Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước trong những năm qua đã thu được nhiều thành tựu to lớn, từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, đời sống của nhân dân cũng từng bước được cải thiện, bộ mặt của xã hội đã có những thay đổi. Một trong những tiền đề để tạo ra sự thành công đó là Đảng, nhà nước đã đánh giá đúng vị trí và vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước xây dựng và phát triển kinh tế tri thức đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của nhân dân ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước trong những năm qua đã thu được nhiều thành tựu to lớn, từng bước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, đạt tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, đời sống của nhân dân cũng từng bước được cải thiện, bộ mặt của xã hội đã có những thay đổi Một trong những tiền đề
để tạo ra sự thành công đó là Đảng, nhà nước đã đánh giá đúng vị trí và vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước xây dựng và phát triển kinh tế tri thức đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Hiện nay, Việt Nam là nước có người trong độ tuổi lao động trên tổng dân
số chiếm tỷ lệ 75,2% Nước ta hiện đang ở giai đoạn dân số vàng, nhưng số lao động phổ thông không qua đào tạo, không có bằng chuyên môn kỹ thuật chiếm
tỷ lệ 81,6% số người trong độ tuổi lao động( Số liệu tại hội thảo “Đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho các khi công nghiệp, khu chế xuất” diễn ra tại
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26/05/2016) Đây là số liệu thực tế do tổ chức phi
chính phủ GIZ cung cấp khác xa với số liệu do các cơ quan chức năng cung cấp Qua số liệu trên ta có thể thấy chất lượng nhân lực ở nước ta còn thấp, cơ cấu lao động bất hợp lý, đang mất dần sức cạnh tranh trên thị trường lao động, cần sớm có những giải pháp tháo gỡ Để hiểu và nắm rõ thực trạng về nguồn nhân lực nước ta và đưa ra những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho người lao động Việt Nam trên thị trường lao động khu vực và quốc tế do vậy em
chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Lương Sơn - Hòa Bình”
Do thời gian có hạn nên bài làm chưa được sâu sắc, còn hạn chế rất mong được sự đóng góp của thầy, cô giáo và các bạn đọc để bài tiểu luận hoàn thiện
Trang 2I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CNH – HĐH VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
1 Các khái niệm về CNH – HĐH và nguồn nhân lực
1.1 Khái niệm CNH – HĐH
CNH - HĐH là một quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế từ sử dụng sức lao động là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện
và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến
bộ khoa học kỹ thuật tạo ra năng suất lao động cao
Như vậy, quan điểm trên cho ta thấy quá trình CNH – HĐH ở nước ta kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong quá trình phát triển Quá trình ấy không đơn thuần là chuyển từ lao động thủ công thành lao động cơ khí như trước đây mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại
Đảng ta xác định công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa Sở dĩ như vậy là vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Một số nước phát triển đã bắt đầu chuyển sang nền kinh tế tri thức
1.2.Vai trò của quá trình CNH – HĐH đối với nền kinh tế nước ta.
Từ thế kỷ XX Đảng ta đã đề ra đường lối công nghiệp hóa và coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm xuyên xuất trong quá trình quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội ở nước ta Từ những kinh nghiệm phát triển kinh tế và định hướng thực tế thu được trong thời kỳ đổi mới đất nước chúng ta thấy được vai trò và ý nghĩa quan trọng và trung tâm của quá trình công nghiệp hóa đi đôi với hiện đại hóa
- Công nghiệp hóa tạo sự thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động, tăng sức chế ngự của con người đối với thiên nhiên, tăng trưởng
và phát triển kinh tế, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nâng cao đời sống nhân dân
Trang 3- Công nghiệp hóa tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích lũy và phát triển sản xuất, tạo ra nhiều việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước đảm bảo và đầu tư nhiều hơn cho an sinh xã hội, nâng cao thu nhập cho người lao động, giúp cho sự phát triển của con người được toàn diện hơn trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội
- Công nghiệp hóa tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học công nghệ phát triển nhanh, đạt trình độ tiên tiến hiện đại Công nghiệp hóa làm tăng cường lực lượng vật chất, kỹ thuật cho quốc phòng, an ninh, đảm bảo đời sống người lao động, kinh tế phát triển ổn định, chính trị - xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, tạo điểu kiện cho nền kinh tế độc lập, tự chủ đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế
Thành công của sự công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân
là nhân tố quyết định sự thắng lợi của Đảng, nhà nước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy mà công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm của nước ta trong suốt quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.3 Khái niệm nguồn nhân lực
Hiện nay khái niệm nguồn nhân lực có rất nhiều quan điểm và hiểu theo nhiều khái niệm khác nhau:
- Theo Liên hiệp quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển mỗi cá nhân và của đất nước”.
- Theo tổ chức lao động quốc tế thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia
là toàn bộ những người trong độ có khả năng tham gia lao động” Theo quan
điểm này thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho
sự phát triển kinh tế xã hội bao gồm các nhóm người trong độ tuổi lao động tham gia vào quá trình lao động, sản xuất xã hội
Trang 4- Dưới góc độ của kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực ở đây có thể được
hiểu theo nghĩa sau: “Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử để được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần để phục vụ cho hiện tại và tương lai của đất nước.” Theo góc độ của kinh tế chính trị thì nguồn nhân
lực ở đây được hiểu phản ánh ba vấn đề chính: Thứ nhất, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ con người – yếu tố quyết định cho sự phát triển xã hội Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng Thứ ba, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực gắn liền với chính trị, xã hội của đất nước
Từ những quan điểm và khái niệm ở trên ta có thể thấy phát triển nguồn nhân lực chính là sự biến đổi về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực trên các mặt như: thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo
ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Tóm lại chúng ta có thể hiểu một cách khái quát sự phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập
và sử dụng năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ của kinh tế - xã hội
1.3 Vai trò của chất lượng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp CNH - HĐH
Hiện nay nước ta đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước nhà, để đạt được những tiêu chí đề ra chúng ta biết khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực Trong tất cả các nguồn lực thì không thể phủ nhận vai trò quyết định, quan trọng đảm bảo tăng trưởng phát triển, bền vững đó là nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao Các cơ sở để khẳng định quan điểm đó được thể hiện qua những vấn đề sau:
Thứ nhất, các nguồn lực khác (ngoại trừ nguồn nhân lực), xét về mặt số
lượng và trữ lượng, có thể là rất phong phú, đông đảo nhưng nếu khai thác và sử dụng không hợp lý thì đến một lúc nào đó chúng sẽ mất cân đối và dần trở nên
Trang 5cạn kiệt Khi ấy, nền kinh tế vốn cơ bản dựa vào nguồn lực này sẽ gặp khó khăn, nếu không nói là bị đe doạ Trái lại, nguồn lực con người với tiềm năng trí tuệ, chất xám thì luôn sinh sôi và phát triển không ngừng Xét trên bình diện xã hội,
có thể khẳng định nguồn lực con người là vô tận, là nguồn lực cơ bản của sự phát triển bền vững Đây là một ưu điểm nổi trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác trong hệ thống nguồn lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức
Thứ hai, nếu trước đây, một trong những nguyên nhân chủ yếu ngăn cản tốc
độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước là do tình trạng nghèo nàn về cơ
sở vật chất, sự thiếu hụt về nguồn vốn… thì ngày nay, trở ngại chủ yếu nhất được xác định chính là sự hạn chế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người
Thứ ba, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo sự phát triển
mạnh mẽ và nhanh chóng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; cùng với
đó là quá trình toàn cầu hoá đã tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội cho các nước đang phát triển có thể khắc phục sự yếu kém về trình độ khoa học – kỹ thuật của mình thông qua con đường hợp tác, có thể giải quyết các vấn đề khó khăn như thiếu hụt nguồn vốn dựa trên quan hệ đầu tư, vay vốn và bằng nhiều hình thức khác Nhưng, có một vấn đề đặc biệt quan trọng mà để đảm bảo sự phát triển bền vững, các nước phải nhanh chóng giải quyết một cách có hiệu quả, đó là xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao Có thể nói, việc xây dựng và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và sức sáng tạo của con người, trước hết và chủ yếu là nỗ lực tự thân thông qua nhiều biện pháp khác nhau của từng quốc gia
Trang 6II Thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay
1 Thực trạng nguồn nhân lực nước ta
Hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 1,2 - 1,3 triệu người bước vào độ tuổi lao động tuy nhiên theo số liệu thống kê của Tổng cục dạy nghề thì số người được đào tạo nghề năm sau tăng so với năm trước nhưng chủ yếu là được đào tạo ngắn hạn, thiếu bài bản và chưa sát thực tế do vậy số lượng lao động có trình độ tay nghề cao, công nhân kỹ thuật bậc cao Với số người bước vào tuổi lao động hàng năm như trên là nguồn tuyển sinh rất lớn cho các cơ sở đào tạo dạy nghề, các trường trung cấp, cao đẳng nghề nhưng trong thực tế số người theo học tại các cơ sở dạy nghề rất ít, chất lượng đào tạo không tốt, nhiều ngành nghề không đáp ứng yêu cầu xã hội, đào tạo chủ yếu là lý thuyết không bám sát vào ngành nghề công việc thực tế xã hội cần do vậy gây ra sự lãng phí về sự đầu
tư của người dân và xã hội, làm mất cơ hội nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Đây thực sự là vấn đề rất đáng báo động về chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Lực lượng lao động ở nước ta vẫn trong tình trạng thiếu các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, yếu kém về tin học, ngoại ngữ, thiếu hiểu biết về pháp luật, đạo đức nghề nghiệp chưa cao, thiếu tinh thần và ý thức trách nhiệm trong công việc, tự do, tùy tiện, chậm thích nghi với môi trường làm việc mới,… Năng lực đổi mới và sáng tạo khoa học và công nghệ của lực lượng lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém
Nhiều năm qua, chúng ta đã cảnh báo về tình trạng sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng rất yếu cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, dẫn đến tình trạng thất nghiệp nhiều, năng suất lao động thấp nhưng chưa có biện pháp tháo gỡ Cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo và cơ cấu vùng miền trong các lĩnh vực kinh tế ngày càng mất cân đối nghiêm trọng Hiện nay, quan niệm về chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực trong các khu vực kinh tế ở nước ta đã lạc hậu so với quan niệm của nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam
Trang 7vẫn chỉ coi trọng bằng cấp, coi lao động có bằng cấp cao là chất lượng cao Tất
cả những yếu kém nêu trên đã nhiều lần được cảnh báo nhưng chưa có giải pháp khắc phục
Qua các báo cáo cho thấy, đa số lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trẻ, tuổi đời từ 18 – 25; khoảng 80% người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất là lao động học hết THCS, THPT không có chuyên môn
kỹ thuật, nhiều doanh nghiệp có tới 60% đến 70% là lao động nữ Điều này cho thấy số lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ quá thấp; tỷ lệ nữ làm công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất quá cao Sự mất cân đối về giới ở các khu công nghiệp, khu chế xuất là quá lớn đã kéo theo nhiều hệ lụy không tốt trong các khu công nghiệp, khu chế xuất Có ý kiến cho rằng, sau một số năm, nhiều công nhân, nhất là lao động nữ bị doanh nghiệp sa thải do chất lượng và năng suất lao động thấp và không có chuyên môn kỹ thuật; một số khác do áp lực công việc cũng tự xin nghỉ việc Đây là những vấn đề bức xúc cần nghiêm túc khảo sát và đánh giá việc sử dụng lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất để có chính sách sử dụng người lao động cho hợp lý, đồng thời nhanh chóng khắc phục tình trạng đa số công nhân làm việc với tay nghề thấp và mất bình đẳng giới nghiêm trọng trong lực lượng lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, từ đó đề phòng hậu quả gây bất ổn xã hội do công nhân lớn tuổi bị sa thải không tìm được việc làm
Một nghịch lý đang diễn ra đó là, mặc dù các khu công nghiệp, khu chế xuất luôn thiếu lao động, nhất là lao động có chuyên môn kỹ thuật, nhưng do chất lượng lao động qua đào tạo thấp kém, nên nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không muốn nhận sinh viên, học sinh học nghề, làm cho tỷ lệ người lao động qua đào tạo, nhất là lao động có trình độ
từ cử nhân trở lên không có việc làm, hoặc phải làm trái với nghề được đào tạo ngày càng cao Những năm gần đây, khoảng 80% cử nhân mới ra trường không làm đúng nghề đào tạo, hàng trăm nghìn cử nhân phải xin làm công việc phổ
Trang 8thông; 60-70% sinh viên tốt nghiệp không kiếm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, số lao động có trình độ cử nhân trở lên thất nghiệp tăng lên hàng năm Những tỷ lệ này không có chiều hướng suy giảm
Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta ngày càng tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, mất cân đối nghiêm trọng về trình độ đào tạo, cơ cấu và giới; tình trạng thất nghiệp của lao động có bằng cấp cao ngày càng nhiều Dự báo trong những năm tới, nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều hợp tác song phương và đa phương sẽ được ký kết, sự di chuyển lao động giữa các quốc gia sẽ diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh trong thị trường lao động càng trở nên gay gắt, trong khi nhân lực của nước ta đang mất dần sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong khu vực và quốc tế, đây là thách thức lớn đối với nước ta Trước yêu cầu của thời kỳ hội nhập, nếu không có những giải pháp tích cực thì những khó khăn của đất nước sẽ ngày càng nặng nề hơn, nhất là khi nước ta phải thực hiện nhiều cam kết với các quốc gia, các tổ chức quốc tế Quá trình hội nhập quốc tế sẽ tạo sức ép và đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi nước ta phải quyết liệt đổi mới căn bản nhiều mặt, mà trước hết là nhanh chóng đổi mới công tác đào tạo nhân lực, nâng cao chất lượng của lao động theo tiêu chuẩn quốc tế, nếu không muốn nước ta tụt hậu
2.1 Những ưu nhược điểm của nguồn nhân lực nước ta hiện nay:
a Ưu điểm:
Việt Nam có nguồn nhân lực trẻ và dồi dào Do còn trẻ nên nguồn nhân lực này dễ dàng tiếp thu kiến thức, khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Con người Việt Nam ta vốn có tính hiếu học, thông minh, cần cù, chịu khó và khéo tay, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặc biệt là các kỹ năng sử dụng các công nghệ hiện đại tương đối nhanh….Vì vậy nguồn nhân lực của nước ta nếu được đào tạo bài bản, đào tạo tốt sẽ phát huy tác dụng để phục vụ tốt cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế nước nhà Trong thời gian qua chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các mặt thể lực và trí lực cũng được cải thiện đáng
Trang 9kể Trình độ giáo dục của lao động Việt Nam đã được nâng cao hơn, tỉ lệ mù chữ ngày càng giảm Số lượng nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng nhiều Đội ngũ khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển
b Nhược điểm:
- Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu
sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội
- Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu
so với nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất
là để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị đó
- Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp; vẫn cần có thời gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để sử dụng hiệu quả
- Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ là công cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn rất hạn chế Trong môi trường làm việc có yếu tố nước ngoài, ngoại ngữ, hiểu biết văn hoá thế giới luôn là điểm yếu của lao động Việt Nam
- Tinh thần trách nhiệm làm việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, ý thức văn hoá công nghiệp, kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao
- Năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới Mặt khác, đáng lo ngại là năng suất lao động của Việt Nam có xu hướng tăng chậm hơn so với các nước đang phát triển trong khu vực như Trung Quốc,
Ấn Độ, In-đô-nê-xia
Trong công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế chuyển mình thành nước công nghiệp thì nguồn nhân lực của nước ta phải đủ về số lượng, đạt về chất
Trang 10lượng và phân bổ một cách hợp lý giữa các vùng miền, các thành phần kinh tế
để đáp ứng được quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
2 Thực trạng nguồn nhân lực của khu vực Tây Bắc.
a Về quy mô:
Tây Bắc là vùng có quy mô nhân lực nhỏ, dân số chủ yếu tập trung tại vùng nông thôn Tính đến 1-4-2013, dân số vùng là 11.483.603 người, trong đó dân số nông thôn chiếm đến 82,9% Dân cư thưa thớt, mật độ thấp hơn so với các khu vực (121 người/km2)
Cơ cấu dân số trẻ, số người thuộc nhóm dưới 15 tuổi là 3.082.271 (26,84%) Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động năm 2013 chiếm có 62,2% dân số (nam 15-60 tuổi, nữ 15-55 tuổi)
Những năm gần đây, quy mô nhân lực vùng Tây Bắc có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong cơ cấu lực lượng lao động cả nước Năm
2013, 6 tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái và Lai Châu có 2.749,1 nghìn lao động, chiếm 5,16% lao động cả nước Mặc dù tỷ trọng lao động của vùng so với cả nước là nhỏ, song đã có sự gia tăng qua các năm từ
2005 đến nay Đáng lưu ý là, tỷ trọng này cao hơn mức trung bình cả nước
b Về chất lượng:
Chất lượng nhân lực là một sự tổng hoà của nhiều chỉ số thành phần, có thể đại diện bằng các chỉ tiêu như: tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học cơ sở, đại học, cao đẳng, trường nghề trên quy mô dân số Trong những năm gần đây, đối với vùng Tây Bắc, các chỉ tiêu này có những thay đổi tích cực ban đầu, song, vẫn bộc lộ rõ những khoảng cách lớn so với các vùng khác trong toàn quốc
Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo của vùng Tây Bắc thấp hơn so với mức trung bình cả nước và không đồng đều giữa các tỉnh Ngoài Điện Biên và Hoà Bình có sự gia tăng đáng kể lực lượng lao động