1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lịch sử toán học nhà toán học DIRICHLET

13 1,6K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 205,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHÀ TOÁN HỌC DIRICHLET 1. Tiểu sử sự nghiệp 1.1. Tiểu sử Johann Peter Gustav Lejeune Dirichlet ləˈʒœn diʀiˈkle (13 tháng 2, 1805 – 5 tháng 5, 1859) là một nhà toán học người Đức được cho là người đưa ra định nghĩa hiện đại của hàm số. ‒ Gia đình ông xuất thân từ thị trấn Richelette ở Bỉ, do đó mà họ của ông là Lejeune Dirichlet (le jeune de Richelette, tiếng pháp có nghĩa là chàng trai trẻ từ Richelette) được đặt theo, và đó là nơi ông nội ông sống. Dirichlet được sinh ra ở Düren, nơi cha ông là đứng đầu một trạm bưu điện. Ông được giáo dục ở Đức, và sau đó là Pháp, nơi ông học hỏi từ hầu hết các nhà toán học nổi tiếng nhất thời đó. Ông cũng học từ Georg Ohm. Nhà toán học người Đức Dirichlet là học trò của Gauss là người rất hâm mộ Gauss. Nhờ giỏi tiếng Pháp, ông đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu tư tưởng giữa hai phía của sông Rhin. Trong thời gian học ở Pari, giữa 1822 và 1825, ông làm gia sư trong gia đình của tướng và nhà chính trị Maximilien Foy. Trong thời gian này, ông tham gia nhà bác học trẻ, quây quần xung quanh Fourier. Vì vậy ông gắn bó với Fourier và… với các chuỗi lượng giác. Từ 1826 đến 1828, Dirichlet là giảng viên trường Đại Học Breslau. Từ 1829 ông làm việc ở trường Đại học Berlin. Từ 1931 đến 1855 ông là giáo sư trường Đại học Berlin. Từ 1855, sau khi Gauss qua đời, ông kế tục Gauss ở trường Đại học Gôttinggen. Năm 1831, ông thành hôn với Ribecca Henriette Mendelssohn Barthody, một cô gái thuộc gia đình danh giá đã chuyển đổi từ đạo Do Thái sang Thiên chúa giáo. Cô là cháu gái của triết gia Moses Mendelssohn, con gái của Abraham Mendelssohn Bartholdy và là em của nhà soạn nhạc Felix Mendelssohn Bartholdy và Fanny Mendelssohn. Dirichlet là một người khiêm tốn trung thực và nhân ái. Nhưng, khác với vợ ông là Rebecca, Dirichlet không xuất sắc về mặt sư phạm. Mặc dù vậy, các bài giảng của ông có ảnh hưởng lớn đến các nhà toán học thuộc thế hệ sau như:Riemann, Eisenstein, Kronecker, Dedekin… Sau khi Dirichlet qua đời, bộ óc của ông được bảo quả tại khoa sinh lý học Trường Đại Học Gôttingen. 1.2. Sự nghiệp Dirichlet có những phát minh lớn trong lí thuyết số. Năm 1837, ông đã chứng minh được với một cấp số cộng có dạng an + b, Cho n = 1, 2, ..., chứa vô hạn các số nguyên tố , a và b là nguyên tố cùng nhau , tức là (a,b)=1 Kết quả này đã được phỏng đoán bởi Gauss (Derbyshire năm 2004, p. 96), nhưng lần đầu tiên được chứng minh bởi Dirichlet (1837). Tác phẩm của ông về các đơn vị trong số đại số lý thuyết über Vorlesungen Zahlentheorie (xuất bản 1863) có công việc quan trọng về lý tưởng. Ông cũng đề nghị năm 1837 định nghĩa hiện đại của một hàm: Nếu một y biến như vậy là liên quan đến một biến x rằng bất cứ khi nào một số giá trị được gán cho x, có một quy tắc theo đó một giá trị duy nhất của y được xác định, sau đó y được gọi là một chức năng của x ( biến độc lập). Dirichlet cũng nổi tiếng với những tác phẩm của ông về điều kiện cho sự hội tụ của chuỗi lượng giác. Những chuỗi đã được sử dụng trước đây của Fourier trong giải phương trình vi phân. Tác phẩm của Dirichlet được xuất bản trong Tạp chí Crelle của năm 1828. Năm 1834 Dirichlet phát biểu Nguyên lí Dirichlet còn gọi là nguyên lí chim bồ câu (The Pigeonhole Principle ) đưa ra một nguyên tắc về phân chia phần tử các lớp. Nguyên lý Dirichlet là một công cụ rất hiệu quả dùng để chứng minh nhiều kết quả sâu sắc của toán học. Nó đặc biệt có nhiều áp dụng trong lĩnh vực khác nhau của toán học. Những định lí mang tên ông là : ‒ Định lí Dirichlet về cấp số cộng ( số học, đặc biệt là số nguyên tố). ‒ Định lí Dirichlet về xấp xỉ Diophantine ( số học và xấp xỉ). ‒ Định lí Dirichlet về phần tử đơn vị ( số học đại số và vành). Dirichlet cũng có những công trình đáng kể về cơ học và vật lý toán. Trong cơ khí, ông điều tra các trạng thái cân bằng của hệ thống và lý thuyết tiềm năng. 2. Vai trò của Dirichlet đối với lịch sử 2.1. Vai trò của Dirichlet đối với toán học Dirichlet nổi bật trong lĩnh vực đại số là lí thuyết số giải tích, nhưng cũng có những đóng góp phát triển trong các lĩnh vực khác. Dirichlet được cho là người đưa ra định nghĩa hiện đại của hàm số, sơ đồ Voronoi của hình học (khảm Dirichlet), và những khái niệm quan trọng về phương trình vi phân, tô pô, và thống kê. Mặc dù là 1 trong những nhà toán học tiên phong của thế kỉ 19, nhưng ông thường bị đánh giá thấp. Cuộc đời nghiên cứu toán học của nhà toán dirichlet là một chuyến hành trình dài qua bao niềm quê với một niềm đam mê lớn. Khi còn nghèo túng ông chỉ tiêu tiền mình có chỉ để mua sách toán. Với Dirichlet bắt đầu tuổi vàng của toán học tại Berlin .Ferdinand Eisenstein, Leopold Kronecker, và Rudolf Lipschitz là học trò của ông. Những chứng minh của ông đáng chú ý vì tính khéo léo lẫn nghiêm ngặt vượt bậc. Ví dụ cụ thể của sự nghiêm cẩn của ông là ông đã tìm ra thiếu xót cơ bản trong tác phẩm chứng minh định lí Đẳng Chu Vi (Isoperimetric theorem) của Steiner mà chưa ai nhận ra. Dirichlet được coi là người sáng lập ra lí thuyết số giải tích. Ông sáng tạo 1 phương pháp của chuỗi L để chứng minh định lí quan trọng (ức đoán của Gauss) cho rằng bất lì chuỗi số học nào ( không có ước số chúng) đều chứa vô số số nguyên tố. Chính Dirichlet là người đã chứng minh định lí Fuorier nền tảng: rằng những hàm số giải tích tuần hoàn luôn có thể biểu diễn bằng chuỗi số lượng giác đơn giản. Những kết quả nền tảng khác mà Dirichlet đã đóng góp cho giải tích và lí thuyết số bao gồm một định lí về phép tính xấp xỉ Diophantine và Công thức Số Lớp ( Class Number Formular ) của ông.

Trang 1

KHOA TỰ NHIÊN

- -MÔN LỊCH SỬ TOÁN

ĐỀ TÀI: NHÀ TOÁN HỌC DIRICHLET

GV hướng dẫn: Phạm Trung Thiện Thực hiện: NHÓM 8 Mã SV Trần Thị Thu Yến(NT): 211401038

Trần Thị Mỹ Trinh:

211401036 Nguyễn Thị Bích Trâm:

211401034.

Lớp CCTO14.

Trang 2

Pleiku, ngày 30 tháng 11 năm 2016.

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

NHÀ TOÁN HỌC DIRICHLET 4

1 Tiểu sử - sự nghiệp 4

1.1 Tiểu sử 4

1.2 Sự nghiệp 5

2.Vai trò của Dirichlet đối với lịch sử 7

2.1.Vai trò của Dirichlet đối với toán học 7

2.2.Vai trò của Dirichlet đối với khoa học 9

3 Thành tựu tiêu biểu 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Toán học là ngành nghiên cứu trừu tượng về những chủ đề như: lượng (các con số), cấu trúc, không gian, và sự thay đổi Các nhà toán học và triết học có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa và phạm vi của toán học

Các nhà toán học tìm kiếm các mô thức và sử dụng chúng để tạo ra những giả thuyết mới Họ lý giải tính đúng đắn hay sai lầm của các giả thuyết bằng các chứng minh toán học Khi những cấu trúc toán học là mô hình tốt cho hiện thực, lúc đó suy luận toán học có thể cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hay những tiên đoán về tự nhiên Thông qua việc sử dụng những phương pháp trừu tượng và lôgic, toán học

đã phát triển từ việc đếm, tính toán, đo lường, và nghiên cứu có hệ thống những hình dạng và chuyển động của các đối tượng vật lý Con người đã ứng dụng toán học trong đời sống từ xa xưa Việc tìm lời giải cho những bài toán có thể mất hàng năm, hay thậm chí hàng thế kỷ

Toán học được sử dụng trên khắp thế giới như một công cụ thiết yếu trong nhiều lĩnh vực, bao gồm khoa học, kỹ thuật, y học, và tài chính

Và đó là công lao to lớn của rất nhiều nhà toán học,khoa học vĩ đại của hàng thế kỉ

qua Nếu Euclid of Alexandria là Nhà khai sáng, người đặt nền tảng cho toán học, Issac Newton là Người phát minh môn giải tích và được xem là nhà toán học vĩ đại nhất mọi thời đại, Thì cái tên Johann Peter Gustav Lejeune Dirichlet,

người đưa ra định nghĩa hàm số hiện đại, rất ít ai biết đến, tuy nhiên những đóng góp của ông cho toán học, khoa học là không thể gạt bỏ

Sau đây nhóm chúng tôi sẽ đi tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, thành tựu và

những đóng góp của Johann Peter Gustav Lejeune Dirichlet cho toán học, cho

khoa học Xem ông đã có những công trình nghiên cứu vĩ đại nào, đóng góp gì cho toán học, khoa học, mà ông được xem là 1 trong 30 nhà toán học vĩ đại của thời đại

Trong quá trình tìm hiểu, trình bày, do trình độ hiểu biết còn hạn chế, nên không tráng khỏi thiếu xót, rất mong sự đóng góp ý kiến của mọi người để bài tiểu luận hoàn chỉnh hơn

Xin cảm ơn thầy Phạm Trung Thiện đã nhiệt tình giúp đỡ chúng em hoàn thành bài viết này

Trang 5

NHÀ TOÁN HỌC DIRICHLET

1 Tiểu sử - sự nghiệp

1.1 Tiểu sử

- Johann Peter Gustav Lejeune Dirichlet [ləˈʒœn diʀiˈkle] (13 tháng

2, 1805 – 5 tháng 5, 1859) là một nhà toán

học người Đức được cho là người đưa ra định

nghĩa hiện đại của hàm số

‒ Gia đình ông xuất thân từ thị trấn

Richelette ở Bỉ, do đó mà họ của ông là "Lejeune

Dirichlet" ("le jeune de Richelette", tiếng pháp có

nghĩa là "chàng trai trẻ từ Richelette") được đặt

theo, và đó là nơi ông nội ông sống

Dirichlet được sinh ra ở Düren, nơi cha ông là

đứng đầu một trạm bưu điện Ông được giáo dục

ở Đức, và sau đó là Pháp, nơi ông học hỏi từ hầu

hết các nhà toán học nổi tiếng nhất thời đó Ông

cũng học từ Georg Ohm

- Nhà toán học người Đức Dirichlet là học trò của Gauss là người rất hâm mộ Gauss Nhờ giỏi tiếng Pháp, ông đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu tư tưởng giữa hai phía của sông Rhin

- Trong thời gian học ở Pari, giữa 1822 và 1825, ông làm gia sư trong gia đình của tướng và nhà chính trị Maximilien Foy Trong thời gian này, ông tham gia nhà bác học trẻ, quây quần xung quanh Fourier Vì vậy ông gắn bó với Fourier và… với các chuỗi lượng giác

- Từ 1826 đến 1828, Dirichlet là

giảng viên trường Đại Học Breslau

Từ 1829 ông làm việc ở trường Đại

Trang 6

học Berlin Từ 1931 đến 1855 ông là giáo sư trường Đại học Berlin Từ 1855, sau khi Gauss qua đời, ông kế tục Gauss ở trường Đại học Gôttinggen

- Năm 1831, ông thành hôn với Ribecca Henriette Mendelssohn Barthody, một cô gái thuộc gia đình danh giá đã chuyển đổi từ đạo Do Thái sang Thiên chúa giáo Cô là cháu gái của triết gia Moses Mendelssohn, con gái của Abraham Mendelssohn Bartholdy và là em của nhà soạn nhạc Felix Mendelssohn Bartholdy

và Fanny Mendelssohn

- Dirichlet là một người khiêm tốn trung thực và nhân ái Nhưng, khác với vợ ông là Rebecca, Dirichlet không xuất sắc về mặt sư phạm Mặc dù vậy, các bài giảng của ông có ảnh hưởng lớn đến các nhà toán học thuộc thế hệ sau như:Riemann, Eisenstein, Kronecker, Dedekin…

- Sau khi Dirichlet qua đời, bộ óc của ông được bảo quả tại khoa sinh lý học Trường Đại Học Gôttingen

1.2 Sự nghiệp

Dirichlet có những phát minh lớn trong lí thuyết số Năm 1837, ông đã chứng minh được với một cấp số cộng có dạng an + b, Cho n = 1, 2, , chứa vô hạn các số nguyên tố , a và b là nguyên tố cùng nhau , tức là (a,b)=1 Kết quả này đã được phỏng đoán bởi Gauss (Derbyshire năm 2004, p 96), nhưng lần đầu tiên được chứng minh bởi Dirichlet (1837)

Tác phẩm của ông về các đơn vị trong số đại số lý thuyết über Vorlesungen Zahlentheorie (xuất bản 1863) có công việc quan trọng về lý tưởng Ông cũng

đề nghị năm 1837 định nghĩa hiện đại của một hàm:

Nếu một y biến như vậy là liên quan đến một biến x rằng bất cứ khi nào một

số giá trị được gán cho x, có một quy tắc theo đó một giá trị duy nhất của y được xác định, sau đó y được gọi là một chức năng của x ( biến độc lập).

Trang 7

Dirichlet cũng nổi tiếng với những tác phẩm của ông về điều kiện cho sự hội tụ của chuỗi lượng giác Những chuỗi đã được sử dụng trước đây của Fourier trong giải phương trình vi phân Tác phẩm của Dirichlet được xuất bản trong Tạp chí Crelle của năm 1828

Năm 1834 Dirichlet phát biểu Nguyên lí Dirichlet - còn gọi là nguyên lí chim

bồ câu (The Pigeonhole Principle ) đưa ra một nguyên tắc về phân chia phần tử các lớp

Nguyên lý Dirichlet là một công cụ rất hiệu quả dùng để chứng minh nhiều kết quả sâu sắc của toán học Nó đặc biệt có nhiều áp dụng trong lĩnh vực khác nhau của toán học

Những định lí mang tên ông là :

‒ Định lí Dirichlet về cấp số cộng ( số học, đặc biệt là số nguyên tố)

‒ Định lí Dirichlet về xấp xỉ Diophantine ( số học và xấp xỉ)

‒ Định lí Dirichlet về phần tử đơn vị ( số học đại số và vành)

Dirichlet cũng có những công trình đáng kể về cơ học và vật lý toán Trong cơ khí, ông điều tra các trạng thái cân bằng của hệ thống và lý thuyết tiềm năng

2 Vai trò của Dirichlet đối với lịch sử

2.1 Vai trò của Dirichlet đối với toán học

Dirichlet nổi bật trong lĩnh vực đại số là lí thuyết số giải tích, nhưng cũng có những đóng góp phát triển trong các lĩnh vực khác

Dirichlet được cho là người đưa ra định nghĩa hiện đại của hàm số, sơ đồ Voronoi của hình học (khảm Dirichlet), và những khái niệm quan trọng về phương trình vi phân, tô pô, và thống kê Mặc dù là 1 trong những nhà toán học tiên phong của thế

kỉ 19, nhưng ông thường bị đánh giá thấp

Trang 8

Cuộc đời nghiên cứu toán học của nhà toán dirichlet là một chuyến hành trình dài qua bao niềm quê với một niềm đam mê lớn Khi còn nghèo túng ông chỉ tiêu tiền mình có chỉ để mua sách toán Với Dirichlet bắt đầu tuổi vàng của toán học tại Berlin Ferdinand Eisenstein, Leopold Kronecker, và Rudolf Lipschitz là học trò của ông Những chứng minh của ông đáng

chú ý vì tính khéo léo lẫn nghiêm ngặt vượt bậc

Ví dụ cụ thể của sự nghiêm cẩn của ông là ông đã

tìm ra thiếu xót cơ bản trong tác phẩm chứng

minh định lí Đẳng Chu Vi (Isoperimetric theorem)

của Steiner mà chưa ai nhận ra

Dirichlet được coi là người sáng lập ra lí thuyết số

giải tích Ông sáng tạo 1 phương pháp của chuỗi L

để chứng minh định lí quan trọng (ức đoán của

Gauss) cho rằng bất lì chuỗi số học nào ( không có

ước số chúng) đều chứa vô số số nguyên tố

Chính Dirichlet là người đã chứng minh định lí Fuorier nền tảng: rằng những hàm số giải tích tuần hoàn luôn có thể biểu diễn bằng chuỗi số lượng giác đơn giản Những kết quả nền tảng khác mà Dirichlet đã đóng góp cho giải tích và lí thuyết số bao gồm một định lí về phép tính xấp xỉ Diophantine và Công thức Số Lớp ( Class Number Formular ) của ông

Sau khi ông qua đời, các bài giảng của Dirichlet và các kết quả khác trong ngành số học được sưu tập, biên khảo và xuất bản bởi đồng nghiệp và cũng là bạn ông là nhà toán học Richard Dedekind dưới tựa đề Vorlesungen über Zahlentheorie (Các bài giảng về số học)

“Ông là một giáo viên giỏi,

luôn luôn thể hiện mình với độ rõ nét

Trang 9

tuyệt vời Lần theo cách của ông đã được khiêm tốn; trong những năm sau đó ông đã được nhút nhát và lúc reserved Ông ít khi phát biểu tại cuộc họp và đã miễn cưỡng để làm xuất hiện công khai”.

- Dirichlet được coi là người sáng lập ra học thuyết của Fourier series

Riemann, một sinh viên của Dirichlet , đã viết trong phần giới thiệu cho luận án của mình trên Habilitation Chuỗi Fourier rằng nó đã được Dirichlet:

“ người học giả đầu tiên sâu sắc về chủ đề này”

Koch viết về sự đóng góp của Dirichlet như sau:

“ phần quan trọng của toán học bị ảnh hưởng bởi Dirichlet Chứng minh của ông characteristically bắt đầu với các quan sát đáng ngạc nhiên đơn giản, tiếp theo là phân tích cực kỳ sắc nét của vấn đề còn lại…”.

2.2 Vai trò của Dirichlet đối với khoa học

Trong cơ khí, Dirichlet điều tra các trạng thái cân bằng của hệ thống và lí thuyết tiềm năng Những điều tra đã bắt đầu năm 1839, với giấy tờ mà đã cho phương pháp để đánh giá tích phân nhiều và ông áp dụng cho vấn đề của việc thu hút hấp dẫn của một ellipsoid trên điểm cả hai bên trong và bên ngoài Ông quay sang Laplace’s vấn đề chứng minh sự ổn định của hệ thống năng lượng mặt trời và sản xuất, phân tích mà tránh được vấn đề của việc sử dung mở rộng loạt các thuật ngữ bậc hai và cao hơn disregarded Công việc này đã dẫn ông đến các vấn đề liên quan đến chức năng Dirichlet hài hòa với điều kiện biên nhất định Một số hoạt động trên cơ học sau này trong sự nghiệp của mình là có tầm quan trọng khá nổi bật Năm 1852, ông đã nghiên cứu các vấn đề của một mặt cầu đặt trong một chất lỏng incompressible, trong quá trình điều tra này, ông trở thành người đầu tiên tích hợp các phương trình Thủy động lực học chính xác

3 Thành tựu tiêu biểu

Trang 10

Nguyên lí Dirichlet- còn gọi là nguyên lí chim bồ câu (The Pigeonhole Principle)- hoặc nguyên lí những cái lồng nhốt thỏ hoặc nguyên lí sắp xếp đồ vật vào ngăn kéo (The Drawer Principle)- đưa ra một nguyên tắc về phân chia phân tử các lớp

- Nguyên lí này được phát biểu lần đầu tiên năm 1834, định lí này được minh họa trong thực tế bằng câu nói như: “Trong ba găng tay, có ít nhất hai găng tay phải hoặc hai găng tay trái”

- Nguyên lý ngăn kéo Dirichlet dược ứng dụng trực tiếp nhất cho các tập hợp hữu hạn (hộp, ngăn kéo, chuồng bồ câu), nhưng nó cũng có thể được áp dụng đối với các tập hợp vô hạn không thể được đặt vào song ánh Cụ thể trong trường hợp

này nguyên lý ngăn kéo có nội dung là: "không tồn tại một đơn ánh trên những tập hợp hữu hạn mà codomain của nó nhỏ hơn tập xác định của nó" Một số định lý của

toán học như bổ đề Siegel được xây dựng trên nguyên lý này

+ Nội dung nguyên lí Dirichlet cơ bản: “Nhốt n+1 con thỏ vào n cái chuồng thì bao giờ cũng có một chuồng chứa ít nhất hai con thỏ”

Trang 11

+ Nguyên lí Dirichlet tổng quát: Nếu có N đồ vật được đặt trong K hộp thì sẽ tồn

tại hộp chứa ít nhất ⌈

N

K ⌉ đồ vật.

là phần nguyên trần của phép tính m chia n có giá trị bằng số nguyên nhỏ

nhất có giá trị lớn hơn hay bằng kết quả của phép chia

N

+ Nguyên lí Dirichlet mở rộng: Nếu m con chim bồ câu được đặt vào n chuồng chim bồ câu và m > n thì (ít nhất) một chuông chim bồ câu sẽ bao hàm ít nhất

m n ⌋ con chim bồ câu nếu m là bội của n, và ít nhất con chim bồ câu nếu m không phải là bội của n

Chú ý: là phần nguyên sàn của phép tính m chia n có giá trị bằng số nguyên

lớn nhất có giá trị nhỏ hơn hay bằng kết quả của phép chia

m

n .

Ví dụ: ⌊45⌋=0

Nguyên lí Dirichlet thực chất là một định lí về tập hữu hạn Người ta có thể phát biểu nguyên lí này dưới dạng sau:

+ Nguyên lí Dirichlet dạng tập hợp:

Cho A và B là hai tập hợp khác rỗng có số phần tử hữu hạn, mà số lượng phần tử của A lớn hơn số lượng phần tử của B Nếu với một quy tắc nào đó, mọi phần tử

K

N

1

n m

n

m

Trang 12

của A tương ứng với một phần tử của B, thì tồn tại ít nhất hai phần tử khác nhau của A mà chúng tương ứng với một phần tử của B

Ví dụ 1: Đếm tóc

Theo nghiên cứu, trung bình mỗi người có chừng 100.000-150.000 sợi tóc Như vậy, ví dụ ở Singapore có dân số lớn hơn 3 triệu người thì ít nhất sẽ có 2 người có

số sợi tóc giông hết nhau

Ví dụ 2: Nghịch lí ngày sinh

Nghịch lí ngày sinh đề cập đến khả năng về một số người có chung một ngày sinh

có trong một đám đông m người được chọn ngẫu nhiên Theo nguyên lí ngăn kéo Dirichlet, ví dụ nếu n = 367 thì ít nhất sẽ có 2 người có chung một ngày sinh (số ngày trong năm là 366 ngày), tính cả ngày 29 tháng 2 của năm nhuận)

Nếu xét công thức 1−

(n ) m

n m thì chỉ cần m=57 là xác suất 2 người có chung một ngày sinh lên tới 99%

Vai trò :

Nguyên lí Dirichlet có nội dung khá đơn giản song nó lại là một công cụ vô cùng hiệu quả trong việc chứng minh nhiều bài toán từ cụ thể đến trừu tượng mà khó có một công cụ nào thay thế

Trong rất nhiều trường hợp nó có thể giúp ta thấy được một sự vật, một sự việc chắc chắn tồn tại song không thể chỉ ra một cách tường minh

Trang 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trang web:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Johann_Peter_Gustav_Lejeune_Dirichlet

2 Trang web:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_l%C3%BD_ng%C4%83n_k

%C3%A9o_Dirichlet

3 Trang web:

http://www.slideshare.net/search/slideshow?ft=all&lang=%2A%2A&page=3&q=t

%C3%A1c+ph%E1%BA%A9m+c%E1%BB%A7a+nh%C3%A0+to%C3%A1n+h

%E1%BB%8Dc+Dirichlet&qid=8ac04f67-f2a2-458f-bd6f-8e27129ddfaf&searchfrom=header&sort=&ud=any

4 Trang web:

http://diendantoanhoc.net/topic/77120-20-nh%C3%A0-to%C3%A1n-h%E1%BB

%8Dc-v%C4%A9-%C4%91%E1%BA%A1i-%C4%91%C3%A3-l%C3%A0m-thay-%C4%91%E1%BB%95i-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi/

5 Trang web:

https://www.google.com.vn/search?q=h%C3%ACnh+%E1%BA%A3nh+c

%C3%A1c+t%C3%A1c+ph%E1%BA%A9m+c%E1%BB

%A7a+dirichlet&biw=647&bih=618&source=lnms&tbm=isch&sa=X&ved=0ahU KEwi_joH67tHQAhVEvY8KHfs7C1AQ_AUIBigB#tbm=isch&q=dirichlet&imgr c=FM3qSD-S2H4YaM%3A

Ngày đăng: 03/01/2017, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w