bìa tập lớn môn khinh tế ngoại thương trường đại học hàng hải, thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ của việt nam giai đoạn 20062010 và giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ
Trang 1MỤC LỤC
II Nội dung
Chương 1.Khái quát về hàng thủ công mĩ nghệ ở Việt Nam
1.Đặc điểmcủa hàng thủ công mĩ nghệ
2.Tiềm năng phát triển ngành thủ công mĩ nghệ
3.Các mặt hàng thủ công mĩ nghệ của Việt Nam
2.Cơ cấu mặt hàng thủ công mĩ nghệ
Trang 22.Về phía Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ
2.1 Hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường
2.2 Kết hợp sản xuất với xuất khẩu
2.3 Tạo nguồn hàng kịp thời và có chất lượng
2.4 Duy trì, củng cố quan hệ làm ăn với bạn hàng cũ và tìm kiếm bạn hàng mới
2.5 Quản lý chặt chẽ trong khâu thanh toán
2.6 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động xuất khẩu 2.7 Tạo thương hiệu và không ngừng nâng cao uy tín thương hiệu trên thị trường quốc tế
2.8 Thành lập sàn giao dịch hàng thủ công mỹ nghệ trên mạng Internet
III Kết luận
I LỜI MỞ ĐẨU
Trang 3Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa –hiện đại hóa hướng về xuất khẩu, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đồng thời từng bước tham gia hội nhập nền kinh tế khu vực , kinh tế thế giới thì việc tận dụng những nguồn tài nguyên sẵn có trong nước để phất triển những mặt hàng xuất khẩu là hết sức quan trọng hiện nay.
Trong “ Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010” của Bộ Thương mại, định hướng phát triển nhóm hàng thủ công mĩ nghệ (TCMN) có vị trí hết sức quantrọng Hàng thủ công mĩ nghệ sản xuất chủ yếu bằng nguồn lực có sẵn trong nước,nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm trong sản phẩm thấp :3-5% giá trị xuất khẩu Vìvậy , TCMN là một trong số những ngành được đánh giá có tiềm năng phát triển bền vững , xuất khẩu lớn và tỉ suất lợi nhuận cao , không chỉ mang lại lợi ích thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội lớn
Chính sách mở cửa nền kinh tế và tích cực tham gia vào tiến trình khu vực hóa , toàn cầu hóa đã mở ra nhiều cơ hội cho hàng thủ công mĩ nghệv i ệ c x u ấ t k h ẩ u
h à n g TCMN đã thật sự thổi một luồng sinh khí mới vào các làng nghề truyền thống, tạo côngăn việc làm cho hàng triệu lao động đồng thời duy trì và phát triển được các ngànhnghề truyền thống với các nghệ nhân, thợ giỏi góp phần vào việc duy trì các di sản văn hoá dântộc từ đời này qua đời khác Trải qua nhữngbước thăng trầm, hàng TCMN của Việt Namhiện đã có mặt trên 163 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, được nhiều người ưa chuộng.Tuy nhiên mức độ phát triển của ngành thủ công mĩ nghệ vẫn còn hạn chế so với tiềm năng của nó: dặc biệt những năm gần đây doanh thu xuất khẩu hàng thủcông mĩ nghệ mặc dù có tăng trưởng nhưng vẫn không đạt được chỉ tiêu đề ra , ngoài ra một số mặt hàng gốm sứ mĩ nghệ , các mặt hàng TCMN còn lại đã bộc lộ nhiều điểm yếu như mẫu mã chậm cải tiến, thiếu mặt hàng mới, kiểu dòng sản phẩm không theo kịp tập quán và thói quen của thị trường xuất khẩu…
Xuất phát từ ý tưởng đó cùng những kiến thức học ở trường , em đã
chọn đề tài “ Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ của Việt
Nam giai đoạn 2006-2010 và những giải phấp thúc đẩy xuất khẩu hàng TCMN” làm đề tài cho bài tập lớn môn Kinh tế ngoại thương.
Do trình độ còn hạn chế và việc thu thập thong tin từ nhiều nguồn khác nhau nên không thể tránh được những thiếu sót mong thầy (cô ) thông cảm Cuối cùng , em xin chân thành cảm ơn!
II.NỘI DUNG
Trang 4Chương 1
Khái quát chung về hàng thủ công mĩ nghệ của Việt Nam.
1.Đặc điểm của hàng thủ công mĩ nghệ (TCMN).
Không giống như những nhóm hàng hóa khác, hàng thủ công mỹ nghệ có
những đặc điểm riêng của mình đó là sự khác biệt trong mục đích tiêu dùng sảnphẩm TCMN:
Thứ nhất, Hàng TCMN có xu hướng tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu vừadùng lại vừa chơi Nghĩa là, người tiêu dùng quan tâm cả đến mặt thẩm mỹ lẫn
lợi ích sử dụng của sản phẩm Tính chất mỹ thuật của loại sản phẩm này đượctạo nên bởi hình dáng sản phẩm, những đường nét và họa tiết trên mặt sản phẩm.Còn tính chất sử dụng được người tiêu dùng lựa chọn căn cứ vào công dụng,
kích cỡ, hình dáng của sản phẩm Với đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo củacác thế hệ thợ thủ công đã tạo nên những sản phẩm TCMN đậm nét độc đáo,tinh xảo, hoàn mỹ
Thứ hai, Hàng TCMN thiên về tính nghệ thuật, hơn nữa người tiêu dùng
coi trọng tính thẩm mỹ của sản phẩm này hơn: 1 chiếc giỏ tre treo trên tườnghay 1 pho tượng gốm Phật bày trong tủ… tất cả tăng vẻ sang trọng, lịch sự vànghệ thuật của căn phòng, ngôi nhà, khách sạn.Vậy là, hàng TCMN trở thànhvật trang trí nội thất hay thú chơi sưu tập của một số người vốn yêu thích các sảnphẩm truyền thống của Việt Nam Tại sao người tiêu dùng lại đề cao tính thẩm
mỹ của nghành hàng này vậy? Lí do là chính các sản phẩm TCMN mang đậmchất văn hóa Nó thường biểu đạt phong cảnh sinh hoạt, con người, cảnh quanthiên nhiên, lễ hội truyền thống, quan niệm về tự nhiên…Những nét chấm phá nghệ thuật trên tranh sơn mài, khảm trai, tranh lụa…đã thể hiện đất nước conngười và tâm hồn tình cảm Việt Nam
Thứ ba, Hàng TCMN để dùng nhiều hơn chơi Việc các sản phẩm làm ra ngoài việc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài còn để tiêu dùng trong nước Bộ
ấm chén, bát đĩa, bình đựng rượu, rổ, bàn ghế, lụa…thể hiện rõ công dụng của
nó hàng ngày Vậy là, hàng TCMN không phải chỉ để ngắm, thưởng thức màcòn đi sâu vào đời thường Với nguyên liệu như mây, tre,…có ở trong nước,
hàng TCMN được tập trung ở các làng nghề, sản xuất theo lối truyền thống, quytrình sản xuất đơn giản, chi phí sản xuất thấp, giá thành không quá cao so vớithu nhập của người tiêu dùng Việt Nam Do vậy, các mặt hàng như gốm sứ, đồ
gỗ, hàng mây tre đan, hàng thổ cẩm…luôn song hành trong cuộc sống cùng conngười
2.Tiềm năng phát triển của nghành hàng TCMN
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt sau thời kỳ đổi mới khi mọi đơn vị
sản xuất kinh doanh được phát huy quyền tự chủ, các mặt hàng TCMN truyềnthống không những không mất đi mà còn đứng vững, một số mặt hàng có thể
mở rộng quy mô sản xuất Thời gian qua Nhà Nước cũng đã quan tâm, khuyếnkhích phát triển các làng nghề, thợ thủ công giỏi để khôi phục các làng nghề
truyền thống
Trang 5Mang đậm nét truyền thống, văn hóa dân tộc, các sản phẩm TCMN đáp
ứng được nhu cầu về thưởng thức những tinh hoa văn hóa của dân tộc, các khuvực địa lý Sự giao lưu kinh tế và văn hóa, du lịch giữa các nước ngày càng pháttriển là những cơ hội rất tốt để giới thiệu, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàngTCMN
Khi đánh giá tiềm năng phát triển sản phẩm cần phải nhìn nhận một cách
thỏa đáng Tiềm năng phát triển cần dựa trên tiềm năng tiêu thụ của sản phẩm.Hàng TCMN không những tiêu thụ tốt trong nước mà còn được mở rộng ra cả ởnước ngoài
Đối với thị trường trong nước, khi cuộc sống của người dân được nâng
cao, sức mua được cải thiện, điều mà con người hướng tới là sự quay lại với tự nhiên, gắn bó với truyền thống Đó là một quy luật phổ biến không chỉ đối vớitầng lớp trung lưu mà với mọi tầng lớp dân cư Vì vậy, sản phẩm TCMN khôngchỉ phục vụ cho mục đích nghệ thuật, trang trí nội thất mà nó còn rất hữu dụngcho cuộc sống của người Việt Nam
Đối với thị trường nước ngoài, hiện nay người phương Tây dần dần bị nét
đẹp kín đáo, duyên dáng, thanh lịch của Phương Đông quyến rũ Những vật
dụng mang tính hiện đại như ti vi, máy tính…đôi khi làm cho cuộc sống con
người trở nên nặng nề, căng thẳng thì người nước ngoài lựa chọn các sản phẩmthủ công để tô điểm cho cuộc sống của họ giường như là một cách làm cho cuộcsống thêm ngọt ngào, lãng mạn hơn
Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với rất nhiều nước trên thế
giới Cùng với việc thâm nhập và khai thác các thị trường mới như: EU, Mỹ,Canada, Hàn Quốc, Arập Xê út…chúng ta cũng đang khôi phục lại những thịtrường truyền thống như: Nga, các nước SNG và Đông Âu Việc gia nhập
ASEAN, tham gia vào diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương ( APEC ) và việc kíkết hiệp định thương mại Việt-Mỹ đã mở ra cho các doanh nghiệp sản xuất vàkinh doanh hàng TCMN những thị trường tiềm năng
Do vậy, những năm gần đây nhu cầu các hàng TCMN không ngừng được
tăng lên Mục tiêu mà Đảng và Nhà Nước ta về một số hàng TCMN trong 5 nămtới đây ( kim ngạch xuất khẩu - đơn vị: triệu USD )
- Gốm sứ mỹ nghệ từ 250 - 300 ( trong khi đó năm 2000 là 100 – 130 )
- Gỗ mỹ nghệ từ 120 – 150 ( trong khi đó năm 2000 là 50 – 60 )
- Mây tre đan từ 60 – 80 ( trong khi đó năm 2000 là 30 –40 )
- Thêu ren thổ cẩm từ 20 – 25 ( trong khi đó năm 2000 là 10 )
Trong khi nhu cầu lao động năm 2005 là 1,8 đến 2 triệu người, đây là
bằng chứng rõ nhất về tiềm năng phát triển của nghành TCMN trong tương lai
3 Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ rất nhiều loại nguyên
liệu khác nhau và mỗi sản phẩm được tạo ra bằng các quy trình hoàn toàn
khác nhau Dù thế nào các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều có một nét chung
là kết quả của lao động nghệ thuật với tay nghề điêu luyện, trí tuệ sáng tạo
độc đáo của các tay thợ tài ba
Trang 6Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vô cùng phong phú và đa
dạng Có thể kể đến, đó là: hàng gốm sứ, hàng đúc đồng, hàng mây tre đan, hàngthêu ren, hàng thổ cẩm, hàng gỗ, hàng sơn mài, hàng kim hoàn, hàng rèn, hàng
đá và một số hàng nổi tiếng như nón, tranh dân gian, giấy dó ở các làng nghềtruyền thống… Dưới bàn tay khéo léo và khối óc tài hoa của những người thợthủ công, từ các nguyên liệu thô sơ, họ đã tạo ra biết bao thành phẩm không
những có giá trị về kinh tế mà có giá trị về nghệ thuật Các mặt hàng thủ công
mỹ nghệ được sản xuất ra đã có sức thu hút lớn không chỉ với người tiêu dùngViệt Nam mà còn được người tiêu dùng nhiều nước ưa chuộng Nhiều sản phẩm,mặt hàng đã được xuất khẩu ra thị trường ngoài nước Dưới đây, khoá luận xinnêu ra một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ có tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu
tương đối lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
3.1 Hàng gốm sứ
Gốm sứ là loại hàng phổ biến trong cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư.Sản phẩm của nghề này có thể dùng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày (bátđĩa, ấm chén, nồi, chum vại…), trong xây dựng (chân sứ, vật cách điện…) haylàm đồ thờ (bát hương, lọ đựng hương, các tượng, lọ hoa…), tranh tượng và đồlưu niệm… Gốm sứ được sản xuất ở mọi nơi trên đất nước ta
Các làng nghề truyền thống sản xuất gốm sứ nổi tiếng là Bát Tràng (Hà
Nội), làng Cậy (Hải Dương), Thổ Hà (Bắc Ninh), Móng Cái (Quảng Ninh), HươngCanh, Hiến Lễ (Vinh Phú), Thanh Hoá, Phước Phú (Huế), Thanh Hà (Quảng Nam), Đồng Nai, Sông Bé, Thủ Dỗu Một… Các sản phẩm nổi truyền trong dân gian là “Sứ Móng Cái, vại Hương Canh” hay “chiếu NgaSơn, gạch Bát Tràng”…
Gốm sứ có nhiều loại: men ngọc, men nâu (hay hoa nâu) xuất hiện từ thời Lý, hoa lam (đời Trần)… Kỹ thuật làm gốm sứ vẫn xoay quanh hai vấn đề lớn là kỹ thuật bàn xoay và lò nung Ngoài lò hộp (nung bằng than) và lò vồng (nung
bằng củi) hiện nay đã xuất hiện kiểu lò tunel đốt gas
Sản phẩm gốm sứ không những tràn ngập trong nước mà còn rất có giá trị ở nước ngoài Cách đây 200 năm, khúc sông xã Bát Tràng còn có một bến cảng chở đồ gốm sứ sang Nhật Bản Ngày nay nhiều mặt hàng bị nhái, làng nghề lan tỏa nhưng
ở những làng truyền thống vẫn giữ được bí quyết của mình đối với những mặt hàng tinh xảo chẳng hạn Thổ Hà vẫn giữ được sành nâu, Hương Canh, Phù Lãng vẫn giữ được gốm da lươn, Chu Đậu (Hải Dương) vẫn giữ được men hoa lam, gốm Tức Mặc (Nam Định) gọi là “Thiên tường phủ chế”…, gốm Bát Tràng giữ được men ngọc, men rạn
3.2 Hàng mây tre đan
Mây, tre, song rất gần gũi với người Việt Nam Từ lâu các nghệ nhân đã tạo nên rất nhiều sản phẩm mỹ nghệ độc đáo từ những nguyên liệu sẵn có này
Trang 7(giường, bàn, ghế, lẵng hoa, hình các con vật, đồ lưu niệm )
Hàng mây, tre của làng Phú Vinh (Hà Tây) có tới 500 mẫu mã khác nhau Hàng mây tre đan được phát triển trong cả nước, nổi tiếng là làng Phú Vinh (HàTây), Ngọc Động (Hà Nam), Thượng Hiền (Thái Bình), Hoà Bình (Bình Định),Vĩnh Ba (Phú Yên), Yên Sở (Hà Tây), Nho Quan (Ninh Bình)
Nghề mây tre đan ở Phú Nghĩa, Chương Mỹ đã thu hút 80-85% lao động Ở làng Phú Vinh có 8000 người làm nghề đan lát, thu nhập lên tới 2,2 tỷ đồng/năm Có thể nói nghề này đã thu hút hút một khối lượng lớn những người lao động, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống người dân
3.3 Hàng gỗ thủ công mỹ nghệ
Loại hàng này đã xuất hiện từ lâu đời vì gỗ là đồ dùng thông dụng khắpmọi nơi Người dân Việt Nam dùng sản phẩm đồ gỗ cho thờ cúng (Hoành phi,câu đối, ngai, tượng, mâm bồng, bàn thờ, ống hương…) và gỗ để làm giường tủ, sập, bàn ghế hay tranh gỗ, các con vật bằng gỗ…
Hàng Tiện xưa là nơi buôn bán các hàng tiện gỗ như mâm bồng, ống
hương, đài rượu, khuôn oản… do người làng Nhị Khê làm (nay là Hàng Hành, phố
Tô Tịch ) Phố Hàng khay chuyên bán sản phẩm đồ gỗ của làngĐồng Kỵ.Chạm khắc gỗ nổi tiếng ở Việt Nam có làng Phù Khê, Hương Mạc,Đồng Kỵ, Đồng Quang (Bắc Ninh), Bích Chu (Vĩnh Phú), Vân Hà (Hà Nội),Võ Lăng (Hà Tây), LýNhân (Hà Nam), La Xuyên (Nam Định), làng Sinh,Kim Bồng (Quảng Nam), NhạnTháp (Bình Định), Phú Lộc (Ninh Bình), Bảo Hà (Hải Phòng), Mỹ Xuyên (Huế) Trong các cơ sở nổi tiếng trên, Đồng Kỵ là cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ lớn nhất ở nước ta
Mặt hàng của đồ gỗ rất phong phú, nghề mộc là nghề phổ biến trong dân gian Cácthợ sau khi học được nghề có thể tách nhóm để làm ăn ở nơi khác vì mọi nơi đều cần đồ gỗ Tại những nơi mới đó, người thợ vừa học, vừa làm và lại có cơ hội táchnhóm Không giống các nghề khác, nghề này được nhân rộng rất nhanh Quá trình lao động cần cù say mê đó đã tạo nên các lớp thợ giỏi, sáng tạo… (“nhất nghệ tinh, nhất tinh vinh”) và từ đó nhiều mẫu mã hàng mới xuất hiện Quá trình phát triển của nghề này gắn liền với sự ra đời của nghề điêu khắc, khảm trai Nhiều mẫu mã của sản phẩm đồ gỗ được lấy từ Trung Quốc, đặc biệt là các hàng gắn với điển tích như tùng cúc trúc mai, long ly quy phượng, ngai thờ, các loại tượng, tủ chè, sập gụ…Từ các đường lèo, các hoạ tiết khác thường được nảy sinh trong sángtạo của các nghệ nhân… Vì vậy, trình độ sáng tạo nhanh được nhân lên ở các tay thợ cả, các nghệ nhân Khi kết hợp với nghệ thuật khảm trai, ốc, giá trị của sản phẩm được tăng lên gấp bội Khảm trai, ốc làm nổi bật các đường nét của các tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm mang điển tích Thị trường về sản phẩm gỗ mỹ nghệ lại rất rộng và triển vọng ở nước ngoài Ngày nay nhiều khâu nặng nhọcnhư pha cắt gỗ, bào… được cơ giới hoá làm cho năng suất lao động nâng cao và phần quan trọng còn lại dành cho các khâu tinh chế với tài năng sáng tạo của các nghệ nhân Trong điều kiện khan hiếm về nguyên liệu, ở một số sản phẩm có thể phải
Trang 8thay thế nguyên liệu nhưng cần lưu ý là giá trị sản phẩm sẽ tăng khi được đầu tư thoả đáng về chất xám Từ đó, cần có kiến thức toàn diện ở nhiều lĩnh vực cho việc tạo nên một sản phẩm hoàn thiện hơn (tạodáng, hoạ tiết…)
3.4 Hàng thêu ren
Thêu ren là một nghề thủ công truyền thống đặc biệt ở nước ta mà mọisản phẩm của nó đều là những tác phẩm nghệ thuật do bàn tay khéo léo của thợ thủ công tạo nên Dụng cụ của nghề rất đơn giản nhưng sự khéo léo, sự kiên trì và sáng tạo là vô hạn
Ngày nay ở một số nước, người ta dùng máy trong nghề này mang lại năng suất lao động rất cao, nhưng máy cũng chỉ là máy, chỉ có bàn tay khéoléo của con người mới làm nên những sản phẩm kỳ diệu Những sản phẩm đồng loạt có thể dùng máy (như thêu chữ, thêu cờ, thêu biểu tượng, khăn…nhưng nếu muốn có sảnphẩm độc nhất vô nhị… thì phải cần đến bàn tay vàng của các nghệ nhân
Hàng thêu ren nổi tiếng ở Lý Nhân, Thanh Liêm (Hà Nam), Minh Lãng(Thái Bình), Văn Lam (Ninh Bình), Quất Động, Ninh Hải… ở các vùng dân tộc thiểu số,các bà mẹ, cô gái thường thêu những sản phẩm cho riêng mình Thêu ren là một nghề sớm có ở nước ta, phạm vi sản xuất khá hạn hẹp, thị trường tiêu thụ lại nhỏ
so với khả năng sản xuất nên lượng hàng tồn đọng nhiều
3.5 Hàng thổ cẩm
Đây là một loại hàng đặc biệt của đồng bào dân tộc thiểu số Sản xuất ra hàng thổ cẩm có người Chăm ở Chương Mỹ (Ninh Thuận), Phan Hoà (BìnhThuận) Dệtvải Riêng của người Cà Ho (Lâm Đồng), người Thái, Mường, Tày,Dao, Lự ở miềnBắc, người Khơ me, Xê đăng, Gia rai, Bana, Chăm, Ê đê, Giả -Triêng ở miền Namđều có nghề dệt gia đình Ở Miền Bắc nổi tiếng dệt thổ cẩm với các làng nghề Nà phồn, Xâm Khoè, Mai Tịch, Chiềng Châu (Hoà Bình) của dân tộc Thái; 4 làng nổitiếng của dân tộc Mường là Mường Bí, Mường Vang, Mường Thành, Mường Đậu (Hoà Bình)
Hàng mỹ nghệ thổ cẩm có rất nhiều loại: quần áo, túi xách, ví… với rất nhiều kiểu dáng kích cỡ khác nhau, tiêu dùng nội bộ theo tập tục của các đạo giáo trong các lễ hội là chủ yếu Nghề thổ cẩm phát triển với những bước thăng trầm và thị trường hạn hẹp, người thợ thủ công chỉ tận dụng thời gian những lúc nông nhàn Thu nhập của họ chủ yếu là từ nông nghiệp Vì vậy, chỉ có những người yêu nghề hơn yêu mình mới gắn bó với nghề
Trong khi đó, nghề này tương đối phát triển ở ngoài Bắc (ở Hoà Bình).Sản phẩm được bán ở các chợ và nhiều người nước ngoài có mặt tại các điểm du lịch thường say sưa ngắm nhìn và mua sắm loại sản phẩm này
4.Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Xuất khẩu là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chiến lược phát triển
kinh tế xã hội Xuất khẩu là hoạt động chính tạo tiền đề, điều kiện cho quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu Trong quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá
Trang 9đất nước, hoạt động xuất khẩu càng có nghĩa thiết thực hơn.Điều này, không những thu về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn, mà quan trọng hơn còn là cơ hội để chúng ta phát huy các lợi thế so sánh của đất nước, mở rộng các ngành nghềsản xuất, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội Với ý nghĩa đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ - một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, có một vai trò vô cùng to lớn đối với phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
4.1 Thúc đẩy công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước.
4.2 Tạo công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân.
4.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả, thúc đẩy sản xuất phát triển.
4.4 Góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
4.5 Mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
4 6 Duy trì các ngành nghề truyền thống, tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc.
5 Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mĩ nghệ.
5.1 Nguồn nguyên liệu
Mặt hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng nguồn nguyên liệu chính là nguyên liệu trong nước, đa phần được lấy từ thiên nhiên và khá sẵn có Đó là các nguyên liệu như: mây, tre, nứa, lá, giang, bông, gỗ, đay, cói, dừa, vỏ ốc,vỏ trứng Đây là một trong những thuận lợi lớn vì những nguyên liệu này thường sẵn có trong tự nhiên hoặc có thể trồng khá dễ dàng ở các vùng nông thôn Tuy nhiên, do sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch nên các nguồn nguyên liệu này cũng đã dần dần
bị giảm cả về số lượng và chất lượng Nếu như không có sự quan tâm đồng bộ kể
cả từ phía người dân lẫn Nhà nước để bù đắp lại số nguyên liệu được dùng cho sảnxuất thì trong tương lai tất cả các nguồn nguyên liệu đều có nguy cơ thiếu hụt Khi bước sang cơ chế thị trường, nhiều doanh nghiệp đã gặp phải không ít khó khăn khi vẫn áp dụng lối làm ăn cũ theo kiểu “có gì bán nấy”.Giờ đây, trước nhu cầu vô cùng đa dạng của thị trường thế giới, doanh nghiệp không chỉ sản xuất những mặt hàng chỉ sử dụng những nguồn nguyên liệu trong nước mà còn phải nhập về một số nguyên liệu từ nước ngoài để phục vụ cho xuất khẩu Điều này cũng gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp khi nguồn nguyên liệu phải phụ thuộc vào nước ngoài Các doanh nghiệp thường phải nhập khẩu một số nguyên liệu như phẩm nhuộm, bột màu, sơn, dầu bóng, len chất lượng cao, chỉ màu, sợi Đơn cử về thực trạng nguồn nguyên liệu gốm sứ Hiện nay nhiều nhàsản xuất gốm sứ trong nước vẫn còn phải nhập nguyên liệu cao lanh, đất sét,
men, tràng thạch… trong khi trữ lượng nguyên liệu trong nước cao gấp nhiều lần nhu cầu Riêng năm 2000, kim ngạch nhập khẩu các nguyên liệu trên khoảng gần
50 triệu USD Nguyên nhân chính là do trong mấy năm qua, chúng ta chỉ tập trungxây dựng các nhà máy sản xuất gốm sứ hiện đại với tốc độ sản lượng tăng chóng mặt nhưng lại chưa quan tâm đến đầu tư khai thác,chế biến nguyên liệu Theo hiệphội gốm sứ Việt Nam, với sự phát triểnnhanh chóng của ngành công nghiệp gốm
Trang 10sứ hiện nay, nhu cầu nguyên liệu để sản xuất không ngừng tăng lên Nếu như năm
2002 là 960.000 tấn nguyên liệu và 52.000 tấn men màu thì dự báo năm 2005 sẽ là1.4 triệu tấn nguyên liệu, 80.000 tấn men màu và năm 2010 sẽ lên đến 1.7 triệu tấnnguyên liệu và100.000 tấn men màu
Phần lớn mỏ nguyên liệu ở nước ta có trữ lượng lớn nhưng lại chưa được khai thác hợp lý Công nghệ khai thác, chế biến còn quá lạc hậu, chủ yếu khai thác thủ công, bán cơ giới, phân tán và manh mún, chưa đáp ứng được nhu cầu công nghệ sản xuất gốm sứ hiện đại Phần lớn nguồn nguyên liệu khi đưa vào nhà máy sản xuất đều tiếp tục phải gia công xử lý
Về cao lanh, ta có 105 mỏ với trữ lượng 639 triệu tấn, nhưng đến nay chỉ có 20
mỏ đang khai thác với công suất nhỏ từ 10.000 – 30.000 tấn/năm với công nghệ khai thác, tuyển lọc cao lanh ở mức thấp, chất lượng chưa cao,lẫn nhiều tạp chất
Về men màu, các cơ sở sản xuất trong nước tự sản xuất mới chỉ đáp ứng 10 % nhu cầu và các doanh nghiệp đang phải nhập khẩu với giá đắt
Nguyên liệu không đáp ứng nhu cầu là một nguyên nhân đẩy giá thành gốm, sứ nước ta lên cao Nếu giải quyết được vấn để này ngành gốm sứ mới có thể nâng cao được chất lượng, hạ giá thành
Có thể nói, nguyên liệu chính là một trong những bộ phận mấu chốt cấu thành nêngiá trị của sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ Những nguyên liệu tốt, đủ tiêu chuẩnkết hợp với bàn tay tài hoa của người thợ sẽ cho ra đời những sản phẩm có giá trị cao
Nhưng có một điều đáng mừng là giờ đây các nguồn nguyên liệu ngoại nhập cũngrất sẵn có trên thị trường nên chỉ cần đặt hàng là có thể mua được với số lượng lớn, giá cả cũng phải chăng
5 2 Nguồn vốn
Nhìn chung, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đa số là quy mô vừa,
nhỏ và thiếu vốn Những mặt hàng khác nhau sẽ yêu cầu đòi hỏi vốn đầu tư khác nhau Những mặt hàng cần nhiều vốn chủ yếu là gốm sứ, sơn mài, mĩ nghệ vì phảiđầu tư máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để làm ra các sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế Các khâu sản xuất còn thủ công, nhiều khi tạo ra sản phẩm thô, mộc nên chất lượng sẽ không đảm bảo khi sản xuất đại trà Nếu như muốn sản xuất với quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao vào các khâu sản xuất sơ chế, mở rộng nhà xưởng, tuyển thêm nhân công thì nguồn vốn cho đầu tư sản xuất là vô cùng cấp thiết Nhu cầu sử dụng vốn rất lớn nhưng việc huy động vốn hiện nay gặp rất nhiều khó khăn Các Ngân hàng có lúc thừa vốn nhưng các doanh nghiệp lại không vay được Sau một số vụ đổ bể thất thoát như Minh Phụng,EPCO… ngành ngân hàng đã tỏ ra thận trọng hơn đối với việc cho vay Ngoài tài sản thế chấp,
cầm cố, ngân hàng còn kiểm tra cả phương án kinh doanh, phương thức kinh
doanh rất cụ thể rồi mới cho vay
Vì vậy, doanh nghiệp đã phải tìm mọi cách để huy động được nguồn vốn đầu tư cho sản xuất Ngoài nguồn vốn của bản thân người chủ doanh nghiệp, còn có nguồn vốn của cán bộ công nhân trong doanh nghiệp, của các xã viên trong hợp tác xã và thậm chí cả những khoản ứng trước của kháchhàng
Trang 115 3 Nhu cầu thị trường đối với hàng thủ công mỹ nghệ
Trong những năm qua, ngành xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã tạo được nhiềuthị trường lớn như EU, Nhật Bản, Đài Loan, Bắc Mỹ Ngoài ra, Nga, Đông Âu… cũng được coi là những thị trường tiềm năng lớn của Việt Nam Hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam đến nay đã có mặt tại hơn 50 nước và lãnh thổ ở khắp các châu lục của thế giới Thị trường xuất khẩu loại hàng này trong mấy chục năm qua có những giai đoạn thăng trầm, nhưng nhìn chung những năm gần đây có chiều hướng phát triển tốt, có nhiều chủng loại hàng hoá mới và mở rộng thị
trường theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ thị trường với các nước trên thế giới Tuy nhiên, trong xuất khẩu những loại hàng hoá này, chúng ta phải đương đầu với một số đối thủ cạnh tranh có nhiều tiềm năng và kinh nghiệm như
Trung Quốc, Indonesia,Philippines, Thái Lan… Để nâng cao sức cạnh tranh, cần
phải tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm, thủ pháp kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh và các chính sách giải pháp liên quan của từng nước Đồng thời, với chất liệu và kỹ xảo riêng, phải sáng tạo ra được những mẫu hàng hoá đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của từng thị trường, bảo đảm sản phẩm của Việt Nam có sức cạnh tranh Mặc dù thị trường rộng như vậy nhưng Việt Nam chưa xuất khẩu được nhiều vào các thị trường có nhu cầu và dung lượng lớn Cái khó là phải làm sao tiếp cận với thị trường mới và tranh thủ mọi cơ hội để khai thác sâu them các thị trường có nhu cầu lớn và thường xuyên Thị trường lớn nhất trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phải kể đến EU Kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang khu vực thị trường này tăng khá nhanh, hiện chiếm tỷ trọng gần 1/4 trong tổng kim ngạch xuất khẩu Đây cũng là khu vực Việt Nam thường xuất được nhiều loại hàng thủ công mỹ nghệ và có nhiều triển vọng mở rông, đẩy mạnhtiêu thụ một số loại hàng có khả năng phát triển EU cũng được được đánh giá là một trong các thị trường trọng điểm cho đồ gỗ chế biến của Việt Nam Bên cạnh
đó, các mặt hàng gốm, sứ mỹ nghệ cũng là nhóm hàng đang tiêu thụ mạnh sang thịtrường này Thông qua hội chợ Frankfurt hàng năm tại Đức, một số công ty của Việt Nam đã thành công trong việc nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, ký được nhiều hợp đồng xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ Có thương nhân Đan Mạch
đã chuyển toàn bộ đơn hàng gốm sứ từ các nước xung quanh Việt Nam để tập trung đặt hàng tại Việt Nam và hứa hẹn giúp đở đầu tư mở rộng sản xuất , tăng lượng hàng cung ứng cho thị trường này lên 2-3 lần so với hiện nay Cùng với hàng gốm sứ mỹ nghệ của Đồng Nai, Bình Dương, Bát Tràng, từ năm 1998 có thêm Vĩnh Long đã xuất khẩu mạnh sang khu vực Tây, Bắc Âu Ngoài ra, các mặt hàng như mây, tre, hàng thêu ren … cũng xuất khẩu được sang khu vực thị trường này với khối lượng đáng kể : Xí nghiệp Rapexco xuất khẩu hàng song mây tre của Nha Trang, hợp tác xã mây tre Hàng Kênh ( Hải Phòng) có nhiều mặt hàng mây tre xuất sang Tây Âu; các mặt hàng thảm, đệm ghế cói của Thái Bình xuất sang
Hà Lan, Tây Ban Nha, Italy… hay công ty Barotex trong năm 1999 cũng đã xuất khẩu 2,5 triệu chiếc nón lá buông sang Tây Ban Nha và Italy
5 4 Các đối thủ cạnh tranh
Hiện tại hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt với hàng
Trang 12thủ công mỹ nghệ của Trung Quốc, Thái Lan, Singapore … Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có nhiều lợi thếhơn nhờ độ tinh xảo và khéo léo thể hiện trên từng đường nét sản phẩm Hơn nữa nhiều mặt hàng của ta vượt trội về chất lượng cũng như mẫu mã Song để nâng caosức cạnh tranh cần có những sản phẩm đặc trưng, đa dạng hơn về mẫu mã, kiểu dáng Bên cạnh việc phát huy những lợi thế của những sản phẩm làm bằng tay có
độ tinh xảo cao, cần đầu tư các phương tiện thiết bị máy móc và công nghệ hiện đại để tạo nên những sản phẩm có chất lượng đồng đều và ổn định Một kinh nghiệm từ các nhà sản xuất Trung Quốc là để đưa ra được nhiều sản phẩm của mình vào thị trường Nhật Bản là họ đã mời các chuyên gia Nhật sang tư vấn và tham gia điều hành sản xuất để sản phẩm làm ra phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Nhật Bản
5 5 Các chính sách của nhà nước liên quan đến hàng thủ công mỹ nghệ
Thời gian gần đây chính phủ đã có nhiều tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Ngày 24/1/2000,Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định 132/2000/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó nội dung chủ yếu là đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Quyết định này đã có những qui định cụ thể đối với từng lĩnh vực như đất đai xây dung cơ sở sản xuất kinh doanh, phát triển khai thác nguyên liệu phục vụ sản xuất, các chính sách về đầu tư, tín dụng, thuế, lệ phí, hỗ trợ xúc tiến thương mại… Hiện nay,một số bộ, ngành liên quan đang cụ thể hóa vềmức độ và thủ tục thực hiện.Theo Thông tư số 61 của Bộ tài chính, kể từ ngày 1/1/2002 các doanh nghiệpsẽ được Nhà nước hỗ trợ chi phí hoạt động xúc tiến thương mại bằng 0,2% kim ngạch xuất khẩu thực thu trong năm Tiếp theo đó, Thông tư số 62 củaBộ Tài chính cũng tháo gỡ các khó khăn của doanh nghiệp về chi hoa hồng môi giới xuất khẩu Theo đó, các khoản chi này sẽ được hạch toán vào chi phí bán hàng của doanh nghiệp, đối tượng hưởng hoa hồng xuất khẩu gồm
cả các doanh nghiệp, các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.Bên cạnh đó, khó khăn về vay vốn ưu đãi đã được Chính phủ “khai thông” qua Quyết định 02/2001/QĐ-TTg ngày 2/1/2001 về chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ hỗtrợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuấtkhẩu và sản xuất nông nghiệp Như vậy, theo qui định hiện hành (kể cả các qui định vừa bổ sung nêu trên), các dự án đầu tư sản xuất chế biến hàng xuất khẩu ngoài các ưu đãi như giảm miễn tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp còn được vay vốn tín dụng đầu tư từ Quỹ hỗ trợphát triển với lãi suất ưu đãi và điều kiện dễ dàng hơn trước
Có thể nói, các cơ chế, chính sách mới thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi, tiếp sức cho doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách, biện pháp được đề ra Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn không ít trường hợp chậm triển khai hay thực hiện chưa đồng bộ giữa các
bộ, ngành tạo rào cản không đáng có đối với doanh nghiệpxuất khẩu
Tóm lại, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có một vai trò hết sức quan trọng trongphát triển kinh tế xã hội của nước ta Hướng tới mục tiêu công nghiệp hoá và hiện
Trang 13đại hoá đất nước vào năm 2020, việc xuất khẩu mặt hàngnày càng có ý nghĩa thiết thực hơn Tuy nhiên, để làm tốt công tác xuất khẩu,chúng ta cần nắm bắt, phân tích kỹ lưỡng thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong thời gian qua Vì vậy, tìm hiểu những điều cơ bản, khái quát nhất về mặt hàng này là điều rất cần thiết Có thể nói, những điều mà ta đã nghiên cứu trong chương 1 chính là điều kiện, cơ sở để tiếp tục việc nghiên cứu tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
sẽ trình bày ở chương 2
Trang 14
*Kinh ngạch xuất khẩu
Từ thế kỉ 11, hàng TCMN của Việt Nam đã được xuất khẩu qua cảng Vân Đồn, Vạn Ninh Trải qua bao thăng trầm đén sau ngày đất nước thống nhất (1975), xuất khẩu hàng TCMN bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của mình Bình quân trong 10 năm (1976-1985) , hàng TCMN chiếm khoảng 40% giá trị tổng kinh ngạch cả nước, đỉnh cao là năm 1979 chiếm 53,4% Xuất khẩu đã thổi một luồng sinh khí vào các làng nghề truyền thống như sơn mài Hạ Thái ( Hà Tây), chạm khắc gỗ Sơn hà, thêu ren Sơn Tây, thảm len Hàng Kênh ( Hải Phòng)… Sau khi mất thị trường Đông âu và Liên Xô năm 1991 , hàng TCMN đã trải qua bao gian truân vất vả trong cơ chế mới để tổ chức sản xuất – kinh doanh , chuyển đổi thi trường, tìm kiếm và xây dựng lại quan hệ bạn hàng Nhờ sự đổi mới tích cực đó
mà những năm sau đó , hàng TCMN đã trở lại thời hoàng kim của mình Liên tục những năm gần đây hàng TCMN đều có mức tăng trưởng khá cao, bình quân 20% trên 1 năm, với kinh ngạch xuất khẩu có những bước tiến dài và được xếp vào top
1 trong 10 mặt hàng xuất khẩu tiềm năng, dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong những năm tiếp theo
Trong "Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010" của Bộ Thương mại, định hướng phát triển nhóm hàng TCMN chiếm một vị trí rất quan trọng Đây là một trong số ngành được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển bền vững, xuất khẩu lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao
Ước đoán kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ năm