Câu 1:Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu (tức Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt. Bằng những kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trong các vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất. Trả lời : Cội nguồn “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ” Xuất phát từ câu nói của sứ giả Nguyễn Thư Hiên chép ở sách Dư địa chí do Nguyễn Trãi biên soạn có lời của Nguyễn Thiên Túng liên quan đến 4 xứ: “Nguyễn Như Hiên nói” Thế xứ Thanh, thần xứ Nghệ, nước Hưng Thái, ma Cao Lạng đều rất đáng sợ”. Câu nói có liên quan đến hai xứ Thanh và Nghệ, là mảnh đất sản sinh ra những con người, vua chúa, quan thần của đất nước. Xứ Thanh xưa mà nay là Thanh Hóa là nơi kinh đô của đất nước, nơi có nhiều vua, chúa nhất nước.
Trang 1Câu 1:Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Châu (tức
Thanh Hóa ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng những kiến thức lịch sử đã học, em hãy trình bày hiểu biết của mình về một trong các vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất
Trả lời : Cội nguồn “Vua xứ Thanh, Thần xứ Nghệ”
Xuất phát từ câu nói của sứ giả Nguyễn Thư Hiên chép ở sách Dư địa chí do Nguyễn Trãi biên soạn có lời của Nguyễn Thiên Túng liên quan đến 4
xứ: “Nguyễn Như Hiên nói” Thế xứ Thanh, thần xứ Nghệ, nước Hưng Thái, ma Cao Lạng đều rất đáng sợ” Câu nói có liên quan đến hai xứ Thanh và Nghệ, là
mảnh đất sản sinh ra những con người, vua chúa, quan thần của đất nước Xứ Thanh xưa mà nay là Thanh Hóa là nơi kinh đô của đất nước, nơi có nhiều vua, chúa nhất nước
Đất Thanh Hóa trải qua nhiều tên gọi khác nhau đến đời Lý được đổi tên thành Thanh Hóa Theo sách Dư địa chí, Thanh Hóa là vùng địa lý thuận lợi, hình thể tốt
có thể xem như yết hầu của đất nước Chính vì vậy nơi đây trở thành chỗ quân Tây Sơn lui về để ngăn bước tiến quân Thanh
Năm 1428 Lê Lợi lập ra nhà Hậu Lê Ông là người Thanh Hóa.
Thiên thời, địa lợi, nhân hòa khiến Thanh Hóa thuận lợi trở thành nơi xưng vương, dựng nước Nhà Trần đã phải cho người đục núi, lấp sống để trấn yểm các huyệt mạch đế vương
Trang 2Bài dự thi: em yêu lịch sử quê emLiên tiếp các triều vua, chúa xuất phát từ đất Thanh Theo thống kê thì từ thời Văn Lang cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng là triều Nguyễn với vua Bảo Đại thì Thanh Hóa chính là khởi nguồn của nhiều dòng vua, chúa nhất nước
vì vậy nên mới có câu “Vua xứ Thanh”
Thanh Hóa chính là nơi vua xuất hiện nhiều nhất khi năm Mậu thìn (248) Triệu Thị Trinh đánh tan quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa Tuy chưa xưng vua nhưng quân Ngô đã gọi bà là Vua Nhà Tiền Lê do thập đạo tướng quân Lê Hoàn lãnh đạo cũng xuất phát từ quê nhà Thọ Xuân, Thanh Hóa
Sau khi Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần, lập nên nhà Hồ đổi tên nước là Đại Ngu cũng đặt kinh đô ở thành Tây Giai, tức Tây Đô, Thanh Hóa Nơi đây cũng trở thành mảnh đất sản sinh ra những vị vua thời Hậu Lê như Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông
Không chỉ có vậy, Thanh Hóa còn là nơi xuất phát của hai dòng chúa Trịnh, Nguyễn Chúa Trịnh Kiểm thời vua Lê vốn xuất thân từ Vĩnh Lộc, Thanh Hóa sau
đó mang tiếng giúp phò Lê nhưng thực ra lấn át cả quyền lực của vua
Chúa Nguyễn lập sau thời chúa Trịnh cũng trấn trị ở đất Thuận Hóa sau mới mở rộng khái phá tận Đàng Trong
Thanh là nơi xưng vương, xưng chúa còn Nghệ lại là nơi sản sinh ra các quan thần giỏi giang giúp vua trị vì đất nước Từ quan văn như thái sư Nguyễn Xí phò tá vua
Lê Thánh Tông, bà chúa Lãnh – minh phi của Lê Thánh Tông đến quan võ, tướng quân Nguyễn Cảnh Chân giúp nhà Trần dẹp quân Minh Hơn thế, mảnh đất “Địa linh nhân kiệt” là nơi xuất thân của vô số bậc nhân tài trong tất cả các lĩnh vực như Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh
Đền thờ Cương Quốc công
Nguyễn Xí.
Dị bản
Ngoài câu nói được lưu truyền là
xứ lắm vua nhiều chúa này
Trang 3Bài dự thi: em yêu lịch sử quê emHai tác giả H.Le Breton và Đặng Thai Mai đã đưa ra giải thích cho câu nói này có nghĩa là vùng đất Nghệ Tĩnh được thừa hưởng ân huệ của vua chúa Nơi đây cũng
là vùng đất của các vị thần Nghệ Tĩnh hãnh diện vì có một trong bốn ngôi đền đẹp nhất An Nam “Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng” Giáo sư
Đặng Thai Mai còn giải thích rằng “Thanh Hóa là đất đế vương Nghệ Tĩnh là đất thần linh Thần xứ Nghệ phần lớn là những nhân vật lịch sử Lịch sử Nghệ Tĩnh luôn gắn với nước nhà Trong các thời kỳ khủng hoảng bi đát của dân tộc người
xứ Nghệ vẫn tự hào với những di tích anh hùng và những nhân vật lẫy lừng của
xứ sở”.
Hiện tại Thanh Hóa- Nghệ An là 2 tỉnh quan trọng của Việt Nam cả về kinh tế và lịch sử Nơi đây vẫn luôn sản sinh ra những người con ưu tố, nhân tài giúp ích cho đất nước đúng như dân gian lưu truyền về mảnh đất “địa linh nhân kiệt”
Khi nói tới “ Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” thì không thể không nhắc tới Hồ Quý Ly – người đã tiết thân từ một đại thần dưới thời nhà Trần để khởi đầu nhà hồ trong lịch sử Việt Nam
Hồ Quý Ly có tên thật là Lê Quý Ly, tự là Lý Nguyên Theo gia phả họ Hồ,
tổ tiên Hồ Quý Ly là Hồ hưng Dật vốn người Chiết Giang ( Trung Quốc) đời Hậu Hán thời Ngũ đâị thật quốc ( Năm 947-950) sang làm thái thú Diễn Châu và định
cư ở Hương Bào Đạt, nay là xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Đến đời nhà Lý , có người trọng họ lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoạn Đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở Đại Lại, Thanh Hóa là con nuôi tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình Quý Ly là cháu 4 đời của cụ
Hồ Liêm
Nhà sử học Lê Văn Hưu viết: Hồ Quý Ly là cháu 4 đời của Hồ Liêm Ông là người có tài năng lại có hai người cô là phi tần của vua Trần Minh Tông và sinh hạ được ba vị vua cho nhà Trần, nhờ đó ông rất được vau Trần trọng dụng Hồ Quý
Ly đã nắm giữ được nhiều chức vụ cao trong triều đình Sau vụ một số quý tộc Trần mưu giết Hồ Quý Ly không thành (1399) năm 1400 ông phế xuất vua Trần và lên làm vua, đổi quốc hiệu là Đại Ngu- Nhà Hồ được thành lập
Tháng 4 năm 1396 Hồ Quý Ly phát hành tiền giấy Đây là lần đầu tiên trong chính sử Việt Nam, tiền giấy được lưu hành
Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn( tức 23-3-1400) Lê Quý Ly truất nghôi của cháu ngoại là Trần Thiếu Đé, tự lập làm vua, lấy quốc hiệu là Đại Ngu đổi niên hiệu là Thánh Nguyên Ông đổi sang họ Hồ, lập nên nhà Hồ Hồ Qý Ly lên ngôi, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên Chưa được một năm theo chách nhà Trần, ông
Trang 4Bài dự thi: em yêu lịch sử quê emnhường nôi cho con thứ là hồ Hán Thương, làm Thái Thượng Hoàng nhưng vẫn tự mình quyết đoán mọi công việc.
Năm 1403 ông ban hành các đồ đo lường để làm chuẩn trong việc buôn bán
Hồ Quý Ly là một ông vua có nhiều năng lực về chính trị, kinh tế, văn hóa Trong cá tác phẩm của ông có những bài thơ sáng tác dùng vào việc cai trị và đối ngoại
Khi còn là một đại quan nhà Trần, trong hoàn cảnh nhà Trần suy yế cực độ, đất nước nghiêng ngả , nhân dân cực khổ, Hồ Quý Ly đã cương quyết đề cao công tác giám sát chống thói xu thời không dám can gián cái sai của nhà vua khiến quốc pháp bị xem thường
Ông là vị vua Việt Nam đâu tiên quyết định dùng chữ Nôm để chấn hưng nền văn học dân tộc, cho dịch các kinh, thư, thi, chính ông đã biên tập thiên “ Vô dật” để dạy cho con cái nhà quan và soạn ra thiên đạo dâng lên Trần Nghệ Tông khi trước
Về mặt xã hội ông thết lập sở Quản tế Ở các bộ, ông đề lập một kho lúa gọi
là Thi Bình Lấy tiền công mua lúa trữ vào phòng những năm mất mùa đem bán rẻ cho dân chúng Ông thực thi lại chính sách phân phối ruộng đất, quy định trong nước chỉ trừ Đại Vương và trưởng Công Chúa không còn người nào được phép có quá mười mẫu ruộng Số ruộng thừa phải nộp lại cho Nhà Nước Ông còn hạn chế
số nô tì trong các nhà quyền quý, các gia đình phải tùy theo thứ bậc mà nuôi tôi tớ nhiều hay ít, không được quá số quy định
Năm 1405 sau những năm tháng ngoại giao mềm mỏng, chịu lép không kết quả cha con Hồ Quý Ly phải đứng trước thử thách hiểm nghèo : đối phó với cuộc xâm lược nhà Minh Tháng 6 năm Đinh Hợi( 1407) cha con Hồ Quý Ly bị bắt, có thuyết nói ông bị nhà Minh sát hại khi sang Yên Kinh( Bắc Kinh) Có thuyết lại nói ông bị đày làm lính ở Quảng Tây và mất sau đó vài năm
Nhà Hồ trị vì đất nước từ năm Canh Thìn (1400) đến năm Đinh Hợi (1407) được chọn bảy năm thì sụp đổ
Câu 2: Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét: “Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông – NXB Giáo dục 1988) Ngày 27 – 06 –
2011, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hóa thế giới Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này
Trả lời
Trang 5Bài dự thi: em yêu lịch sử quê emThành Nhà Hồ hiện nay nằm trên 2 xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long( Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) Đây là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai ở Việt Nam Công trình được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397 Thành này còn được gọi
là Thành Tây Đô( hay Tây Giai) để phân biệt với Thành Đông Đô ( Thành Thăng Long- Hà Nội) Xây xong thành Hồ Quý Ly đã dời đô từ Thăng Long về Tây Đô
Trang 6Bài dự thi: em yêu lịch sử quê em
Trang 8Theo sử liệu vào năm 1397 trước nguy cơ đất nước bị giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn ( nay là huyện Vĩnh Lộc, Tỉnh Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành, nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài Đồng thời cũng là cách để hướng lòng dân đoạn tuyệt với nhà Trần
Thế đất được chọn nằm ở khu vực giữa sông Mã và sông Bưởi Phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía nam là nơi hội tụ của sông Mã và sông Bưởi
Thành Nhà Hồ gồm 3 bộ phận: La Thành, Hào Thành và Hoàng Thành La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km, Hào thành được rào bao quanh phía ngoài nội thành cách chân thành theo các hướng khoảng 50 m Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành
Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông Chiều Bắc- Nam dài 870,5m, chiều Đông-Tây dài 883,5m Bốn cổng thành theo chính hướng Nam-Bắc, Tây-Đông gọi là các cổng Tiền-Hậu, Tả- Hữu Mỗi cửa đều được mởi ở chính giữa Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình mái vòm Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi xếp khít lên nhau
Cổng Tiền( Cổng phía Nam) là cổng chính, có 3 cửa Cửa giữa rộng 5,82m, cao 5,75m, hai cửa bên rộng 5,45m, cao 5,35m Ba cổng còn lại chỉ có một cửa Tường thành cao trung bình 5 đến 6m Chỗ cao nhất là cổng tiền cao 10m
Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai ( Đường Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5 km hướng về đàn tế Nam Giao ( Nơi nhà vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8 năm 1402
Toàn bộ tường thành và 4 cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh được đục đẽo tinh xảo, vuông vức xếp chồng khít lên nhau Các phiến đá trung bình cao 1,5m có tấm dài tới 6m Trọng lượng ước nặng 24 tấn tổng
Trang 9Bài dự thi: em yêu lịch sử quê emkhối lượng đá được sử dụng để xây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp công phu.
Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên nhau mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững Qua hơn 600 năm cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn, dù thời gian xây dựng rất gấp gáp, chỉ trong khoảng 3 tháng
Theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng như: Điện Hoàng Nguyên, Cung Diên Thọ( Chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông Cung, Tây Thái Miếu, Đông Thái Miếu, Núi Thọ Kì, Dục Tượng rất nguy nga chẳng khác gì kinh
đô Thăng Long
Tuy nhiên trải qua hơn 600 năm tồn tại, hầu hết công trình kiến trúc bên trong thành đã bị phá hủy Những dấu vết tích nền móng của cung điện xưa giờ vẫn đang nằm ẩn mình phía dưới những ruộng lúa của người dân quanh vùng
Vào hồi 13h (giờ địa phương) tức 18h (giờ Việt Nam) ngày 27/6/2011, Uỷ ban Di sản thế giới tại kỳ họp thứ 35 được tổ chức tại Paris (Cộng hoà Pháp) đã chính thức công nhận Thành Nhà Hồ trở thành Di sản Văn hoá Thế giới
Như vậy, sau 6 năm (2006 – 2011) với bao sự nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn do điều kiện khách quan, được sự quan tâm của các ngành, cơ quan trung ương; các chuyên gia trong nước và quốc tế; đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo các đồng chí Lãnh đạo Tỉnh Uỷ và Lãnh đạo UBND tỉnh Thanh Hoá; Lãnh đạo chính quyền địa phương; sự hợp tác và giúp đỡ của nhân dân huyện Vĩnh Lộc; hành trình của di sản Thành Nhà Hồ trên quê hương Xứ Thanh đã được UNESCO công nhận
là Di sản Văn hoá nhân loại
Niềm vui, những giọt nước mắt hạnh phúc đã vỡ oà!
Di sản Văn hoá Thành Nhà Hồ bao gồm vùng đề cử 155,5ha nằm trong một vùng đệm (5078,5ha) với giá trị cảnh quan tuyệt đẹp của một vùng kinh đô cổ,
Trang 10Bài dự thi: em yêu lịch sử quê emđược UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới với những giá trị nổi bật và tiêu chí sau
Khu di sản Thành Nhà Hồ là trung tâm kinh thành của Việt Nam vào cuối thể kỷ 14 - đầu thế kỷ 15, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 Các thuộc tính chứng minh cho nét đặc sắc mang tầm vóc giá trị nổi bật toàn cầu của nó bao gồm tòa thành đá được xây dựng bằng kỹ thuật đá lớn, La thành, Nam Giao, các tầng văn hóa nối tiếp nhau trong lòng đất lưu giữ các dấu tích Cung điện, đền đài, đường xá và nghệ thuật trang trí, các làng cổ cùng toàn bộ cảnh quan đồi núi, sông hồ mang đậm chất phong thủy điển hình còn lưu giữ được tương đối nguyên vẹn phản ánh rõ nét về một thời kỳ lịch sử văn hóa, văn minh Việt Nam với các đặc trưng mang tầm vóc khu vực và quốc tế
Khu di sản Thành Nhà Hồ là biểu hiện rõ rệt những sự giao thoa trao đổi quan trọng các giá trị nhân văn giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á liên quan đến sự phát triển của kiến trúc, quy hoạch…và cảnh quan khu vực vào cuối thế kỷ 14 - đầu thế kỷ 15 Đó là việc tiếp thu các tư tưởng hướng tích cực của Nho Giáo thực hành (Trung Quốc) kết hợp với các đặc điểm của văn hóa Việt Nam và khu vực được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam nhằm đưa đất nước đạt tới các thành tựu mới văn minh hơn, tích cực hơn, đem lại nhiều lợi ích hơn cho người dân, đáp ứng các yêu cầu đổi mới cấp bách của Việt Nam và góp phần thúc đẩy các trào lưu tư tưởng nhân văn tích cực ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á Tất cả được thể hiện nổi trội và duy nhất thấy ở Thành Nhà Hồ trên các phương tiện thiết kế cảnh quan đô thị, kiến trúc Thành đá,
kỹ thuật xây dựng đá lớn và các ảnh hưởng tác động lẫn nhau nhiều chiều của khu
di sản tới kỹ thuật xây dựng thành quách sau đó ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Trang 11Bài dự thi: em yêu lịch sử quê em
Câu 3: Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Bằng kiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh
Trả lời
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa là tỉnh đất rộng người đông cùng với 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hợp thành hâu phương Thanh-Nghệ-Tĩnh Trong đó Thanh Hóa là tỉnh địa đầu của miền trung là hậu phương trực tiếp của chiến trường liên khu 3 Bắc Bộ và Tây Bắc
Mùa hè năm 1953 cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang năm thứ 8 Cục chiến trường Bắc Bộ- Tây Bắc, quân và dân ta mở nhiều chiến dịch lớn Mọi nhu cầu đam bảo cho cuộc kháng chiến đòi hỏi rất lớn ở hâu phương Tháng cuối năm
1953 , hâu phương Thanh Hóa vừa phải ra sức đẩ mạnh mọi mặt công tác xây dựng và bảo vệ hậu phương, vừa tích cực động viên sức người, sức của cho tiền tuyến đánh thắng Chiến dịch nối tiếp chiến dịch, năm 1951-1953 quân và dân Thanh Hóa liên tiếp bổ sung lực lượng, phục phụ 5 chiến dịc lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình Đặc biệt là chiến dịch Thượng Lào tháng 5/1953, Thanh Hóa đảm bảo tới 76% nhu cầu của chiến dịch Thực hiện nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954 Ngùa 6/12/1953, Bộ chính trị quyết định mởi chiến dịch Điện Biên Phủ Quyết tâm chiến lược của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu diệt toàn
bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã trở thành ý chí, hành động cụ thể của quân và dân ta
Thực hiện kế hoạch của Bộ chính trị, các binh đoàn chủ lực của ta lần lượt rời hậu phương Thanh Hóa để ồn sức cho chiến dịch
Trang 12Bài dự thi: em yêu lịch sử quê emNgày 6/12/1953, Bộ chính trị trung ương Đảng thông qua quyết tâm mở chiến dịch Điện Biên Phủ và bắt đầu huy động lực lượng dồn sức cho Điện Biên Phủ - Đáp ứng cho chiến dịch, Thanh Hóa đã nhanh chóng củng cố nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang, nhất là lực lượng bộ đội địa phương để kịp thời chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa bổ sung ra nhiều đơn vị chiến trường như: Tiểu đoàn 275, Đại đội 150,160 cho tiểu đoàn 541 phòng không Các đơn vị của Hoằng Hóa, Hà Trung, Quảng Xương, Thạch Thành cho các đơn vị tham gia ciến đấu tại Điện Biên Phủ.
Ngày 13/3/1954 bộ đội ta nổ súng tiêu diết cứ diểm Him Lam và độc ;ập mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ Cuối cùng chiến dịch Điên Bien Phủ giành thắng lợi, tin chiến thắng nhanh chóng đến với quân và dân Thanh Hóa, lực lượng vũ trang tỉnh tích cực khuếch trương chiến thắng, các tổ dân vận, địch vận đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nói
rõ âm mưu thủ đoạn của địch, kêu gọi binh lính địch đóng tại các Đồn Điền Hộ Đồng thời các đại đội bộ đội địa phương tổ chức các đợt tấn công, truy quét, buộc định phải đầu hàng, thất bại trên chiến trường Điện Biên Phủ
Ngày 7/8/1954 thực dân Pháp phải rút quân khỏi đản Hòn Mê, chấm dứt sự
có mặt của quân thực dân Pháp ở Thanh Hóa Sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng của quân và dân Việt Nam, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, quân và dân ta đã loại bỏ khòi vòng chiến đấu một số lượng lớn sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, giải phóng vùng đất đai có ý nghĩa chiến lược
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã thể hiện rõ vài trò hậu phương chiến lược quan trọng của Điện Biên Phủ Đó là tinh thần xả thân chiến đấu ngoan cường của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Thanh Hóa Trên mọi mặt trận là biểu tượng tốt đẹp rực sáng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Câu 4: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập như thế nào? Hãy nêu những hiểu biết của em về một người Cộng sản Thanh Hóa mà em ấn tượng nhất?
Trả lời
Ngày 29/7/1930, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập tại Làng Yên Trường, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh là một bước ngoặt lịch sử quan trọng, là nhân tố quyết định thắng lợi của phong trào đấu tranh cách mạng đánh đổ chế độ thực dân và phong kiến, giành chính quyền ở Thanh Hóa năm 1945, đồng thời giành nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập hiện nay