Đồ án môn phân tích hoạt động kinh tế trường đại học hàng hải việt nam phần đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phần liên quan đến thuế, lợi nhuận, doanh thu và chi phí. bao gồm cả bảng tính và phần phân tích chi tiết được duyệt ngay lần đầu tiên
Trang 1PHẦN I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
1 Mục đích và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế.
Phân tích hoạt động kinh tế là quá trình phân chia, phân giải các hiện
tượng và kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên hệ, so sánh đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng vận động và phát triển của hiện tượng nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tùy từng trường hợp phân tích cụ thể của phân tích mà xác định đối tượng phân tích một cách cụ thể Có thể phát biểu một cách khái quát về đối tượng của phân tích kinh tế doanh nghiệp như sau: đó là nghiên cứu quá trình và kết quả sán xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêukinh tế trong mối quan hệ biện chứng với các thành phần, bộ phận, nhân tố 1.2 Ý nghĩa phân tích hoạt động kinh tế
Phân tích hoạt động kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Là một nhà quản lí doanh nghiệp, bao giờ bạn cũng muốn doanh nghiệpcủa mình hoạt động một cách thường xuyên, liên tục, hiệu quả và không ngừng phát triển Muốn vậy phải thường xuyên đưa ra những quyết định về chiến lược phát triển, về quản lí điều hành với chất lượng cao Để có thể đưa
ra những quyết định chất lượng cao đấy thì những người quản lí cần phải có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về các vấn đề kinh tế, xã hội, kĩ thuật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Người ta thấy rằng bộ 3 biện chứng trong các hoạt động nói chung, hoạt động kinh tế nói riêng là: nhận thức – quyết định – hành động thì nhận thức đóng vai trò
Trang 2quyết định Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là công cụ của hoạt động nhận thức về các vấn đề kinh tế doanh nghiệp Do vậy, nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp nói chung và cá nhân người lãnh đạo nói riêng
1.3.Mục đích phân tích
Việc xác định mục đích phân tích có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doang nghiệp Nó vừa là kim chỉ nam định hướng hoạt động, vừa là thước đo đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Tùy vào trường hợp cụ thể phân tích để xác định mục đích phân tích cụ thể Mục đích chung thường gặp ở tất cả các trường hợp phân tích bao gồm: + Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế
+ Xác định các thành phần, bộ phận, nhân tố cấu thành lên chỉ tiêu phân tích và tính toán mức độ ảnh hưởng của nó đến chỉ tiêu phân tích
+ Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua đó để nhận thức đúng đắn về năng lực tiềm năng của doanh nghiệp
+ Đề xuất biện pháp và phương hướng nhằm khai thác triệt để các tiềm năng của doanh nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
+ Là cơ sở xây dựng các kế hoạch tài chính cảu doanh nghiệp, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới
Tóm lại, có thể phát biểu ngắn gọn mục đích của phân tích hoạt động kinh
tế là nhằm xác định tiềm năng của doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp nhằm khai thác triệt để các tiềm năng đấy
1.4 Nguyên tắc phân tích
Trang 3Dù phân tích ở quy mô nào thì việc phân tích cũng phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
+ Phân tích bao giờ cũng xuất phát từ việc đánh giá chung, sau đó mới đi sâu phân tích từng nhân tố
+ Phân tích phải đảm bảo tính khách quan tức là phải tôn trọng sự thật khách quan, không được xuyên tạc bóp méo sự thật khách quan trong quá trình phản ánh phân tích
+ Phân tích phải đảm bảo tính toàn diện, sâu sắc, triệt để
+ Phân tích phải thực hiện trong mối liên hệ qua lại giữa các hiện tượng kinh tế
+ Tùy theo nguồn lực phân tích mà xác định quy mô, mức độ phân tích cho phù hợp
2 Các phương pháp phân tích.
2.1 Phương pháp so sánh
2.1.1 Phương pháp so sánh tuyệt đối
Được thực hiện bằng cách lấy mức độ của chỉ tiêu hoặc nhân tố ở kì nghiêncứu trừ đi trị số tương ứng của chúng ở kì gốc Kết quả so sánh gọi là chênh lệch tuyệt đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động của chỉ tiêu hoặc nhân tố và được ghi vào cột chênh lệch trong bảng phân tích
x = x1 - x0
trong đó: x: chênh lệch tuyệt đối của x
x1: quy mô của x ở kì nghiên cứu
x0: quy mô của x ở kì gốc
2.1.2 Phương pháp so sánh tương đối
Trang 4Trong phân tích, phương pháp này được thực hiện bằng cách lấy lấy mức đọcủa chỉ tiêu hoặc nhân tố ở kì nghiên cứu chia cho trị số tương ứng của chúng ở kì gốc rồi nhân với 100%.
tx = (x1/x2)*100%
Kết quả so sánh phản ánh xu hướng và tốc độ biến động của chỉ tiêu hoặc nhân tố và được ghi vào cột so sánh Trong phân tích thường sử dụng các lioaj số tương đối sau:
- Số tương đối kế hoạch
- Số tương đối động thái
- Số tương đối kết cấu
2.1.3 Phương pháp so sánh bằng số bình quân
Cho biết mức độ mà đơn vị đạt được so với số bình quân chung của tổng thể, của ngành
2.2 Phương pháp chi tiết
Về mặt cơ bản, phương pháp chi tiết phản ánh tư duy cách thức phân chia, phân giải chỉ tiêu phân tích Trong thực tế, có nhiều cách để phân chia ,phân giải chỉ tiêu cụ thể dưới đây giới thiệu 3 phương pháp phân tích chủ yếu:
2.2.1.Phương pháp chi tiết theo thời gian
Theo phương pháp này để phân tích về một chỉ tiêu kinh tế nào đó trong một thời kì dài( năm) người ta chia chỉ tiêu đấy thành các bộ phận nhỏ hơn theo thời gian ( quý, tháng) để nghiên cứu
Cơ sở lí luận của phương pháp này là kết quả có được về một chỉ tiêu trong một thời kì là do sự tích lũy của nó trong nhều giai đoạn khác nhau mà
ở mỗi giai đoạn ấy sự cố gắng của doanh nghiệp là khác nhau Các tác động
Trang 5có tính quy luật khách quan cũng khác nhau Do vậy, cần phân tích chi tiết theo thời gian để nhận thức đầy đủ hơn về chỉ tiêu và về doanh nghiệp Mục đích và ý nghĩa của phương pháp này là:
+ Đánh giá nhịp điệu, tính ổn định trong đk chỉ tiêu
+ Xác định các quy luật khách quan và đặc tính của chúng ở mỗi gai đoạn, qua đó xác định tính mùa vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Phân tích chi tiết mỗi giai đoạn để nhận thức thực trạng và tiềm năng của từng giai đoạn
+ Đề xuất các biện pháp khai thác tiềm năng trong mỗi giai đoạn theo hướng phù hợp với các quy luật khách quan, tập trung nguồn lực cho các giai đoạn có tính mùa vụ và tận dụng các giai đoạn mà doanh nghiệp ít căng thẳng để củng cố nâng cao các nguồn lực của doanh nghiệp
2.2.2 Phương pháp chi tiết theo không gian
Theo phương pháp này để phân tích một chỉ tiêu nào đó do phạm vi không gian là toàn doanh nghiệp người ta chia chỉ tiêu ấy thành các bộ phân
để nhỏ hơn để nghiên cứu ( VD: chia giá trị sản xuất của doanh nghiệp thànhcác bộ phận nhỏ hơn là giá trị sản xuất của các phân xưởng, )
Cơ sở lí luận của phương pháp này là có nhiều chỉ tiêu kinh tế của doanhnghiệp được hình thành là do sự tích lũy về lượng của nhiều bộ phận không gian nhỏ hơn trong doanh nghiệp mà ở mỗi bộ phận không gian nhỏ hơn ấy
có sự khác nhau về năng lực, điều kiên sự cố gắng, sáng tạo cũng như tính phù hợp của công tác quản lí, do vậy cần phân tích chi tiết theo không gian
để hiểu sâu sắc hơn về chỉ tiêu và doanh nghiệp
Mục tiêu của phương pháp này là:
+ Đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu của mỗi bộ phận không gian qua
dó xác định vai trò tầm quan trọng của mỗi bộ phận không gian
Trang 6+ Đánh giá tính phù hợp của các quyết định quản lí đói với mỗi bộ phận không gian, nhằm phát hiện tiềm năng trong quản lí.
+ Phân tích chi tiết từng đơn vị không gian để phát hiện tiềm năng của chúng, đặc biệt chú ý đến những sáng kiến cải tiến, các kinh nghiệm sản xuất, quản lí tiên tiến nhằm khai thác triệt để tiềm năng của mỗi bộ phận không gian theo hướng cải tiến công tác quản lí, để đảm bảo tính phù hợp cao nhất đối các bộ phận không gian Cần phổ biến rộng rãi những sáng kiếncải tiến, xác định và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua
2.2.3 Phương pháp chi tiết theo nhân tố cấu thành
Trong một số trường hợp, để phân tích được một chỉ tiêu kinh tế nào đó cảu doanh nghiệp, người ta dựa vào phương trình kinh tế trong đó có mối quan hệ cấu thành chỉ tiêu từ nhiều thành phần, nhân tố khác nhau
Cơ sở lí luận của phương pháp này là có nhiều chỉ tiêu được cấu thành bởi nhiều nhân tố khác hẳn nhau Do vậy, việc phân tích chi tiết cho nhiều nhân
tố giúp ta hiểu sâu sắc hơn về chỉ tiêu và doanh nghiệp
Mục đích phân tích của phương pháp này là:
+ Đánh giá biến động của từng nhân tố và xác định mức độ ảnh hưởng của chúng, qua đó mà xác định trọng tâm phân tích
+ Phân tích chi tiết từng nhân tố cấu thành để thấy được nguyên nhân gây biến động riêng của chúng và qua tính chất của các nguyên nhân này mà xácđịnh tiềm năng của các nhân tố
+ Đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm khai thác triệt để hiệu quả tiềm năng của mỗi nhân tố trong thời gian tới
2.3 Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các thành phần, bộ phận, nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
Trang 72.3.1 Phương pháp cân đối.
- Điều kiện áp dụng phương pháp này: Dùng để tính toán xác định mức
độ ảnh hưởng của các thành phần, bộ phận đến chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tổng số
- Nội dung cơ bản của phương pháp này: Trong quan hệ tổng số mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của mọi bộ phận được xác định về mặt trị số bằng chínhchênh lệch của chúng
Chỉ tiêu tổng thể: y
Chỉ tiêu cá thể: a, b, c
+ Phương trình kinh tế: y = a + b + c
Giá trị chỉ tiêu kì gốc: y0 = a0 + b0 - c0
Giá trị chỉ tiêu kì nghiên cứu: y1 = a1 + b1 - c1
+ Xác định đối tượng phân tích: y = y1 – y0
+ Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:
* Ảnh hưởng của nhân tố a đến y:
- Ảnh hưởng tuyệt đối: ya = a1 - a0
- Ảnh hưởng tương đối: ya = (ya.100)/y0 (%)
* Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:
- Ảnh hưởng tuyệt đối: yb = b1 - b0
- Ảnh hưởng tương đối: yb = (yb.100)/y0 (%)
* Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:
- Ảnh hưởng tuyệt đối: yc = c1 - c0
- Ảnh hưởng tương đối: yc = (yc.100)/y0 (%)
Tổng ảnh hưởng của các nhân tố:
ya + yb + yc = y
ya + yb + yc = y = ( y.100)/y0 (%)
Trang 8- Kết quả tính toán sử dụng phương pháp cân đối được đưa vào bảng mẫu phân tích có tên gọi là bảng “ Bảng quan hệ các tổng số”.
2.3.2 Phương pháp thay thế liên hoàn
- Điều kiện áp dụng: Dùng để tính toán xác định mức độ ảnh hưởng của các thành phần, bộ phận, nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ phức tạp (quan hệ tích số, thương số, tích số và thương số kết hợp với tổng số, hiệu số)
- Nội dung phương pháp:
+ Viết phương trình kinh tế biểu hiện mối liên hệ giữa chỉ tiêu phân tích trong đó đặc biệt chú trọng đến trật tự sắp xếp các nhân tố Chúng phải đượcsắp xếp theo nguyên tắc: nhân tố số lượng đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau Các nhân tố đứng liền kề nhau có mối liên hệ mật thiết với nhau
và cùng phản ánh về một nội dung kinh tế nhất định theo quan hệ nhân quả + Tiến hành thay thế liên hoàn các nhân tố, trong đó:
- Thay thế liên hoàn có nghĩa là thay thế trị số của nhân tố vốn đang ở
kì gốc bằng trị số tương ứng của chúng ở kì nghiên cứu
- Việc thay thế được gọi là liên hoàn có nghĩa là việc thay thế được tiến hanh theo đứng trật tự sắp xếp các nhân tố trong phương trình kinh tế Nhân tố đứng trước thì thay thế trước nhân tố đứng sau thay thế sau, mỗi lầnthay thế chỉ thay thế một nhân tố và do vậy, trong phương trình kinh tế có bao nhiêu nhân tố thì sẽ có bấy nhiêu lần thay thế Việc thay thế nhân tố đứng sau phải trên cơ sở của việc thay thế nhân tố đứng trước có nghĩa là phải giữ nguyên trị số của các nhân tố đứng trước đã thay thế ở những lần trước đó Nói cách khác theo cách này người ta cho các nhân tố lần lượt biếnđộng theo đúng trật tự sắp xếp các nhân tố, nhân tố đứng trước biến động
Trang 9trước, biến động xong rồi thì mới đến các nhân tố liền kề sau nó biến động
và cứ thế biến động cho đến nhân tố cuối cùng
- Việc tính toán trong phân tích có sử dụng phương pháp này thường đượctập hợp vào bảng mẫu có tên gọi là “ Bảng quan hệ tích số”
2.3.3 Phương pháp chênh lệch
- Điều kiện áp dụng: Dùng để tính toán xác định mức độ ảnh hưởng của cácthành phần, bộ phận, nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ phức tạp ( quan hệ tích số, thương số, tích số và thương số kết hợp với tổng số, hiệu số)
- Nội dung phương pháp:
+ Viết phương trình kinh tế biểu hiện mối liên hệ giữa chỉ tiêu phân tích trong đó đặc biệt chú trọng đến trật tự sắp xếp các nhân tố Chúng phải đượcsắp xếp theo nguyên tắc: nhân tố số lượng đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau Các nhân tố đứng liền kề nhau có mối liên hệ mật thiết với nhau
và cùng phản ánh về một nội dung kinh tế nhất định theo quan hệ nhân quả + Tính mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích: Mức độảnh hưởng tuyệt đối của nhân tố nào đó đến chỉ tiêu phân tích cũng sẽ được tính bằng cách lấy chênh lệch của nhân tố đó nhân với giá trị kì nghiên cứu của các nhân tố đứng trước và giá trị kì gốc của các nhân tố đứng sau nó trong phương trình kinh tế
Trong bài phân tích của mình em đã sử dụng các phương pháp phân tích:
- Phương pháp so sánh tuyệt đối
- Phương pháp so sánh bằng số tương đối động thái.
- Phương pháp cân đối
Trang 10PHẦN II
NỘI DUNG PHÂN TÍCH
1 Đánh giá chunh tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
1.1 Mục đích, ý nghĩa.
1.1.1 Mục đích
Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh là một trong những công việc cần thiết và quan trọng của doanh nghiệp Nhìn chung, việc đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vì các mục đích sau:
- Đánh giá chung tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu chủ yếu của doanh nghiệp
- Đánh giá về việc thực hiện các chế độ đối với người lao động, việc chấp hành các chế độ chính sách theo quy định của Nhà nước
- Xác định các nhân tố gây ảnh hưởng và tính toán mức độ ảnh hưởng củacác nhân tố đến kết quả và hiện tượng kinh tế cần nghiên cứu
- Phân tích các nguyên nhân dẫn tới sự biến động của các nhân tố, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của hiện tượng kinh tế, từ đó xác định thực trạng của doanh nghiệp, các yếu tố doanh nghiệp làm tốt và các yếu tố doanh nghiệp làm chưa tốt
- Đề xuất các phương hướng và biện pháp để cải tiến công tác, khai thác các khả năng tiềm tàng trong nội bộ doanh nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và hạn chế loại bỏ các yếu tố tiêu cực
Trang 11- Kết quả của việc đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kì sẽ là cơ sở để doanh nghiệp đề ra chiến lược phát triểntrong thời gian tới.
1.1.2 Ý nghĩa
Việc đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp Thông qua việc đánh giá, người ta có thể xác định được mối quan hệ cấu thành, quan hệ nhân quả, qua đó mà phát hiện ra quy luật tạo thành, quy luật phát triển của các hiện tượng và kết quả kinh tế Từ đó, sẽ đưa ra được các quyết định đúng đắn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, nó còn giúp nhà quản lí thấy rõ kết quả các hoạt động của doanh nghiệp, thấy được điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp; từ đó mà đề xuất ra các biện pháp thích hợp Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty được đánh giá thông qua một
số chỉ tiêu chủ yếu, các chỉ tiêu này được chia thành 4 nhóm như sau:
Nhóm 1 Giá trị sản xuất.
Nhóm này thể hiện tổng giá trị hàng hóa sản xuất ra trong kì
Nhóm 2 Nhóm chỉ tiêu về lao động, tiền lương Bao gồm các chỉ tiêu
như:
a Tổng số lao động
b Năng suất lao động
c Tổng quỹ lương
d Tiền lương bình quân
Nhóm 3 Nhóm chỉ tiêu hành chính Bao gồm các chỉ tiêu sau:
a Tổng doanh thu
b Tổng chi phí
c Lợi nhuận
Trang 12Nhóm 4 Nhóm các chỉ tiêu quan hệ với ngân sách.
Bao gồm các chỉ tiêu sau:
độ tăng vừa phải Còn các chỉ tiêu lợi nhuận, thuế VAT, thuế TNDN lại có biến động giảm Trong đó, chỉ tiêu thuế VAT biến động nhiều nhất, thuế
Qua sự biến động của các chỉ tiêu trên, ta thấy, trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp làm ăn vẫn có lãi nhưng lại không được hiệu quả như kì gốc, tốc độ tăng chi phí giữa hai kì lớn hơn tốc độ tăng doanh thu giữa hai kì, vì vậy đã làm cho lợi nhuận có biến động giảm Điều này đòi hỏi trong thời gian tới doanh nghiệp cần đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu chi phí, cải thiện lợi nhuận của doanh nghiệp Mặc dù, lợi nhuận giảm nhưng
Trang 13các khoản thuế mà doanh nghiệp nộp cho ngân sách vẫn đầy đủ, tuy có giảm
so với kì trước, nó thể hiện doanh nghiệp luôn chấp hành tốt các chế độ chính sách đối với Nhà nước và người lao động
1.4 Phân tích chi tiết.
a) Giá trị sản xuất
Từ bảng phân tích ta thấy, giá trị sản xuất của doanh nghiệp kì nghiên cứu
là 414.255.648 (103đ), kì gốc là 375.547.623 (103đ), tăng là 38.708.025
quan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1 Doanh nghiệp đưa vào hoạt động một dây chuyền sản xuất mới
2 Chính sách hỗ trợ sản xuất của Nhà nước
3 Năng suất lao động của công nhân trong kì nghiên cứu tăng lên
4 Doanh nghiệp tổ chức được quy trình sản xuất hợp lí
5 Chi phí nguyên liệu ở kì nghiên cứu tăng so với kì gốc
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Doanh nghiệp đưa vào hoạt động một dây chuyền sản xuất mới
Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp tiến hành mở rộng chủng loại sản phẩm vì vậy doanh nghiệp đưa vào hoạt động một dây chuyền sản xuất mới, hiện đại, toàn bộ là được nhập khẩu ở nước ngoài về đồng thời cho thay thế một số máy móc cũ kĩ, lạc hậu ở các phân xưởng khác Để đưa dây chuyền này vào hoạt động được hiệu quả, doanh nghiệp phải thực hiện việc tuyển dụng và đào tạo kĩ càng cho người lao động nắm bắt được quy trình sản xuất, rồi đưa ra sự phân bổ hợp lí mỗi bộ phận công nhân vào từng khâu,
Trang 14từng giai đoạn sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm hoàn chỉnh với công suất lớn nhất, nhờ vậy số sản phẩm mỗi công nhân làm ra nhiều hơn, dẫn đến năng suất lao động tăng, giá trị sản suất của doanh nghiệp trong kì
nghiên cứu tăng Việc tăng sản lượng này đã giúp cho doanh nghiệp đáp ứngtốt nhu cầu của thị trường, tăng doanh thu cho doanh nghiệp Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Chính sách hỗ trợ sản xuất của Nhà nước
Trong kì nghiên cứu, nhằm khuyến khích sức sản xuất của các doanh nghiệp, Ngân hàng trung ương giảm mức lãi suất cho vay, tăng cung nguồn vốn vay cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho họ mở rộng quy mô sản xuất Nhờ có chính sách này của Nhà nước mà doanh nghiệp đã có đủ nguồnvốn để mở rộng thêm một dây chuyền sản xuất nữa cũng như sắm sửa thêm một số máy móc mới, góp phần phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân khách quan tích cực
b) Lao động – tiền lương
Trang 151 Doanh nghiệp mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực khác.
2 Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp tuyển thêm lao động để sản xuất, kịp tiến
độ giao hàng theo các đơn đặt hàng đã nhận của khách hàng
3 Tuyển thêm lao động để chuẩn bị thay thế cho số lao động sắp nghỉ hưu
4 Do việc thay đổi cơ cấu nhân sự, bổ sung thêm một số vị trí ở bộ phận quản lí
5 Nhu cầu thị trường về các sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường tăng cao
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Doanh nghiệp mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực khác
Trong kì nghiên cứu, ngoài việc doanh nghiệp mở rộng quy mô sản phẩm, còn thực hiện mở rộng lĩnh vực kinh doanh như đầu tư góp vốn liên doanh với doanh nghiệp khác, đầu tư tài chính, Việc mở rộng này là một điều tất yếu đối với doanh nghiệp, là cách tốt để doanh nghiệp san sẻ các rủi
ro giữa các loại hình kinh doanh nhằm tìm kiếm được mức lợi nhuận lớn nhất Để đảm bảo cho việc mở rộng diễn ra một cách thuận lợi, doanh
nghiệp đã tuyển chọn thêm một số lao động có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của công việc, số lao động này đã được doanh nghiệp sử dụng trong kì nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình, điều này làm cho số lao động của doanh nghiệp tăng lên Đây là
nguyên nhân chủ quan tích cực
Biện pháp:
- Tiến hành việc tuyển chọn kĩ lưỡng, đưa ra các yêu cầu tuyển chọn phù hợp với công việc được tuyển
Trang 16- Đề ra những chỉ tiêu mà công việc đòi hỏi để ngươi lao động phấn đấu.
- Đưa ra các chính sách ưu đãi nhân tài để giữ chân những lao động giỏi ở lại doanh nghiệp
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp tuyển thêm lao động để sản xuất, kịp tiến độ giao hàng theo các đơn đặt hàng đã nhận của khách hàng
Ngay ở đầu kì nghiên cứu, do làm tốt công tác marketing, sản phẩm của doanh nghiệp được thị trường biết đến rộng rãi, nhu cầu sản phẩm trên thị trường tăng cao, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng với khối lượnglớn và thời gian giao hàng gấp rút, trong khi đó với số lượng lao động hiện tại doanh nghiệp sẽ không đủ nguồn nhân lực để thực hiện Vì vậy, doanh nghiệp đã tiến hành tuyển thêm nhiều lao động hơn để bổ sung nguồn nhân lực đang thiếu, gấp rút thực hiện các đơn đặt hàng đã nhận, kịp thời giao hàng đúng thời điểm, từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp với khách hàng và tăng doanh thu Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
* Năng suất lao động
Từ bảng phân tích ta thấy, năng suất lao động ở kì nghiên cứu là
tương đối Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
Trang 171 Nguồn nguyên liệu được cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và đúng phẩm chất đảm bảo cho hoạt động sản xuất không bị gián đoạn, làm cho năng suất lao động của doanh nghiệp tăng.
2 Do ý thức làm việc của người lao động được nâng cao
3 Tay nghề của người lao động được nâng cao qua các lần được đào tạo vàhướng dẫn nâng cao tay nghề
4 Cải thiện môi trường làm việc, sửa sang phân xưởng làm việc thông thoáng và sạch sẽ hơn tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất
5 Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp có nhiều máy móc thiết bị hiện đại hơn.Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Nguồn nguyên liệu được cung cấp đầy đủ, kịpthời, đúng chủng loại và đúng phẩm chất đảm bảo cho hoạt động sản xuất không bị gián đoạn, làm cho năng suất lao động của doanh nghiệp tăng.Ngay từ đầu kì nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu thị trường và định lượng nhu cầu sản xuất của mình, doanh nghiệp đã chủ động xúc tiến việc kí kết hợp đồng với các nhà cung cấp nguyên liệu chính trên thị trường đồng thời
tổ chức hợp lí hóa trong quá trình thu mua nguyên liệu, tiến hành vận
chuyển và phân phối nguyên liệu cho các phân xưởng đúng lúc, đủ số lượng chất lượng, nhờ vậy giảm được thời gian chờ đợi, tránh việc gián đoạn trong sản xuất góp phần làm cho năng suất lao động tăng Đây là nguyên nhân chủquan tích cực
Biện pháp:
- Chủ động trong việc tìm nguồn cung nguyên liệu
- Bố trí hợp lí hóa giữa khâu thu mua vận chuyển và phân phối đến từng phân xưởng
Trang 18- Đầu tư hệ thống phương tiện vận tải thích hợp nhằm đảm bảo cho nguyên liệu được vận chuyển một cách an toàn nhất.
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Do ý thức làm việc của người lao động nâng cao
Ở đầu kì nghiên cứu, doanh nghiệp đã sa thải một số công nhân có tinh thần trách nhiệm làm việc kém như thường xuyên đến muộn, chốn việc, la
cà, đánh bạc, Đồng thời, đề ra chương trình thi đua sản xuất đối với từng
bộ phận, từng cá nhân; cá nhân có thành tích tốt trong lao động sẽ được khenthưởng, tặng quà; còn đối với cá nhân yếu kém thì sẽ có biện pháp nhắc nhở,giáo dục nếu còn tiếp tục thì sẽ bị đuổi việc Ngoài ra, doanh nghiệp còn tăng chính sách đãi ngộ đối với người lao động có thành tích tốt Những biệnpháp này đã có tác động tốt, tạo ra động lực cho người lao động tự động thayđổi tác phong làm việc, ý thức làm việc sao cho đạt kết quả tốt nhất Nhờ vậy, trong kì nghiên cứu, năng suất lao động của doanh nghiệp tăng so với kìgốc Đây là nguyên nhân khách quan tích cực
* Tổng quỹ lương
Từ bảng phân tích ta thấy, tổng quỹ lương ở kì nghiên cứu là 32.297.095 (103đ) , kì gốc là 36.454.497 (103đ), kì nghiên cứu đạt 112,87% tức là tăng
do các nguyên nhân sau:
1 Hệ số lương theo quy định của Nhà nước kì nghiên cứu tăng so với kì gốc
2 Trong kì nghiên cứu, khối lượng công việc lớn, doanh nghiệp tiến hành tăng ca sản xuất, làm tăng số giờ lao động dẫn đến tăng số tiền lương phải trả cho công nhân viên
3 Trong kì nghiên cứu, nhiều công nhân được nâng bậc thợ
Trang 194 Ở kì nghiên cứu, tiền thưởng cho công nhân viên tăng.
5 Tăng các khoản tiền trợ cấp cho công nhân
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Hệ số lương theo quy định của Nhà nước kì nghiên cứu tăng so với kì gốc
Ở đầu kì nghiên cứu, ngoài việc điều chỉnh mức lương tối thiểu Chính phủ còn tiến hành nâng bậc hệ số lương Điều này đã làm cho mức lương của đại bộ phận người lao động trong doanh nghiệp tăng, đặc biệt là đối với những công việc đòi hỏi trình độ, kiến thức chuyên sâu, từ đó làm cho tổng quỹ lương của doanh nghiệp tăng Việc tăng quỹ lương tác động làm tăng chi phí của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Trong kì nghiên cứu, khối lượng công việc lớn,doanh nghiệp tiến hành tăng ca sản xuất, làm tăng số giờ lao động dẫn đến tăng số tiền lương phải trả cho công nhân viên
Trong kì nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô sản xuất, doanh nghiệp đã xúc tiến kí kết được nhiều hợp đồng lớn Trong số đó, phần lớn các hợp đồng có thời hạn giao hàng ngắn, tương đối gấp do nhu cầu của khách hàng về hàng hóa trên thị trường tăng cao Tuy nhiên doanh nghiệp vẫn chấp nhận kí kết hợp đồng để giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài Nhằm giao hàng hàng được đúng với hợp đồng, doanh nghiệp đã tiến hành việc tăng ca sản xuất và để khuyến khích tinh thần làm việc của công nhân doanhnghiệp trả tiền lương tăng ca cao hơn Điều này đã làm cho tiền lương trả cho công nhân tăng lên, dẫn đến tổng quỹ lương của doanh nghiệp tăng.Việcnày tuy làm cho chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên nhưng lại giúp doanh nghiệp nâng cao được uy tín với khách hàng và là cơ sở cho các đơn
Trang 20đặt hàng sau này, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
* Tiền lương bình quân
Từ bảng phân tích ta thấy, tiền lương bình quân ở kì nghiên cứu là 10.697 (103đ/người/tháng), ở kì gốc là 9.647 (103đ/người/tháng), kì nghiên cứu đạt 110,88% so với kì gốc, tức là tăng 10,88% tương ứng là 1.050
1 Doanh nghiệp thay đổi cơ cấu lao động theo hướng tăng số lao động có trình độ kĩ thuật cao và giảm số lao động giản đơn
2 Ảnh hưởng của lạm phát làm đồng tiền trượt giá
3 Trong kì nghiên cứu, số giờ tăng ca của công nhân tăng
4 Năng suất lao động kì nghiên cứu tăng so với kì gốc
5 Tổng quỹ lương tăng
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Doanh nghiệp thay đổi cơ cấu lao động theo hướng tăng số lao động có trình độ kĩ thuật cao và giảm số lao động giản đơn
Trang 21Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp đưa vào sản xuất một dây chuyền sản xuất mới, được nhập khẩu từ nước ngoài về Nhằm đưa hệ thống dây chuyềnnày vào sản xuất được hiệu quả, trước hết doanh nghiệp đã phải thuê một số chuyên gia từ nước ngoài về để điều hành hệ thống, hướng dẫn cho công nhân kịp thời tiếp thu công nghệ hiện đại và giám sát quá trình sản xuất của dây chuyền, ngoài ra doanh nghiệp cũng phải thuê một số lớn các công nhân
có trình độ kĩ thuật, tay nghề bền vững, được đào tạo bài bản qua trường lớp
để tham gia sản xuất trên dây chuyền này Đồng thời, trong kì doanh nghiệp còn mở rộng kinh doanh sanh lĩnh vực khác, vì vậy doanh nghiệp cần phải tiến hành tuyển dụng các bộ phận nhân viên có trình độ, bằng cấp, am hiểu
về việc kinh doanh trên lĩnh vực đó Chính vì thế mà đã làm cho kết cấu lao động của doanh nghiệp thay đổi theo hướng lao động kĩ thuật cao tăng lên, lao động giảm đơn có xu hướng giảm xuống Và tiền lương trả cho lao động
kĩ thuật cao cao hơn vì vậy làm tiền lương bình quân của doanh nghiệp tăng.Nhưng nhờ vào việc sử dụng lượng lao động cao này mà giá trị sản xuất của doanh nghiệp tăng trong kì, chất lượng sản phẩm được nâng cao từ đó làm tăng doanh thu của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.Biện pháp:
- Tổ chức tốt công tác tuyển dụng để tuyển đúng người, đúng việc
- Tuyển dụng ở mức vừa phải tránh việc dư thừa
- Trả lương theo đúng năng lực, mức độ đóng góp của người lao động vào hoạt động của doanh nghiệp
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Ảnh hưởng của lạm phát làm đồng tiền trượt giá
Ở cuối kì gốc, tình hình lạm phát sảy ra làm giá cả hàng hóa tăng Để đảm bảo mức sống cho người dân, chính phủ đã quyết định tăng mức lương
Trang 22tối thiểu cho người lao động vào đầu kì nghiên cứu Do để thực hiện chính sách này doanh nghiệp phải tăng mức lương cơ bản cho người lao động nên làm cho mức tiền lương bình quân tăng, từ đó làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
c) Chỉ tiêu tài chính
* Tổng thu
trên có thể do các nguyên nhân sau:
1 Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp có khoản thu từ chênh lệch giá trị tàisản cố định góp vốn liên doanh
2 Mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp ở kì nghiên cứu được mở rộng, thực hiện tốt công tác quản lí nên thu hút được nhiều khách hàng hơn, từ đó làm tăng khối lượng hàng bán ra
3 Doanh thu từ hoạt động tài chính tăng
4 Giá bán các sản phẩm của doanh nghiệp kì nghiên cứu tăng so với kì gốc
5 Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp thu được các khoản thu khó đòi từ năm trước
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp có khoản thu từ chênh lệch giá trị tài sản cố định góp vốn liên doanh
Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp có tiến hành việc mở rộng hoạt động kinh doanh, nhận góp vốn liên doanh từ một số doanh nghiệp khác bằng tài
Trang 23sản cố định Sau khi tiến hành đánh giá lại tài sản, giá trị đánh giá lại cao hơn giá trị của tài sản được ghi trong sổ sách, ngay trong kì phần chênh lệch này đã được ghi nhận vào khoản thu nhập khác, vì vậy đã làm tăng tổng thu cuar doanh nghiệp trong kì Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp ở kì nghiên cứu được mở rộng, thực hiện tốt công tác quản lí nên thu hút được nhiều khách hàng hơn, từ đó làm tăng khối lượng hàng bán ra
Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp tiến hành sản xuất một số sản phẩm mới, để đưa các sản phẩm này ra lưu thông trên thị trường, doanh nghiệp đã cho mở thêm một số cửa hàng mới để giới thiệu, tiếp thị các sản phẩm mới này, đồng thời tiến hành hoạt động quảng cáo trên Internet hay các phương tiện truyền thông khác, mở các kiot bán hàng di động, tặng quà, khuyến mại, cho khách hàng Nhờ vậy, sản phẩm của doanh nghiệp đã được đông đảo người tiêu dùng biết đến, cùng với việc áp dụng quy trình công nghệ mới vào trong sản xuất đã nâng cao chất lượng của sản phẩm, tạo được lòng tin đối với người tiêu dùng, từ đó dẫn đến khối lượng hàng bán ra nhiều hơn,doanh thu tăng Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
* Tổng chi
Trang 24Từ bảng phân tích ta thấy, tổng thu ở kì nghiên cứu đạt 110,81% so với kì
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1 Giá nguyên liệu đầu vào tăng, làm tăng tổng chi phí của doanh nghiệp
2 Công tác quản lí và phân bổ một số khoản chi phí quản lí doanh nghiệp bất hợp lí
3 Chi phí vận chuyển thuê ngoài tăng
4 Chi phí các dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước, điện thoại, nhiên liệu tăng
5 Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp có kí được một số hợp đồng xuất khẩu lớn, để đảm bảo có đủ vốn cho hoạt động sản xuất, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng do đó mất thêm chi phí trả lãi tiền vay
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Giá nguyên liệu đầu vào tăng, làm tăng tổng chi phí của doanh nghiệp
Trong kì nghiên cứu, do nguồn cung nguyên liệu bất ổn định làm cho giá nguyên liệu trên thị trường tăng, trong khi đó nhu cầu nguyên liệu sản xuất của doanh nghiệp tăng cao do đầu kì kí kết được một số hợp đồng với số lượng lớn Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất không bị gián đoạn, có đủ số sản phẩm để giao cho khách hàng, doanh nghiệp phải thu mua nguyên liệu với giá cao vì vậy làm cho tổng chi phí của doanh nghiệp tăng Đây là
nguyên nhân khách quan tiêu cực
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Công tác quản lí và phân bổ một số khoản chi phí quản lí doanh nghiệp bất hợp lí
Trang 25Theo thống kê ở cuối kì nghiên cứu, có một số khoản chi phí mà bộ phận quản lí của doanh nghiệp phân bổ không được hợp lí như công tác phí quá nhiều, không phù hợp với tính chất công việc được giao; hay lãng phí trong việc tổ chức hội nghị, hội thảo; khoản trích tiền thưởng cho bộ phận quản lí quá nhiều không đúng với thành tích, kết quả mà họ mang lại, Tất cả các khoản chi phí này đã làm cho chi phí quản lí của doanh nghiệp tăng, làm chochi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.
Biện pháp:
- Cắt giảm bớt các khoản chi phí không cần thiết
- Điều chỉnh mức phân bổ chi phí cho hội họp tiếp khách, mức lương thưởngcho nhân viên
* Lợi nhuận
Từ bảng phân tích ta thấy, lợi nhuận ở kì nghiên cứu đạt 96,52% so với kì
động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1.Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp phải thanh toán một số khoản vay lớn ở kì trước
2 Do biến động giá nhiên liệu trên thị trường làm cho giá các dịch vụ thuêngoài tăng và chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp tăng
3 Chi phí hoạt động tài chính tăng
4 Chi phí quản lí doanh nghiệp trong kì nghiên cứu tăng
5 Thu nhập từ các hoạt động khác của doanh nghiệp trong kì nghiên cứu giảm
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
Trang 26+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp phải thanh toán một số khoản vay lớn ở kì trước.
Ở kì gốc, để đảm bảo đủ nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp đã tiến hành vay vốn ở một số ngân hàng với kì hạn
là một năm, trong suốt thời gian vay doanh nghiệp chỉ phải thanh toán phần lãi phát sinh còn số vốn gốc sẽ được thanh toán ở kì sau đó chính là kì
nghiên cứu Do số vốn vay của doanh nghiệp ở kì gốc khá lớn nên trong trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp đã phải trích ra một khoản tiền lớn để trả
nợ, do đó nó đã làm cho lợi nhuận trong kì của doanh nghiệp giảm Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực
Biện pháp:
- Cân đối điều chỉnh mức thu chi để hạn chế số tiền vay; tiến hành việc giả nợ từng phần, không để tích nợ,dẫn đến số vốn nợ quá nhiều, làm phát sinh chi phí lãi
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Do biến động giá nhiên liệu trên thị trường làm cho giá các dịch vụ thuê ngoài tăng và chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp tăng
Trong kì nghiên cứu, giá nhiên liệu trên thị trường thế giới biến động tăng so với kì gốc, cụ thể là giá dầu thô trên thị trường đã tăng thêm 45-56 USD/thùng, giá dầu thô tăng đã làm cho giá xăng dầu cũng tăng theo, mà đây là hai nhiên liệu chính được sử dụng để vận hành máy móc tham gia vàohoạt động sản xuất Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới tăng, làm cho giá nhiên liệu trong nước cũng tăng theo, thậm chí còn tăng với tốc độ cao hơn
cả so với thế giới Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp vì nó phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhiên liệu, khi giá nhiên liệu tăng giá kéo theo giá các dịch vụ thuê ngoài của doanh nghiệp tăng theo
Trang 27như dịch vụ vận chuyển, Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp tăng ca sản xuất nhiều , máy móc hoạt động thường xuyên, tiêu hao nhiều nhiên liệu mà giá nhiên liệu lại tăng dẫn đến tăng chi phí sản xuất chung, từ đó làm tăng tổng chi phí của doanh nghiệp và tác động làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
d) Quan hệ với ngân sách
* Thuế VAT
Từ bảng phân tích ta thấy, thuế VAT ở kì nghiên cứu đạt 88,34% so với kì
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1.Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp tiến hành hoạch toán kê khai rõ ràng các hóa đơn GTGT của hàng hóa, dịch vụ
2 Do mức thuế suất VAT của các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra giảm
3 Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT
4 Doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi thuế
5 Doanh thu từ các hoạt động không chịu thuế tăng
Giả định trong 5 nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ 2 là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp tiến hành hoạch toán kê khai rõ ràng các hóa đơn GTGT của hàng hóa, dịch vụ
Ở kì gốc, do doanh nghiệp không có sự hoạch toán rõ ràng, không kê khai riêng được mức thuế suất đối với từng mặt hàng nên đã phải nộp thuế với mức thuế suất cao nhất, đồng thời không tổ chức tốt công tác lưu trữ chứng từ làm mất một vài hóa đơn VAT của hàng hóa đầu vào có giá trị lớn làm cho số thuế phải đóng cao hơn Nhận thấy những khuyết điểm này,
Trang 28trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp đã chủ động tiến hành tổ chức hướng dẫn các bộ phận có liên quan trong việc ghi chép hóa đơn sao cho hợp lí, rõ ràng,giành mạch các khoản mục nhằm tạo điều kiện thuận tiện kê khai thuế sau này, đồng thời cũng yêu cầu bộ phận lưu trữ sổ sách chứng từ cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tránh việc làm mất mát, hư hỏng hóa đơn như kì gốc,
có thể sẽ sử dụng biện pháp phạt hành chính nếu mà để sảy ra tình trạng nhưvậy mà gây ra hậu quả lớn Nhờ áp dụng tốt các biện pháp này, cuối kì nghiên cứu, các hóa đơn được kê khai rõ ràng, đầy đủ vì vậy số thuế VAT
mà doanh nghiệp phải đóng giảm đi rõ rệt trong khi mà doanh thu của doanhnghiệp vẫn tăng so với kì gốc Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
Biện pháp:
- Thường xuyên kiểm tra việc ghi chép và lưu trữ các hóa đơn, chứng từ
- Dần dần công nghệ hóa việc lưu trữ và quản lí dữ liệu bằng hệ thống
dữ liệu điện tử, từ từ loại bỏ việc lưu trữ bằng phương pháp ghi sổ truyền thống, nhằm rút ngắn thời gian và thuận tiện cho việc quản lí
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Do mức thuế suất VAT của các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra giảm
Trong kì nghiên cứu, chính sách về thuế VAT của Nhà nước có sự thay đổi Do nhận thấy sự thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của một số mặt hàng và nhằm khuyến khích nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của người dân, Nhànước đã quyết định giảm mức thuế suất VAT của một số mặt hàng, trong số
đó có rất nhiều các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất Điều này đã làm cho
số thuế VAT đầu ra của doanh nghiệp giảm mà doanh nhiệp lại đóng thuế VAT theo phương pháp khấu trừ, vì vậy mà đã làm giảm thuế VAT mà
Trang 29doanh nghiệp phải đóng góp trong kì Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
* Thuế TNDN
Từ bảng phân tích ta thấy, thuế TNDN ở kì nghiên cứu đạt 96,52% so với kì
động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1 Trong kì nghiên cứu, Nhà nước khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất nên doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất TNDN ưu đãi
2 Chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp tăng, làm cho lợi nhuận giảm
3 Thu nhập từ các hoạt động khác của doanh nghiệp giảm
4 Chi phí quản lí doanh nghiệp chi không hợp lí làm cho lợi nhuận giảm
5 Doanh nghiệp tăng doanh thu thuộc các đối tượng không chịu thuế TNDN
Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Trong kì nghiên cứu, Nhà nước khuyến khích
hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất nên doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất TNDN ưu đãi
Do trong kì nghiên cứu, để khuyến khích các doanh nghiệp mở các cơ sở sản xuất kinh doanh ở những vùng kinh tế khó khăn, dân cư thưa thớt nhằm
hỗ trợ những nơi đó phát triển, nâng cao cuộc sống của người dân thì Nhà nước thực hiện khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất bằng cách giảm mức thuế suất TNDN trong thời hạn 10 năm Đây là năm đầu tiên mà doanh nghiệp được hưởng mức thuế này, vì vậy đã làm cho thuế TNDN của doanh nghiệp giảm Đây là nguyên nhân khách quan tích cực
Trang 30+ Xét nguyên nhân thứ hai: Chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp tăng, làm cho lợi nhuận giảm.
Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp kí kết được nhiều hợp đồng xuất khẩu hơn nhưng do doanh nghiệp trong thời kì này doanh nghiệp cũng đang tiến hành mở rộng quy mô sản xuất vì vậy không đủ nguồn vốn cho việc sản xuất Để có đủ vốn cho hoạt động sản xuất, doanh nghiệp đã tiến hành việc vay vốn từ ngân hàng và phải chịu mức lãi suất vay, sẽ được thanh toán vào cuối kì nghiên cứu,vì vậy làm cho chi phí hoạt động tài chính tăng Đồng thời, trong kì nghiên cứu doanh nghiệp cũng tiến hành mở rộng sang các lĩnhvực kinh doanh khác, do bước đầu mới tham gia vào các lĩnh vực này nên doanh nghiệp vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm mặc dù có bộ máy nhân viên khá giỏi về chuyên môn, hoạt động vẫn chưa được hiệu quả, tuy có doanh thu nhưng chi phí bỏ ra lại nhiều hơn, do vậy đã làm cho lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm, dẫn đến lợi nhuận chung của doanh nghiệp giảm Đây
là nguyên nhân chủ quan tiêu cực
Biện pháp:
- Tiến hành nghiên cứu kĩ trước khi đưa ra lựa chon đầu tư phù hợp
- Nhanh chóng hoàn trả lại vốn cho ngân hàng sau khi nhận được tiền thanh toán của khách hàng để tránh các khoản lãi phát sinh
- Cân đối thu chi hợp lí
* Thuế XNK
Từ bảng phân tích ta thấy, thuế XNK ở kì nghiên cứu đạt 115,05% so với kì
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1 Doanh nghiệp thực hiện tốt các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa đã kí kết
Trang 312 Trong kì nghiên cứu, mức thuế suất của các nguyên liệu mà doanh nghiệp nhập khẩu về để sản xuất tăng.
3 Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp có nhập khẩu một dây chuyền sản xuất
từ nước ngoài về
4 Khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên
5 Nhà nước khuyến khích xuất khẩu bằng cách điều chỉnh tỷ giá hối đoái.Giả định trong năm nguyên nhân trên nguyên nhân thứ hai và nguyên nhân thứ ba là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Trong kì nghiên cứu, mức thuế suất của các nguyên liệu mà doanh nghiệp nhập khẩu về để sản xuất tăng
Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn cùng với việc doanh nghiệp tổ chức sản xuất thêm nhiều sản phẩm mới Vì vậy, doanh nghiệp đã phải tiến hành thu mua nhiều loại nguyên liệu hơn, trong số
đó thì khoảng 45% giá trị nguyên liệu là được nhập khẩu từ thị trường nước ngoài Do nhận thấy các doanh nghiệp trong nước có xu hướng thích nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ thị trường nước ngoài chứ ít sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước Nhằm bảo vệ thị trường nội địa, khuyến khích nhu cầu tiêu dùng hàng nội địa của các doanh nghiệp, trong kì nghiên cứu, Nhà nước tiến hành tăng thuế xuất nhập khẩu của nhiều mặt hàng vào thị trường Việt Nam, trong số đó có các sản phẩm mà doanh nghiệp nhập khẩu về để sản xuất, vì vậy đã làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp từ
đó làm tăng giá thành sản phẩm bán ra, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm với các sản phẩm cùng loại trên thị trường nhưng được sản xuất từ nguồn nghuyên liệu nội địa Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực
+ Xét nguyên nhân thứ ba: Ở kì nghiên cứu, doanh nghiệp có nhập khẩu mộtdây chuyền sản xuất từ nước ngoài về
Trang 32Trong kì nghiên cứu, để phục vụ cho nhu cầu mở rộng sản xuất của mình, doanh nghiệp đã tiến hành nhập khẩu toàn bộ một dây truyền sản xuất từ nước ngoài về, do dây chuyền này có giá trị khá lớn cộng thêm mức thuế suất nhập khẩu của nó cao nên doanh nghiệp đã phải tốn thêm một khoản chiphí lớn để đóng thuế nhập khẩu Vì vậy, khoản chi phí này đã được hoạch toán ngay vào kì này, vì vậy đã làm cho tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.
* Thuế thu nhập cá nhân
Từ bảng phân tích ta thấy, thuế thu nhập cá nhân ở kì nghiên cứu đạt
so với kì gốc Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1 Doanh nghiệp tăng các khoản phụ cấp theo lương cho người lao động
2 Các khoản trừ gia cảnh giảm
3 Tăng mức tiền lương thưởng cho các công nhân có thành tích tốt
4 Tiền lương bình quân ở kì nghiên cứu tăng so với kì gốc
5 Ở kì nghiên cứu, công nhân làm thêm giờ nhiều nên tiền lương của họ cao hơn
Giả định trong 5 nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ 2 là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Doanh nghiệp tăng các khoản phụ cấp theo lương cho người lao động
Trang 33Trong kì nghiên cứu, do Nhà nước có sự điều chỉnh tăng mức lương bản, làm cho các khoản phụ cấp tính theo lương cũng tăng theo Doanh nghiệp cũng chủ động điều chỉnh mức lương cho người lao động theo sự thay đổi này nên đã làm cho tiền lương của người lao động tăng lên đáng kể, nhiều lao động trước đây không phải đóng thuế TNCN nhưng sau khi có sự điều chỉnh này thì đã phải tham gia đóng góp thêm cả thuế THCN, vì vậy đã làm cho số thuế phải đóng góp của doanh nghiệp tăng lên Việc điều chỉnh tăng lương này tuy làm cho chi phí của doanh nghiệp trong kì tăng lên nhưng do việc doanh nghiệp đã chủ động thực hiện điều chỉnh tăng theo đã thể hiện được sự quan tâm của doanh nghiệp đối với người lao động, làm cho họ tin tưởng hơn, khích lệ được tinh thần làm việc của người lao động Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
Biện pháp:
- Cần có chế độ tăng lương hợp lí sao cho vừa khuyến khích người lao động tăng gia sản xuất, vừa đảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Các khoản trừ gia cảnh giảm
Trong kì nghiên cứu, do nhận thấy một số vướng mắc trong quá trình đưaluật thuế TNCN vào sử dụng, Nhà nước đã ban hành một số quy định mới nhằm điều chỉnh các bất cập này, trong đó có việc điều chỉnh các mức giảm trừ gia cảnh, một số trường hợp trước đây được giảm trừ vào thu nhập tính thuế thì nay đã bị cắt giảm Điều này tác động không nhỏ tới doanh nghiệp khi có nhiều bộ phận công nhân trước đây được giảm trừ nhưng bây giờ lại không được giảm trừ làm cho thu nhập tính thuế cao hơn, số tiền thuế phải nộp tăng lên Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực
* BHXH
Trang 34Từ bảng phân tích ta thấy, BHXH ở kì nghiên cứu đạt 122,14% so với kì
động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1 Số công nhân mà doanh nghiệp có trong kì nhiều hơn so với kì gốc
2 Nhà nước tăng mức tỷ lệ trích BHXH bắt buộc đối với doanh nghiệp
3 Mức lương cơ bản kì nghiên cứu tăng so với kì gốc
4 Có nhiều lao động được tăng bậc lương
5 Tổng quỹ lương tăng
Giả định trong 5 nguyên nhân trên nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ 2 là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động này
+ Xét nguyên nhân thứ nhất: Số công nhân của doanh nghiệp có trong kì nhiều hơn so với kì gốc
Ở đầu kì nghiên cứu, một số công nhân nữ đến thời kì nghỉ theo chế độ thai sản và một số bộ phận công nhân đến tuổi nghỉ hưu,vì vậy đã làm cho
số công nhân bị giảm Trong khi đó, ngay đầu kì nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn và lên kế hoạch tiến hành việc sản xuất một số sản phẩm mới ở trong kì Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình không bị gián đoạn do thiếu nguồn nhân lực, trong kì nghiên cứu doanh nghiệp tiến hành việc tuyển thêm lao động, vừa là để bổ sung nguồn nhân lực bị thiếu, vừa để cung cấp thêm nhân lực cho việc mở rộng sản xuất của mình Do đó, đã làm cho số lao động của doanh nghiệp tăng, dẫn đến BHXH tăng.Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
Biện pháp:
- Cần xem xét và điều chỉnh số lao động ở mức phù hợp với quy mô của doanh nghiệp
Trang 35- Thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với người lao động như: đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm, thất nghiệp,
+ Xét nguyên nhân thứ hai: Nhà nước tăng mức tỷ lệ trích BHXH bắt buộcđối với doanh nghiệp
BHXH ở đây được hiểu là bao gồm: BHXH, BHYT, BHTN Trong kì
nghiên cứu, Nhà nước đã tiến hành việc điều chỉnh tỉ lệ trích BHXH đối với doanh nghiệp Cụ thể là: ở kì gốc, đối với người sử dụng lao động thì mức đóng góp của từng loại là BHXH 17%, BHYT 3%, BHTN 1%; đối với người lao động thì tỉ lệ này là BHXH 7%, BHYT 1,5%, BHTN 1%, tổng cộng phải đóng góp 30,5% theo mức tiền lương tiền công ghi trong hợp đồng lao động Nhưng trong kì nghiên cứu, tỉ lệ trích này đã tăng lên, tổng là32,5% , trong đó người sử dụng lao động phải trích thêm 1% BHXH và người lao động cũng phải trích thêm 1% BHXH Vì vậy mà đã làm cho mức đóng góp BHXH của doanh nghiệp kì nghiên cứu tăng so với kì gốc, làm cho tổng chi phí của doanh nghiệp tăng ( vì doanh nghiệp phải đóng 22% trong tổng số 32,5% phải đóng góp) Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực
1.5 Tiểu kết chương 1
1.5.1 Kết luận
Qua phân tích tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của doanh nghiệp, ta rút ra kết luận sau: trong kì nghiên cứu, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của doanh nghiệp đều có biến động tăng
Trước tiên ta thấy các chỉ tiêu giá trị sản xuất và chỉ tiêu tổng số lao độngtăng biểu hiện sự tăng trưởng về quy mô sản xuất của doanh nghiệp Trong
kì nghiên cứu, doanh nghiệp đã tiến hành đưa vào sản xuất thêm một dây chuyền sản xuất mới, trang bị thêm một số máy móc móc mới nhằm tăng sản