– Đòi hỏi phải có một lực lượng khổng lồ ví dụ như quân đội để áp đặt sự kiểm soát đối với nhân dân vốn bất mãn • Cộng sản – Một hệ thống cào bằng các điều kiện xã hội ví dụ như phân phố
Trang 1THỜI KỲ KHAI SÁNG THỜI ĐẠI CỦA LÝ TÍNH
Trang 2Nhận thức căn bản
tiến bộ thông qua áp dụng tri thức khoa học và lý tính vào các vấn đề luật pháp và cai trị Các tư tưởng khai sáng ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo cách mạng
Mỹ, như thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Mỹ
Trang 3Các hệ thống chính trị
• Độc tài
– Quyền lực tuyệt đối, vô giới hạn; nằm trong tay một người
– Đòi hỏi phải có một lực lượng khổng lồ (ví dụ như quân đội) để áp đặt sự kiểm soát đối với nhân dân vốn bất mãn
• Cộng sản
– Một hệ thống cào bằng các điều kiện xã hội (ví dụ như phân phối đồng đều tài sản giữa mọi người)
– Không cho phép sở hữu tư nhân
– Cá nhân đứng sau (hay không quan trọng bằng) xã hội
• Dân chủ
– Chính phủ của nhân dân; trong đó quyền tối cao thuộc về nhân dân, do họ trực tiếp thực thi hoặc thông qua người đại diện được lựa chọn từ một hệ thống bầu cử tự do
• Phát xít
– Đặc trung bởi sự kiêu hãnh quốc gia
– Chống lại chủ nghĩa Marx, các nền dân chủ nghị viện…
– Nhấn mạnh đến quân đội, chính phủ mạnh, và sự trung thành với một nhà lãnh đạo mạnh mẽ
– Cá nhân đứng sau (hay không quan trọng bằng) nhà nước hay chủng tộc
• Quân chủ
– Dạng cai trị mà vua hoặc nữ hoàng nắm quyền tuyệt đối (ví dụ một số nước ở châu phi, trung đông…) hoặc quyền lực bị giới hạn (quân chủ lập hiến ở Anh), thường được truyền lại
• Thần quyền
– Nhà nước được điều hành bởi giới tụ sĩ
– Các chế độ thần quyền đang ngày càng phổ biến với sự phát triển của chủ nghĩa nền tảng hồi giáo
Trang 4Khai sáng là gì?
• Khai sáng là một phong trào triết lý (một sự thay đổi
về thế giới quan) dựa trên các thành tựu của Cách mạng khoa học
• Các triết gia hi vọng tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn bằng cách áp dụng lý tính vào các vấn đề xã hội, chính trị, và kinh tế
• Thảo luận của họ tập trung vào
vai trò của lí tính, luật tự nhiên,
chính quyền, và tiến bộ
Trang 5Các gốc rễ của khai sáng
• Cách mạng công nghiệp
– Sự thành công của khoa học đã tạo ra một sự tin tưởng to lớn vào sức mạnh của lý tính – nếu con người có thể sử dụng lý tính để tìm ra các quy luật quy định thế giới vật chất, thì tại sao lại không sử dụng lý tính để khám phá ra các quy luật quy định bản chất của con người?
• Thời kì phục hưng và cải cách
– Các nhà nhân văn chủ nghĩa của thời kì Phục hưng tra vấn các niềm tin truyền thống và tôn vinh các giá trị của cá nhân
– Trong thời kì cải cách, những người tin lành nổi dậy chống lại Giáo hội công giáo
• Ảnh hưởng của văn hóa cổ điển và Ki tô giáo
– Nhiều nhà tư tưởng khai sáng được truyền cảm hứng từ nền văn hóa cổ điển, thời Hi lạp – La mã cổ đại (cụ thể đó là các nền dân chủ của Athen và Rome)
Trang 6Luật tự nhiên
Luật tự nhiên = các quy luật có thể khám phá
thông qua lý tính
Trang 7Philosophes
• Các nhà tư tưởng được gọi là các
philosophe, họ bảo vệ các tư tưởng
Khai sáng
• Các philosophe thường tụ tập trong các
tổ chức trong các ngôi nhà của những
người giàu có
• Trong các salon, họ trao đổi và
thảo luận các ý tưởng, điều này
giúp định hình và phổ biến các tư
tưởng của thời kì Khai sáng
Salon của quý bà Geoffrin
Trang 8Salon của quý bà Geoffrin
Trang 9Các tư tưởng mới và các niềm tin cũ
• Các nhà tư tưởng khai sáng đề cao vai trò của lý tính
• Ví dụ về một số điều chịu sự tra vấn:
– Đức tin Kito giáo, vốn chủ yếu dựa trên sự tin tưởng vào Kinh thánh và các lời dạy của Chúa
– Thẩm quyền thần thánh để cai trị của Vua
Trang 10• Các thiết chế của chúng ta có phù hợp với luật tự nhiên hay không?
• Luật tự nhiên mang lại cho con người những quyền tự nhiên nào?
• Đâu là dạng thức cai trị tốt nhất?
Trang 11René Descartes (1596 –1650)
• Descartes được mệnh danh là “Cha đẻ của thuyết duy
của mọi tri thức
khai sáng”
• Ông có thể chắc chắn một cách
duy lý về một thứ duy nhất – sự
tồn tại của chính ông:
“TÔI TƯ DUY, VẬY TÔI TỒN TẠI”
Trang 12Thomas Hobbes (1588–1679)
Thomas Hobbes (1588–1679)
• Tin rằng con người bị thúc đẩy bởi sự tư lợi và ham muốn, và để tránh khỏi tình trạng hỗn loạn, con người phải tham gia vào khế ước xã hội: từ bỏ sự tự do của mình cho chính quyền, tác nhân sẽ đảm bảo cho sự trật
tự (thứ quan trọng nhất đối với toàn thể xã hội)
duy trì trật tự xã hội; một ông vua chuyên
chế cần phải có đủ đủ mạnh và khả năng
đàn áp các cuộc nổi dậy
• Viết Leviathan - 1651
Trang 13Leviathan -1651
• Được viết trong thời nội chiến ở Anh
• Cuốn sách bàn về tổ chức của xã hội và chính phủ hợp pháp
• Một trong những ví dụ sớm nhất và ảnh hưởng nhất của lý thuyết khế ước xã hội
• “Đời sống trong trạng thái tự
nhiên thì cô độc, nghèo nàn,
dơ bẩn, tàn bạo, và ngắn ngủi”
Trang 14Con người bị thúc đẩy bởi sự ích kỉ và hám lợi Để tránh sự hỗn loạn, [một cuộc sống tàn bạo], mọi người tham gia vào một khế ước xã hội – từ bỏ sự
tự do của họ cho một chính quyền nhằm đảm bảo sự trật tự Đó
là một chính quyền [quân chủ chuyên chế]
đủ mạnh và có thể đàn
áp mọi cuộc nổi loạn
“Con người vốn
dĩ tàn bạo, tham lam, và ích kỉ
Đời sống trong trạng thái tự nhiên là cô độc, nghèo đói, dơ bẩn, tàn bạo, và ngắn ngủi”
Khế ước xã hôi nhưng KHÔNG phải là nền quyên chủ chuyên chế
Trang 15Khế ước xã hội
• Khế ước xã hội là một khái niệm
rằng con người tạo ra một thỏa
thuận với chính quyền của họ,
qua đó chính quyền và người
dân có có vai trò và trách nhiệm
riêng biệt
• Lý thuyết này dựa trên ý tưởng
cho rằng con người rời bỏ trạng
thái tự nhiên (tự do và không có
sự cai trị) để tham gia vào xã
hội, vốn cung cấp cho họ trật
tự, yên ổn, và quan trọng nhất là
sự bảo vệ
Trang 16John Locke (1632–1704)
John Locke (1632–1704)
• Tin rằng con người về cơ bản là duy lý và đạo đức
• Tin vào các quyền tự nhiên (các quyền thuộc về mọi người từ khi họ sinh ra), bao gồm quyền:
SỐNG – TỰ DO – TƯ HỮU
• Viết tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền
– Khẳng định rằng người dân tạo thành chính quyền để bảo vệ các quyền tự nhiên của họ
– Vì chính quyền tồn tại để bảo vệ các quyền tự nhiên, nên nếu không làm được như vậy, thì nó cần phải bị lật đổ (Khế ước
xã hội)
• Ủng hộ dân chủ (quyền lực phải bị giới hạn
và được chấp nhận bởi tất cả người dân); phản
đối nền quân chủ chuyên chế
Trang 17Có các quyền tự nhiên nào?
Trang 18John Locke
• Cho rằng con người sinh ra với một tâm trí giống như một tấm bản trắng, và nhận thức đến với tâm trí thông qua 5 giác quan
• Điều này có nghĩa rằng các ảnh hưởng đúng đắn có thể tạo ra một dạng xã hội mới bằng cách tạo ra một nhận thức mới
Trang 20Con người có các quyền tự nhiên để sống, tự do, và sở hữu Người cai trị có trách nhiệm bảo vệ các quyền này
Người dân có quyền thay đổi chính quyền nếu nó không thể
thực thi trách nhiệm
đó
“Con người…vốn
dĩ tự do, bình đẳng, và độc lập, không ai có thể bị đẩy ra ngoài trạng thái này và phải phục tùng quyền lực chính trị của người khác mà không có sự đồng thuận của anh ta”
Ảnh hưởng đến các tác giả của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ
Trang 21Baron de Montesquieu (1689-1755)
Baron de Montesquieu (1689-1755)
• Tin rằng cách tốt nhất để bảo vệ tự do là phân chia quyền lực thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp, tư pháp (phân chia quyền lực) – trong đó mỗi nhánh có quyền để kiểm soát hai nhánh kia (kiểm soát và cân bằng), ý tưởng này của ông ảnh hưởng đến Hiến pháp Mỹ
• Tin rằng chính phủ được lựa chọn bởi người dân là dạng chính phủ tốt nhất
• Xuất bản Tinh thần pháp luật vào năm: 1748
BA NHÁNH CỦA CHÍNH QUYỀN
Trang 22Montes-quieu “Để ….bảo vệ tự do, thì điều cần
thiết là chính quyền phải được thiết lập sao cho người này
không cần phải
sợ người khác”
Tư tưởng phân chia quyền lực của ông ảnh hưởng to lớn đến các nhà lập hiến Mỹ
Quyền lực của chính quyền phải được phân chia thành lập pháp, hành pháp, tư pháp, để ngăn chặn khả năng bất cứ ai, nhóm nào nắm quá nhiều quyền lực
Các tác phẩm
Các bức thư Ba tư&
Tinh thần pháp Luật
Các ý tưởng chính Trích dẫn Ảnh hưởng đến Mỹ Nhà tư
tưởng
Trang 23Voltaire (1694 – 1778)
• Chắc chắn, Voltaire là ‘philosophe’ nổi tiếng nhất
• Ông ủng hộ mạnh mẽ cho các quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và tự do tôn giáo
• Ông chống lại sự thối nát, bất công, và bất bình đẳng, và tin vào sự cần thiết của việc tách rời giữa nhà thờ và nhà nước
"TÔI KHÔNG TÁN THÀNH ĐIỀU ANH NÓI, NHƯNG TÔI
SẼ BẢO VỆ ĐẾN CHẾT QUYỀN ĐƯỢC NÓI CỦA ANH"
• Ông sử dụng tài châm biếm của mình như một
vũ khí để phơi bày ra những sự suy đồi của thời
đại ông sống (gồm Nền quân chủ Pháp, Giới quý
tộc, và Nhà thờ công giáo)
• Viết Candide - chàng ngây thơ (“Chúng ta phải
trồng trọt khu vườn của chúng ta”)
• Bị giam cầm và buộc phải sống lưu vong
Trang 24Denis Diderot (1713 –1784)
Denis Diderot (1713 –1784)
khoa thư, vốn là một tập hợp các bài báo do các philosophe và các nhà khoa học viết về mọi chủ đề (bao gồm việc phê phán mọi khía cạnh của xã hội, nhà thờ, chính quyền, buôn bán nô lệ, tra tấn, thuế
má, và chiến tranh)
• Với mục đích thay đổi nhận thức
của mọi người, cũng như phổ biến
các tư tưởng Khai sáng
Trang 25Jean-Jacques Rousseau (1712–1778)
nhưng bị xã hội thông qua môi trường, giáo
dục, và luật pháp làm cho suy đồi
• Cảm thấy xã hội áp đặt quá nhiều giới hạn
lên hành vi của con người – một số sự kiểm
soát như vậy là cần thiết, nhưng phải được
do
quyền chính trị thuộc về người dân
• Phản đối chính quyền mạnh (nguy cơ đàn
áp)
Trang 26Con người vốn
dĩ tốt đẹp nhưng bị xã hội làm cho suy đồi Trong một
xã hội lý tưởng, mọi người làm luật và sẵn
lòng tuân theo luật
“Chỉ ý chí chung mới có thể hướng dẫn các động cơ của nhà nước theo cách phù hợp với mục đích
mà nó được hình thành – tức là, lợi ích chung”.
Rousseau được tung hô như người bảo vệ cho dân chủ với ý
tưởng cho rằng thẩm quyền chính trị thuộc về người dân – Ửng hộ khế ước xã hội
Trang 27Mary Wollstonecraft (1759–1797)
• Người phát ngôn sớm nhất cho các
quyền của Phụ nữ
• Cho rằng phụ nữ phải có các quyền
giống như nam giới
– Chính quyền phải mở rộng các quyền chính trị cho phụ nữ
– Phụ nữ phải được hưởng sự giáo dục tự do
Trang 28Cesare Beccaria (1738–1794)
• Trong nhiều thế kỉ, sự trừng phạt tội phạm thường rất tàn bạo – lý do là các hình phạt tàn bạo là cần thiết để ngăn chặn tội phạm, vì lúc đó lực lượng cảnh sát quá yếu để có thể đảm bảo rằng những kẻ phạm tội có thể bị bắt giữ
• Và năm 1764, triết gia Cesare Beccaria khẳng định
rằng sự trừng phạt không nên được thực thi một cách tàn bạo
hình, vì thấy rằng quá vô lý khi
chính quyền giết người để trừng phạt
kể giết người
Trang 29Adam Smith (1723–1790)
• Chính sách này thay thế cho chính
sách của chủ nghĩa trọng thương,
vốn đòi hỏi sự điều tiết của chính
phủ đối với kinh tế để đạt được sự
cân bằng thương mại có lợi
• Những người theo phái trọng nông ở Pháp (những người tập trung vào các cải cách kinh tế) và triết gia người Scotland Adam Smith hình thành nên Kinh tế học hiện đại
• Những người trọng nông tin rằng nếu mọi người được tự do theo đuổi sự tư lợi kinh tế, thì toàn bộ xã hội sẽ được hưởng lợi.
• Họ phát triển lý thuyết laissez-faire, vốn cho rằng chính phủ không nên can thiệp vào quá trình kinh tế tự nhiên bằng cách áp đặt các quy định – Smith viết về điều này trong cuốn, Của cải của các Quốc gia
Trang 30Adam Smith
bảo vệ công dân khỏi sự bất công (cảnh sát), và duy trì các công trình công cộng như đường, kênh mương
…mà các cá nhân, tổ chức tư nhân không thể cung cấp
Trang 31Của cải của các quốc gia (1776)
Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Của
cải của các quốc gia, Adam Smith cho
rằng sự cạnh tranh tư nhân sẽ phân phối
của cải tốt hơn so với khi thị trường chịu
sự điều tiết của nhà nước Từ năm 1776,
khi Smith xuất bản tác phẩm của ông, các
luận điểm của ông được sử dụng để bảo
vệ cho chủ nghĩa tư bản cũng như ngăn
chặn sự can thiệp của chính phủ vào các
hoạt động thương mại và trao đổi Smith
tin rằng các doanh nghiệp tư nhân tìm
hiếm các lợi ích của riêng họ sẽ tổ chức
nền kinh tế hữu hiệu nhất, “như thể có
Laissez-faire (Chủ nghĩa tư bản)
Adam Smith
Trang 32ý tưởng và thông tin;
tuy nhiên bất chấp điều
đó các ý tưởng vẫn
được phổ biến
Trang 33Chuyên chế khai sáng
Chế độ chuyên chế: cai trị bởi một kẻ chuyên chế; sử dụng quyền lực tàn bạo và tùy tiện
Trang 34Các mục tiêu của các nhà cai trị khai sáng
• Một số vị vua chấp nhận các tư tưởng Khai sáng Họ trở thành
những kẻ chuyên chế khai sáng, hay những người cai trị tuyệt đối sử dụng quyền lực của mình để mang đến sự thay đổi
về chính trị và xã hội (cai trị bởi các nguyên tắc Khai sáng trong khi giữ lại quyền lực hoàng gia)
• Các triết gia hi vọng thuyết phục tầng lớp cai trị rằng sự cải cách là cần thiết và tin rằng các nhà cai trị khai sáng sẽ thiết lập và bảo vệ các quyền tự nhiên; bảo trợ cho nghệ thuật, khoa học và giáo dục; và củng cố luật pháp một cách công bằng giữa tất cả mọi người
• Các triết gia cố gắng ảnh hưởng đến các nhà cai trị ở Phổ, Áo
và Nga khiến họ thực hiện các cải cách khai sáng
Trang 35Frederick II Đại đế của Phổ
(1740-1786)
• Một trong những ông vua có học thức nhất Châu âu
• Ông kiểm soát rất chặt chẽ các thần dân của mình, trong khi ông xem mình như là “công bộc của quốc gia” với bổn phận mang lại sự tốt đẹp chung
– Ông khoan dung cho sự khác biệt tôn giáo, chào đón những nạn nhân chịu sự truy bức tôn giáo
• Tuy nhiên, cuối cùng Fredrick muốn một nền
quân chủ và nhiều quyền lực hơn cho mình
– Ông bãi bỏ sự tra tấn, ngoại trừ trường hợp
mưu phản và giết người, và cho phép một sự
tự do ngôn luận và tự do báo trí giới hạn
Trang 36Catherine Đại đế của Nga (1762-1796)
• Bà đọc các tác phẩm của các triết gia và trao đổi thư từ với Voltaire và Diderot
• Tin vào các tư tưởng Khai sáng như bình đẳng và tự do
• Thực hiện các cải cách hạn chế về
luật pháp và chính quyền nhưng
cuối cùng không muốn từ bỏ
quyền lực – khi nông nô nổi dậy,
bà đã đàn áp tàn bạo
• Cuối dung, bà không áp dụng các
cải cách Khai sáng bởi vì bà cần
sự ủng hộ của giới quý tộc Nga,
những người vốn phản đối sự thay
đổi
Trang 37Joseph II của Áo (1765-1790)
• Ông vua chuyên chế khai sáng cấp tiến
nhất
• Mẹ của ông là Maria Theresa
• “Ông chủ bí mật” (cải trang thành dân
chúng để tìm hiểu các vấn đề của họ)
• Thừa nhận sự bình đẳng trước pháp
luật và thực thi các cải cách, bao gồm
khoan dung tôn giáo và tự do báo trí
• Chương trình của ông bị thất bại
• Giới quý tộc xa lánh ông vì việc giải
phóng nông nô
Trang 38Kết quả của Khai sáng
• Các tư tưởng về tự do và chính quyền đại diện truyền cảm hướng cho các nhà lãnh đạo thuộc địa Mỹ nổi dậy và thành lập một nước cộng hòa độc lập (Mỹ),
mà một lần nữa lại ảnh hưởng đến cách mạng Pháp,
và các mạng ở các nước Mỹ la tinh
• Tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp Mỹ, và Tuyên ngôn nhân quyền chịu ảnh hưởng của các tư tưởng Khai sáng
Trang 39– Phân chia quyền lực thành ba nhánh hành pháp, lập pháp,
tư pháp (Montesquieu)
– Kiểm soát và cân bằng (Montesquieu)
• Tuyên ngôn về các quyền: Người dân có các quyền cơ bản và chính quyền phải bảo vệ, như là quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí (Voltaire)