Mà vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải tích cực tìm tòi, sáng tạo trong việc đưa ra những bài toán đó để giúp cho học sinh có sự hứng thú, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giài quyết học
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài 2
II Giới thiệu bài dạy 4 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRI THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG
1 Khái niệm chung 6
2 Các cách dạy học tri thức phương pháp 10 CHƯƠNG III VẬN DỤNG THÀNH TỐ TRI THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG VÀO THIẾT KẾ BÀI GIẢNG :” CẤU TRÚC BẢNG” – TIN HỌC LỚP 12
1 Giáo án 1
Trang 2CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
I. Lý do ch ọ n đ ề tài
1 Trong bối cảnh Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, việc sử dụng rộng rãi máy tính không còn chỉ bó hẹp trong viện nghiên cứu, các trường đại học, các trung tâm máy tính mà còn mở rộng ra mọi cơ quan, xí nghiệp và nhà máy Song song với quá trình trên, việc giảng dạy Tin học trong các trường đại học, trung học và phổ thông cũng được đẩy mạnh đi đôi với việc tăng cường trang bị máy vi tính Chính vì vậy, đối với mỗi giáo viên giảng dạy môn Tin học ở các trường phổ thông, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về Tin học, cùng với việc tìm các biện pháp giảng dạy Tin học trong nhà trường phổ thông là một công việc cần phải làm thường xuyên, nhằm đáp ứng với sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội
2 Trong nghiệp vụ của người thầy giáo có hai vấn đề quan trọng: thứ nhất là thực tiễn về tiềm năng - những kiến thức lý thuyết mà họ được học rất cơ bản Thứ hai là thực tiễn về nghiệp vụ - thầy giáo phải biết cách truyền thụ kiến thức phù hợp với trình độ của học sinh Trong đó, thực tiễn thứ hai là điều quyết định trong nghiệp vụ của thầy giáo, nó đánh giá chất lượng giảng dạy của thầy giáo Hai thực tiễn trên vừa mâu thuẫn với nhau, lại vừa thống nhất với nhau Thầy giáo không thể mang hết các kiến thức
lý thuyết cao xa và trừu tượng dạy cho học sinh, nhưng cũng không thể dạy tốt cho học sinh nếu thầy giáo hiểu biết quá ít
Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động học tập Điều 24.2 của Luật giáo dục đã nêu rõ :
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
Trang 3vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Như vậy, chúng ta có thể thấy định hướng đổi mới phương
pháp dạy học đã được khẳng định, khôngcòn là vấn đề tranh luận Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh là một quá trình lâu dài; không thể ngày một ngày hai mà đông đảo giáo viên từ bỏ được kiểu dạy học truyền thụ kiến thức, tiếp thu thụ động đã quen thuộc từ lâu việc phát triển các phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là bản thân mỗi giáo viên cần có một sự nỗ lực để tìm tòi, sáng tạo trong công tác giảng dạy của mình
Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề hết sức quan trọng, nhất là với bộ môn Tin học hiện đang được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông Là một giáo viên giảng dạy bộ môn này, theo em không phải cứ tìm được nhiều bài toán khó, bài toán hay để giảng dạy cho học sinh Mà vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải tích cực tìm tòi, sáng tạo trong việc đưa
ra những bài toán đó để giúp cho học sinh có sự hứng thú, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giài quyết học tập, từ đó biết vận dụng linh hoạt trong các tình huống cụ thể ngoài thực tế
3 Trong việc giảng dạy cho học sinh, ngoài việc giúp học sinh lĩnh hội
những kiến thức cơ bản Thầy giáo còn phải biết kích thích tính tích cực, sự sáng tạo say mê học hỏi của học sinh trong việc học tập của các em Bởi vì, việc học tập tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có
ý thức về những mục tiêu đặt ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt các mục tiêu đó Điều này được thực hiện trong dạy học không chỉ đơn giản bằng việc nêu rõ mục tiêu mà quan trọng
hơn còn tạo ra tri thức trong hoạt động học.
4 Microsoft Access là hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ có khả năng lưu trữ, xử lính tính toán dữ liệu, rất phù hợp cho các bài toán quản lý vừa và
Trang 4nhỏ Microsoft Access được dùng trong chương trình giảng dạy Tin học ở lớp 12 và hầu hết các trường đại học, cao đẳng
Để thực hiện được điều đó, theo em chúng ta cần phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những bài toán phù hợp, kích thích được sự độc lập, tích cực của học sinh trong học tập Trên cơ sở đó, học sinh có thể tự mình tìm
ra được những ý tưởng sáng tạo vận dụng thiết thực vào cuộc sống thực tế khi nhu cầu nảy sinh, khi đó các em có thể tự mình hoàn thành được ý tưởng đó
Trên cơ sở những gì mà học sinh được học tập về môn Access, học sinh có thể sử dụng chương trình viết ra một chương trình nhỏ để áp dụng trong thực tế Bởi vì, ngôn ngữ Access có giao diện quan thuộc như Word, Excel
Đặc biệt, khi học Access, học sinh có thể tự mình viết ra được một chương trình nhỏ để quản lý dữ liệu qua đó có thể giúp cho các em hoàn thành những chương trình lớn hơn vượt ra những bài toán bình thường mà nội bộ môn học đòi hỏi Chính vì vậy, việc sử dụng tri thức trong hoạt động dạy giúp cho học sinh trong việc dạy học Access là một công việc quan trọng, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo giúp cho học sinh nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn, sáng tạo hơn và nhất là giúp cho các em có thể yêu thích nhiều hơn nữa ngôn ngữ lập trình Access
Với tất cả những lý do nêu trên, em quyết định chọn đề tài này.
II Giới thiệu bài dạy
- Tên bài dạy trong chương trình tin học lớp 12 :
Chương 2: Hệ quản trị CSDL Microsoft Access
Bài 4: Cấu trúc bảng.
Mục tiêu của chương 2: Hệ quản trị CSDL Microsoft Access
1 Kiến thức:
Qua chương này học sinh cần:
- Hiểu các chức năng chính của Access: Tạo bảng, thiết lập mối quan hệ giữa các bảng, cập nhật và kết xuất thông tin;
Trang 5- Biết 4 đối tượng chính của Access: bảng, mẫu hỏi, biểu mẫu và báo cáo;
- Biết 2 chế độ làm việc: chế độ thiết kế (làm việc với cấu trúc) và chế độ làm việc với dữ liệu;
- Hiểu các khái niệm chính trong cấu trúc dữ liệu bảng;
- Biết tạo và sửa cấu trúc bảng;
- Hiểu việc tạo liên kết giữa các bảng;
- Biết các lệnh làm việc với bảng: cập nhật dữ liệu, sắp xếp và lọc, tìm kiếm đơn giản, tạo biểu mẫu;
- Biết khái niệm và vai trò của mẫu hỏi;
- Biết các bước chính để tạo ra một mẫu hỏi;
- Biết khái niệm báo cáo và vai trò của nó;
- Biết các bước lập báo cáo
2 Kĩ năng:
- Thực hiện được khởi động và thoát khỏi Access;
- Tạo một CSDL mới, mở một CSDL đã có;
- Thực hiện được tạo và sửa cấu trúc bảng, nạp dữ liệu vào bảng, cập nhật dữ liệu;
- Thực hiện việc khai báo khoá;
- Thực hiện được việc liên kết giữa hai bảng;
- Thực hiện các lệnh làm việc với bảng: cập nhật dữ liệu, sắp xếp và lọc, tìm kiếm đơn giản, tạo biểu mẫu;
- Viết đúng các biểu thức điều kiện đơn giản;
- Tạo được mẫu hỏi đơn giản;
- Tạo được báo cáo bằng Wizard;
- Thực hiện lưu trữ và in báo cáo
3 Thái độ:
- Nhận thức được tầm quan trọng của Hệ QTCSDL với bài toán quản lí trong
sự phát triển của xã hội tin học ngày nay
Mục tiêu của bài 4: Cấu trúc bảng
1 Kiến thức:
Qua bài học này học sinh cần nắm được các thao tác cơ bản sau:
- Hiểu khái niệm chính trong cấu trúc bảng gồm trường, bản ghi, kiểu dữ liệu; khóa chính
- Biết các tính chất của trường;
- Biết tạo và sửa cấu trúc bảng, cập nhật dữ liệu cho bảng
2 Kỹ năng:
- Thực hiện được việc tạo và sửa cấu trúc bảng trong chế độ thiết kế
- Nhập được dữ liệu và cập nhật dữ liệu cho bảng
- Thực hiện được việc chỉ định khóa chính đơn giản chỉ là một trường
Trang 63 Thái độ:
- Nghiêm túc trong học tập và yêu thích môn học
CH ƯƠNG II NG II
I Khái niệm chung
Tri thức sự vật trong môn Tin học thường là khái niệm (ví dụ khái niệm biến), câu lệnh (chẳng hạn câu
lệnh lặp với điều kiện trước), cũng có khi là một yếu tố lịch sử.
Tri thức phương pháp liên hệ với hai loại phương pháp khác nhau về bản chất: những phương pháp có
tính chất tìm tòi (chẳng hạn phương pháp phân tích, tương tự, quy lạ về quen, ) và những phương pháp có tính chất thuật toán như phương pháp sắp xếp mảng theo thứ tự tăng bằng phương pháp chọn trực tiếp hay phương pháp nổi bọt,
Tri thức chuẩn thường liên quan với những chuẩn mực nhất định, chẳng hạn cách trình bày khi viết một
chương trình mang tính cấu trúc.
Tri thức giá trị có nội dung là những mệnh đề đánh giá, chẳng hạn "Tin học có vai trò quan trọng trong
khoa học và công nghệ cũng như trong đời sống", "Khái quát hoá là một thao tác trí tuệ cần thiết cho mọi khoa học, trong đó có Tin học".
II Các cách dạy học tri thức phương pháp
Nội dung của tư tưởng chủ đạo này là: Dẫn dắt học sinh kiến tạo tri thức,
đặc biệt là tri thức phương pháp, như phương tiện và kết quả của hoạt động Tri thức vừa là điều kiện vừa là kết quả của hoạt động Tri thức về thuật toán sắp xếp là một phương tiện
để thực hiện hoạt động sắp xếp một mảng; nhưng mặt khác chính hoạt động này lại dẫn tới kết quả là học sinh
hiểu thuật toán sắp xếp một cách vững vàng và sâu sắc hơn Vì vậy, trong việc dạy học, ta cần quan tâm cả những tri thức cần thiết lẫn những tri thức đạt được trong quá trình hoạt động Cần chú ý các dạng khác nhau của tri thức: tri thức sự vật, tri thức phương pháp, tri thức chuẩn và tri thức giá trị Đặc biệt là tri thức phương pháp định hướng trực tiếp cho hoạt động và ảnh hưởng quan trọng tới việc rèn luyện kĩ năng.
Những tri thức phương pháp thường gặp là:
- Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động tương ứng với những nội dung tin học cụ thể như đặt tên các đối tượng trong chương trình, khai báo phần tiêu đề của chương trình con, truyền đối tượng cụ thể vào tham chiếu khi gọi chương trình con,
- Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động trí tuệ phổ biến trong tin học như lật ngược vấn đề, phân chia trường hợp, xét tính giải được
- Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động trí tuệ chung như so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá,…
- Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động ngôn ngữ như
Trang 7phát biểu bằng lời sự giống nhau và khác nhau của các câu lệnh lặp, thiết lập các biểu thức logic, liên kết các biểu thức logic dưới dạng hội hay tuyển của chúng v.v
Những tri thức phương pháp thể hiện hai loại phương pháp khác nhau về bản chất và đều có ý nghĩa to lớn
trong giáo dục tin học, đó là những phương pháp có tính chất thuật toán (ví dụ: phương pháp sắp xếp mảng)
và những phương pháp có tính chất tìm đoán (chẳng hạn phương pháp chung để giải để giải một bài toán).
Ở một số nơi đã từng có khuynh hướng muốn dạy một cách tường minh cả những tri thức phương pháp hoạt động trí tuệ chung như quan sát, mô tả, so sánh, ngay từ những lớp dưới, thậm chí từ lớp 1 Bên cạnh
đó lại có những ý kiến không tán thành cách làm ồ ạt như trên và cho rằng chỉ nên dạy cho học sinh những tri thức phương pháp thực sự cần thiết và số lượng tri thức như vậy cần thu gọn tới mức tối thiểu Nhìn chung, liên quan đến những tri thức phương pháp có nhiều vấn đề cần cân nhắc giải quyết, chẳng hạn:
- Xác định tập hợp tối thiểu những tri thức phương pháp cần dạy
- Xác định yêu cầu về mức độ hoàn chỉnh của những tri thức phương pháp cần dạy, đặc biệt là đối với những phương pháp có tính chất tìm đoán Những tri thức phương pháp quá chung chung sẽ ít tác dụng chỉ dẫn, điều khiển hoạt động Mặt khác, những tri thức phương pháp quá rậm rạp lại có thể làm cho học sinh lâm vào trình trạng rối ren
- Xác định yêu cầu về mức độ tường minh của những tri thức phương pháp cần dạy: dạy một cách tường minh hay là thông báo trong quá trình tiến hành hoạt động, hay chỉ thực hành ăn khớp với một tri thức nào đó, hay là một hình thức trung gian giữa những hình thức kể trên
- Xác định yêu cầu về mức độ chặt chẽ của quá trình hình thành tri thức phương pháp: lập luận lôgic hay dựa vào trực giác hoặc thừa nhận
Đứng trước một nội dung dạy học, người thầy giáo cần nắm được tất cả các tri thức phương pháp có thể
có trong nội dung đó Nắm được như vậy không phải là để dạy tất cả cho học sinh một cách tường minh mà còn phải căn cứ vào mục tiêu và tình hình cụ thể để lựa chọn cách thức, cấp độ làm việc thích hợp, từ cấp độ dạy học tường minh tri thức phương pháp được phát biểu tổng quát, tới cấp độ thực hành ăn khớp với tri thức phương pháp Các cấp độ đó sẽ được giải thích và minh họa dưới đây.
a) Dạy học tường minh tri thức phương pháp
Ở cấp độ này, người thầy phải rèn luyện cho trò những hoạt động dựa trên tri thức phương pháp được phát biểu một cách tổng quát, không chỉ dừng ở mức độ thực hành theo mẫu ăn khớp với tri thức phương pháp này Từng bước hành động, phải làm cho hoc sinh hiểu được ngôn ngữ diễn tả bước đó và tập cho họ biết hành động dựa trên phương tiện ngôn ngữ đó.
Dạy học tường minh tri thức phương pháp được phát biểu một cách tổng quát là một trong những cách làm đối với những tri thức được quy định tường minh trong chương trình, ví dụ như thuật toán sắp xếp bằng trao đổi như các bước lập báo cáo trong ACCESS (lớp 12), …
Những quyết định quan trọng trong dạy học tường minh những tri thức phương pháp được phát biểu tổng quát như mức độ hoàn chỉnh của tri thức phương pháp và mức độ chặt chẽ của quá trình hình thành những tri
Trang 8thức phương pháp đó đã được quy định rõ trong chương trình hoặc được nêu trong sách giáo khoa.
b) Thông báo tri thức trong quá trình hoạt động
Đối với một số tri thức phương pháp chưa được quy định trong chương trình, giáo viên vẫn có thể suy nghĩ khả năng thông báo chúng trong quá trình học sinh hoạt động nếu những tiêu chuẩn sau đây được thoả mãn:
- Những tri thức phương pháp này giúp học sinh dễ dàng thực hiện một số hoạt động quan trọng nào đó được quy định trong chương trình;
- Việc thông báo những tri thức này dễ hiểu và tốn ít thời gian
Chẳng hạn, “quy lạ về quen” là một tri thức phương pháp tuy không được quy định trong chương trình
nhưng thoả mãn cả hai điều kiện trên Tri thức này có thể được thông báo cho học sinh trong quá trình họ hoạt động ở rất nhiều cơ hội khác nhau.
Ví dụ Khi viết chương trình tính diện tích của một đa giác biết toạ độ của các đỉnh, việc kẻ các đường
chéo xuất phát từ một đỉnh đa giác là để đưa về tính tổng các diện tích của những tam giác biết toạ độ của các đỉnh của mỗi tam giác.
c) Tập luyện những hoạt động ăn khớp tri thức phương pháp
Cách làm này tùy theo yêu cầu có thể được sử dụng cả trong hai trường hợp: tri thức được quy định hoặc không được quy định trong chương trình.
Ở trình độ thấp, ngay đối với một số quy tắc, phương pháp được quy định trong chương trình, nhiều khi người ta không yêu cầu dạy cho học sinh phát biểu tổng quát mà chỉ cần họ biết cách thực hành quy tắc, phương pháp đó nhờ một quá trình làm việc theo mẫu Ví dụ về trường hợp này là cách dạy thông qua làm việc theo mẫu đối với các phép tính cộng, trừ, nhân chia ở trường tiểu học Tuy nhiên, cách làm này hiếm thấy đối với những phương pháp quy định trong chương trình tin học ở trường trung học phổ thông.
Đối với những tri thức phương pháp không quy định trong chương trình mà chỉ thỏa mãn tiêu chuẩn thứ nhất chứ không thỏa mãn tiêu chuẩn thứ hai đã nêu ở mục 5.3.2, ta có thể đề cập ở mức độ thấp nhất: chỉ tập luyện những hoạt động ăn khớp với những tri thức phương pháp đó Những tri thức như thế cần được thầy giáo vận dụng một cách có ý thức trong việc ra bài tập, trong việc hướng dẫn và bình luận hoạt động của học sinh Nhờ đó học sinh được làm quen với những phương pháp này.
Ví dụ Rèn luyện khả năng xây dựng và sử dụng chương trình con.
Một yếu tố quan trọng của lập trình cấu trúc là rèn luyện cho học sinh khả năng xây dựng và sử dụng chương trình con Muốn vậy cần tạo điều kiện cho họ tập luyện dần dần những hoạt động ăn khớp với một chiến lược xây dựng và sử dụng chương trình con ở những cơ hội thích hợp Chiến lược này kết tinh lại ở học sinh như một bộ phận kinh nghiệm mà họ thu lượm được trong quá trình lập trình Đương nhiên sự kết tinh này không nên để diễn ra một cách tự phát mà cần có những biện pháp được thực hiện một cách có mục đích,
có ý thức bởi người thầy giáo Giáo viên đề ra một hệ thống bài tập với những dạng dữ liệu khác nhau, với những ý nghĩa thực tiễn khác nhau, với những tập câu lệnh không hoàn toàn giống nhau mà đòi hỏi học sinh khi xây dựng thuật toán cần tổ chức những chương trình con hợp lí để tiết kiệm công sức, thời gian, nâng cao hiệu quả khi mă hoá, khi kiểm thử vŕ khi chạy chương trình.
Giáo viên có thể lặp đi lặp lại một cách có dụng ý những chỉ dẫn hoặc câu hỏi như:
- Trong bài toán đã cho có những bài toán nhỏ nào nên tách ra để lập
Trang 9chương trình con?
- Những biến nào cần dùng cho toàn bộ chương trình?
- Những biến nào chỉ cần cho một chương trình con cụ thể?
- Mỗi chương trình con được móc nối với chương trình chính hoặc những chương trình con khác bằng những biến thuộc kiểu gì?
- Chương trình con nào cần gọi đến chương trình con khác?
- Chương trình con nào cần viết dưới dạng hàm?
- Những chương trình con nào giống hoặc gần giống với một chương trình
mà ta đã biết?
- Có thể cấu trúc chương trình như thế nào?
Với thời gian, họ sẽ ý thức được rằng những câu hỏi hoặc chỉ dẫn này được giáo viên sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, sẽ dần dần lĩnh hội và vận dụng chúng như một chiến lược xây dựng và sử dụng chương trình con, một yếu tố quan trọng của lập trình có cấu trúc.
CHƯƠNG III VẬN DỤNG THÀNH TỐ TRI THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG VÀO THIẾT KẾ BÀI GIẢNG :” CẤU TRÚC BẢNG” – TIN HỌC LỚP 12
I Giáo án
Ngày soạn:……….
Ngày dạy: ………
BÀI 4: CẤU TRÚC BẢNG
I – Chuẩn bị:
1 Giáo viên:
- Máy vi tính, máy chiếu;
- Giáo án, sgk;
- Bài giảng điện tử.
2 Học sinh :
- SGK, vở ghi
- Đọc bài trước.
II – Hoạt động dạy học:
1 Ổn định tổ chức: (2’)
Trang 10- Kiểm tra sĩ số lớp.
2 Kiểm tra bài cũ : (3’)
Câu 1: Tập tin trong Access chứa những gì:
a Chứa các bảng, nơi chứa dữ liệu của đối tượng cần quản lý
b Chứa các công cụ chính của Access như: table, query, form, report
c Chứa hệ phần mềm khai thác dữ liệu
d Câu a và b
Câu 2: Để tạo một tập tin cơ sở dữ liệu (CSDL) mới và đặt tên tệp trong Access,
ta phải:
a Vào File chọn New
b Kích vào biểu tượng New
c Khởi động Access, vào File chọn New hoặc kích vào biểu tượng New
d Khởi động Access, vào File chọn New hoặc kích vào biểu tượng New, kích tiếp vào Blank DataBase đặt tên file và chọn Create
Câu 3:Thoát khỏi Access bằng cách:
a Vào File /Exit
b Trong cửa sổ CSDL, vào File/Exit
c Trong cửa sổ CSDL, kích vào nút close (X) nằm trên thanh tiêu đề cửa
sổ Access
d Câu b và c
3 Giảng bài mới:
Giới thiệu bài: (1’)
Qua tiết học trước, ta đã biết Access giúp cho người lập trình tạo, nhập
dữ liệu và khai thác thông tin từ CSDL mà toàn bộ những dữ liệu trong
Access thì được lưu trữ dưới dạng các bảng Do đó muốn làm việc với các bảng này thì trước tiên ta phải biết được cấu trúc của nó bao gồm những thành phần nào, cách tạo và sửa cấu trúc bảng ra sao, Cô trò ta cùng tìm hiểu
trong bài học hôm nay : “Bài 4: Cấu trúc bảng”.
Nội dung của bài gồm có 2 phần: 1 Các khái niệm chính