do vậy, cần tiếp tục theo dõi tình hình và nghiên cứu sâu, toàn diện hơn để kịp thời có những nhận thức, đánh giá đúng, sát hợp về xu thế phát triển khách quan của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế cùng những cơ hội và thách thức, mặt tích cực và tiêu cực của tiến trình này nhằm điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hơn về chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước
Trang 5Về chính sách, chúng ta cần tiếp tục hoàn chỉnh đồng bộ các chính sách kinh tế, cả về định hướng
vĩ mô lẫn quản lý vi mô Cần đẩy mạnh xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hoàn thiện, hướng tới một nền kinh tế độc lập tự chủ, có năng lực cạnh tranh cao để hội nhập sâu rộng và hiệu quả vào nền kinh tế quốc tế Các chính sách cần phải vừa thúc đẩy, tăng cường hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm tăng trưởng và phát triển bền vững, xử lý thỏa đáng các vấn đề chính trị - xã hội
Cùng với việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chủ trương, chính sách, chúng ta cần quan tâm triển
khai đồng bộ, nghiêm túc một loạt giải pháp Trước hết, giải pháp bao trùm là khẩn trương triển khai
triệt để Nghị quyết 08-NQ/TW về Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững và Nghị quyết 16/2007/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW Gia nhập WTO đánh dấu mốc cao nhất trong tiến trình tham gia các thể chế hợp tác kinh tế - thương mại quốc tế của đất nước, song mới chỉ là sự khởi đầu của một tiến trình hội nhập sâu, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
Thứ hai, cần tiếp tục nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là cộng đồng doanh
nghiệp, về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, về chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Cộng đồng doanh nghiệp là lực lượng chính, trực tiếp tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy, cần được tăng cường thông tin, kiến thức về các thể chế kinh tế, thương mại quốc tế mà chúng ta tham gia cũng như các thỏa thuận, cam kết quốc tế của ta về hợp tác kinh tế -thương mại
Thứ ba, cần sớm hoàn thiện chiến lược và lộ trình tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế làm nền
tảng thống nhất tiến hành một cách chủ động và tích cực công tác hội nhập kinh tế quốc tế với các thể chế khác nhau Toàn bộ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cần được đặt dưới sự chỉ huy thống nhất và có hiệu lực
Thứ tư, cần sớm đánh giá lại một cách tổng thể và chính xác năng lực và khả năng cạnh tranh của
từng ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp để quyết định lộ trình mở cửa Cần thực hiện triệt để các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp; chú trọng hơn nữa công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập
Thứ năm, cần tiếp tục đổi mới tư duy hoạch định chính sách đối với doanh nghiệp nhằm phục vụ
và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế; tiếp tục xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của ta
Đặc biệt là, để tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thành công, mọi chủ trương, chính sách, biện pháp triển khai hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta cần luôn được đặt trong bối cảnh hoạch định và triển khai tổng thể, đồng bộ các chủ trương, chính sách chung về xây dựng và phát triển đất nước Hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền và nhất quán với chính sách chung về đối ngoại, phối hợp đồng bộ với các chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh quốc phòng, chính trị và văn hóa - xã hội
Nhận thức đúng xu thế phát triển của thời đại, đánh giá đúng tình hình và năng lực của nền kinh tế, nhận biết rõ những thời cơ, điều kiện thuận lợi cũng như những thách thức, khó khăn và các vấn đề phải xử lý trong tiến trình hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những quyết sách đúng đắn và phù hợp về chủ trương, đường lối lẫn giải pháp, chương trình hành động cụ thể để triển khai và thúc đẩy tiến trình hội nhập của đất nước một cách vững chắc và hiệu quả Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo và điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự đồng lòng hưởng ứng của toàn xã hội và sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn tự tin vững bước trên con đường hội nhập vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Phạm Gia Khiêm
Trang 6Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
http://www.tapchicongsan.org.vn
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 120
QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - LIÊN MINH CHÂU ÂU
Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam với các nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU) đã có từ lâu, mối quan hệ ấy đặc biệt phát triển nhanh, mạnh kể từ khi Việt Nam và EU thành lập quan hệ ngoại giao năm 1990 Liên Minh châu Âu đã và đang trở thành một đối tác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả năng tiêu thụ nhiều loại sản phẩm của Việt Nam như giầy dép, dệt may, nông sản, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ dân dụng, sản phẩm nhựa, đồ điện tử, thuỷ sản Đồng thời EU cũng là một khu vực có nền kinh tế phát triển cao, có thể đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu thiết bị công nghệ nguồn và nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Quan hệ hợp tác đầu tiên giữa EU và Việt Nam chủ yếu là trợ giúp người Việt Nam hồi hương Từ 1989-1996, tổng viện trợ của EU cho mục đích này trên 110 triệu USD Năm 1996, Việt Nam và ỌC thống nhất chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế chung nhằm củng cố quá trình chuyển đổi kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trường, đồng thời giảm nhẹ chi phí xã hội trong quá trình chuyển đổi Đến nay EU đã cam kết tổng cộng 150 triệu euro cho chiến lược này
Năm 2002, EU đã thông qua chiến lược hợp tác với Việt Nam trong giai đoạn 2002-2006, nhằm tạo điều kiện tăng tốc xoá đói giảm nghèo trong chiến lược phát triển bền vững Theo đó EU dự kiến trợ giúp 162 triệu euro tập trung vào 2 lĩnh vực:
Tăng cường phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt hỗ trợ phát triển một số tỉnh nghèo thông qua hỗ trợ lĩnh vực giáo dục;
Trợ giúp cải cách kinh tế Việt Nam theo hướng cơ chế thị trường để nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới;
Ngoài ra, trong chiến lược hợp tác này còn có vấn đề bảo vệ môi trường, văn hoá, giáo dục, chất lượng giới tính và quản lý nhà nước có hiệu quả
Hiệp định Hợp tác Việt Nam -EU ký 7/1995, tạo bước ngoặt trong tiến trình phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai bên Đây là Hiệp định khung dài hạn, nhằm 4 mục tiêu:
Đảm bảo các điều kiện cần thiết thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại, đầu tư trên cơ sở cùng có lợi và dành cho nhau quy chế tối huệ quốc;
Trợ giúp phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam và đặc biệt chú trọng đến việc cải thiện đời sống cho các tầng kớp nhân dân nghèo;
Trợ giúp các nổ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế theo cơ chế thị trường;
Trợ giúp nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững
Quan hệ thương mại: Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên của Liên minh Châu Âu phát triển mạnh từ những năm đầu thập kỷ 90 sau khi Việt Nam ký một loạt hiệp định song phương với EU như Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật ( năm 1990), Hiệp định dệt may (1994, 1996, 1997, 2000, 2003); Hiệp định giầy dép (2000) Kim ngạch buôn bán hai chiều tăng từ 300 triệu USD năm 1990 lên trên 2 tỷ USD năm 1995, trên 4,1 tỷ USD năm 2000, xấp xỉ 5 tỷ USD năm 2002 và hơn 6,3 tỷ USD năm 2003
Trang 7Về xuất khẩu, năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt hơn 3,8 tỷ USD,
tăng 25 lần so với năm 1990 Có 5 mặt hàng chủ lực là giầy dép 1,6 tỷ USD, dệt may 537 triệu USD, cà phê và chè gần 268 triệu USD, thủ công mỹ nghệ 172 triệu USD và hải sản hơn 153 triệu USD
Về nhập khẩu, Từ năm 1999, Việt Nam nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị công nghệ trực tiếp từ
các nước thành viên EU Năm 2003 tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ EU đạt 2,5 tỷ USD, tăng 15 lần so với năm 1990 Các mặt hàng nhập khẩu chính đạt hơn 1,538 tỷ USD Trong đó máy móc thiết bị gần 1,3 tỷ USD, tân dược hơn 110 triệu USD, nguyên phụ liệu dệt may da 76,3 triệu USD, sắt thép 71,4 triệu USD và phân bón 9,3 triệu USD
Ngoài quan hệ thương mại trực tiếp nói trên, các doanh nghiệp EU còn tham gia xuất nhập khẩu với Việt Nam thông qua nước thứ ba như Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hoa Kỳ, Nhật Bản Hiện nay có gần 1000 chi nhánh thương nhân, văn phòng đại diện thương mại thường trú của các doanh nghiệp EU hoạt động tại Việt Nam, trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, hàng hải, phân phối, xúc tiến thương mại và đầu tư
Đầu tư trực tiếp: Nếu tính EU là một thể thống nhất thì EU đứng đầu danh sách những nước và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, song nếu tính từng thành viên thì các thành viên thuộc
EU vẫn chưa phải là những nước đi đầu trong lĩnh vực này
Tính đến 31/12/2003, các doanh nghiệp EU đã đầu tư gần 2,3 tỷ USD trên tổng vốn đăng ký hơn 5,8 tỷ USD vào 369 dự án Trong đó, đứng đầu là các doanh nghiệp Pháp với 134 dự án, trị giá hơn 2,1 tỷ USD, thứ 2 là các doanh nghiệp Hà Lan với 51 dự án, trị giá hơn 2 tỷ USD
Về lĩnh vực đầu tư: Dầu khí là lĩnh vực có số dự án ít nhưng vốn đăng ký và vốn thực hiện lớn, 10
dự án với 1,4 tỷ USD vốn đầu tư; chiếm 3,2% tổng số dự án và 23,7% tổng vốn đầu tư Phần lớn số dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 176 dự án có số vốn 2,3 tỷ USD, chiếm 55,8% tổng số dự án và 39% tổng số vốn đầu tư 32 dự án đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp với số vốn là 835,7 triệu USD 55 dự án đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ với số vốn 282,1 triệu USD
Về hình thức đầu tư: EU đầu tư vào Việt Nam chủ yếu theo hai hình thức là liên doanh và 100%
vốn nước ngoài Trong đó, liên doanh có 115 dự án với số vốn là 1,6 tỷ USD có 171 dự án100% vốn nước ngoài với số vốn là 818,7 triệu USD Hình thức đầu tư BẶT, BT, BTẶ từ EU vào Việt Nam không nhiều
http://www.mofa.gov.vn
NHÌN LẠI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM-APEC
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) ra đời vào tháng 11/1989 với 12 thành viên: Australia, Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, ThaiLand, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada, Mỹ
- Năm 1991 kết nạp thêm 3 thành viên: Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan
- Năm 1993 kết nạp thêm 2 thành viên: Mexico, Papua New Guinee
- Năm 1994 kết nạp thêm Chile
- Năm 1998 có thêm 3 thành viên: Việt Nam, LB Nga, Pêru
Đến nay, APEC có 21 nước và vùng lãnh thổ là thành viên
APEC có diện tích 62.620,1 nghìn km2;
Dân số năm 2005 đạt 2.647,6 triệu người, mật độ dân số 42,3 người/km2;
GDP đạt 23.008 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 8.739 USD;
Kim ngạch xuất khẩu đạt 4.038,5 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 1.533,9 USD;
Kim ngạch nhập khẩu đạt 4.446,4 tỷ USD;
Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tính đến đến hết năm 2004 đạt 3.641,8 tỷ USD;
Trang 8Tổng dự trữ quốc tế (không kể vàng) đạt 2.347,3 tỷ USD
Việt Nam nộp đơn gia nhập tháng 6/1996 và kết nạp năm 1998 Tám năm qua, quan hệ giữa APEC và Việt Nam đã có bước phát triển khá ấn tượng về các lĩnh vực đầu tư, thương mại, du lịch… Đầu tư trực tiếp (FDI) của các thành viên APEC vào Việt Nam tính từ năm 1988 đến hết tháng 9/2006 có 6.527 dự án, với tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung lên đến 49391,5 triệu USD, chiếm 83,1% về tổng số dự án và chiếm 69,2% về tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tương ứng Trong 14 nước và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất vào Việt Nam (trên 1 tỷ USD) thì APEC đã có 10 "đại gia” Chỉ với 10 nước và vùng lãnh thổ trên, lượng vốn đầu tư đăng ký đạt 47273,3 triệu USD, chiếm 95,7% APEC và chiếm 66,2% tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
APEC cũng là Diễn đàn có lượng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam
so với các khu vực khác; trong đó Nhật Bản là nước có số vốn cam kết và giải ngân lớn nhất trong tất cả các nước và các tổ chức trên thế giới Nguồn vốn này đã góp phần cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội và cân đối ngân sách của Việt Nam
Xuất khẩu của Việt Nam vào các nước và vùng lãnh thổ thuộc APEC cũng khá lớn: Năm 2005 đã chiếm 71,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sang tất cả các nước trên thế giới Trong 7 nước nhập khẩu lớn nhất (trên 1 tỷ USD) của Việt Nam, thì APEC đã có 5 và đây cũng là 5 "đại gia” đứng hàng từ thứ nhất đến thứ năm: Mỹ: 5.930,5 triệu USD; Nhật bản: 4.411,2 triệu USD; Cộng hòa nhân dân Trung Hoa: 2.961 triệu USD; Australia: 2.570,2 triệu USD; Singapore: 1808,5 triệu USD Chỉ với 5 nước này đã đạt 17.681 triệu USD, chiếm 76,1% APEC và chiếm 54,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Nhập khẩu của Việt Nam từ APEC cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất so với tổng số: năm 1995 đạt 6,5 tỷ USD, chiếm 79,6%; năm 2000 đạt 13 tỷ USD, chiếm 81,3%; năm 2002 đạt 15,8 tỷ USD, chiếm 80%; năm 2003 đạt 20,1 tỷ USD, chiếm 79,4%; năm 2004 đạt 25,7 tỷ USD chiếm 83,8%; năm 2005 đạt 29,9 tỷ USD, chiếm 80,7%
Trong các mặt hàng mà Việt Nam nhập từ khu vực này thì hàng thô, sơ chế chiếm khoảng 20,9%, hàng đã qua chế biến chiếm 78,9%, trong đó máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng chiếm 31% Cả 8/8 "đại gia” mà Việt Nam nhập khẩu trên 1 tỷ USD đều là thành viên APEC
Trung Quốc: 5.778,9 triệu USD; Singapore: 4.597,6 triệu USD; Đài Loan: 4.329 triệu USD; Nhật Bản 4.093 triệu USD; Hàn Quốc 3.600,5 triệu USD; Thái Lan: 2.393,2 triệu USD; Malaysia: 1.258,6 triệu USD; Hong Kong 1.235,8 triệu USD Chỉ với 8 thị trường này đã đạt 27.286,6 triệu USD, chiếm 91,3% APEC và chiếm 73,8% tổng số
Mới tham gia trong thời gian ngắn, nhưng quan hệ giữa APEC và Việt Nam đã có bước phát triển khá, đạt quy mô tương đối lớn Năm 2006 được coi là năm APEC của Việt Nam, với nhiều hội nghị quan trọng, sẽ là thời cơ để Việt Nam nâng tầm quan hệ lên mức cao hơn nữa để thực hiện mục tiêu thoát khỏi nước kém phát triển trước năm 2010 và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
(Tin từ TBKT, TM, ĐT 19-24/10/2006)
Lương Thanh Nghị http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi
Trang 9http://www.vietnampictorial.com
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VÀ TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM
I Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời ngày 1/1/1995 Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), thành lập 1947 Trong gần 50 năm
Trang 10hoạt động, GATT là công cụ chính của các nước công nghiệp phát triển nhằm điều tiết thương mại hàng hóa của thế giới…
WTO là kết quả của Vòng đàm phán Uruguay kéo dài 8 năm (1987 – 1994), để tiếp tục thể chế hóa và thiết lập trật tự mới trong hệ thống thương mại đa phương của thế giới cho phù hợp với nhứng thay đổi mạnh mẽ đang diễn ra trong quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia Về cơ bản, WTO là sự kế thừa và phát triển của GATT Sự ra đời của WTO giúp tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh thương mại thế giới trong các lĩnh vực mới là dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, đồng thời đưa vào khuôn khổ thương mại đa phương hai lĩnh vực dệt may và nông nghiệp
Với 149 thành viên (tính đến tháng 10/2006), WTO là tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra các quy tắc, luật lệ điều tiết quan hệ thương mại giữa các quốc gia Khối lượng giao dịch giữa các thành viên WTO hiện chiếm trên 98% giao dịch thương mại quốc tế
Chức năng chính của WTO: Là diễn đàn thương lượng về mậu dịch theo hướng tự do hoá thương mại thông qua việc loại bỏ các rào cản trong thương mại; Đưa ra các nguyên tắc và cơ sở pháp lý cho thương mại quốc tế do các nước thành viên thương lượng và ký kết với mục đích đảm bảo thuận lợi hóa thương mại giữa các thành viên WTO; Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên; Giám sát việc thực hiện các Hiệp định trong khuôn khổ WTO
Phạm vi điều tiết: Hạt nhân của WTO là các hiệp định thương mại hoặc “liên quan tới thương mại" được các thành viên WTO thương lượng và ký kết Các hiệp định này là cơ sở pháp lý cho thương mại quốc tế, bao gồm Hiệp định về các lĩnh vực nông nghiệp, kiểm dịch động thực vật, dệt và may mặc, hàng rào kỹ thuật trong thưong mại, đầu tư, chống bán phá giá, xác định trị giá tính thuế hải quan, giám định hàng hóa trước khi xếp hàng, quy tắc xuất xứ, thủ tục cấp phép nhập khẩu, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, các biện pháp tự vệ, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp Đây là những hiệp định mang tính ràng buộc, các chính phủ phải duy trì chính sách thương mại trong những giới hạn đã thỏa thuận Các nguyên tắc chính của WTO:
- Không phân biệt đối xử (một nước không được phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại của mình dành quy chế tối huệ quốc – MFN cho tất cả các thành viên WTO; không được phân biệt đối xử giữa các sản phẩm, dịch vụ và công dân của nước mình và nước ngoài tất cả phải được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia -NT);
- Thúc đẩy thương mại tự do hơn (thông qua thương lượng loại bỏ các hàng rào cản thuế quan và phi thuế quan);
- Đảm bảo tính ổn định/tiên đoán được bằng các cam kết minh bạch hoá (các công ty, các nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài phải được đảm bảo rằng, các rào cản thương mại, kể cả thuế, các rào cản phi quan thuế và các biện pháp khác, không được nâng lên một cách độc đoán; ngày càng có nhiều mức thuế và cam kết mở cửa thị trường mang tính ràng buộc tại WTO);
- Thúc đẩy cạnh tranh công bằng (bằng cách loại bỏ các hoạt động mang tính "không công bằng" như trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá nhằm tranh giành thị phần);
- Khuyến khích cải cách và phát triển kinh tế: Các nước đang phát triển chiếm ¾ thành viên của WTO WTO có các qui định dành cho các nước này nhiều thời gian hơn, điều kiện linh hoạt hơn và một số ưu đãi đặc biệt hơn để điều chỉnh nền kinh tế trong quá trình thực hiện các cam kết tự do hoá của mình Tuy nhiên, việc chiếu cố này không phải mặc nhiên, mà có được là trên cơ sở đàm phán với các thành viên WTO
II Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam
Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO tháng 1/1995 Năm 1996, tại WTO, Nhóm Công tác (WP) về Việt Nam gia nhập WTO được thành lập với sự tham gia của trên 20 nước (hiện nay con số này là gần 40) Từ năm 1996 đến 2001, đàm phán tập trung chủ yếu vào việc làm rõ chế độ và chính sách thương mại của ta, với việc ta phải trả lời hơn 2000 câu hỏi có liên quan đến chính sách thương mại, kinh tế, đầu tư
Đến tháng 8/2001, ta chính thức đưa ra Bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ (Ininitial Offer) để bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các nước thành viên Ban Công tác