1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

liên môn ngữ văn, lịch sử, công dân đạt giải ba cấp tỉnh Thanh Hóa

32 620 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 537 KB
File đính kèm Bài liên môn ngữ văn.zip (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. TÊN HỒ SƠ DẠY HỌC.Tích hợp kiến thức môn Ngữ vănLịch sửĐịa lí –GDCD và Giáo dục quốc phòng An ninh vào giảng dạy tiết 59,60 bài : “Đại cáo bình Ngô” ( Nguyễn Trãi – phần tác phẩm, Ngữ văn 10, tập 2, Ban cơ bản).II. MỤC TIÊU DẠY HỌC.1. Về kiến thức : Giúp học sinh: Môn Ngữ văn: Hiểu rõ “ Đại cáo bình Ngô” có ý nghĩa trọng đại, là bản hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước và tư tương nhân nghĩa, là kiệt tác văn học, kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương. Nắm vững những đặc trưng cơ bản của thể các, đồng thời thấy được những sáng tạo của Nguyễn Trãi trong “ Đại cáo bình Ngô”. Môn Lịch sử: ” Đại cáo bình Ngô” được coi là bản tuyên ngôn của nước ta và thế kỉ XV Học sinh hiểu rõ đặc điểm hoàn cảnh lịch sử nước ta vào thế kỉ XV và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của người anh hùng Lê Lợi đã đưa đất nước ta bước sang một trang sử mới, một thời đại mới. Đặc biệt là biết thêm một số trận đánh lớn vang dội của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Môn Địa lí:Học sinh hiểu rõ về vị trí địa lí của nước Đại Việt vào thế kỉ XV. Đặc điểm và vị trí địa lí của đất Lam Sơn ( nơi được Lê Lợi lựa chọn để dấy binh). Một số địa danh nổi bật của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Môn Giáo dục công dân. Nhận thức được lòng yêu nước và tinh thần nhân nghĩa là hai yếu tố quyết định đã đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thắng lợi vẻ vang. Từ đó bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trân trọng những địa danh lịch sử, sự kiện lịch sử, danh nhân lịch sử. Đồng thời muốn nêu cao truyền thống đạo đức nhân nghĩa vốn là cái gốc rễ lâu bền đối với sự trường tồn của dân tộc. Môn Giáo dục quốc phòng an ninh.Học sinh hiểu được lịch sử của những cuộc đấu trranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Học sinh thấy được tài năng quân sự lỗi lạc của những danh nhân như Lê Lợi, Nguyễn Trãi trong quá trình điều binh, khiển tướng, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ những buổi đầu dựng nghiệp hết sức khó khăn cho tới ngày thắng lợi huy hoàng, vẻ vang. 2. Về kĩ năng: Môn Ngữ văn:Học sinh biết cách cảm nhận và phân tích tác phẩm : “ Đại cáo bình Ngô”. Đây là một trong những áng văn chính luận tài tình, một “ Thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta. Môn Lịch sử: Giúp học sinh có kĩ năng nhận thức được bài học lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Môn Địa lí: Học sinh có kĩ năng xác định được vị trí địa lí của nước ta hời Lê Lợi tiến hành khởi nghĩa Lam Sơn ( Thế kỉ XV) đặc biệt là vùng núi Lam Sơn có những đặc điểm địa lí đặc biệt.Rèn luyện kĩ năng quan sát bản đồ.Khu di tích Lam Kinh. Môn Giáo dục công dân:Giúp học sinh bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trân trọng những di tích lịch sử, danh nhân lịch sử. Môn Giáo dục quốc phòng An ninh.Ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trong thời đại mới.3. Về tư duy thái độ. Giúp học sinh: Có tinh thần học tập nghiêm túc, sáng tạo, hiệu quả. Biết say mê tìm tòi, khám phá những sự kiện, địa danh lịch sử của dân tộc. Yêu thích hứng thú hơn với môn Văn. Có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc. Có thái độ học tập và rèn luyện tốt, sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.III. ĐỐI TƯỢNG DẠY HỌC. Số lượng: 4050 học sinhlớp Số lớp thực hiện: 3 lớp Khối 10 trường THPT Yên Định 2Học sinh học đến tiết 59, 60 bài: “ Đại cáo bình Ngô” ( Ngữ văn 10, tập 2,Ban cơ bản).IV. Ý NGHĨA, VAI TRÒ CỦA DỰ ÁN: Hiện nay, giáo dục luôn chú trọng việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển toàn diện cho học sinh. Vì thế việc kết hợp vận dụng kiến thức liên môn Lịch sử, Địa lí, GDCD, GD quốc phòngan ninh vào môn học Ngữ văn là cần thiết và rất quan trọng. Sự kết hợp này sẽ khiến cho bài học thêm trực quan, phong phú, sinh động, tăng khả năng cảm thụ văn chương cho các em học sinh. Từ đó tạo hứng khởi cho học sinh lòng yêu thích các môn học xã hội, tạo điều kiện quan trọng để rèn luyện kĩ năng sống cho các em.Dự án này sẽ giúp cho kiến thức học sinh thu nhập được sâu sắc, toàn diện hơn. Học sinh sẽ được mở rộng kiến thức và thu nhận kiến thức dưới nhiều hình thức. Từ đó hình thành cho các em tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biết liên hệ bài học đến thực tiễn sinh động.Việc thực hiện dự án này giúp giáo viên bộ môn trau dồi kiến thức không chỉ của môn mình dạy mà cả những môn học khác để dạy học môn mình tốt hơn, đạt kết quả cao hơn. Đồng thời giúp học sinh bồi dưỡng tình cảm cao đẹp, có ý thức yêu mến lịch sử dân tộc, thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình đối với dân tộc. Như vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi thấy rằng việc kết hợp kiến thức liên môn vào bài dạy là một việc làm vô cùng ý nghĩa. Vì vậy, mỗi người giáo viên nên vận dụng thường xuyên hơn trong quá trình giảng dạy để đem đến cho học sinh những bài học bổ ích nhất.V. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC TẬP. Máy vi tính. Máy chiếu đa năng. Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 2, Ban cơ bản. Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 2, Ban cơ bản.Các nguồn thông tin, tài liệu về nước Đại Việt ở Thế kỉ XV, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bản đồ, tranh ảnh minh họa về thời đại về người anh hùng Nguyễn Trãi, Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, khu di tích Lam Kinh Thanh Hóa.VI. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC.1. Mục tiêu bài học:1.1.Về kiến thức: “ Đại cáo bình Ngô” có ý nghĩa trọng đại của một bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước và tư tưởng nhân nghĩa; là kiệt tác văn học kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương. Nắm vững những đặc trưng cơ bản của thể cáo, đồng thời thấy được những sáng tạo của Nguyễn Trãi trong “ Đại cáo bình Ngô”. 1.2. Về kĩ năng:Rèn kĩ năng phân tích tác phẩm văn chính luận trung đại.1.3. Thái độ:Giáo dục học sinh thái độ yêu mến, trân trọng những danh nhân lịch sử, và tác phẩm được đánh giá là một áng “ thiên cổ hùng văn” 2. Phương pháp dạy học.Giáo vên tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp đọc sáng tạo, gợi tìm, kết hợp với các hình thức trao đổi, thảo luận, trả lời các câu hỏi và thuyết trình.Tác phẩm thuộc thể loại cáo nên khi phân tích cần chú ý tới đặc trưng thể loại. 3. Nội dung tích hợp liên môn: Giáo viên đưa ra một số câu hỏi để tích hợp kiến thức liên môn: Các câu hỏi tích hợp kiến thức Ngữ văn.Câu 1: Anh( chị) hiểu gì về thể loại Cáo?Trả lời. Cáo là một thể văn thời cổ, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cáo cùng với Chiếu là văn bản của vua công bố việc nước. Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu.( Biền là ngựa đi sóng đôi. Ngấu là đôi, từng cặp). Văn biền ngẫu có năm đặc điểm:+ Ngôn ngữ đối ngẫu ( các vế đối nhau theo bằng, trắc, từ loại).+Kiểu câu chỉnh tề ( câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ hoặc câu 44 đối với câu 66).+ Có vần điệu bằng trắc hài hòa.+ Sử dụng điển cố.+Sử dụng từ ngữ bóng bẩy có tính khoa trương. Đại cáo là tuyên bố, tuyên cáo rộng rãi khắp thiên hạ những điều quan trọng. Ở bài này là tuyên bố về sự nghiệp đánh dẹp giặc Ngô.Ngô có hai cách hiểu: Một là các vua nhà Minh quê ở đất Ngô. Hai là chỉ chung bọn giặc sang cai trị nước ta rất tàn ác. Từ đó, dân ta gọi giặc phương Bắc là giặc Ngô để tỏ ý khinh ghét.Câu 2: Bố cục của bài Cáo được chia làm mấy phần?Trả lời: Bố cục bài Cáo gồm 4 phần:Phần 1: ( Từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”) : Nêu luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến.Phần 2: ( “Vừa rồi...chịu được”) : Tố cáo tội ác của giặc Minh.Phần 3: Thuật lại quá trình kháng chiến, gồm 2 đoạn nhỏ:+ ( “Ta đây...lấy ít địch nhiều”) : Lược thuật buổi ban đầu dựng cờ khởi nghĩa.+ ( “Trọn hay...chưa thấy xưa nay”) : Lược thuật những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn.Phần 4: ( Xã tắc...Ai nấy đều hay): Tuyên bố kết thúc chiến tranh mở ra kỷ nguyên hòa bình, khẳng định địa vị, tư thế của đất nước.Câu 3: Xác định chủ đề của bài Cáo:Trả lời: “Đại cáo bình Ngô” nêu luận đề chính nghĩa, nguyên nhân và quá trình chinhphạt thắng lợi. Đồng thời lời tuyên cáo chung để toàn dân được biết.Câu 4: Tìm hiểu đoạn mở đầu ( “ Từng nghe...Chứng cớ còn ghi”):a. Có chứng chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài Cáo?b. Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc?( Lưu ý cách dùng từ, sử dụng nghệ thuật so sánh, câu văn biền ngẫu sóng đôi, câu xứng, cách nêu dẫn chứng từ thực tiễn..).Trả lời:a.Đoạn mở đầu, Nguyễn Trãi đã thay mặt Lê Lợi nêu lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiếnTư tưởng nhân nghĩa:“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dânQuân điếu phạt trước lo trừ bạo”Tư tưởng này đã đập lại luận điệu của quân Minh. Động cơ kháng chiến của ta là vì dân, chiến đấu vì trừ bạo( bọn quân Minh, bọn tay sai).=> Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội phải chăm lo cho dân được sống hạnh phúc, yên bình.Tư cách độc lập của dân tộc:+ Biểu hiện: Tên nước, nền văn hóa riêng, bờ cõi, phong tục, nền chính trị, nhân tài.=> Khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia ( so với các tác phần trước: “ Nam quốc sơn hà”, “ Hịch tướng sĩ”)b. Nguyễn Trãi sử dụng cách nói khẳng định chắc chắn, giọng văn sảng khoái tự hào, với những cặp câu văn biền ngẫu sóng đôi, câu xứng; cách nêu dẫn chứng từ thực tiễn giàu sức thuyết phục.=> Mở đầu “ Đại cáo bình Ngô” có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập.Câu 5: Tìm hiểu đoạn 2 “ Vừa rồi...Ai bảo thân nhân chịu được”a. Tác giả đã tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác nào của giặc Minh? Âm mưu nào là thâm độc nhất? Tội ác nào là man rợ nhất?b. Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc? ( Lưu ý những câu văn giàu hình tượng; giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc...)Trả lời: Tội ác của giặc MinhÂm mưu: Xâm chiếm Đại ViệtLiệt kê hàng loạt tội ác cụ thể: Khủng bố ( thui sống, chôn sống), bóc lột ( thuế má: nặng thuế khóa phu phen: “những nỗi phu phen” nay xây nhà mai đắp đất..., dâng nạp: dòng lưng mò ngọc, đãi cát tìm vàng, bắt dò chim trả, bắt bẫy hươu đen...., diệt sản xuất: tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ; diệt sự sống: Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng....Tội ác man rợ nhất của giặc được miêu tả trong câu:“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tànVùi con đỏ xuống dước hầm tai vạ”Đây là hình ảnh vừa cụ thể, lại vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội. Tội ác chồng chất của kẻ thù mà “ trúc Nam Sơn không ghi hết tội”, “ Nước Đông Hải không rửa hết mùi”. Giọng văn : đau xót, căm giận. Kết thúc đoạn kể tội bằng vế đối vang dội, đầy tính kích động như một lời hịch: “ Lẽ nào trời đất dung thaAi bảo thần dân chịu được?”=> Tác giả tả tội ác tày trời của giặc, làm rõ sự bất nhân phi nghĩa của bọn chúng. Đó cũng là lí do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến.Câu 6: Tìm hiểu đoạn 3 ( “ Ta đây....Cũng là chưa thấy xưa nay”)a. Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế nàob. Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.Trả lời:a. Phản ánh giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa tác giả tập trung khắc họa hình tượng Lê Lợi. Hình tượng Lê Lợi:+ Xưng hô khiêm nhường: “ ta” + Hoàn cảnh dấy binh: Núi Lam Sơn+ Lòng căm thù giặc sâu sắc+ Lí tưởng hoài bão lớn+ Quyết tâm thực hiện lí tưởng=> Lê Lợi là người tượng trưng cho những khó khăn gian khổ và ý chí quyết tâm của toàn dân tộc. Tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa:+ Những khó khăn: Quân thù mạnh, quân ta thiếu nhân tài, thiếu quân, thiếu lương.+ Vượt qua gian khổ khó khăn và sức mạnh chiến thắngb. Phản ánh giai đoạn hai của cuộc khởi nghĩa, tác giả dựng lên bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với bút pháp đậm chất anh hùng ca: Về hình tượng : Chiến thắng của ta: “ Sấm vang chớp giật”, “ Trúc chẻ tro bay”, “Sạch không kình ngạc”, “ Tan tác chim muông””, “ Trút sạch lá khô”,... Sức mạnh của ta: “ Đá núi cung mòn”, “ Nước sông phải cạn” Thất bại của địch: “ Máu chảy thành sông”, “ Thây chất đầy nội” Khung cảnh chiến trường: “ Sắc phong vân phải đổi”, “ Ánh nhật nguyệt phải mờ” Về mặt ngôn ngữ: Các động từ mạnh liên kết với nhau tạo thành những chuyển rung dồn dập, dữ dội. Các tính từ chỉ mức độ ở điểm tối đa. Câu văn khi dài khi ngắn, khi thay đổi biến hóa linh hoạt. Nhạc điệu: Dồn dập, sảng khoái. Âm thanh: Giòn gĩa, hào hùng như sóng trào bão cuốn. Xen giữa bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là hình ảnh kẻ thù xâm lược mỗi tên một vẻ, mỗi đứa một cảnh nhưng đều giống nhau ở một điểm : ham sống, sợ chết, hèn nhát. Hình tượng kẻ thù thảm hại, nhục nhã càng tôn thêm khí thế hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: Bản chất chính nghĩa, nhân đạo sáng ngời.Câu hỏi tích hợp môn Lịch sử:Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử nước ta khi “ Đại cáo bình Ngô” ra đời?Trả lời: Năm 1407, quân Minh xâm lược nước ta. Năm 1418 Lê Lợi dấy binh ở đất Lam Sơn ( Thanh Hóa). Cuộc kháng chiến chống quân Minh kéo dài suốt 10 năm. Sau một thời gian cầm cự để xây dựng lực lượng ( 14181423), nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển sang thời kì phản công. Đến mùa đông 1427, sau khi đập tan 15 vạn quân tiếp viện của giặc Minh, nước ta hoàn toàn được giải phóng. Đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, đặt tên hiệu là Thuận Thiên ( hợp lòng trời) và cử Nguyễn Trãi soạn bài cáo để tuyên bố cho toàn dân biết cuộc kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi rực rỡ, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn xây dựng hòa bình. Như vậy, bài Cáo ra đời trong lúc toàn quân, toàn dân đang hân hoan chào đón chiến thắng sau 10 năm chiến đấu gian khổ, anh hùng.Câu 2: Vì sao đoạn mở đầu bài Cáo có giá trị như một bản Tuyên ngôn Độc lập?Trả lờiMở đầu “ Đại cáo bình Ngô”, Nguyễn Trãi nêu nguyên lí làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Trong nguyên lí chính nghĩa của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy có hai nội dung chính được nêu lên: Nguyên lí nhân nghĩa, một nguyên lí có tính chất chung của các dân tộc, của nhiều thời đại; chân lí về sự tồn tại độc lâp, có chủ quyền của nước Đại Việt đã được minh chứng bằng thực tiễn lịch sử.Câu 3: Trong các yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dẫn ra yếu tố lịch sử nào?Trả lời: Yếu tố lịch sử được Nguyễn Trãi đưa ra làm căn cứ xác đáng, chân thực:“ Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”Nêu chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của dân tộc Đại Việt, để tăng thêm sức thuyết phục, nguyễn Trãi đã dùng biện pháp so sánh: so sánh ta với Trung Quốc, đặt ta ngang hàng với Trung Quốc, ngang hàng về trình độ chính trị, tổ chức chế độ, quản lí quốc gia ( Triệu, Đinh, Lí, Trần ngang hàng với Hán, Đường, Tống, Nguyên ). Như vậy sau khi đã có những triều đại tồn tại ngang hàng ( nếu không muốn nói là hơn vì Đại Việt luôn chiến thắng) với các triều đại phương Bắc thì Nguyễn Trãi mới có đủ tiền đề lịch sử để so sánh, chứng minh.Thêm nữa, tác giả còn đưa ra những “chứng cớ còn ghi” để chứng minh cho sức mạnh của chính nghĩa: Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đô, Ô Mã kẻ bị giết, người bị bắt. Như vậy, trong quan niệm về dân tộc, Nguyễn Trãi ý thức được văn hiến, truyền thống lịch sử là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân để xác định dân tộc.Câu 3: Trong phần tố cáo tội ác của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã vạch trần bản chất xảo trá của kẻ thù, lợi dụng hoàn cảnh lịch sử chính trị đất nước ta như thế nào?Trả lời: Trước khi tố cáo tội ác dã man của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã vạch trần bản chất gian xảo, bịp bợm của chúng khi tràn sang nước ta với luận điệu: “ Phù Trần, diệt Hồ”.“ Vừa rồi:Nhân họ Hồ chính sự phiền hàĐể trong nước lòng dân oán hậnQuân cường Minh thừa cơ gây họaBọn gian tà còn bán nước cầu vinh”.Sau khi nhà Trần sụp đổ, Hồ Quý Ly lên ngôi lập nên triều đại nhà Hồ (1400) dời kinh đô từ Thăng Long ( Đông Đô) về Tây Đô ( Vĩnh Lộc Thanh Hóa). Chính sự trong nước chưa ổn định, lòng dân chưa được thu phục. Nhiều cuộc nổi dậy chống quân Minh, điển hình là nhà hậu Trần đã bị dẹp một cách tàn khốc. Liên tiếp hai vua Hồ, một vua Trần bị bắt về Bắc. Vua Trùng Quang và các tướng đều tử tiết. Trương Phụ khủng bố, tàn sát người Việt đồng thời chúng thiết lập bộ máy cai trị và huy động bọn phản quốc giúp việc đắc lực, một số cuộc khởi nghĩa chống quân Minh vẫn hoạt động nhưng lẻ tẻ và không có khả năng mở rộng.Việc nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần chỉ là một nguyên nhân đúng hơn chỉ là một nguyên cớ để giặc Minh thừa cơ gây họa, là một cách “mượn gió bẻ măng”. Âm mưu thôn tính nước ta vốn có sẵn, có từ lâu trong đầu óc của “ Thiên triều”.Câu 4: Trong đoạn kết, “ Đại cáo bình Ngô” đã nêu lên bài học lịch sử. Theo em có những bài học lịch sử nào và ý nghĩa của bài học lịch sử đó đối với chúng ta ngày nay như thế nào?Trả lời: Bài học lịch sử :Sự thay đổi nhưng thực chất là sự phục hưng, là nguyên nhân, là điều kiện để thiết lập sự vững bền. Sự vững bền xây dựng trên cơ sở đã phục hưng dân tộc, cho nên viễn cảnh đất nước hiện ra thật tươi sáng, huy hoàng: “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn”Chân lí lịch sử có ý nghĩa trong mọi thời đại: Có hiện thực hôm nay và tương lai ngày mai là nhờ chiến công trong quá khứ. Cảm hứng về độc lập dân tộc và tương lai đất nước đã hòa quện với niềm tin về quy luật vận động của thế giới từ “ bĩ” sang “thái” hướng tới sự sáng tươi phát triển, tăng thêm niềm quyết tâm xây dựng và bảo vệ đất nước của chúng ta ngày nay. Câu hỏi tích hợp kiến thức môn Địa lí:Câu 1: Trong phần mở đầu Nguyễn Trãi đã nhắc đến quốc hiệu: “Nước Đại Việt” được phân biệt rạch ròi “ núi sông bờ cõi đã chia” với phương bắc. Em hãy xác định lãnh thổ chủ quyền của nước Đại Việt ta thời bấy giờ.Trả lời:Giáo viên cung cấp ảnh: Bản đồ Đại Việt vào thế kỉ XV.

Trang 1

I TÊN HỒ SƠ DẠY HỌC.

Tích hợp kiến thức môn Ngữ văn-Lịch sử-Địa lí –GDCD và Giáo dục quốc phòng- An ninh vào giảng dạy tiết 59,60 bài : “Đại cáo bình Ngô” ( Nguyễn Trãi – phần tác phẩm, Ngữ văn 10, tập 2, Ban cơ bản).

II MỤC TIÊU DẠY HỌC.

1 Về kiến thức : Giúp học sinh:

* Môn Ngữ văn:

- Hiểu rõ “ Đại cáo bình Ngô” có ý nghĩa trọng đại, là bản hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam Tác phẩm khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước và tư tương nhân nghĩa, là kiệt tác văn học, kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương

- Nắm vững những đặc trưng cơ bản của thể các, đồng thời thấy được những sáng tạo của Nguyễn Trãi trong “ Đại cáo bình Ngô”

* Môn Lịch sử:

-” Đại cáo bình Ngô” được coi là bản tuyên ngôn của nước ta và thế kỉ XV

- Học sinh hiểu rõ đặc điểm hoàn cảnh lịch sử nước ta vào thế kỉ XV và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của người anh hùng Lê Lợi đã đưa đất nước ta bước sang một trang sử mới, một thời đại mới Đặc biệt là biết thêm một số trận đánh lớn vang dội của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

* Môn Địa lí:

-Học sinh hiểu rõ về vị trí địa lí của nước Đại Việt vào thế kỉ XV

- Đặc điểm và vị trí địa lí của đất Lam Sơn ( nơi được Lê Lợi lựa chọn để dấy binh)

- Một số địa danh nổi bật của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

* Môn Giáo dục công dân.

- Nhận thức được lòng yêu nước và tinh thần nhân nghĩa là hai yếu tố quyết định

đã đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thắng lợi vẻ vang Từ đó bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trân trọng những địa danh lịch sử, sự kiện lịch sử, danh nhân lịch sử Đồng thời muốn nêu cao truyền thống đạo đức nhân nghĩa vốn là cái gốc rễ lâu bền đối với sự trường tồn của dân tộc

* Môn Giáo dục quốc phòng- an ninh.

-Học sinh hiểu được lịch sử của những cuộc đấu trranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc

- Học sinh thấy được tài năng quân sự lỗi lạc của những danh nhân như Lê Lợi, Nguyễn Trãi trong quá trình điều binh, khiển tướng, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa

Trang 2

Lam Sơn từ những buổi đầu dựng nghiệp hết sức khó khăn cho tới ngày thắng lợi huy hoàng, vẻ vang

2 Về kĩ năng:

* Môn Ngữ văn:

Học sinh biết cách cảm nhận và phân tích tác phẩm : “ Đại cáo bình Ngô” Đây là một trong những áng văn chính luận tài tình, một “ Thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta

-Rèn luyện kĩ năng quan sát bản đồ

-Khu di tích Lam Kinh

* Môn Giáo dục công dân:

Giúp học sinh bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trân trọng những di tích lịch sử, danh nhân lịch sử

* Môn Giáo dục quốc phòng- An ninh.

Ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trong thời đại mới

3 Về tư duy thái độ Giúp học sinh:

- Có tinh thần học tập nghiêm túc, sáng tạo, hiệu quả.

- Biết say mê tìm tòi, khám phá những sự kiện, địa danh lịch sử của dân tộc

- Yêu thích hứng thú hơn với môn Văn

- Có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc Có thái độ học tập và rèn luyện tốt, sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc

III ĐỐI TƯỢNG DẠY HỌC.

- Số lượng: 40-50 học sinh/lớp

- Số lớp thực hiện: 3 lớp

- Khối 10 trường THPT Yên Định 2

Học sinh học đến tiết 59, 60 bài: “ Đại cáo bình Ngô” ( Ngữ văn 10, tập 2,Ban cơ bản)

IV Ý NGHĨA, VAI TRÒ CỦA DỰ ÁN:

Trang 3

Hiện nay, giáo dục luôn chú trọng việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển toàn diện cho học sinh Vì thế việc kết hợp vận dụng kiến thức liên môn Lịch sử, Địa lí, GDCD, GD quốc phòng-an ninh vào môn học Ngữ văn

là cần thiết và rất quan trọng Sự kết hợp này sẽ khiến cho bài học thêm trực quan, phong phú, sinh động, tăng khả năng cảm thụ văn chương cho các em học sinh Từ đó tạo hứng khởi cho học sinh lòng yêu thích các môn học xã hội, tạo điều kiện quan trọng để rèn luyện kĩ năng sống cho các em

Dự án này sẽ giúp cho kiến thức học sinh thu nhập được sâu sắc, toàn diện hơn Học sinh sẽ được mở rộng kiến thức và thu nhận kiến thức dưới nhiều hình thức Từ đó hình thành cho các em tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biết liên hệ bài học đến thực tiễn sinh động

Việc thực hiện dự án này giúp giáo viên bộ môn trau dồi kiến thức không chỉ của môn mình dạy mà cả những môn học khác để dạy học môn mình tốt hơn, đạt kết quả cao hơn Đồng thời giúp học sinh bồi dưỡng tình cảm cao đẹp, có ý thức yêu mến lịch sử dân tộc, thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình đối với dân tộc

Như vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi thấy rằng việc kết hợp kiến thức liên môn vào bài dạy là một việc làm vô cùng ý nghĩa Vì vậy, mỗi người giáo viên nên vận dụng thường xuyên hơn trong quá trình giảng dạy để đem đến cho học sinh những bài học bổ ích nhất

V THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC TẬP.

- Máy vi tính

- Máy chiếu đa năng

- Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 2, Ban cơ bản

- Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 2, Ban cơ bản

-Các nguồn thông tin, tài liệu về nước Đại Việt ở Thế kỉ XV, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

-Bản đồ, tranh ảnh minh họa về thời đại về người anh hùng Nguyễn Trãi,

Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, khu di tích Lam Kinh- Thanh Hóa

VI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC.

1 Mục tiêu bài học:

1.1.Về kiến thức:

- “ Đại cáo bình Ngô” có ý nghĩa trọng đại của một bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước và tư tưởng nhân nghĩa; là kiệt tác văn học kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương

- Nắm vững những đặc trưng cơ bản của thể cáo, đồng thời thấy được những sáng tạo của Nguyễn Trãi trong “ Đại cáo bình Ngô”

Trang 4

1.2 Về kĩ năng:

Rèn kĩ năng phân tích tác phẩm văn chính luận trung đại

1.3 Thái độ:

Giáo dục học sinh thái độ yêu mến, trân trọng những danh nhân lịch sử,

và tác phẩm được đánh giá là một áng “ thiên cổ hùng văn”

2 Phương pháp dạy học

Giáo vên tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp đọc sáng tạo, gợi tìm, kết hợp với các hình thức trao đổi, thảo luận, trả lời các câu hỏi và thuyết trình

Tác phẩm thuộc thể loại cáo nên khi phân tích cần chú ý tới đặc trưng thể loại

3 Nội dung tích hợp liên môn:

Giáo viên đưa ra một số câu hỏi để tích hợp kiến thức liên môn:

* Các câu hỏi tích hợp kiến thức Ngữ văn.

+ Ngôn ngữ đối ngẫu ( các vế đối nhau theo bằng, trắc, từ loại)

+Kiểu câu chỉnh tề ( câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ hoặc câu 4/4 đối với câu 6/6)

+ Có vần điệu bằng trắc hài hòa

+ Sử dụng điển cố

+Sử dụng từ ngữ bóng bẩy có tính khoa trương

- Đại cáo là tuyên bố, tuyên cáo rộng rãi khắp thiên hạ những điều quan trọng Ở bài này là tuyên bố về sự nghiệp đánh dẹp giặc Ngô

-Ngô có hai cách hiểu: Một là các vua nhà Minh quê ở đất Ngô Hai là chỉ chung bọn giặc sang cai trị nước ta rất tàn ác Từ đó, dân ta gọi giặc phương Bắc

là giặc Ngô để tỏ ý khinh ghét

Câu 2:

Bố cục của bài Cáo được chia làm mấy phần?

Trả lời:

Bố cục bài Cáo gồm 4 phần:

Trang 5

Phần 1: ( Từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”) : Nêu luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến.

Phần 2: ( “Vừa rồi chịu được”) : Tố cáo tội ác của giặc Minh

Phần 3: Thuật lại quá trình kháng chiến, gồm 2 đoạn nhỏ:

+ ( “Ta đây lấy ít địch nhiều”) : Lược thuật buổi ban đầu dựng cờ khởi nghĩa.+ ( “Trọn hay chưa thấy xưa nay”) : Lược thuật những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn

Phần 4: ( Xã tắc Ai nấy đều hay): Tuyên bố kết thúc chiến tranh mở ra kỷ nguyên hòa bình, khẳng định địa vị, tư thế của đất nước

Tìm hiểu đoạn mở đầu ( “ Từng nghe Chứng cớ còn ghi”):

a Có chứng chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng

cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài Cáo?

b Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc?

( Lưu ý cách dùng từ, sử dụng nghệ thuật so sánh, câu văn biền ngẫu sóng đôi, câu xứng, cách nêu dẫn chứng từ thực tiễn )

Trả lời:

a. Đoạn mở đầu, Nguyễn Trãi đã thay mặt Lê Lợi nêu lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến

-Tư tưởng nhân nghĩa:

“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Tư tưởng này đã đập lại luận điệu của quân Minh Động cơ kháng chiến của ta là vì dân, chiến đấu vì trừ bạo( bọn quân Minh, bọn tay sai)

=> Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội phải chăm lo cho dân được sống hạnh phúc, yên bình.

-Tư cách độc lập của dân tộc:

+ Biểu hiện: Tên nước, nền văn hóa riêng, bờ cõi, phong tục, nền chính trị, nhân tài

=> Khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia ( so với các tác phần trước: “ Nam

quốc sơn hà”, “ Hịch tướng sĩ”)

Trang 6

b Nguyễn Trãi sử dụng cách nói khẳng định chắc chắn, giọng văn sảng khoái tự

hào, với những cặp câu văn biền ngẫu sóng đôi, câu xứng; cách nêu dẫn chứng

từ thực tiễn giàu sức thuyết phục

=> Mở đầu “ Đại cáo bình Ngô” có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập.

Câu 5 :

Tìm hiểu đoạn 2 “ Vừa rồi Ai bảo thân nhân chịu được”

a Tác giả đã tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác nào của giặc Minh?

Âm mưu nào là thâm độc nhất? Tội ác nào là man rợ nhất?

b Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc? ( Lưu ý những câu

văn giàu hình tượng; giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc )

Trả lời:

Tội ác của giặc Minh

-Âm mưu: Xâm chiếm Đại Việt

-Liệt kê hàng loạt tội ác cụ thể: Khủng bố ( thui sống, chôn sống), bóc lột ( thuế má: nặng thuế khóa phu phen: “những nỗi phu phen” nay xây nhà mai đắp đất , dâng nạp: dòng lưng mò ngọc, đãi cát tìm vàng, bắt dò chim trả, bắt bẫy hươu đen , diệt sản xuất: tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ; diệt sự sống: Nheo nhóc

thay kẻ góa bụa khốn cùng

-Tội ác man rợ nhất của giặc được miêu tả trong câu:

“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dước hầm tai vạ”

Đây là hình ảnh vừa cụ thể, lại vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội Tội ác chồng chất của kẻ thù mà “ trúc Nam Sơn không ghi hết tội”, “ Nước Đông Hải không rửa hết mùi”

- Giọng văn : đau xót, căm giận Kết thúc đoạn kể tội bằng vế đối vang dội, đầy tính kích động như một lời hịch:

“ Lẽ nào trời đất dung tha

Ai bảo thần dân chịu được?”

=> Tác giả tả tội ác tày trời của giặc, làm rõ sự bất nhân phi nghĩa của bọn

chúng Đó cũng là lí do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến

Câu 6:

Tìm hiểu đoạn 3 ( “ Ta đây Cũng là chưa thấy xưa nay”)

a Giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế

nào

b Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn

cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Trả lời:

Trang 7

a Phản ánh giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa tác giả tập trung khắc họa hình

tượng Lê Lợi

- Hình tượng Lê Lợi:

+ Xưng hô khiêm nhường: “ ta”

+ Hoàn cảnh dấy binh: Núi Lam Sơn

+ Lòng căm thù giặc sâu sắc

+ Lí tưởng hoài bão lớn

+ Quyết tâm thực hiện lí tưởng

=> Lê Lợi là người tượng trưng cho những khó khăn gian khổ và ý chí quyết tâm của toàn dân tộc

- Tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa:

+ Những khó khăn: Quân thù mạnh, quân ta thiếu nhân tài, thiếu quân, thiếu lương

+ Vượt qua gian khổ khó khăn và sức mạnh chiến thắng

b Phản ánh giai đoạn hai của cuộc khởi nghĩa, tác giả dựng lên bức tranh toàn

cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với bút pháp đậm chất anh hùng ca:

* Về hình tượng :

- Chiến thắng của ta: “ Sấm vang chớp giật”, “ Trúc chẻ tro bay”, “Sạch không kình ngạc”, “ Tan tác chim muông””, “ Trút sạch lá khô”,

- Sức mạnh của ta: “ Đá núi cung mòn”, “ Nước sông phải cạn”

- Thất bại của địch: “ Máu chảy thành sông”, “ Thây chất đầy nội”

- Khung cảnh chiến trường: “ Sắc phong vân phải đổi”, “ Ánh nhật nguyệt phải mờ”

* Về mặt ngôn ngữ:

- Các động từ mạnh liên kết với nhau tạo thành những chuyển rung dồn dập, dữ dội

- Các tính từ chỉ mức độ ở điểm tối đa

- Câu văn khi dài khi ngắn, khi thay đổi biến hóa linh hoạt

* Nhạc điệu: Dồn dập, sảng khoái

* Âm thanh: Giòn gĩa, hào hùng như sóng trào bão cuốn

* Xen giữa bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là hình ảnh kẻ thù xâm lược mỗi tên một vẻ, mỗi đứa một cảnh nhưng đều giống nhau ở một điểm : ham sống, sợ chết, hèn nhát Hình tượng kẻ thù thảm hại, nhục nhã càng tôn thêm

khí thế hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: Bản chất chính nghĩa, nhân đạo sáng ngời.

Câu hỏi tích hợp môn Lịch sử:

Câu 1:

Trang 8

Hoàn cảnh lịch sử nước ta khi “ Đại cáo bình Ngô” ra đời?

Câu 3 :

Trong các yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dẫn ra yếu tố lịch sử nào?

Trả lời :

Yếu tố lịch sử được Nguyễn Trãi đưa ra làm căn cứ xác đáng, chân thực:

“ Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

Nêu chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của dân tộc

Đại Việt, để tăng thêm sức thuyết phục, nguyễn Trãi đã dùng biện pháp so sánh:

so sánh ta với Trung Quốc, đặt ta ngang hàng với Trung Quốc, ngang hàng về

trình độ chính trị, tổ chức chế độ, quản lí quốc gia ( Triệu, Đinh, Lí, Trần ngang

hàng với Hán, Đường, Tống, Nguyên ) Như vậy sau khi đã có những triều đại tồn tại ngang hàng ( nếu không muốn nói là hơn vì Đại Việt luôn chiến thắng)

với các triều đại phương Bắc thì Nguyễn Trãi mới có đủ tiền đề lịch sử để so

sánh, chứng minh

Trang 9

Thêm nữa, tác giả còn đưa ra những “chứng cớ còn ghi” để chứng minh cho sức mạnh của chính nghĩa: Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đô,

Ô Mã kẻ bị giết, người bị bắt Như vậy, trong quan niệm về dân tộc, Nguyễn Trãi ý thức được văn hiến, truyền thống lịch sử là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân

để xác định dân tộc

Câu 3:

Trong phần tố cáo tội ác của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã vạch trần bản chất

xảo trá của kẻ thù, lợi dụng hoàn cảnh lịch sử chính trị đất nước ta như thế nào?

Trả lời:

Trước khi tố cáo tội ác dã man của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã vạch trần bản chất gian xảo, bịp bợm của chúng khi tràn sang nước ta với luận điệu: “ Phù Trần, diệt Hồ”

“ Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cường Minh thừa cơ gây họa

Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”

Sau khi nhà Trần sụp đổ, Hồ Quý Ly lên ngôi lập nên triều đại nhà Hồ (1400) dời kinh đô từ Thăng Long ( Đông Đô) về Tây Đô ( Vĩnh Lộc- Thanh Hóa) Chính sự trong nước chưa ổn định, lòng dân chưa được thu phục Nhiều cuộc nổi dậy chống quân Minh, điển hình là nhà hậu Trần đã bị dẹp một cách tàn khốc Liên tiếp hai vua Hồ, một vua Trần bị bắt về Bắc Vua Trùng Quang

và các tướng đều tử tiết Trương Phụ khủng bố, tàn sát người Việt đồng thời chúng thiết lập bộ máy cai trị và huy động bọn phản quốc giúp việc đắc lực, một

số cuộc khởi nghĩa chống quân Minh vẫn hoạt động nhưng lẻ tẻ và không có khả năng mở rộng

Việc nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần chỉ là một nguyên nhân đúng hơn chỉ là một nguyên cớ để giặc Minh thừa cơ gây họa, là một cách “mượn gió bẻ măng”

Âm mưu thôn tính nước ta vốn có sẵn, có từ lâu trong đầu óc của “ Thiên triều”

Câu 4 :

Trong đoạn kết, “ Đại cáo bình Ngô” đã nêu lên bài học lịch sử Theo em có những bài học lịch sử nào và ý nghĩa của bài học lịch sử đó đối với chúng ta ngày nay như thế nào?

Trả lời:

Bài học lịch sử :Sự thay đổi nhưng thực chất là sự phục hưng, là nguyên nhân, là điều kiện để thiết lập sự vững bền Sự vững bền xây dựng trên cơ sở đã

Trang 10

phục hưng dân tộc, cho nên viễn cảnh đất nước hiện ra thật tươi sáng, huy hoàng: “Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn”

Chân lí lịch sử có ý nghĩa trong mọi thời đại: Có hiện thực hôm nay và tương lai ngày mai là nhờ chiến công trong quá khứ Cảm hứng về độc lập dân

tộc và tương lai đất nước đã hòa quện với niềm tin về quy luật vận động của thế

giới từ “ bĩ” sang “thái” hướng tới sự sáng tươi phát triển, tăng thêm niềm quyết

tâm xây dựng và bảo vệ đất nước của chúng ta ngày nay

* Câu hỏi tích hợp kiến thức môn Địa lí:

Câu 1:

Trong phần mở đầu Nguyễn Trãi đã nhắc đến quốc hiệu: “Nước Đại Việt” được phân biệt rạch ròi “ núi sông bờ cõi đã chia” với phương bắc Em hãy xác định lãnh thổ chủ quyền của nước Đại Việt ta thời bấy giờ

Nếu rừng núi là tấm áo giáp che chở cho nghĩa quân Lam Sơn thì sông ngòi ở đây là mạch máu giao thông quan trọng, nối liền một dải đồng bằng phì nhiêu vùng châu thổ sông Mã, sông Chu với miền núi giàu có của Thanh Hóa

*Câu hỏi tích hợp môn Giáo dục Quốc phòng- an ninh.

Câu 2:

Trang 11

Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa chủ soái Lê Lợi gặp phải rất nhiều khó

khăn Vậy chiến lược, chiến thuật quân sự đúng đắn lúc bấy giờ là gì?

Trả lời:

Trong hoàn cảnh khó khăn của buổi đầu dựng nghiệp, chủ soái Lê Lợi đã

có chiến lược, chiến thuật quân sự đúng đắn:

“ Thế trận xuất kì, lấy yếu chống mạnh

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều”

“ Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo”

Chiến lược, chiến thuật quân sự: Bất ngờ, mai phục; “ đại nghĩa” và “chí nhân”

Câu 3:

Ở giai đoạn nghĩa quân tiến vào Nam ( chiến dịch Thanh-Nghệ) tác giả đã nhắc đến những trận đánh tiêu biểu nào?

Trả lời :

Tác giả nhắc đến 2 trận đánh ác liệt xảy ra tại Bồ Đằng và Trà Lân cái cốt

lõi của 2 trận đánh là sự bất ngờ trong việc dùng quân, do đó giặc thì hoảng sợ

hoang mang còn quân ta thì càng đánh càng mạnh Đến cuối năm 1425 Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào các thành đều bị bao vây, giải phóng Nghệ An, thiết lập chiến khu vững mạnh mới thay cho vùng núi Thanh Hóa, tạo bàn đạp tiến đánh giải phóng các miền khác trong cả nước Sự thành công của chiến dịch giải phóng Nghệ An đã làm thay đổi cục diện chiến tranh Minh- Việt: nghĩa quân Lam Sơn phát triển mạnh cả về lực lượng và kinh nghiệm chiến đấu, có điều kiệt tiến hành tổng tiến công ra miền Bắc

Giáo viên cung cấp ảnh, bản đồ chiến dịch Thanh –Nghệ.

- Trận Tốt Động nghĩa quân Lam Sơn phục binh chặn đánh các cánh tiên phong của quân Minh ở Đông Quan

- Trận Ninh Kiều quân Lam Sơn mai phục chặn đánh hậu quân của quân

Minh từ Đông Quan kéo ra

Trang 12

Vương Thông chia 10 vạn quân Minh ở Đông Quan thành 3 cánh quân, lần lượt kéo ra khỏi thành tiến về hướng Ninh Kiều Một cánh do chính Vương Thông chỉ huy, một cánh do Phương Chính và Lí An chỉ huy, cánh còn lại do Sơn Thọ cùng Mã Kì chỉ huy Những cánh quân này bị rơi vào trận địa mai phục của quân Lam Sơn Kết quả 5 vạn quân Minh bị tiêu diệt, 1 vạn quân Minh bị bắt sống, một lực lượng lớn tháo chạy qua sông Ninh Giang bị chết đuối nhiều Các chỉ huy của quân Minh là Trần Hiệp, Lí Lượng, Lí Đằng bị giết tại trận Ngay Vương Thông cũng bị thương một mặt xin giảng hòa để làm kế hoãn binh, một mặt cử người về cấp báo xin viện binh Nghĩa quân Lam Sơn có thêm rất nhiều vũ khí và có thể lại tiếp thu thêm công nghệ súng hỏa công của quân Minh.

Đây là đoạn quyết chiến, một trong những thắng lợi quyết định toàn cục của cuộc kháng chiến Lam Sơn Trận đánh này đánh dấu bước chuyển quan trọng về thế của nghĩa quân Từ phòng ngự bị động sang chủ động tiến công lực lượng chủ lực của quân Minh

=>Giáo viên cung cấp bản đồ trận Ninh Kiều- Tốt Động

* Chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang

Trước nguy cơ đạo quân Minh ở Đại Việt bị tiêu diệt hoàn toàn, vua Minh điều 15 vạn quân sang tiếp cứu Tháng 10 năm 1427 viện binh chia làm 2 đạo tiến vào nước ta Đạo thứ nhất gồm 10 vạn quân do Liễu Thăng chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn –Đông Quang Đạo thứ hai do Mộc Thạnh Chỉ huy gồm 5 vạn quân từ Vân Nam theo đường Lê Hoa- Lào Cai-Đông Quan Ngày 10/10 đội quân tiên phong lọt vào trận địa mai phục của quân ta Liễu Thăng bị chém chết Ngày 25/10 Lương Minh cũng bị đâm chết tại trận Cần Trạm Một số tướng khác như Lí Khánh, Hoàng Phúc, Thôi Tụ cũng bị phục kích, Lí Khánh buộc phải thắt cổ tự tử Riêng Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị bắt sống Đạo quân Mộc Thạnh bị chặn ở đường biên giới Lào Cai vội chạy tháo thân quân ta truy quét bắt sống hơn 2 vạn tên Chiến dịch Chi Lăng- Xương Giang từ 8/10 đến 3/11/1427 bị tiêu diệt hoàn toàn 15 vạn Vương Thông kế cùng lực kiệt đành xin giảng hòa giữ mạng đám tàn quân về nước

=>Giáo viên cung cấp bản đồ trận Chi Lăng – Xương Giang.

Trang 13

bằng mưu trí và đánh vào lòng người Quân giạc thất bại, quân ta đại thắng nhưng không hiếu sát, không hiếu chiến mà rộng lòng hiếu sinh, yêu hòa bình lập kế lâu dài.

+ Giương cao ngọn cờ chính nghĩa, thu phục nhân tâm

* Câu hỏi tích hợp môn Giáo dục công dân.

Câu 1:

Em có nhận xét gì về sự hủy diệt môi trường của giặc Minh? Khi môi trường

bị hủy diệt thì đời sống con người sẽ như thế nào?

Trả lời:

Hủy hoại môi trường ( Môi trường tự nhiên : Đất, nước, Không khí,

khoáng sản, sinh vật: “ Nặng thuế khóa sạch không đầm núi”, “ Tàn hại cả giống

công trùng cây cỏ ”; Môi trường xã hội: Con người, nghề nghiệp: “ phu phen”,

“ tan tác cả nghề canh cửi”)

=> Môi trường ngột ngạt, bức bối, người dân bị dồn vào cảnh bi đát đến cùng cực, không còn đường sống Cái chết đợi họ ở khắp nơi: “ chốn chốn lưới chăng”, “ nơi nơi cạm đặt”

Câu 2:

Từ hình ảnh của minh chủ Lê Lợi, tác giả đã ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người anh hùng Vì thế hình ảnh có ý nghĩa giáo dục lí tưởng sống như thế nào?

Trả lời:

Những nỗi gian nan, khó nhọc buổi đầu như thiếu người, thiếu quân lương

đã thử thách tinh thần nhẫn nại, đức quý trọng hiền tài và khả năng tập hợp của

Trang 14

Câu 3:

Anh ( chị) hiểu như thế nào về tinh thần của nghĩa quân Lam Sơn?

Trả lời:

Người anh hùng Lê Lợi đã tập hợp được nhân dân dưới cờ đại nghĩa của

mình, tạo thành một khối đoàn kết tuyệt đẹp:

“ Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cầu trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”

Hình ảnh dựng “ cần trúc làm cờ” nói lên tính chất của cuộc khởi nghĩa nhân dân đứng lên vì nghĩa lớn Hình ảnh “ hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” thể hiện tinh thần đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi.

( Giáo viên mở rộng: Đoàn kết là một truyền thống quý báu của nhân dân

ta Đó là cơ sở tạo nên sức mạnh uy vũ để nhấn chìm bè lũ bán nước và cướp nước Điều đó đã được chứng minh qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Đặc biệt truyền thống ấy đã và đang được nhân dân ta phát huy trong thế kỉ XXI)

Câu 4:

Trong lời ca ngợi chiến công của hiện tại, tác giả không quên nhắc nhở mọi người cần ghi nhớ điều gì?

Trả lời.

Có hiện thực hôm nay và tương lai ngày mai là bởi có công đức của “ trời

đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy”, “ Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm” Hai câu kết của bản tuyên ngôn nhắc

mọi người tự hào về quá khứ, càng biết yêu hơn hiện tại và vui mừng hướng tới tương lai Hai câu kết vừa khép lại một thời kì chiến đấu oanh liệt vừa mở ra một kỉ nguyên mới huy hoàng: Xây dựng đất nước đẹp tươi và bền vững.

=> Niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn cao đẹp

d Cách thức tổ chức giờ dạy:

1 Ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ:

Trang 15

3.Bài mới:

* Vào bài: Chúng ta từng được nghe những giờ phút rạng rỡ tưng bừng nhất của lịch sử dân tộc: Hai lần chiến đấu và chiến thắng quân Tống, ba lần chiến thắng quân Mông Nguyên, hào hùng trong khí thế chiến thắng giặc Minh Để thấy được một trong những sự kiện đó được tái hiện trong tác phẩm văn chương như thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu “ Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – một tác phẩm được xem là áng “ Thiên cổ hùng văn”

Hoạt động của Giáo Viên và Học sinh Yêu cầu cần đạt

Hoạt động 1: Hướng dẫn tìm hiểu

chung.

Học sinh đọc phần tiểu dẫn

Gv: Hoàn cảnh lịch sử nước ta khi “

Đại cáo bình Ngô” ra đời?

Học sinh: Dựa và sách giáo khoa trả

lời

( Tích hợp môn lịch sử).

Gv: Chốt lại 1 số ý chính

Gv: Em hiểu biết gì về thể loại cáo?

Thế nào là “Đại cáo” và “bình Ngô”?

Hs: Dựa vào sách giáo khoa trả lời cá

2 Thể cáo

Cáo là một thể văn thời cổ, có nguồn gốc Trung Quốc Cáo cùng thời với Chiếu là văn bản của vua công bố việc nước Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu

+ Ngữ nghĩa đối ngẫu ( các vế đối nhau theo bằng, trắc, từ loại)

+ Kiểu câu chỉnh tề

+ Có vần điệu bằng- trắc hài hòa

+ Sử dụng điển cố

+Sử dụng từ ngữ bóng bẩy, có tính khoa trương

Trang 16

- Đại cáo là tuyên bố, tuyên cáo rộng

rãi khắp đất nước những điều quan trọng Ở bài này là tuyên bố về sự nghiệp đánh dẹp giặc Ngô

-Ngô có hai cách hiểu:

Một là: Các vua quan nhà Minh quê ở đất Ngô Hai là chỉ chung bọn giặc sang cai trị nước ta rất tàn ác Từ đó, dân ta gọi giặc phương Bắc là giặc Ngô để tỏ ý khinh ghét

3 Bố cục

Bố cục bài cáo gồm 4 phần:

- Phần 1: ( Từ đầu đến “Chứng cớ còn ghi”) nêu luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến

-Phần 2: ( “Vừa rồi chịu được”) : tố cáo tội ác của giặc Minh

-Phần 3: ( “Ta đây xưa nay” ): Thuật lại quá trình kháng chiến Gồm

2 đoạn nhỏ:

+(“Ta đây lấy ít địch nhiều”): Lược thuật buổi ban đầu dựng cờ khởi nghĩa

+(“Trọn hay xưa nay”): Lược thuật những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn

-Phần 4: ( “Xã tắc Ai nấy đều hay” ): Tuyên bố kết thúc chiến tranh

mở ra kỉ nguyên hòa bình, khẳng định địa vị, tư thế của đất nước

4 Chủ đề:

Bài “ Đại cáo bình Ngô” nêu luận

đề chính nghĩa, nguyên nhân và quá trình chinh phạt thắng lợi Đồng thời

ra lời tuyên cáo chung để toàn dân

Ngày đăng: 31/03/2017, 13:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình là nhà Hậu Trần đã bị dẹp một - liên môn ngữ văn, lịch sử, công dân đạt giải ba cấp tỉnh Thanh Hóa
Hình l à nhà Hậu Trần đã bị dẹp một (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w