Học thuyết của các nhà xã hội không tưởng như Xanhximông, Phurie, Ôoen mặc dù chan chứa tinh thần nhân đạo, có giá trị trong việc phê phán chế độ tư bản nhưng lại không nhìn thấy những l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)
“LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN”
(Dành cho ĐH GDCT)
Tác giả: Nguyễn Văn Duy Nguyễn Thị Thanh Hà
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 3
Chương 1 Sự xuất hiện và hình thành triết học Mác 4
1.1 Những tiền đề xuất hiện triết học Mác 4
1.2 Quá trình hình thành các quan điểm và thế giới quan 8
triết học của C.Mác và Ăngghen (1842 - 1848)
Chương 2 Thời kỳ bổ sung và phát triển lý luận 32
2.1 Thời kỳ từ 1848 đến 1871 32
2.2 Thời kỳ từ 1871 đến 1895 41
Chương 3 Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác 62
3.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời của chủ nghĩa Lênin 62
3.2 Những giai đoạn phát triển triết học Mác của Lênin 66
Trang 3
LỜI NÓI ĐẦU
Để phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn khoa học
Mác – Lênin trong trường Đại học Quảng Bình, chúng tôi đã biên soạn cuốn giáo
trình môn “Lịch sử triết học Mác - Lênin” Nội dung cuốn giáo trình gồm ba
chương: Sự xuất hiện và hình thành triết học Mác; Thời kỳ bổ sung và phát triển lý luận; Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Tác giả: NGUYỄN VĂN DUY
NGUYỄN THỊ THANH HÀ
Trang 4CHƯƠNG I
SỰ XUẤT HIỆN VÀ HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC MÁC
(10 tiết)
1.1 Những tiền đề xuất hiện triết học Mác
1.1.1 Tiền đề kinh tế - xã hội
Thời kỳ Mác sống và hoạt động là thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển hết sức mạnh mẽ Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn mới của sự phát triển nhờ sự trợ giúp của cuộc cách mạng công nghiệp Nền kinh tế của một số nước châu Âu đã phát triển mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử
Trong tư liệu sản xuất, máy móc ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, lao động chân tay dần được thay thế bằng lao động máy móc Ở nước Anh, từ năm 1820 đến
1844 số thợ dệt thủ công đã giảm từ 240.000 xuống còn 60.000 Nước Anh trở thành cường quốc công nghiệp lớn nhất thế giới Ở nước Pháp, cuộc cách mạng công nghiệp cũng đã được hoàn thành, đưa nước Pháp lên chiếm giữ vị trí thứ hai ở châu Âu về công nghiệp Ở nước Đức và một số nước khác, cuộc cách mạng công nghiệp cũng trở thành trợ thủ đắc lực cho sức vươn lên khẳng định vị thế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lòng xã hội phong kiến Thành quả do cuộc cách mạng công nghiệp mang lại đã chứng minh tính chất tiến bộ hơn hẳn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với các phương thức sản xuất trước đây Nói cách khác, chế độ tư bản đã thể hiện tính ưu việt của nó so với các chế độ đã
có trong lịch sử Như Mác đã đánh giá: “giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra một lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
Nhưng mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một hệ quả khách quan ngược chiều là làm cho những mâu thuẫn xã hội vốn có của chế độ tư bản ngày càng bộc lộ gay gắt Của cải xã hội tăng nhưng lý tưởng xã hội mà giai cấp tư sản đưa ra không những không thực hiện được mà bất công xã hội còn tăng thêm, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng gay gắt Đối chọi với cảnh nghèo đói cùng cực của người lao động không có tư liệu sản xuất là
sự giàu sang thừa thải của giai cấp tư sản Máy móc có thể giải phóng con người khỏi những thao tác cơ bắp nặng nhọc nhưng nó lại trở thành cái hữu hình cột chặt thân phận của những người lao động vào vòng quay của mô-tơ, máy móc trở thành công cụ tuyệt vời để tăng cường độ lao động “Những con ngỗng vàng ngày càng
đẻ ra nhiều trứng vàng”, trong khi đó người lao động ngày càng oằn người xuống dưới sức nặng của cường độ lao động và thời gian làm việc
Thực tiễn đã chứng minh và khẳng định: giai cấp tư sản không còn đóng vai
Trang 5Nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản mang tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp đã nổ ra ngày càng có quy mô và tổ chức, trở thành một phong trào lan rộng khắp thế giới đặc biệt ở châu Âu Như cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt ở Liông Pháp (1831-1834), phong trào Hiến chương ở Anh (1830-1840), phong trào của những người thợ dệt ở Xilêdi Đức,… những phong trào đó đã chứng tỏ rằng vai trò lịch sử của giai cấp tư sản cùng những lý thuyết của họ đã mất dần Thực tiễn không chỉ đặt ra nhu cầu cấp bách là phải xây dựng một hệ thống lý luận mới đáp ứng đòi hỏi của cuộc đấu tranh lúc bấy giờ mà còn là để khẳng định sự lớn mạnh không ngừng của giai cấp vô sản trên vũ đài chính trị
Học thuyết của các nhà xã hội không tưởng như Xanhximông, Phurie, Ôoen mặc dù chan chứa tinh thần nhân đạo, có giá trị trong việc phê phán chế độ tư bản nhưng lại không nhìn thấy những lợi ích sống còn của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng toàn thể những người lao động bị áp bức và bóc lột
yêu cầu khách quan của việc hình thành nên một lý luận khoa học soi đường cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Chính Mác & Ăngghen đã sống và chiến đấu cùng với phong trào cách mạng của giai cấp vô sản, hai ông đã nghiên cứu những lý luận trước đó và đã khái quát kinh nghiệm đấu tranh của phong trào công nhân, sáng tạo ra học thuyết của mình Trong đó, triết học là cơ sở lý luận chung – cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Có thể nói, sự ra đời của triết học Mác nói riêng và công nghiệp Mác nói chung là nhằm để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển của phong trào công nhân từ
+ Triết học cổ điển Đức
(Cantơ, Phíchiện tượngơ, Sêlinh, Hêghen và Phơ bách)
Trang 6Triết học cổ điển Đức được xem như là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác Đặc biệt là với hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen và Phơbach
• Phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen
Triết học duy tâm của Hegel là đỉnh cao của triết học cổ điển Đức Hegel là người đầu tiên đã tổng kết toàn bộ lịch sử nhận thức, tìm ra nguyên lý cơ bản của
tư duy biện chứng, xây dựng một cách có hệ thống các quy luật, phạm trù của phép biện chứng trên cơ sở của chủ nghĩa duy tâm
Mác & Ăngghen đánh giá cao công lao lịch sử của Hegel trong việc xây dựng một cách có hệ thống phép biện chứng Đồng thời, hai ông cũng triệt để phê phán tính chất thần bí, duy tâm của hệ thống đó Mác, Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Ở Hegel, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí” Mác, Ăngghen đã cải tạo phép biện chứng duy tâm thành phép biện chứng duy vật triệt để nhất
Phơbách là đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức Công lao của ông là
ở chỗ chống lại chủ nghĩa duy tâm của Hegel và của các nhà triết học khác; chống tôn giáo khi ông khẳng định giới tự nhiên là tính thứ nhất, tồn tại vĩnh viễn, không phụ thuộc vào ý thức của con người; khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật thế
kỷ XVII – XVIII Coi con người với tư cách là thực thể của giới tự nhiên – là đối tượng nghiên cứu của triết học Chính chủ nghĩa duy vật vô thần của Phơbách đã tạo tiền đề quan trọng cho bước chuyển của Mác-Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật; từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản
Mác và Ăngghen đánh giá cao công lao của Phơbách đồng thời chỉ ra những hạn chế trong triết học của ông: đó là phương pháp siêu hình, ông không nhận thấy tính uyển chuyển biện chứng từ cảm tính đến lý tính trong nhận thức; không hiểu được vai trò của thực tiễn trong hoạt động nhận thức Mặc dù là nhà triết học duy vật trong lĩnh vực tự nhiên, nhưng lại duy tâm trong lĩnh vực xã hội Ông không thấy được vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội mà lại cho rằng tình yêu là sinh lực vạn năng để giải quyết mọi mâu thuẫn bế tắc của xã hội
+ Kinh tế chính trị học cổ điển Anh
Với các đại biểu xuất sắc là A Xmith và Ricacdo Là cơ sở xã hội lý giải các vấn đề lý luận về lao động, giá trị và những nguyên lý cơ bản của thế giới quan duy vật lịch sử
Hai ông cho rằng, giá trị của hàng hóa không phải do tính chất vật lý, hóa học, cũng không phải do công dụng của hàng hóa quy định mà là do lượng lao động xã hội cần thiết làm ra nó quy định Chứng minh rằng lợi nhuận là từ sản xuất
Trang 7Hạn chế của A Xmít và Ricacđô là chưa đi đến lý giải nguồn gốc của giá trị thặng dư, nguồn gốc lợi nhuận, xem xã hội tư bản là trạng thái vĩnh viễn Mặt khác, hai ông đã không thấy được tính lịch sử của giá trị; không thấy được mâu thuẫn của hàng hóa và sản xuất hàng hóa; không thấy được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cũng như không phân biệt được sản xuất hàng hóa giản đơn và sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa
Trên cơ sở kế thừa các yếu tố khoa học và những tư tưởng tiến bộ của các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh, Mác đã giải quyết những bế tắc mà các nhà kinh
tế chính trị cổ điển Anh không thể vượt qua được để xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư, luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cũng như sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội
+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp (đầu thế kỷ XIX)
trò quan trọng trong việc hình thành triết học Mác, nhất là việc hình thành các quan điểm duy vật lịch sử và dự báo sự xuất hiện của xã hội cộng sản chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội không tưởng thể hiện đậm nét tinh thần nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản trên cơ sở vạch trần những mâu thuẫn của xã hội tư bản như: sự giàu sang và thừa thải của thiểu số bọn sở hữu và sự nghèo nàn của đông đảo quần chúng nhân dân, sự đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa thành thị và nông thôn, xã hội đó sớm muộn sẽ được thay thế bằng xã hội mới tốt đẹp hơn đó là xã hội xã hội chủ nghĩa (đã dự đoán về những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai) Xã hội mà trong đó con người được phát triển, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em không còn bị bóc lột về sức lao động
Hạn chế của các ông là ở tính không tưởng vì: không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư bản, không hiểu được những quy luật phát triển của xã hội tư bản và không thấy được vai trò lịch sử của giai cấp vô sản với tư cách là lực lượng xã hội có khả năng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng một xã hội mới, tốt đẹp hơn Các giải pháp mà họ đưa ra mang tính chủ quan, nhấn mạnh vai trò của giáo dục, hợp tác, họ chỉ dừng lại ở ước mơ, nguyện vọng
mà không đề ra được những biện pháp khoa học để thực hiện nó, phủ nhận đấu tranh giai cấp
1.1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên
Triết học Mác ra đời không chỉ dựa trên cơ sở thực tiễn của cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản ở nữa đầu thế kỷ thứ XIX, không chỉ dựa vào sự kế thừa những tinh hoa văn hóa nhân loại, mà còn dựa trên những thành tựu của các khoa học như cơ học, hóa học, toán học, địa chất, đặc biệt là ba phát minh khoa
Trang 8học lớn ở thế kỷ XIX, đó là học thuyết tế bào, học thuyết tiến hóa, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ cụng nghiệp Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, đòi hỏi phải có lý luận mới soi đường mà còn vì những tiền
đề cho sự ra đời lý luận mới đã được nhân loại tạo ra
1.2 Quá trình hình thành các quan điểm và thế giới quan triết học của C.Mác và Ăngghen (1842 - 1848)
1.2.1 Sơ lược tiểu sử
1.2.1.1 Sơ lược tiểu sử Các Mác (1818 - 1883)
Các Mác (5/5/1818) ở Tơria thuộc tỉnh Ranh nước Đức, trong một gia đình trí thức (cha ông là luật sư Henrich Mác) Từ nhỏ ông đã được giáo dục và hun
Thời kỳ học trung học, Mác là một tín đồ Kitô ngoan đạo, xem Chúa Kitô là biểu tượng của cái thánh thiện, vì vậy để vượt qua những hạn chế của bản thân mình, để vươn tới cuộc sống thực sự thánh thiện thì phải lấy Thiên Chúa làm đích đến Và trong trái tim của chàng trai trẻ thánh thiện ấy tràn đầy tính nhân đạo và sự yêu chuộng tự do, muốn được sống vì người khác
Ông nổi tiếng với bài luận văn tốt nghiệp trung học: “Những suy nghĩ của
một thanh niên khi chọn nghề” Mác đã thổ lộ, một sự báo trước về ý nghĩa cuộc
sống mà Mác sẽ chọn sau này: “Nếu một người chỉ lao động về mình thôi thì người
đó có thể trở nên một nhà bác học nổi tiếng, một nhà thông thái lớn, một nhà thơ tuyệt vời, nhưng người đó không bao giờ có thể trở thành một con người thực sự hoàn thiện và vĩ đại” và “Nếu một người chọn nghề trong đó người ấy có thể làm được nhiều nhất cho nhân loại, thì lúc đó người ấy cảm thấy không phải một sự vui sướng ích kỷ hạn chế và đáng thương mà hạnh phúc của người đó sẽ thuộc về hàng triệu người” Đó được xem là bài luận văn hay nhất của một học sinh 17 tuổi Trong bài luận văn này Mác đã lên án việc chọn nghề chỉ dựa trên lợi ích vị kỷ hoặc hoàn toàn mang tính vật chất
Sau khi tốt nghiệp trung học, năm 1835 Mác đến học đại học Luật tại trường
ĐH Bon theo ý của cha, tại đây Mác tiếp tục duy trì mối tình với Gienny từ những ngày còn học trung học Gienny hơn Mác 4 tuổi, xinh đẹp, thông minh, có học thức
so với những người con gái thời bấy giờ
Giữa tháng 10/1836, Mác đi Berlin Có thể nói, tại đây Mác đã phát hiện ra Hêghen và khát khao muốn nghiên cứu triết học Từ 1837 Mác bắt đầu làm quen với triết học của Heghen và tham gia phái Heghen trẻ Càng nghiên cứu triết học, Mác càng thấy rõ tính phi khoa học của công nghiệpduy tâm Mác thấy Hegel đã
Trang 9những giai đoạn trong tiến trình phát triển vô tận từ thấp đến cao của xã hội loài người Cái mà ngày hôm qua vẫn còn tồn tại hợp lý, thì ngày hôm nay lại đang tiêu vong, thay vào đó là một hiện thực mới cao hơn Nhưng Hegel là nhà duy tâm vì ông đã xem cơ sở của mọi tồn tại là ý niệm tuyệt đối Mác nhận thấy mặc dù triết học Hegel còn nhiều mâu thuẫn nhưng nó là bước tiến trong lịch sử của tư duy con người Chính vì thế Mác đã chuyển sang nghiên cứu Hegel Mác tham gia các cuộc tranh luận và đứng về phe dân chủtư sản
Để rời xa triết học tư biện của Hegel từ năm 1839, Mác tập trung vào nghiên cứu triết học Hi Lạp cổ đại Trong kho tàng đồ sộ của nền văn minh Hi-La, Mác đặc biệt chú ý triết học Eepiquya, chủ nghĩa khắc kỷ và phái hoài nghi Những ghi
chép và nhận xét về ba trào lưu triết học này làm thành Tập bút ký
Năm 1842 Mác bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài: Sự khác biệt giữa triết học
tự nhiên của Đêmôcrit và triết học tự nhiên của Êpiquya Trong luận án này, mặc
dù còn đứng trên lập trường duy tâm, cường điệu vai trò ý thức của con người, gán cho ý thức là động lực phát triển của xã hội nhưng cũng đã toát lên những tư tưởng
vô thần và dấu hiệu khác biệt với triết học của Hegel
Mác đánh giá cao Êpiquya Theo Mác, Êpiquya là người đã làm phong phú, phát triển học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít chứ không phải là triết gia đóng vai trò phổ biến học thuyết nguyên tử như các triết gia duy tâm nhìn nhận Mác đặc biệt đánh giá cao những tư tưởng vô thần của Êpiquya, và khẳng định bản chất của triết học Êpiquya là phủ nhận tôn giáo, xem triết học như là vũ khí để giải phóng con người
Như vậy ngay từ những buổi khởi đầu Mác đã khai sinh ra luận đề triết học
bắt đầu ở chỗ tôn giáo kết thúc, chủ nghĩa vô thần là trung tâm của triết học, nhưng
chưa hiểu được nguồn gốc vật chất của sự áp bức xã hội nên Mác đã truy tìm nó trong tôn giáo và xem triết học là công cụ duy nhất có trách nhiệm giải phóng con người khỏi áp bức do tôn giáo tạo ra Tư tưởng này của Mác có sự song trùng với
quan niệm của phái Hegel trẻ Những người thuộc phái Hegel trẻ cho rằng sự tự ý
thức là lực lượng cao nhất Tuy nhiên vẫn có điểm khác vì triết học của Mác gắn
với khuynh hướng cách mạng dân chủ, gắn với mục tiêu phục vụ đấu tranh chính trị chống chế độ chuyên chế Phổ Và nếu không có sự khởi đầu khác biệt này thì
không thể có Mác, cha đẻ của Tư bản sau này Có thể nói, sự vượt trước về mặt tư tưởng là dấu hiệu của một thiên tài
Đầu những năm 1840 của thế kỷ XIX, chính phủ Phổ tìm mọi cách đàn áp phong trào cách mạng, báo chí tiến bộ cách mạng bị cấm Các nhà khoa học bị đuổi khỏi trường đại học và các tòa soạn Trong hoàn cảnh ấy, Mác không thể tiếp tục hoạt động ở trường đại học, vì ông không thể che dấu những quan điểm dân chủ
Trang 10của mình Và cũng trong hoàn cảnh ấy ông đã đọc được bản chất đạo Cơđốc của Phơbach
Năm 1843 Mác về lại nơi Gienny sống để cầu hôn và cưới Gienny Từ đó hai vợ chồng bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng
1.2.1.2 Sơ lược tiểu sử Ph.Ăngghen(1820 - 1895)
Ph.Ăngghen (28/11/1820) tại Barmen tỉnh Ranh, vương quốc Phổ, trong một gia đình chủ xưởng dệt Từ nhỏ Ăngghen đã bộc lộ tính cách độc lập Những lời dạy bảo nghiêm khắc của cha và những sự đe doạ trừng phạt không thể làm cho ông đi đến chỗ phải phục tùng mù quáng Cho đến năm 14 tuổi, Ăngghen học ở trường tại thành phố Barmen và sớm bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ
Tháng 10/1834, Ăngghen chuyển sang học ở trường trung học Elberfelder, một trường tốt nhất ở Phổ thời bấy giờ Mặc dù là học sinh giỏi toàn diện và có những năng lực phi thường (năm 17 tuổi ông đã học thông viết thạo 15 ngoại ngữ), nhưng năm 1837, theo yêu cầu của bố, ông buộc phải bỏ dở chừng trung học để đi làm thư ký nhà buôn ở Barmen - công việc mà ông không hề thích thú Trong thời gian này ông tự học các ngành sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ và thơ ca
Cuối năm 1839 Ăngghen bắt đầu nghiên cứu triết học Đức và đặc biệt quan tâm đến các tác phẩm của Hêghen Mặc dù còn chưa hiểu được giai cấp vô sản là giai cấp đặc biệt trong quần chúng lao động bị áp bức nhưng trong những bài báo
đầu tiên của mình Những bức thư từ Vesphali ông đã công khai đả kích sự sùng
đạo giả dối của những chủ xưởng ở Vesphali và cảm thông với những người công nhân bị bóc lột tàn tệ
Nếu như 1939, Ăngghen còn ngập ngừng giữ trạng thái nước đôi trong quan niệm về tôn giáo thì đến 1840 ông đã là một người vô thần, ngang nhiên kêu gọi tiến hành cách mạng ở Đức và nguyền rủa kẻ đứng đầu nhà nước Phổ lúc bấy giờ
Sự phê phán biểu hiện quyết liệt ở mặt ngôn từ, nhưng lúc này giống như các nhà dân chủ cách mạng khác ông chủ yếu chỉ dừng lại ở mức bày tỏ cảm thông cho thân phận của quần chúng cần lao mà chưa cảm nhận được giai cấp vô sản là giai cấp đứng mũi chịu sào, giai cấp cách mạng nhất trong hoạt động cải biến xã hội hiện tồn
Tháng 9/1841, ông đến Berlin để làm nghĩa vụ quân sự Ở đây ông đã làm quen với những người thuộc phái Hegel trẻ và trở thành thành viên của phái này
Mùa xuân 1842, Ăngghen bắt đầu cộng tác với tờ Nhật báo tỉnh Ranh Trong những bài báo in năm 1842, Ăngghen đã lên tiếng phản kháng chế độ kiểm duyệt của Chính phủ Vương quốc Phổ và trật tự phong kiến ở Đức Ngày 8 tháng 10 năm
1842, Ăngghen mãn hạn phục vụ trong quân đội Từ Berlin ông trở về Barmen Một tháng sau, Ăngghen sang Anh thực tập buôn bán
Trang 11Cuộc gặp gỡ giữa Mác và Ăngghen lần đầu tiên diễn ra vào tháng 11.1842 khi trên đường sang Anh, Ăngghen đã thăm trụ sở tờ Nhật báo tỉnh ranh và ông đã gặp Mác, Tổng biên tập tờ báo Tháng 8.1844, trên đường từ Anh về Đức tại Paris diễn ra cuộc gặp gỡ lần thứ hai Từ đó hai ông đã trở thành đôi bạn chí thân vĩ đại
và cảm động để cùng nhau sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sáng tạo ra kinh tế chính trị mácxít và lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học
Ông mất ngày 5/8/1895 lúc 10h30p ở nước Anh, theo di chúc di hài của ông được hỏa táng và bình đựng di hài được thả xuống biển
Tình bạn giữa Mác và Ăngghen:
Hai con người xa lạ, từ những hoàn cảnh xuất thân, môi trường giáo dục và quá trình đào tạo rất khác nhau đã trở thành hai người đồng chí rồi sau trở thành hai người bạn, một tình bạn vĩ đại và cảm động, gắn quyện tình đồng chí sắt son chung thuỷ tới mức mà sau khi Mác qua đời Ăngghen
đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như những công trình hợp tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết Marx
Lần đầu tiên, Mác gặp Ăngghen vào cuối tháng 11/1842, khi Ăngghen trên đường sang Anh và ghé thăm ban biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh Mùa hè năm 1844, Ăngghen đến thăm Mác ở Pa-ri Hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả mọi
vấn đề lý luận và thực tiễn và đây được xem như là “cuộc gặp mặt lịch
sử” của hai vĩ nhân Hai ông trở thành đôi bạn hiếm có trong lịch sử
Bằng cả cuộc đời, hai ông đã chứng minh rằng: từ mục đích lý tưởng
và học thuyết, họ đã sống vì nhau, cho nhau trọn c ả cuộc đời Họ đã dành cho nhau những gì tốt đẹp nhất, tôn trọng và quý mến nhau hơn cả chính
bản thân mình Mác kể rằng: Ăngghen luôn đi trước Mác trên nhiều lĩnh
vực, mọi điều tiên đoán của Mác bao giờ xảy ra cũng muộn hơn ở Ăngghen và Mác bao giờ cũng theo gót Ăngghen Chính những nghiên cứu
phác thảo trong lĩnh vực kinh tế của Ăngghen đã làm cho Mác nảy ra ý tưởng phải đi vào nghiên cứu môn kinh tế chính trị
Không ai có thể phủ nhận thiên tài của Mác khi nghiên cứu kinh tế chính trị học thể hiện ở bộ Tư bản vĩ đại nhưng cũng không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng to lớn và sự cộng tác của Ăngghen đối với Mác khi hoàn thành tác phẩm đó Hơn thế nữa, Vì lý do vật chất, trong lúc gia đình Mác phải bôn ba từ nơi này đến nơi khác do sự truy lùng của chính quyền đương thời, chính Ăngghen là người đứng ra lo chu toàn thu xếp gia đình
để Mác phần nào yên tâm nghiên cứu, Ăngghen đã phải làm nghề thư ký
Trang 12hãng buôn trong gần 20 năm Và cũng vì thế, có lần Mác chỉ vào bộ Tư bản và nói rằng: Chính đây là của Ăngghen.
Mác cũng cho biết rằng Ăngghen chắc còn có thể sáng tạo thêm bao công trình đồ sộ, nếu gần hai mươi năm ấy ông được tự do, không bị cái nghề thư ký hãng buôn cầm tù khổ sai Bởi lẽ, Ăng ghen là người có khối
óc bách khoa, sắc sảo, với sự hiểu biết phong phú lạ thường và khả năng làm việc kỳ diệu Mác ngưỡng mộ, tự hào và lấy làm thõa mãn về đạo đức, tài trí của Ăng Mác yêu mến Ăngghen hơn cả bản thân mình và luôn luôn
lo cho sức khoẻ của Ăngghen, sẵn sàng quên cả bản thân mình để bảo vệ Ăngghen
Còn Ăngghen, suốt cả cuộc đời đã hy sinh, giúp đỡ cho cả gia đình Mác về vật chất lẫn tinh thần Nếu không có sự giúp đỡ hết lòng của Ăngghen thì Mác khó có điều kiện vật chất để hoàn thành những tác phẩm
đồ sộ của mình Ăngghen luôn chăm lo cho Mác về mọi mặt, không những
về công việc, mà cả sức khoẻ và cuộc sống gia đình Do điều kiện tài chính khó khăn và do làm việc quá sức, Mác khó tránh khỏi bị ốm đau Mỗi lần Mác ốm, Ăngghen sốt sắng sưu tầm các loại sách báo nói về bệnh tật và phương thức điều trị và tự mình trở thành bác sĩ điều trị cho Mác Ăngghen đã trở thành linh hồn của gia đình Mác và luôn đóng vai trò trung tâm hòa giải những mâu thuẫn, là trọng tài trong các cuộc vui gia đình Ăngghen nuôi hầu hết các con của Mác và được họ xem như người cha thứ hai của mình
Nhưng không chỉ có thế, trên bình diện lý luận, ngoài những tác phẩm riêng của mình, Ăngghen còn giúp đỡ Mác rất nhiều về mặt khoa học Mác dành cho bộ Tư bản bao nhiêu năm tháng của cuộc đời, bao nhiêu sức lực và tâm huyết của mình “Tư bản” là một t ác phẩm biểu hiện trí tuệ tuyệt vời với trình độ hiểu biết phi thường Chính Mác trước khi xuất bản bộ Tư bản tập I đã đề nghị Ăngghen cùng đứng tên với tư cách đồng tác giả nhưng Ăngghen đã khiêm nhường từ chối
Sau khi Mác mất, chính sự uyên bác và sự mẫn cảm khoa học cùng với đồng điệu về tư tưởng và tâm hồn, đã cho phép Ăng ghen soạn thảo hai tập còn lại của bộ Tư bản đồ sộ, tác phẩm đó vẫn mang tên Mác và liền mạch tư tưởng Ngay khi Tư bản tập II và III được xuất bản, có người băn
khoăn hỏi Ăngghen sao không lấy tên mình, ông tuyên bố: “Phần ông
đóng góp như thế nào thì tuỳ độc giả nhận xét nhưng tư tưởng chủ đạo của các tác phẩm ấy hoàn toàn là của bạn ông K.Marx”.
Trang 13Khi Mác qua đời, có người từng hỏi Ăng ghen, ông có thể nói tư tưởng chủ đạo của học thuyết Mác là gì? Ăngghen đã không ngần ngại trả lời “sự tự do của mỗi người là là điều kiện tạo nên sự tự do của xã hội”.
Sau khi Mác qua đời, Ăngghen là người duy nhất có quyền công bố những tác phẩm của Mác nhưng cho đến trước khi trút hơi thở cuối cùng ông vẫn nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng công lao sáng lập ra triết học và khoa kinh tế chính trị học mácxit chủ yếu thuộc về Mác Ăngghen đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như công trình hợp tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết Mác Đối với Mác - Ăngghen luôn tự cho mình chỉ là vai phụ Còn bất cứ ở đâu và bất kỳ trong vở diễn nào, Mác bao giờ cũng là kép chính Tên tuổi của Ăngghen vang lừng khắp thế giới vì nó luôn gắn liền với tên tuổi của Mác Để đánh
giá về công lao của Ăngghen, Lênin viết: “Sau bạn ông là C.Mác,
Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp ấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh Từ ngày mà vận mệnh đã gắn liền Mác với Ăngghen thì sự nghiệp suốt đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ Cho nên muốn hiểu Ăngghen đã làm gì cho giai cấp
vô sản thì phải nhận rõ ý nghĩa của học thuyết và hoạt động của Mác đối với sự phát triển của phong trào công nhân hiện đại ”.
Mác và Ăngghen không những để lại cho nhân loại một khố i lượng tri thức khoa học khổng lồ mà các ông còn để lại một tấm gương sáng chói
về nhân cách, một tình bạn - tình đồng chí vĩ đại đáng để chúng ta học hỏi
1.2.2 Những luận điểm khởi đầu
(Sự chuyển biến tư tưởng của Mác và Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa xã hội khoa học)
Việc chính phủ Phổ đuổi Phơbách và cách chức giáo sư đại học của Bau-e lãnh tụ của phái Hegel trẻ đã giúp cho Mác nhận ra một sự thật là giảng đường đại học không phải là mãnh đất thuận lợi để công khai bày tỏ quan điểm của mình Việc Mác trở thành biên tập viên Báo Sông Ranh (1842-1843) là một mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển đầu tiên của Mác từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng, từ lập trường dân chủ sang lập trường cộng sản Với Mác rời bỏ nghề dạy học để sang làm báo chí, sang hoạt động chính trị công khai là bước đi hợp quy luật để “thay đổi bộ đồ khổ hạnh của thầy tu thành bộ đồ nhẹ nhàng hợp thời trang” trên con đường đi tới “triết học bình thường”
Sự xuất hiện của Mác ở Báo Sông Ranh đã thổi một luồng khí mới
Trang 14trên mặt báo không chỉ những vấn đề thường nhật của đời sống hàng ngày
mà cả những luận đề cốt lõi của triết học Bởi theo Mác, “các nhà triết học không mọc như nấm từ dưới đất lên, họ là sản phẩm của thời đại họ, là những nhựa sống tinh tế nhất, quý giá nhất và chưa từng có của nhân dân được chung đúc lại trong những tư tưởng triết học…”
Điều đó cho thấy, Mác đã cảm nhận được vai trò của triết học trong việc cải biến xã hội Tuy vậy cũng mới chỉ dừng lại ở quan niệm đồng nhất triết học với hoạt động sáng tạo của tư duy, xem hoạt động vật chất của con người là năng lực của tư duy, vì vậy các luận điểm triết học không nằm trong mối liên hệ với thực tiễn, còn ở trong cánh cửa của chủ nghĩa duy tâm
Chủ đề cơ bản và cuối cùng của những bài báo của Mác trên Báo Sông Ranh là bảo vệ lợi ích và bênh vực quần chúng lao động Mác lên án
dự luật xem người nông dân nhặt củi khô là phạm tội ăn cắp Mác đứng về phía những người nông dân trồng nho ở xứ Mô-den trước những phán quyết hàm hồ của thế lực cường quyền
Điều mà Mác gặt hái được trong những luận chiến để bảo vệ nhân dân là nhà nước không phải là hiện thân của lý tính và tự do đạo đức như quan niệm của Hegel
Song song với việc bảo vệ lợi ích của những người nghèo, Mác còn viết nhiều bài báo chống lại chế độ kiểm duyệt báo chí của nhà nước Phổ
và đấu tranh cho dân chủ và tự do Theo Mác “Tinh thần của con người phải được phát triển tự do phù hợp với những quy luật vốn có của nó và có quyền truyền đạt cho những tinh thần khác cái mà nó đã đạt được, nếu không thế thì dòng suối trong trẻo đầy sức sống sẽ trở thành ao nước tù hôi thối”
Sự phê phán và đấu tranh trên lĩnh vực báo chí c ủa Mác đã làm cho nhà cầm quyền đương thời lo ngại bởi vì nó khơi dậy tinh thần cách mạng của giới cần lao Vì thế ngày 1/4/1843 chính phủ Phổ đã ra lệnh đình chỉ hoạt động của tờ Báo Sông Ranh
Thời gian làm việc ở Báo Sông Ranh tuy ngắn nhưng cũng giúp Mác dần hiểu ra rằng không thể tiến hành đấu tranh chính trị, giải phóng quần chúng lao động trong giới hạn pháp luật Thực tiễn đấu tranh và bằng sự suy nghĩ tìm tòi của mình đã đưa Mác đến ý thức rằng thắng lợi của cuộc đấu tranh chỉ có thể có được khi tấn công vào mối quan hệ kinh tế-xã hội, vào cơ sở hạ tầng mà nhà nước pháp quyền dựng lên trên đó Không chỉ vậy, thực tiễn Báo Sông Ranh còn giúp Mác khắc phục những ảnh hưởng
Trang 15tiêu cực của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hegel và đoạn tuyệt với phái Hegel trẻ
Năm 1841, Phơbách cho ra mắt cuốn Bản chất của đạo Cơ đốc, tác
phẩm này đã tác động mạnh mẽ đến ý thức triết học của Mác Ông khẳng
định: “Đối với anh không có con đường nào khác để đi tới chân lý và tự do
ngoài con đường thông qua suối lửa” “Phơbách là người chuộc tội của
thời đại chúng ta” Sức hút của những luận điểm triết học của Phơbách đã làm cho Mác, Ăngghen trở thành môn đồ của ông Tuy nhiên, ngay từ đầu Mác đã không đồng tình với đạo đức triết học của Phơbách vì ông đã tìm kiếm ý nghĩa của đạo đức trong tôn giáo
Mác cũng đã nhận thấy triết học của Phơbách thắm đượm màu sắc tự nhiên chủ nghĩa và thoát ly chính trị Trái với quan điểm này, Mác cho rằng “triết học phải liên kết với chính trị, phải là cơ sở lý luận để cải tạo thế giới bằng thực tiễn cách mạng”
Từ tháng 5 đến tháng 10/1843 Mác bắt tay vào viết cuốn Góp phần
phê phán triết học pháp quyền của Hêgel
Để viết cuốn này, Mác đã tập trung nghiên cứu về lịch sử hiện đại,
mổ xẻ, phân tích cách mạng tư sản Pháp (1789-1794) từ nhiều phương diện khác nhau; tìm đọc các tác phẩm của các nhà duy vật danh tiếng như Rút-xô, Mông-te-xkiơ và đặc biệt là rà soát lại triết học pháp quyền của Hêgel
Điều quan trọng của tác phẩm này là Mác đã đặt lên bàn cân của thực tiễn để giải quyết quan niệm về nhà nướ c của Hegel Mác chứng minh rằng tư tưởng về nhà nước của Hegel chỉ là sự miêu tả và lý tưởng hóa nhà nước đương thời chứ không phải là những lý luận logic được rút ra từ việc phân tích bản chất nhà nước trong lịch sử Hegel đã cố tình đánh lận con đen, biến nhà nước đương thời thành bản chất của nhà nước nói chung
Nếu như Hegel cho rằng nhà nước là một cơ cấu tối cao và xem “ xã hội công dân” là sự tha hóa của nhà nước thì Mác khẳng định nhà nước là con đẻ của xã hội công dân Nếu như Hegel say sưa tuyên truyền chức năng của nhà nước là điều hòa, giải quyết các mâu thuẫn thì Mác chỉ rõ đó
là luận điểm không hợp lý vì các mặt đối lập thực sự đấu tranh với nhau thì không thể điều hòa được
Những luận đề phản bác của Mác ở trong Góp phần phê phán triết
học pháp quyền của Hêgel đã xác định độ chín và sự trưởng thành lập
trường triết học của Mác Mác đã tiến gần đến quan niệm duy vật về đời sống xã hội và đã có những dấu hiệu vượt lên trên mọi tư tưởng triết học
và xã hội học tiền bối
Trang 16Năm 1844, Mác viết Bản thảo kinh tế triết học
Tác phẩm này là kết quả đầu tiên của việc nghiên cứu kinh tế chính trị học tư sản Anh trên nền tảng duy vật biện chứng Mác đã chỉ rõ tính chất hạn hẹp của các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh Họ là những học giả hết sức giáo điều, mâu thuẫn và mơ hồ khi khẳng định tính chất vĩnh hằng của chế độ tư hữu Một mặt họ cho rằng tư hữu là thuộc tính của con người nhưng mặt khác họ lại phủ nhận quyền tư hữu ở những người vô sản Đối chọi với quan niệm đề cao quyền tư hữu, Mác khẳng định: “X óa
bỏ tư hữu có nghĩa là giải phóng hoàn toàn mọi cảm giác và thuộc tính con người”
Tuy vậy, Mác cũng hết sức khách quan khi đánh giá những giá trị tích cực mà kinh tế chính trị cổ điển Anh mang lại Kế thừa trên tinh thần
phê phán, Mác nhận định lao động đã sáng tạo ra con người, và xã hội
loài người Lao động làm cho “những lực lượng bản chất của loài người” được phát triển và hoàn thiện
Sự khác biệt giữa Mác và Phơbách trong việc lý giải cảm giác của con người là ở chỗ: Phơbách cho rằng sự khác biệt về chất (ông gọi là ưu việt) của con người so với cảm giác của loài vật là do đặc tính tự nhiên của ý thức con người quy định, còn theo Mác nhờ có hoạt động vật chất
mà cảm giác và tư duy con người phát triển
Bên cạnh chủ đề chủ yếu của tác phẩm là khẳng đị nh vai trò to lớn của lao động sản xuất trong sự phát triển của con người và xã hội loài người Mác còn làm sáng tỏ mặt tiêu cực của lao động là chiếm giữ mất tất
cả sức lực và thời gian của con người, nô dịch con người và là nguồn gốc của sở hữu tư nhân, của giai cấp và bóc lột Mác gọi khía cạnh này của lao
động là lao động bị tha hóa
Lao động bị tha hóa là thứ lao động mà sản phẩm do con người làm
ra lại trở thành lực lượng thống trị chính bản thân họ Lao động bị tha hóa làm cho người sản xuất đánh mất tính người, đánh mất cuộc sống đồng loại, phá vỡ quan hệ giữa người và người Nhưng lao động bị tha hóa không thể có đời sống trường tồn, một khi chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bị thủ tiêu, thì điều kiện sinh tồn của lao động bị tha hóa đã bị loại bỏ Việc thủ tiêu lao động bị tha hóa sẽ tạo ra cơ sở để thủ tiêu sự tha hóa trong đời sống chính trị và tinh thần của xã hội Bản chất của hoạt động này không gì khác hơn là cải tạo xã hộicông nghiệp đối với các quan
hệ xã hội
Trang 17Phạm trù tha hóa không phải đến Mác là người sử dụng đầu tiên, vì trước khi xuất hiện trong Bản thảo kinh tế triết học thì Hegel và Phơbách
đã dùng trong các tác phẩm của mình
Hegel xem hiện tượng của tự nhiên và xã hội là sự tồn tại tha hóa
của ý niệm tuyệt đối và quy toàn bộ vấn đề phát triển vào việc khắc phục
sự tha hóa ấy Tính hợp lý trong quan niệm của Hegel là ông đã nhìn thấy tính khách quan và tính mâu thuẫn trong hoạt động của con người, trong
sự vận động và phát triển của xã hội ở quan niệm thần bí duy tâm này
Tha hóa ở Phơbách là tiền đề để phê phán tôn giáo Ông coi tôn giáo không phải đơn thuần là một sự bịa đặt, mà là sản phẩm độc đáo, là sự tha hóa bản chất của con người Sự tha hóa này lại trở thành cái quy định tất
cả những hình thức tha hóa khác của con người trong đời sống hiện thực của nó và là gốc rễ của áp bức giữa con người với con người Để giải quyết tình trạng đó, Phơbách cho rằng cần phải thủ tiêu tôn giáo hiện hành
để xây dựng một tôn giáo mới, ở tôn giáo này con người đóng vai thay Thượng đế
Đứng trên lập trường duy vật, Mác đã phê phán quan niệm của Hegel
và Phơbách về tha hóa và phương thức khắc phục sự tha hóa Từ sự phê phán đã toát lên tinh thần xác lập giá trị chân thực của lao động, cách nêu vấn đề một cách biện chứng đối với sự phát sinh, phát triển cũng như sự khắc phục những mâu thuẫn đối kháng vốn có của quá trình sản xuất vật chất mà con người, xã hội đang tiến hành không ngừng nghỉ để xã hội tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, ở thời điểm này Mác vẫn chưa hoàn toàn loại bỏ được ảnh hưởng của công nghiệpduy vật nhân bản Phơbách, do vậy khái niệm
tha hóa trong Bản thảo kinh tế triêt học không hoàn toàn đồng nhất về mặt
ý nghĩa với nội dung mà khái niệm này biểu thị những quá trình khách quan của sự phát triển lịch sử xã hội Cũng như vậy, các luận điểm về công nghiệpduy vật lịch sử, công nghiệpxã hội khoa học có những dị biệt nhất định so với nội dung được biểu đạt trong các khái niệm ở thời kỳ Mác trưởng thành
Bản thảo kinh tế triết học là một tác phẩm còn để lại một khoảng
trống về phần phê phán triết học Hegel viết chưa xong Nhưng từ những nội dung đã có cũng đã đủ dữ kiện để phác thảo nên những đánh giá của Mác về Hegel
Bằng những vấn đề được nêu lên trong Bản thảo kinh tế triết học
năm 1844 đã khẳng định đây là một mốc quan trọng tro ng quá trình hình
Trang 18thành các quan niệm triết học của Mác nói riêng và khởi thảo các nguyên
lý nền tảng của chủ nghĩa Mác nói chung
Năm 1845, Ăngghen xuất bản Tình cảnh giai cấp công nhân Anh
Trong đó, Ăngghen đặc biệt quan tâm nghiên cứu sự phát sinh, ph át triển và thực trạng của giai cấp vô sản Anh Ông đi đến kết luận: sự đấu tranh chống chế độ hiện hành của những người vô sản là một tất yếu khách quan vì hiện thực kinh tế-xã hội và đời sống của họ đã buộc họ phải đấu tranh Chính vì thế giai cấp vô sản không chỉ là giai cấp khổ đau mà còn là giai cấp đang tranh đấu Ăngghen đã phát hiện ra vai trò lịch sử của giai cấp vô sản trong việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, đồng thời ông cũng chỉ rõ
sự cần thiết phải hợp nhất giai cấp vô sản thành 1 giai cấp độc lập; với những lợi ích riêng và các nguyên tắc độc lập với hệ tư tưởng của giai cấp đang thống trị xã hội
Như vậy, đến cuối năm 1844, mặc dù hoạt động độc lập nhau nhưng Mác và Ăngghen đã đi đến những quan điểm giống nhau về các nguyên lý
cơ bản của triết học, về đời sống xã hội và về nhiệm vụ của giai cấp vô sản
Những thành quả về mặt tư tưởng mà hai ông gặt hái được đã đánh dấu sự chuyển hướng hoàn toàn của Mác & Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng & từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa xã hội khoa học
Nếu như trong phần trước, khi bàn về sự chuyển biến tư tưởng của Mác và Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa xã hội khoa học Mác và Ăngghen viết riêng các tác phẩm của mình
- Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen - Mác 1843
- Bản thảo kinh tế triết học - Mác 1844
- Tình cảnh giai cấp công nhân Anh - Ănghen 1845
Như vậy, đến cuối năm 1844, mặc dù hoạt động độc lập nhau nhưng Mác và Ăngghen đã đi đến những quan điểm giống nhau về các nguyên
lý cơ bản của triết học, về đời sống xã hội và về nhiệm vụ của giai cấp vô sản
Những thành quả về mặt tư tưởng mà hai ông gặt hái được đã đánh
dấu sự chuyển hướng hoàn toàn của Mác & Ăngghen từ chủ nghĩa duy
tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng & từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 19Từ chỗ chuyển hướng lập trường và tư tưởng đó, Mác và Ănghen đã
đi đến khẳng định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
1.2.3 Khẳng định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Từ tháng 9/1844 đến 2/1848 là thời gian Mác và Ăngghen cộng tác
cùng nhau để từng bước xây dựng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
(- tháng 9/1844 Mác và Ăngghen bắt đầu viết chung tác phẩm Gia
đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính phê phán chống Brunô Baue và đồng bọn
- Tháng 2/1848 lần đầu tiên Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra mắt
Có thể nói, một trong những nguyên nhân thúc đẩy Mác và Ăngghen
nhanh chóng hoàn thành tác phẩm viết chung đầu tiên Gia đình thần
thánh….là do Baue và những đồng phái của ông ta đã sùng bái công cụ
phê phán đến mức vượt khỏi những biểu hiện của tư duy bình thường
Mác viết: “Baue mất trí về bệnh phê phán đến nỗi cách đây không lâu đã viết cho tôi như sau: Không phải là chỉ cần phê phán xã hội những bọn sở hữu có đặc quyền đặc lợi… mà (trước đó chưa ai nghĩ tới) cần phê phán cả giai cấp vô sản nữa”
Baue đã chứng minh rằng sự phê phán của những triết gia xuất sắc là động lực duy nhất thúc đẩy lịch sử phát triển Còn giai cấp vô sản chỉ là đám người ô hợp, không có tinh thần phê phán - và họ cũng là đối tượng của sự phê phán
Sự ra đời của Gia đình thần thánh trước hết là nhằm phản bác lại
quan niệm đó của Baue Như Lênin đã chỉ rõ: “Gia đình thần thánh là một cái tên gọi chế giễu những nhà triết học như anh em Baue cùng những môn
đồ của họ Trong cuốn sách này, Marx và Engels đã bác bỏ anh em Bauer và
Trang 20những người khác thuộc phái Hegel trẻ, đồng thời cũng phê phán cả triết học duy tâm của chính Hegel
ND1- Ngọn lửa đầu tiên của sự phê phán của Gia đình thần thánh là
tập trung vào cơ sở lý luận của phái Hegel trẻ, những người theo chủ nghĩa duy tâm của Hegel Nhưng việc phê phán này chỉ như là mạch dẫn để chuyển thành sự phê phán triết học duy tâm nói chung Theo Mác và Ăngghen:
+ chủ nghĩa duy tâm vì muốn đi tìm bản chất tự nhiên ở bên ngoài
tự nhiên, bản chất con người ở bên ngoài con người,
+ Tìm đối tượng triết học ở bên ngoài thế giới hiện thực nên đã quy thế giới thành những phạm trù logic trừu tượng Đó là lý do vì sao chủ nghĩa duy tâm lại khẳng định thế giới hiện thực chỉ là biểu hiện bên ngoài của một ý thức (ý niệm)- Heghen - tồn tại độc lập nào đó
Mác và Ănghgen khẳng định: toàn bộ chủ nghĩa duy tâm được xây dựng trên tính chất vô căn cứ về mặt lý luận, trở thành vô dụng trong cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp và không thể đem lại bất cứ ý nghĩa nào khác cho đời sống xã hội
+ Đối với phái Hegel trẻ, mặc dù họ đã loại bỏ ý niệm tuyệt đối của Hegel, nhưng họ vẫn là những người tôn sùng và tuyệt đối hóa vai trò của
ý thức Họ đã biến ý thức thành thần thánh duy nhất Mác và Ăngghen đã bác bỏ kiểu suy luận tư biện thuần túy này
+ Tiếp theo, Mác đã phản đối quan niệm của Baue xem lịch sử chỉ là hoạt động tinh thần của những triết gia phê phán và tôn trọng phê phán
Mác vạch rõ: khác với “những nhà phê phán có tính chất phê phán”, những người công nhân hiểu rằng không thể thoát khỏi ách thống trị của bọn chủ bằng “tư duy thuần túy” Họ cảm thấy đau khổ bởi sự khác nhau
giữa tồn tại và tư duy, giữa ý thức và cuộc sống Họ biết rằng sở hữu, tư
bản, tiền bạc, lao động làm thuê,… hoàn toàn không phải là ảo ảnh của trí tưởng tượng mà là sản phẩm rất thực tế, rất cụ thể của sự tha hóa của công nhân và vì thế chúng cũng phải được xóa bỏ bằng phương thức thực tế và
cụ thể”
Trái với thái độ khinh mạn, phủ nhận vai trò của quần chúng đối với
sự phát triển của lịch sử, Mác & Ăng khẳng định: quần chúng lao động,
nhất là giai cấp vô sản, đó là những lực lượng cách mạng, là động lực tạo nên sự biến đổi và phát triển của lịch sử “Hoạt động lịch sử càng đi
sâu thì khối quần chúng lấy hoạt động đó làm sự nghiệp của mình cũng sẽ
do đó mà lớn lên” Đây chính là một trong những nguyên lý quan trọng
Trang 21ND2- Cũng chính ở trong tác phẩm này, hai ông đ ã đặt cơ sở cho phép biện chứngduy vật với những quan niệm về đấu tranh của các mặt đối lập, bản chất của mâu thuẫn đối kháng và con đường khắc phục chúng
“giai cấp vô sản và sự giàu có là hai mặt đối lập Với tính cách như vậy, chúng hợp thành một thể hoàn chỉnh thống nhất Cả hai đều là sản phẩm của chế độ tư hữu Vấn đề là ở chỗ, tìm hiểu xem mỗi cái chiếm một
vị trí xác định nào trong sự đối lập ấy Chỉ tuyên bố rằng chúng là hai mặt của một chỉnh thể là chưa đủ”
Chế độ tư hữu với tư cách là sự giàu c ó, buộc phải duy trì vĩnh viễn
sự tồn tại của bản thân nó, do đó cũng buộc phải duy trì vĩnh viễn ngay cả
sự tồn tại của các mặt đối lập của nó là giai cấp vô sản Chế độ tư hữu đã tìm được sự thỏa mãn trong bản thân mình là mặt khẳng định của sự đối lập
Trái lại với tư cách là giai cấp vô sản, họ buộc phải thủ tiêu bản thân mình, và do đó tiêu diệt cả các mặt đối lập của nó – tức chế độ tư hữu đang chi phối nó và làm cho nó trở thành giai cấp vô sản Đây là mặt phủ định của sự đối lập, là sự không yên ổn ở bên trong sự đối lập, là chế độ tư hữu đã bị tiêu diệt và đang tự tiêu diệt
giai cấp hữu sản và giai cấp vô sản đều là sự tha hóa của con người Nhưng giai cấp hữu sản cảm thấy dể chịu trong sự tha hóa đó, và họ thấy
sự tha hóa là sự xác nhận cho sự hùng mạnh của bản thân họ Còn giai cấp
vô sản thì cảm thấy mình bị hủy diệt trong sự tha hóa đó, cảm thấy mình bị đau đớn trong sự tha hóa đó, cảm thấy mình bị bất lực trong sự tha hóa đó Nhưng xét đến cùng thì bản thân họ vẫn phải chấp nhận, vẫn phải tồn tại - một sự tồn tại phi nhân tính
Như vậy trong lòng sự đối lập, kẻ tư hữu là phía bảo thủ, người vô sản là phía phá hoại Từ người thứ nhất (kẻ tư hữu) nảy sinh ra hành động duy trì sự đối lập Từ người thứ hai (người vô sản) nảy sinh hành động xóa
bỏ sự đối lập
Như vậy trong tất cả các mâu thuẫn của chế độ tư bản, Mác -Ăngghen
đã vạch rõ mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản khi được giải quyết
sẽ là động lực phát triển của xã hội Điều này cho thấy, động lực thúc
đẩy lịch sử tiến lên trong con mắt của những người sáng lập ra công nghiệp Mác chính là giai cấp vô sản Theo Lênin đó chính là quan niệm
“về vai trò cách mạng của giai cấp vô sản” - Đây chính là một trong những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
2 Luận cương về Phơbách được Mác viết vào mùa xuân năm 1845
Trang 22(C.Mác và Ph.Ăng-ghen Toàn tập Tập 3)
Mặc dù là một tác phẩm rất ngắn và “được viết rất vội vàng và hoàn toàn không phải để đưa in, nhưng là một tài liệu hết sức quý giá, trong đó
ấp ủ mầm mống thiên tài của một thế giới quan mới”
Trong luận cương, Mác đã tập trung phê phán những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật Phơbách để từ đó phê phán những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước Mác nói chung
ND1:- Mác đã khẳng định, chủ nghĩa duy vật trước Mác (kể cả Phơbách) có những yếu điểm cơ bản là không thấy được vai trò sáng tạo, tính năng động của ý thức như một hình thức phản ánh đặc biệt của con người và cũng không thấy được vai trò của thực tiễn đối với sự biến đổi của xã hội và phát triển của nhận thức
(nhắc lại - ý thức và vai trò của ý thức
- TT và vai trò của TT
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào
bộ não người thông qua lao động và ngôn ngữ
Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần của con người bao gồm từ cảm giác cho tới tư duy, lý luận trong đó tri thức là phương thức tồn tại của ý thức
Kết cấu: tri thức, tình cảm, ý chí tri thức là quan trọng nhất
Vai trò của ý thức là ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định
TT là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội
Vai trò: TT là cơ sở, nguồn gốc, động lực, mục đích của nhận thức
và là tiêu chuẩn của chân lý
Chủ nghĩa duy vật cũ kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ bách đã không thấy được điều đó
ND2:- Trong Luận cương về Phơbách, Mác đã vạch rõ hạn chế của
Phơbách trong quan niệm về con người là đã tách rời con người ra khỏi xã hội, khỏi tiến trình lịch sử, quy bản chất con người về những thuộc tính sinh vật, làm cho con người của ông trở nên trừu tượng
Theo Mác, “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”
Trang 23Do không hiểu đúng bản chất con người, nên sự phê phán tôn giáo của Phơbách trở nên thiếu triệt để Mác cho rằng toàn bộ sự phê phán của Phơbách đối với tôn giáo chỉ dừng lại ở mức độ đưa tôn giáo trở về với nền tảng trần tục của nó Mặc dù đã nhận thấy tôn giáo là do con người tạo
ra nhưng Phơ lại không cảm nhận được nguyên nhân xã hội của hình thái ý thức xã hội này
Luận cương về Phơbách được kết thúc bằng luận điểm nổi tiếng làm
sáng tỏ ý nghĩa của triết học Mác và sự khác nhau về nguyên tắc giữa triết học của ông với các hệ thống triết học khác “Các nhà triết học đã chỉ giải
thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế giới”
Những tư tưởng cơ bản của Luận cương về Phơbách được Ăngghen tiếp tục phát triển trong Hệ tư tưởng Đức
Mác-Hệ tư tưởng Đức là tác phẩm được Mác-Ăng khởi thảo những dòng
đầu tiên vào tháng 11/1845 Tác phẩm này không được công bố trọn vẹn khi hai ông còn sống Nhưng điều quan trọng mà Mác -Ăng đã đạt được khi hai ông chung sức viết tác phẩm này là các ông đã tạo ra được vạch mốc quan trọng, đánh dấu những bước tiến dài trong việc hình thành chủ nghĩa Mác ở chính mình
Khi đánh giá về Phơbách, Mác-Ăngghen đã khẳng định: Phơbách không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành
con người đúng như họ đang tồn tại; ông chỉ dừng lại ở sự trừu tượng về
con người và chỉ nhận ra con người “hiện thực, cụ thể, bằng xương, bằng thịt” chỉ trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những “quan hệ con người”, giữa người với người nào khác ngoài tình yêu và tình bạn, hơn nữa là tình yêu, tình bạn được lý tưởng hóa
Khi Phơbách là nhà duy vật, thì ông không bao giờ vận dụng đến lịch
sử, còn khi ông có tính lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật Ở Phơbách, lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau
Như vậy, Mác-Ăng đã làm sáng tỏ những hạn chế của triết học Phơbách bằng cách cụ thể hóa và phân tích chi tiết những đánh giá về ông
và đã được trình bày một cách cô đọng, khái quát trong Luận cương về
Phơbách
Bản chất của vấn đề không có gì thay đổi Khuyết điểm lớn nhất trong quan niệm của Phơbách về con người vẫn là ông chỉ nói đến con người trừu tượng Cho dù ông đã dựa vào khái niệm “Con ngườ i cộng đồng” để tự tuyên xưng mình là người cộng sản thì đó cũng vẫn chỉ là
Trang 24những tuyên bố trên trang viết Quan niệm của Phơbách về chủ nghĩa cộng
snar chẳng khác gì quan niệm về con người của ông: trừu tượng và phi
hiện thực Do vậy, còn lâu Phơbách mới có thể trở thành người cộng sản
theo đúng nghĩa của từ này
Tuy nhiên, Mác-Ăng cũng thừa nhận ở Phơbách có những ưu điểm hơn so với những nhà triết học đương thời mà hai ông gọi là “các nhà duy vật thuần túy” vì đôi khi ông đã cảm nhận được vai trò của hoạ t động thực tiễn nhưng tiếc rằng những cảm nhận này chỉ dừng lại ở trong khuôn khổ trực giác rời rạc
Ý nghĩa bao trùm của Hệ tư tưởng Đức là Mác-Ăngghen đã trình bày
những cơ sở lý luận của một thế giới quan mới, thế giới quan vô sản, xây dựng những cơ sở triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận chủ nghĩa cộng sản
Nền tảng của quan niệm duy vật lịch sử là ở chỗ khẳng định vai trò quyết định, không thể thay thế của sản xuất vật chất đối với đời sống xã hội và sự tồn tại của con người
Như vậy, lịch sử đã thoát khỏi cái mặt nạ huyền bí của chủ nghĩa duy tâm Để làm nên lịch sử, trước tiên con người cần phải có cái ăn, nhà ở, quần áo,… để tồn tại Vì thế việc con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sự sống còn của mình, cũng chính là những biểu hiện đầu tiên của trang sử hào hùng của nhân loại
Từ luận đề này có thể rút ra kết luận: nếu không gian và thời gian là những phạm trù không có giới hạn khởi đầu thì lịch sử, xã hội của con người chỉ được thiết định khi con người biết sử dụng công cụ lao động Do vậy sản xuất vật chất không chỉ tạo ra mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Một nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử
đã được định vị
Trong tác phẩm này, lần đầu tiên Mác-Ăngghen đã xác định mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Theo hai
ông, lực lượng sản xuất quyết định hình thức giao tiếp (quan hệ sản xuất)
nhưng trong quá trình phát triển của chúng, đến một giai đoạn nhất định nào đó, tất yếu sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất Mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết được bằng cuộc cách mạng xã hội để thay thế quan hệ sản xuất hiện tồn bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Đây là một quá trình diễn ra liên tục, làm nên con đường phát triển của sản xuất loài người
Trang 25Tư tưởng này chính là cơ sở lý luận để Mác-Ăngghen vận dụng giải thích những vấn đề mà trước đây các ông còn bỏ ngỏ hoặc mới ở mức độ phác họa Chẳng hạn trong các tác phẩm đầu tay, Mác đã từng khẳng định quan hệ kinh tế quyết định các quan hệ chính trị, pháp quyền,…thì trong
Hệ tư tưởng Đức các ông đã xác lập được cái cơ cấu quyết định chính là
bản thân của các quan hệ kinh tế, cái gốc rễ của lịch sử là ở lực lượng sản xuất Một khi đã thừa nhận như vậy tức là đã công nhận tính quy luật của
sự phát triển xã hội là do hoạt động vật chất của con người tạo thành
Song song với việc phát triển tư tưởng duy vật lịch sử, 2 ông đã xây dựng bộ máy công cụ để biểu đạt đó là hệ thống phạm trù và cho ra đời những khái niệm mới như phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, lịch sử nhân loại,… mà nếu thiếu chúng hoặc nội dung của chúng không tương ứng thì không thể phản ánh được và đúng về thực tế tồn tại của đời sống
xã hội
Trước Hệ tư tưởng Đức 2 ông còn lúng túng trong sự phân định giữa
hình thức sở hữu tư sản với các loại hình thức sở hữu tư nhân khác thì ở
trong Hệ tư tưởng Đức 2 ông không những phân tích kỹ lưỡng từng loại
hình sở hữu mà còn làm rõ tính biện chứng của quá trình thay thế các hình thức sở hữu tương ứng với trình độ phát triển của phân công lao động
Nghiên cứu về các loại hình sở hữu, đặc biệt là từ việc chỉ ra những đặc điểm của loại hình sở hữu tư sản, 2 ông đã đi đến khẳng định sự thủ tiêu chế độ tư hữu là một tất yếu Khẳng định này là tiền đề trực tiếp của luận điểm nổi tiếng về cùng một vấn đề được các ông khai triển và đúc kết trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản 1848
Nghiên cứu về xã hội không thể không bàn đến ý thức xã hội, vượt lên trên tư tưởng đương thời, 2 ông chỉ rõ” “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và cho rằng chừng nào con người còn tồn tại” Mác-Ăngghen cho rằng, khởi đầu ý thức chỉ là ý thức về hoàn cảnh gần gũi với con người, có thể cảm giác được Từ hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật chất của con người đã sản sinh ra những ý niệm, những quan niệm nên “ý thức không bao giờ là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người” Chính vì thế
“không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống vật chất quyết định ý thức”
Có thể nói điểm quan trọng nhất mà 2 ông khẳng định ở trong tác phẩm này từ việc giải thích và phân tích đúng đắn về ý thứcxã hội trên lập trường duy vật lịch sử là tư tưởng thống trị trong xã hội bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị về mặt kinh tế và chính trị “Giai cấp nào là
Trang 26lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị”
Hệ tư tưởng Đức với những vấn đề triết học mà nó chứa đựng đã trở
thành cơ sở lý luận của chủ nghĩa cộng sản, đã luận chứng cho tính tất yếu của cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa Trình bày những vấn đề cơ bản của thế giới quan vô sản, chỉ rõ sự đối lập giữa tư tưởng của giai cấp vô sản với hệ tư tưởng của giai cấp tư sản
Với Hệ tư tưởng Đức Mác-Ăngghen đã thanh toán xong “món nợ tinh thần” với hệ tư tưởng Đức, và lần đầu tiên các ông đã chỉ rõ học thuyết của mình là chủ nghĩa xã hội khoa học
Năm 1846, Pru-đông cho xuất bản cuốn Hệ thống mâu thuẫn kinh tế
hay triết học của sự khốn cùng Trong đó Pru-đông tuyên truyền chủ nghĩa
vô chính phủ, công khai xem mình là kẻ đối lập với chủ nghĩa cộng sản và bác bỏ các hình thái đấu tranh của phong trào công nhân Tư tưởng của Pru-đông đã làm vẫn đục ý thức đấu tranh của những người vô sản lúc bấy giờ
Để vạch trần tư tưởng phản động của Pru-đông và giải thoát giai cấp
vô sản thoát khỏi những ám ảnh của hệ tư tưởng tư sản, Mác đã viết Sự
khốn cùng của triết học, để trả lời lại cuốn Triết học của sự khốn cùng
của ngài Pru-đông (1847) Theo đánh giá của Lênin đây chính là tác phẩm
đầu tiên chín muồi về chủ nghĩa xã hội khoa học
Trong tác phẩm này, trước tiên Mác tập trung phê phán tính chất duy
tâm và không tưởng của Pru-đông trong quan điểm về kinh tế Từ chỗ
không hiểu đúng quy luật giá trị Pru-đông đã đưa ra những kết luận mang tính chất võ đoán Chẳng hạn, ông ta cho rằng sự cùng khổ của nhân dân lao động ở trong chế độ tư bản là do áp dụng không hợp lý quy luật giá trị
Từ chỗ phê phán tính chất viễn vông trong quan niệm về kinh tế của Pru-đông Mác đã chuyển sang phê phán phương pháp luận của ông ta Theo Mác, cơ sở phương pháp luận của Pru-đông thực chất chỉ là sự sao chép một cách vụng về phương pháp của Hegel nhưng lại loại bỏ mất hạt nhân hợp lý của phương pháp này Vì vậy đã biến các phạm trù kinh tế vốn
là hiện thân của sự phản ánh hiện thực khách quan không ngừng biến đổi
và phát triển thành những khái niệm xơ cứng, bất biến
Sự khốn cùng của triết học không dừng lại ở việc phê phán
Pru-đông, đi liền với quá trình này là việc Mác phát triển phương pháp duy vật biện chứng, phát triển những nguyên lý của công nghiệpxã hộikhoa học và kinh tếchính trị học
Trang 27Nếu như Pru-đông lảng tránh, quay lưng lại với những tư tưởng biện chứng để phủ nhận sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong xã hội tư sản, thì bằng việc nghiên cứu của mình, Mác đã làm phong phú thêm quan niệm
về mâu thuẫn trong xã hội có giai cấp Mác khẳng định mâu thuẫn trong xã hội có đối kháng là không thể điều hòa và nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng là giải quyết những mâu thuẫn này
Vận dụng các quan niệm của phép biện chứng vào việc nghiên cứu
xã hội tư bản, Mác kết luận phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giống như các phương thức sản xuất trước đây cũng chỉ là sản phẩm của lịch sử
và tạm thời Lịch sử vận động và phát triển tuân theo tính quy luật của nó,
ở đó sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến sự thay thế quan
hệ sản xuất này bằng quan hệ sản xuất khác Mác viết: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”
Sự khốn cùng của triết học là tiền thân trực tiếp của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản không phải ở mặt thời gian mà ở những nguyên lý của chủ
nghĩa xã hội khoa học, của kinh tế chính trị học, của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được Mác và Ăngghen vận dụng và phát triển
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848 và những tư tưởng
của Sự khốn cùng của triết học đã tạo ra những hành trang lý luận cần thiết để Mác xây dựng bộ Tư bản sau này
Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được bắt đầu soạn thảo từ
cuối năm 1847 và được công bố lần đầu tiên tại Luân Đôn ngày 24 -2-1848
Tác phẩm này được xuất hiện trên những điều kiện kinh tế, chính trị
và xã hội đã chín muồi Thực tiễn lớn mạnh của phong trào cách mạng của giai cấp vô sản những năm giữa thế kỷ XIX đã đặt ra đòi hỏi bức thiết là phải có một hệ thống lý luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng
Từ ngày 9-11 đến 8-12-1844, đại hội lần 2 của đồng minh những người cộng sản đã thảo luận và thông qua nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản do Mác và Ăngghen trình bày và bảo vệ Trên cơ sở của sự nhất trí đó, đại hội đã ủy thác cho Mác và Ăngghen soạn thảo cương lĩnh dưới hình thức một bản tuyên ngôn
Trang 28Tác phẩm này được Mác,Ăng trình bày 4 chương Ngoài ra, ở mỗi
lần tái bản, 2 ông lại bổ sung nội dung của Tuyên ngôn bằng những lời tựa
Ở lời tựa cho bản tiếng Đức phát hành năm 1883, Ăngghen chỉ rõ:
“Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của Tuyên ngôn là: trong mỗi thời đại lịch
sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch
sử tư tưởng của thời đại ấy Do đó, toàn bộ lịch sử là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bị trị và những giai cấp thống trị, qua các giai đoạn của sự phát triển xã hội của họ; nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị áp bức và bóc lột (vô sản) không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tư sản) được nữa, nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi bóc lột, áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp”
Tư tưởng của luận đề này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các
chương, các phần của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
- Ở chương mở đầu, với tựa đề Tư sản và vô sản:
Mác và Ăngghen đã phân tích một cách khoa học quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản để khẳng định chính sự vận động nội tại, khách quan của xã hội tư bản tất yếu sẽ đưa chủ nghĩa tư bản đến chỗ sụp đổ và thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản “…Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào ngay chính giai cấp tư sản
Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy, những người công nhân hiện đại, những người vô sản”
“Như vậy là sự phát triển của đại công nghiệp đã bị phá sập, dưới chân giai cấp tư sản, chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã xây dựng lên chế độ sản xuất và chiếm hữu của nó Trước hết giai cấp tư sản
đã tạo ra những người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau”
Luận chứng của Mác và Ăngghen đã làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới, tiêu biểu cho lợi ích của toàn thể nhân dân lao động – xã hội cộng sản chủ nghĩa
- Trong chương II Những người vô sản và những người cộng sản:
2 ông làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Đảng cộng sản và giai cấp vô
Trang 29đảng và những biện pháp cách mạng để hoàn thành những nhiệm vụ cao cả này
“Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác, là tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”
Theo 2 ông, việc giành chính quyền chỉ là bước khởi đầu bởi cuộc cách mạng vô sản không chỉ là cuộc cách mạng chính trị mà còn là một cuộc cách mạng về kinh tế nhằm thủ tiêu chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, tạo đà sinh lực cho lực lượng sản xuất phát triển
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản lần đầu tiên các ông đã chỉ rõ
nội dung cơ bản nhất của cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa là kinh tế
“Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất là: xóa bỏ chế độ tư hữu” Tuy vậy, Mác và Ăngghen cũng chỉ rõ:
“chủ nghĩa cộng sản không tước của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu
ấy để nô dịch lao động của người khác”
Ở trong chương II này, 2 ông chưa nêu ra thuật ngữ chuyên chính vô
sản mà chỉ phác họa tư tưởng về chuyên chính vô sản 2 ông đã đưa ra 10
biện pháp cụ thể cần phải làm ở giai đoạn đầu của hình thái cộng sản chủ nghĩa và hoạch định những phương thức cơ bản để đạt tới xã hội cộng sản chủ nghĩa hoàn toàn: “Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tổ chức thành giai cấp Nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt chế độ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt chế độ sản xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính ngay cả giai cấp mình”
Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người
là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
Trong chương này, Mác và Ăngghen cũng giải thích thái độ của những người cộng sản đối với văn hóa, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, tổ quốc, gia đình,…để chống lại những luận điệu vu khống của giai cấp tư sản đối với những vấn đề này
Trang 30Như vậy, ở trong chương II, Mác - Ăngghen đã đưa ra và giải quyết những vấn đề thiết yếu nhất của chủ nghĩa Mác về tính chất giai cấp của Đảng cộng sản, quan hệ giữa đảng và giai cấp; những nguyên lý cơ bản của công nghiệpxã hội khoa học, những nội dung cơ bản của chiến lược, sách lược cách mạng
- Chương III, Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa:
Để đảm bảo thắng lợi cho việc truyền bá học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học vào phong trào công nhân, Mác và Ăngghen đã tập trung phân tích, phê phán các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa phi mácxít đang gây tác hại lúc bấy giờ
Mác và Ăngghen đã chia các trào lưu tư tưởng này thành 3 loại:
Thứ nhất là chủ nghĩa xã hội phản động: trào lưu này được hợp thành
từ chủ nghĩa xã hội phong kiến, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản và chủ nghĩa
xã hội chân chính Cả ba hình thức này làm thành lực cản ở c hỗ: hoặc ôm khư khư truyền thống để kết tội hiện tại, hoặc lấy những lời ba hoa sáo rỗng để thay cho sự vận động của hiện thực
Thứ hai là chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản tìm
cách bào chữa cho giai cấp tư sản, chứng minh tính hợp lý của trật tự hiện hành, vì vậy hai ông đã mỉa mai: “ chủ nghĩa xã hội tư sản nằm gọn trong lời khẳng định này Sở dĩ những người tư sản là những người tư sản, đó là
vì lợi ích của giai cấp công nhân”
Thứ ba là chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán và chủ nghĩa cộng sản không tưởng - phê phán Hai ông thừa nhận rằng các trào lưu này đã
đả kích mạnh mẽ chế độ đương thời, dự kiến tài tình về nhiều điểm trong
mô hình xã hội tương lai, góp phần thức tỉnh ý thức đấu tranh của giai cấp
vô sản Song những biện pháp thực hiện lại không mang tính cách mạng
- Chương IV, Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng
đối lập:
Mác và Ăngghen trình bày một cách rõ ràng về lập trường, sách lược và chiến lược của Đảng cộng sản
Chiến lược của Đảng cộng sản được xây dựng trên nguyên tắc:
“Những người cộng sản chiến đấu cho những lợi ích và mục đích trước mắt của giai cấp công nhân nhưng đồng thời trong phong trào hiện tại, họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào” từ lập trường cách mạng triệt để không ngừng với các sách lược mềm dẻo để liên minh với các đảng dân chủ trong cuộc đấu tranh về sự phát triển của xã hội
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được khép lại với tuyên bố hào hùng
Trang 31mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách mạng bạo lực lật đổ toàn
bộ xã hội hiện có Mặc cho giai cấp thống trị run sợ khi nghĩ đến cuộc cách mạng cộng sảncông nghiệp Trong cuộc cách mạng ấy, những người
vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ Trong cuộc cách mạng ấy, họ giành được cả một thế giới cho mình Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”
Với Tuyên ngôn của Đảng cộng sản triết học Mác và chủ nghĩa Mác
đã được hình thành, chấm dứt thời kỳ tìm kiếm con đường đi đến tương lai của nhân loại Báo hiệu Mác và Ăngghen đã thực hiện thành công cuộc cách mạng trong triết học
Sau Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Mác và Ăngghen bước vào thời
kỳ bổ sung và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác trên phương diện triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học
Sự xuất hiện triết học Mác là một bước ngoặt trong lịch sử triết học:
- Sự thống nhất giữa cụng nghiệpduy vật và phộp biện chứng trong triết học Mác
Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời TGQ duy vật và phộp biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học Kế thừa những hạt nhân hợp lý và cải tạo chúng, Mác và Ăngghen đã liên kết chúng gắn bó lại thành một thể thống nhất khụng thể tách rời giữa cụng nghiệpduy vật và phộp biện chứng, tạo ra hình thức cao của cụng nghiệpduy vật là cụng nghiệpduy vật biện chứng và hình thức cao của phộp biện chứng là phộp biện chứngduy vật
- Sỏng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử - một cống hiến vĩ đại của Mác
Chấm dứt sự tỏch rời quan niệm duy vật về thế giới và duy tõm trong xó hội Mác đã làm cho cụng nghiệpduy vật trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến nhận thức xó hội loài người, nghiờn cứu tự nhiờn,
xó hội, tư duy Lần đầu tiên trong lịch sử triết học Mác - Ăngghen đã giải thích xó hội, lịch sử, tinh thần trên tinh thần duy vật và biện chứng
Với sự ra đời của triết học Mác, đã làm biến đổi vai trò xó hội và vị trí của triết học; biến đổi tính chất triết học, đối tượng của nó và mối quan hệ của nó với các khoa học khác
- Sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học thực tiễn tạo nên tính sang tạo của triết học Mác
Ý nghĩa vĩ đại của triết học Mác - Lênin khụng những ở chỗ giải thích đúng đắn thế giới mà chủ yếu là cải tạo thế giới Sức mạnh "cải tạo thế giới" của triết
học mácxít chính là sự gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân và trở thành vũ khí tư tưởng sắc bén của quần chúng nhân dân
Trang 32trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng và giải phóng loài người khỏi mọi ách áp bức
và bóc lột Triết học của các ông đã trở thành công cụ nhận thức và cải tạo xó hội của nhân loại tiến bộ
Tính sáng tạo và thực tiễn của triết học Mác được thể hiện ở chỗ: Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà chủ yếu là công cụ cải tạo thế giới
siêu hình
CHƯƠNG 2 THỜI KỲ BỔ SUNG VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN
độ kiểm duyệt bị bãi bỏ ở Đức, lệnh bắt giữ những người yêu nước cũng bị thu hồi
Tháng 6-1848, một sự kiện chưa từng có trong tiền lệ ở châu Âu, giai cấp vô sản lần đầu tiên đã xông lên các chiến lũy với khẩu hiệu “Bánh mì hay là chết”,
“Sống làm việc hay là chết trong chiến đấu” Mặc dù “là một cuộc cách mạng của
sự tuyệt vọng” nhưng đã làm nên một ý nghĩa lớn lao, cái mặt nạ mà hàng ngày giai cấp tư sản trương lên là “Tự do, bình đẳng, bác ái”, giai cấp vô sản không tìm thấy phần của mình ở trong ấy
Các cuộc cách mạng ở Đức, Áo, Pháp và các nước khác ở châu Âu là sự khảo nghiệm lớn lao đầu tiên của tư tưởng cách mạng do Mác và Ăngghen đề xướng Thực tiễn cách mạng đã giúp cho Mác và Ăngghen đã hoàn thành
các tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1850), Cách mạng và phản cách
mạng ở Đức (1851), Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapactơ (1852)
Nội dung chủ yếu của các tác phẩm này là phát triển lý luận chuyên chính
vô sản, các nguyên lý của công nghiệpduy vật lịch sử
Trang 33Thông qua các tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen đã chống lại quan niệm lan tràn phổ biến lúc bấy giờ là trước sự thất bại tạm thời của các cuộc cách mạng, không ít học giả tư sản cho rằng nguyên nhân của các cuộc cách mạng này là ở sự bùng phát không lành mạnh của những dục vọng Do vậy đã tạo nên bầu không khí hỗn loạn, tình trạng vô chính phủ, rối loạn xã hội vì thế phải xếp vào những hành vi vi phạm pháp luật
Bác bỏ quan điểm này, 2 ông khẳng định cách mạng không phải là hành động manh động nhất thời của quần chúng Cách mạng là hình thức sáng tạo cao nhất của quần chúng trong xã hội có đối kháng giai cấp
Một trong những thành tựu quan trọng nhất được Má c và Ăngghen rút ra từ các cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1848 – 1849 là tư tưởng về cách mạng không ngừng Trong những tác phẩm đầu tay của mình, 2 ông gọi tư tưởng này là cách mạng thường trực để phác họa khuynh hướng tiến lên của cách mạng tư sản Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của cuộc cách
mạng, 2 ông đã phát triển tư tưởng cách mạng thường trực thành tư tưởng
cách mạng không ngừng để chỉ sự quá độ từ cách mạng tư sản sang cách
mạng vô sản Ý nghĩa này là nội dung chủ yếu của tác phẩm Đấu tranh
giai cấp ở Pháp từ 1848-1850
Với tác phẩm này, Mác đã chỉ rõ sự phát triển của đối kháng giai cấp
vô sản và tư sản đã chứa đựng trong nó khả năng quá độ từ cách mạng tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa Bởi vì trong những điều kiện nhất định cách mạng tư sản phải chuyển thành mặt đối lập với nó – cách mạng
vô sản
Chính quyền nhà nước là một trong những vấn đề quan trọng của chủ
nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học Ngày 18 tháng Sương
mù của Lui Bônapactơ 1852 đã lý giải lập trường của cách mạng xã hội
công nghiệp đối với nhà nước tư sản
Theo Mác, đặc trưng nổi bật của bộ máy nhà nước tư sản là tập trung quan liêu, mang tính chất đẳng cấp và chống lại nhân dân lao động Vì vậy, để củng cố thành quả cách mạng vô sản và cải tạo được xã hội tư bản thành xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản phải đập tan nhà nước, công cụ bạo lực của giai cấp tư sản Đó không chỉ là điều kiện mà còn là nguyên tắc và
cơ sở để đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mạng vô sản Tuy nhiên, do thực tiễn lịch sử, nên trong tác phẩm này Mác chưa chỉ ra được lấy cái gì
để thay thế cho nhà nước của giai cấp bóc lột vừa bị đập tan
Nếu như Đấu tranh giai cấp ở Pháp đã khai sinh ra thuật ngữ chuyên
chính vô sản mà trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Mác còn chưa đặt
tên được cho tư tưởng này thì trong thư Mác gửi Vây-đơ-maye ngày
Trang 345-3-1852 là buổi đầu hoàn chỉnh và phát triển lý luận về giai cấp ấp và về chuyên chính vô sản
Mác cho biết việc phát hiện ra giai cấp hoàn toàn không phải là công lao của ông Trước Mác nhà sử học và kinh tế tiến bộ đã thừa nhận sự tồn tại của giai cấp như: Ri-cac-đô, Chi-e-ri, Mi-nhê,… nhưng chưa một ai trong số họ cảm nhận được sự xuất hiện của giai cấp là kết quả của sự phát triển kinh tế-xã hội, của sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Bởi vậy, những luận giải của họ không thể tránh khỏi chủ quan, lệch lạc và sai lầm
Từ việc xem xét sự hiện hữu của các giai cấp trong quan hệ kinh tế, Mác đã kết luận giai cấp không phải là vĩnh hằng như các nhà tư tưởng tìm cách biện hộ cho giai cấp tư sản khẳng định, mà giai cấp như những hiện tượng xã hội khác, có khởi đầu và kết thúc, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định
Không dừng lại ở đó, Mác còn chỉ rõ đấu tranh giữa giai cấp vô sản
và tư sản là không thể điều hòa mà dẫn tới cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản Ông viết:
“1) Sự tồn tại của giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất
2) Cuộc đấu tranh giai cấp nhất định sẽ dẫn đến chuyên chính vô sản
3) Bản thân nền chuyên chính này c hỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu tất cả mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không có giai cấp”
Để khai bỏ những ấu trĩ về mặt chính trị trong Ngày 18 tháng sương
mù của Lui Bônapactơ, Mác đã so sánh làm rõ sự khác biệt giữa cách
mạng tư sản và cách mạng vô sản Do hạn chế trong nội dung xã hội nên các cuộc cách mạng tư sản cần đến những vỏ bọc bên ngoài Cách mạng tư sản Anh thì khoác lên mình bằng những khẩu hiệu tôn giáo Cách mạng tư sản Pháp viện dẫn đến những ý tưởng của nền cộng hòa La Mã cổ đại Trong khi đó thì cách mạng vô sản nắm được tính tất yếu, con đường và biện pháp để thực hiện nhiệm vụ của mình
Mác cũng làm rõ nguyên nhân thất bại của giai cấp vô sản trong cách mạng 1848 Sự ngây thơ của giai cấp vô sản đã phải trả giá Giai cấp vô sản xuống đường với ảo tưởng là chỉ cần thiết lập được nền cộng hòa tư sản là có thể thủ tiêu được sự thống trị của tư bản đối với lao động Giai cấp vô sản đã tự biến mục tiêu của mình thành những ảo tưởng, vì vậy để phát triển ý thức giai cấp, giai cấp vô sản phải khắc phục cho được những
ảo tưởng kiểu như thế này và nắm bắt được sứ mệnh lịch sử của mình
Trang 35Một trong những nội dung mà Mác và Ăngghen quan tâm lý giải ở giai đoạn này là vai trò của tư tưởng, của vĩ nhân đối với sự vận động và
phát triển của lịch sử Đó cũng là một trong những chủ đề nổi bật của Đấu
tranh giai cấp ở Pháp và Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapactơ
Mác đã bác bỏ các quan niệm tầm thường về mối quan hệ giữa vĩ nhân với giai cấp Theo Mác, các vĩ nhân bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định, vì vậy các vĩ nhân là người phát ngôn và thể hiện ý chí nguyện vọng của giai cấp đó
Năm 1867, tập I của Tư bản được phát hành Đây là tác phẩm hết
sức quan trọng không chỉ đối với Mác, mà cả đối với chủ nghĩa Mác bởi những vấn đề lý luận được đặt ra trong tác phẩm này
Theo Mác, “Chắc chắn là quả bom đáng sợ nhất trước kia chưa có ai ném lên đầu bọn tư sản (kể cả bọn địa chủ)” Chia sẻ với quan điểm của Mác, Ăngghen khẳng định: “Từ khi bọn tư bản và những người công nhân tồn tại trên trái đất chưa có một quyển sách nào có ý nghĩa như thế đối với những người công nhân như quyển sách có ở trước mắt chúng ta”
Nếu như trong Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1859),
lần đầu tiên Mác đã bàn đến tính quy luật của sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội bằng nhận định hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên, thì Tư bản là sự tiếp nối bằng cách tập trung nghiên cứu ở
hình thái kinh tế - hội tư bản chủ nghĩa để làm sáng tỏ những quy luật của
sự xuất hiện, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội này với nguyên tắc
“Làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế, bằng cách làm trong tất cả mọi quan
hệ xã hội, ông đã làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuất, coi đó là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác”
Cách thức này đã làm cho một số học giả, một số nhà nghiên cứu lầm
tưởng rằng Tư bản là tác phẩm thuần túy bàn về kinh tế đứng bên ngoài
triết học
Trái lại, Lênin đã đánh giá cao những vấn đề triết học được đề cập trong Tư bản Ông nhấn mạnh, Mác không để lại “Logic học” bằng chữ L viết hoa, nói cách khác, không để lại một sự trình bày có hệ thống về phép biện chứng dưới hình thức một tác phẩm chuyên biệt về vấn đề đó, thì Mác
đã để lại logic của bộ Tư bản, đã áp dụng phép biện chứngduy vật tức logic học và lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác vào kinh tế - chính trị học
Nghiên cứu Tư bản chúng ta dể dàng nhận thấy Mác đã áp dụng phép
biện chứng vào việc nghiên cứu, lý giải các hiện tượng của xã hội tư bản Một số nhà tư tưởng của giai cấp tư sản với mục đích phủ nhận vai trò của
Trang 36Mác, đã cho rằng về thực chất phương pháp của Mác là đồng nhất với phương pháp duy tâm của Hegel Trong lời tựa cho lần tái bản tập I Tư bản, Mác đã bác bỏ luận điệu cưỡng bức ngôn từ, tung hỏa mù này
Ko chỉ đối lập với phép biện chứng của Hegel, phép biện chứng của
Mác trong Tư Bản còn hoàn toàn xa lạ với kiểu nghiên cứu của các học giả
dùng phép siêu hình để luận giải về sự tồn tại vĩnh hằng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Từ sự tổng kết lý luận về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và lịch
sử các học thuyết kinh tế, Mác đã bổ sung làm phong phú phép biện chứng duy vật phép biện chứng của Mác đã trở thành công cụ không thể thay thế trong việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội nói riêng và thế giới nói chung
Trong hệ thống các quy luật của phép biện chứng, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập giành được sự chú ý đặc biệt của Mác
Trên cơ sở phân tích cụ thể hiện trạng của nền kinh tế cơ bản, Mác
đã khẳng định bổ sung rằng các mặt đối lập không chỉ bài trừ phủ định nhau mà còn quy định lẫn nhau Và chính sự quy định của các mặt đối lập
đã quy định sự đấu tranh của các mặt đối lập là tất yếu, là nội dung bên trong, và là động lực của sự phát triển, làm cho sự vật chuyển biến không
ngừng từ trạng thái này sang trạng thái khác, ở trình độ cao hơn Mâu
thuẫn không gì khác hơn đó chính là những mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện tượng Toàn bộ kết cấu của Tư bản được thiết lập trên quan niệm này
Khác với các nhà duy tâm và các nhà duy vật siêu hình khi nghiên cứu về xã hội tư bản, Mác không truy tìm ở những yếu tố huyền bí, thần thánh, hay dung tục hóa cái hiện thực, Mác đã bắt đầu từ một liên hệ tiêu
biểu, giản đơn nhất của nền kinh tế tư bản là hàng hóa Từ việc phân tích
những mâu thuẫn của kinh tế hàng hóa như mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng, giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng, giữa giá trị và giá trị thặng dư Mác đi đến thâu tóm bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Hêghen là người đã phát hiện ra quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất Nhưng nếu Hêghen chỉ dùng lại ở quan niệm đó
là sự vận động của khái niệm, của tư duy thì Mác đã chứng minh quy luật này là quy luật của vật chất, của đời sống xã hội
Trong nghiên cứu về xã hội nói chung và sự vận động của các hiện
Trang 37hiện tượng này Trong Bản thảo kinh tế triết học (1844), Mác đã nhận xét
rằng quan niệm về phủ định của Hegel là không có tính cách mạng vì xa rời các quá trình hiện thực đang diễn ra hàng ngày đối với đời sống của con người, để diễn ra trong trí tưởng tượng Từ sự phân tích những mâu thuẫn trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Mác đã phát triển và giải thích quy luậtuật phủ định của phủ định theo quan niệm duy vật Mác khẳng định phủ định là khắc phục những yếu tố kìm hãm sự phát triển, là tạo tiền đề cho sự phát triển của hiện thực
Mác đã vận dụng quy luật phủ định của phủ định để giải thích cách mạng vô sản như sau: sở hữu tư sản tồn tại và vận động theo lôgic khách quan của nó, tất yếu sẽ dẫn đến sự phủ định chính bản thân nó bằng cuộc cách mạng vô sản, nhưng cuộc cách mạng này lại sáng tạo ra sở hữu cá nhân, nhưng trên cơ sở của những thành quả của thời đại tư bảncông nghiệp, trên cơ sở của những người lao động tự do và sở hữu công cộng của họ về đất đai và về tư liệu sản xuất do họ sản xuất ra
Thông qua việc phân tích các mối quan hệ bản chất của kinh tế tư bản chủ nghĩa, Mác đã làm cho các quy luật cơ bản của phép biện chứng: quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật lượng-chất; quy luật phủ định của phủ định có đời sống thực Và thay đổi về chất với người đã khai sinh ra chúng
Nói cách khác là Mác đã làm rõ vai trò của nguyên lý phát triển, một trong hai nguyên lý quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, trong đời sống và hoạt động thực tiễn của con người Trên cơ sở đó, tiếp tục khẳng định tính biện chứng của các phạm trù như: bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực, tất nhiên và ngẫu nhiên
Bản chất theo Mác là mối liên hệ bên trong vốn có của các sự vật, hiện tượng là cái làm cho sự vật phát triển Nhiệm vụ của khoa học là phải chỉ ra cho được cái ẩn dấu đằng sau các hiện tượng, hình thức bên ngoài của bản chất Bản chất và hiện tượng có sự mâu thuẫn với nhau Tuy vậy chúng không tồn tại độc lập mà tồn tại trong mối liên hệ với nhau Nhận thức của con người bắt đầu từ các hiện tượng, thông qua các hiện tượng để xâm nhập vào bản chất và từ bản chất để nắm bắt các hiện tượng Vì thế, cặp phạm trù, mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng là chỉ số, thước đo trình độ nhận thức của con người về tự nhiên và xã hội
Giống như bản chất và hiện tượng, cặp phạm trù khả năng và hiện thực tồn tại trong mối liên hệ, mặc dù mỗi phạm trù là sự phủ định cái đối lập với nó Trong những điều kiện xác định khả năng có thể chuyển hóa thành hiện thực Khả năng trở thành hiện thực là sự phủ định khả năng đó,
Trang 38nhưng trong hiện thực mới lại chứa đựng trong nó những khả năng mới
Do đó sự chuyển hóa khả năng thành hiện thực không phải chấm dứt, mà chỉ chấm dứt một sự tồn tại của sự vật, một mối liên hệ đã được xác định
để thiết lập một mối liên hệ mới với hình thức mới
Về mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên Không nằm ngoài những mối liên hệ như các cặp phạm trù của phép biện chứng đã thiết lập Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong mối liên hệ biện chứng với nhau Cái trong mối liên hệ này là ngẫu nhiên nhưng xét trong mối liên hệ khác là tất nhiên và ngược lại
Trong Tư bản từ phân tích sự phát triển của những hình thức giá trị,
Mác đã kết luận quy luật giá trị (=) tất nhiên, hình thức biểu hiện (=) ngẫu nhiên Nhưng đến mỗi giai đoạn nào đó thì hình thức biểu hiện của giá trị
Theo Mác sự xuất hiện của trừu tượng khoa học trong nhận thức là
do điều kiện kinh tế quy định chứ không phải là sự hiển thị của những khái niệm vốn có sẵn trong đầu óc con người
Trừu tượng là quá trình tước bỏ những thuộc tính riêng lẻ để khái quát thành những thuộc tính chung vốn có trong một nhóm các sự vật hiện tượng nhất định và phản ánh chúng bằng những khái niệm khoa học Trừu tượng có vai trò hết sức to lớn đối với nhận thức, đặc biệt là nhận thức các hiện tượng xã hội Mác viết: “khi phân tích các hình thái kinh tế, không thể dùng kính hiển vi, cũng không thể dùng chất có tác động hóa học được
Cả hai phải được thay thế bằng sự trừu tượng” Những phạm trù của kinh tếchính trị học mácxít như giá trị thặng dư, lao động tất yếu, lao động thặng dư, tư bản… là con đẻ của sự trừu tượng khoa học nghiên cứu kinh
tế tư bảncông nghiệp
Trước Mác các nhà kinh tế chính trị cổ điển như Ricácđô, A.Smít đã vận dụng sự trừu tượng để thâu tóm những mối liên hệ bản chất của kinh
tế tư bản, nhưng đó là sự trừu tượng thiếu hoàn bị nên đã dẫn đến những kết luận sai lầm Chẳng hạn, vì không hiểu đúng khái niệm giá trị thăng dư nên hai ông đã lẩn lộn với khái niệm lợi nhuận Bởi vậy trừu tượng và trừu tượng khoa học là hai vấn đề chứ không phải là một
Trái với các nhà kinh tếchính trị cổ điển Anh, thông qua các khái
Trang 39và lợi nhuận mà còn khẳng định mối liên hệ giữa chúng, vì thế Mác đã chỉ đúng cái nguồn gốc tạo nên sự giàu có của giai cấp tư sản là giá trị thặng
tế của kinh tế tư bản chủ nghĩa
Mác đã xây dựng các phạm trù này trong sự đối lập với quan niệm của Hêghen
Từ lập trường duy vật biện chứng Mác đã xem xét cải tạo và phát triển những luận đề cơ bản của logic Hegel Về mối quan hệ giữa trừu tượng và cụ thể, Mác viết: “Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể, bởi vì nó là tổng hợp của nhiều định nghĩa, do đó là sự thống nhất của cái muôn vẻ Cho nên trong tư duy nó hiện ra như một quá trình tổng hợp, như là kết quả chứ không phải như là điểm xuất phát, mặc dầu nó là điểm xuất phát thực sự và
do đó là điểm xuất phát của trực quan và biểu tượng Trên con đường thứ nhất, biểu tượng đầy đủ tan biến đi tới trình độ định nghĩa trừu tượng, trên con đường thứ hai những định nghĩa trừu tượng dẫn tới tái sinh cái cụ thể nhờ có tư duy”
Và Tư bản là sự minh họa thực tế cho việc đi từ cái cụ thể đến cái
trừu tượng, từ cái cụ thể thứ nhất đến cái cụ thể thứ hai trên cơ sở sự thống nhất của phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch để làm thành đặc điểm của phương pháp của Mác Theo Mác, nếu không biết vận dụng nguyên tắc này thì sẽ sa vào những quan niệm siêu hình mà các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh là những ví dụ tiêu biểu
Điều đặc biệt quan trọng ở giai đoạn lịch sử này (1848 -1871) là Mác lần đầu tiên trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn ông đã nêu lên kết luận kinh điển về bản chất của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Triết học Mác là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Quá trình bổ sung, phát triển chủ nghĩa duy vật
biện chứng trong Tư bản không thể tách rời với sự phát triển của chủ nghĩa
duy vật lịch sử Tác phẩm này là sự tiếp tục những quan điểm duy vật lịch
sử đã được khẳng định ở Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1859) Nếu như ở Bản thảo kinh tế triết học 1844, Mác chỉ dừng lại ở sự tha hóa
của lao động thì trong Tư bản ông tập trung làm rõ hoạt động sản xuất vật
chất và chứng minh đó là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của
xã hội loài người
Trang 40Theo Mác, lao động là một quá trình diễn ra giữa con người và giới
tự nhiên, trong quá trình này, con người biết sử dụng năng lực sinh vật của mình để làm chủ được các vật thể của tự nhiên có ích cho đời sống của con người Và “trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và làm thay đổi tự nhiên, con người đồng thời cũng là m thay đổi bản tính của chính nó… Con người phát triển những tiềm lực đang ngái ngủ ở trong bản tính và bắt sự hoạt động của những tiềm lực ấy phải phục tùng quyền lực của mình” Như vậy, quá trình tác động vào giới tự nhiên cũng là quá trình khơi dậy những năng lực vốn có ở trong con người
Nói cách khác là quá trình đi xác lập tư cách người của con người… Con người không chỉ làm biến đổi hình thái những cái do tự nhiên cung cấp, trong những cái do tự nhiên cung cấp, con người cũng đồng thời thực hiện cái mục đích tự giác của mình, mục đích ấy quyết định phương thức hành động của họ, giống như một quy luật và bắt ý chí phải phục tùng nó ”
Sự khác biệt giữa lao động của con người với hoạt động của con vật
là ở chỗ: hoạt động của con người ngay từ đầu đã mang tính mục đích, tác động vào đối tượng thông qua các công cụ lao động Lao động của con người là một phạm trù xã hội, trong khi đó ở con vật hoạt động của nó thuần túy là bản năng “Việc sử dụng và sáng tạo ra những tư liệu lao động, tuy có mầm mống ở một vài loài động vật nào đó, nhưng vẫn là một nét đặc trưng riêng của quá trình lao động của con người, và vì thế cho
nên Phranclin đã định nghĩa con người là: “a toolmaking animal”, một
động vật chế tạo công cụ”
Con người sử dụng những công cụ lao động do mình tạo ra Còn con vật sử dụng những thứ có sẵn trong tự nhiên Do vậy, công cụ lao động là
chỉ số để định tính người trong quá trình phát triển của nhân loại, hiển thị
mức độ văn minh của loài người và khả năng chinh phục tự nhiên, điều kiện sống và tồn tại của nó Mác viết “…Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào Các tư liệu lao động không những là thước đo sự phát triển sức lao động của con người mà còn là chỉ tiêu của những qua n hệ xã hội trong
đó lao động được tiến hành”
Về giai cấp trong Tư bản, Mác đã luận giải từ nguyên nhân kinh tế
Theo Mác, sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự xuất hiện của chế độ
tư hữu là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự hình thành giai cấp Đồng thời ông cũng chỉ rõ ý thức giai cấp phụ thuộc vào những điều kiện sinh hoạt khách quan của các giai cấp