1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nghiệp vụ sư phạm - dạy học tin học theo phương pháp tri thức trong hoạt động

15 411 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 179,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh là một quá trình lâu dài; không thể ngày một ngày hai mà đông đảo giáo viên từ bỏ được kiểu dạy học truyền thụ

Trang 1

PHẦN I

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

1 Trong bối cảnh Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, việc sử dụng rộng rãi máy tính không còn chỉ bó hẹp trong viện nghiên cứu, các trường đại học, các trung tâm máy tính mà còn mở rộng ra mọi cơ quan, xí nghiệp và nhà máy Song song với quá trình trên, việc giảng dạy Tin học trong các trường đại học, trung học và phổ thông cũng được đẩy mạnh đi đôi với việc tăng cường trang bị máy vi tính Chính vì vậy, đối với mỗi giáo viên giảng dạy môn Tin học ở các trường phổ thông, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn

đề về Tin học, cùng với việc tìm các biện pháp giảng dạy Tin học trong nhà trường phổ thông là một công việc cần phải làm thường xuyên, nhằm đáp ứng với sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội

2 Trong nghiệp vụ của người thầy giáo có hai vấn đề quan trọng: thứ nhất là thực tiễn về tiềm năng - những kiến thức lý thuyết mà họ được học rất cơ bản Thứ hai là thực tiễn về nghiệp vụ - thầy giáo phải biết cách truyền thụ kiến thức phù hợp với trình độ của học sinh Trong đó, thực tiễn thứ hai là điều quyết định trong nghiệp vụ của thầy giáo, nó đánh giá chất lượng giảng dạy của thầy giáo Hai thực tiễn trên vừa mâu thuẫn với nhau, lại vừa thống nhất với nhau Thầy giáo không thể mang hết các kiến thức lý thuyết cao xa

và trừu tượng dạy cho học sinh, nhưng cũng không thể dạy tốt cho học sinh nếu thầy giáo hiểu biết quá ít

Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động học tập Điều 24.2 của Luật giáo dục

đã nêu rõ : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến

Trang 2

tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Như

vậy, chúng ta có thể thấy định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định, không

còn là vấn đề tranh luận Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh là một quá trình lâu dài; không thể ngày một ngày hai mà đông đảo giáo viên từ bỏ được kiểu dạy học truyền thụ kiến thức, tiếp thu thụ động đã quen thuộc từ lâu việc phát triển các phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là bản thân mỗi giáo viên cần có một sự nỗ lực để tìm tòi, sáng tạo trong công tác giảng dạy của mình

Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề hết sức quan trọng, nhất

là với bộ môn Tin học hiện đang được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông Là một giáo viên giảng dạy bộ môn này, theo em không phải cứ tìm được nhiều bài toán khó, bài toán hay để giảng dạy cho học sinh Mà vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải tích cực tìm tòi, sáng tạo trong việc đưa ra những bài toán đó để giúp cho học sinh có sự hứng thú, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giài quyết học tập, từ đó biết vận dụng linh hoạt trong các tình huống cụ thể ngoài thực tế

3 Trong việc giảng dạy cho học sinh, ngoài việc giúp học sinh lĩnh hội những kiến thức cơ bản Thầy giáo còn phải biết kích thích tính tích cực, sự sáng tạo say mê học hỏi của học sinh trong việc học tập của các em Bởi vì, việc học tập tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ý thức về những mục tiêu đặt ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt các mục tiêu đó Điều này được thực hiện trong dạy học không chỉ đơn giản bằng việc nêu rõ mục tiêu mà quan trọng hơn

1

Trang 3

còn tạo ra tri thức trong hoạt động học.

4 Microsoft Access là hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ có khả năng lưu trữ,

xử lính tính toán dữ liệu, rất phù hợp cho các bài toán quản lý vừa và nhỏ Microsoft Access được dùng trong chương trình giảng dạy Tin học ở lớp 12

và hầu hết các trường đại học, cao đẳng

Trong các vấn đề về Tin học được đưa vào giảng dạy ở chương trình bậc học phổ thông hiện nay Khi nói đến vấn đề dạy chương trình ACCESS cho học sinh, vấn đề giúp cho học sinh biết về mối liên

hệ giữa các bảng và biểu mầu là một trong những vấn đề chiếm vai trò quan trọng Bởi vì, khi ta xác định hướng làm đúng thì ta có thể kết nối bảng với nhau rất dễ dàng Đồng thời, chương trình ACCESS thể giúp cho người lập trình tạo ra được những bảng biểu, biểu mẫu đẹp, dễ sửa chữa, dễ kiểm tra Vấn đề đặt ra là: tri thức trong hoạt động cho học sinh khi giảng dạy về chương ACCESS như thế nào? Đó chính là vấn đề mà bản thân em hết sức quan tâm

Để thực hiện được điều đó, theo em chúng ta cần phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những bài toán phù hợp, kích thích được sự độc lập, tích cực của học sinh trong học tập Trên cơ sở đó, học sinh có thể tự mình tìm ra được những ý tưởng sáng tạo vận dụng thiết thực vào cuộc sống thực tế khi nhu cầu nảy sinh, khi đó các em có thể tự mình hoàn thành được ý tưởng đó

Trên cơ sở những gì mà học sinh được học tập về môn Access, học sinh có thể sử dụng chương trình viết ra một chương trình nhỏ để

áp dụng trong thực tế Bởi vì, ngôn ngữ Access có giao diện quan thuộc như Word, Excel

Đặc biệt, khi học Access, học sinh có thể tự mình viết ra được một chương trình nhỏ để quản lý dữ liệu qua đó có thể giúp cho các em hoàn thành những bài tập lớn hơn vượt ra những bài toán bình thường mà nội bộ môn học đòi hỏi Chính vì vậy, việc sử dụng tri thức trong hoạt động dạy giúp cho học sinh học Access là một

Trang 4

công việc quan trọng, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo giúp cho học sinh nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn, sáng tạo hơn và nhất là giúp cho các em có thể yêu thích nhiều hơn nữa ngôn ngữ lập Access

Với tất cả những lý do nêu trên, em quyết định chọn đề tài này

II Sơ lược về bài dạy

Bài dạy nằm trong chương 2: Hệ quản trị CSDL Microsoft Access ở chương

trình tin học lớp 12

1 Mục tiêu của chương Hệ quản trị cơ sở dữ liêu Microsoft access

1.1 Kiến thức:

Qua chương này học sinh cần:

- Hiểu các chức năng chính của Access: Tạo bảng, thiết lập mối quan hệ giữa các bảng, cập nhật và kết xuất thông tin;

- Biết 4 đối tượng chính của Access: bảng, mẫu hỏi, biểu mẫu và báo cáo;

- Biết 2 chế độ làm việc: chế độ thiết kế (làm việc với cấu trúc) và chế

độ làm việc với dữ liệu;

- Hiểu các khái niệm chính trong cấu trúc dữ liệu bảng;

- Biết tạo và sửa cấu trúc bảng;

- Hiểu việc tạo liên kết giữa các bảng;

- Biết các lệnh làm việc với bảng: cập nhật dữ liệu, sắp xếp và lọc, tìm kiếm đơn giản, tạo biểu mẫu;

- Biết khái niệm và vai trò của mẫu hỏi;

- Biết các bước chính để tạo ra một mẫu hỏi;

- Biết khái niệm báo cáo và vai trò của nó;

- Biết các bước lập báo cáo

1.2 Kĩ năng:

- Thực hiện được khởi động và thoát khỏi Access;

- Tạo một CSDL mới, mở một CSDL đã có;

- Thực hiện được tạo và sửa cấu trúc bảng, nạp dữ liệu vào bảng, cập

1

Trang 5

nhật dữ liệu;

- Thực hiện việc khai báo khoá;

- Thực hiện được việc liên kết giữa hai bảng;

- Thực hiện các lệnh làm việc với bảng: cập nhật dữ liệu, sắp xếp và lọc, tìm kiếm đơn giản, tạo biểu mẫu;

- Viết đúng các biểu thức điều kiện đơn giản;

- Tạo được mẫu hỏi đơn giản;

- Tạo được báo cáo bằng Wizard;

- Thực hiện lưu trữ và in báo cáo

1.3 Thái độ:

- Nhận thức được tầm quan trọng của Hệ QTCSDL với bài toán quản lí trong sự phát triển của xã hội tin học ngày nay

2 Mục tiêu của Bài 6: Biểu mẫu

2.1 Kiến thức:

Qua bài học này học sinh cần nắm được các thao tác cơ bản sau:

- Hiểu khái niệm biểu mẫu; công dụng của biểu mẫu;

- Biết các chế độ làm việc với biểu mẫu: Chế độ thiết kế, chế độ biểu mẫu;

- Biết cách tạo biểu mẫu đơn giản và dùng chế độ thiết kế để chỉnh sửa cấu trúc biểu mẫu;

2.2 Kỹ năng:

- Biết sử dụng biểu mẫu để nhập và chỉnh sửa dữ liệu

2.3 Thái độ:

- Hăng hái

Trang 6

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRI THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG

1 Quan điểm về tri thức phương pháp

1.1.Quan điểm về tri thức.

1.1.1.Khái niệm tri thức và một số dạng tri thức

Theo từ điển Tiếng Việt: “tri thức là những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội”

Theo từ điển Triết học : “Tri thức là sản phẩm của hoạt động lao động xã hội và

tư duy của con người, làm tái hiện lại trong tư tưởng, dưới hình thức ngôn ngữ những mối liên hệ khách quan hợp qui luật của thế giới khách quan đang được cải biến trên thực tế”

Như vậy, tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thực tại khách quan đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, là phản ánh trung thực thực tại khách quan trong ý thức con người dưới hình thức những biểu tượng và khái niệm, được diễn đạt trong ngôn ngữ Tri thức là kết quả của quá trình tư duy tích cực, tri thức không bao giờ là một cái gì cứng đờ và bất biến mà ngày càng được phát triển Sự phát triển của tri thức trong quá trình nhận thức được tiến hành theo con đường chính xác hoá chúng, bổ sung, đào sâu, phân hoá chúng, đem lại cho chúng tính hệ thống và khái quát Muốn có tri thức, con người phải tiến hành hoạt động nhận thức;gồm một số dạng tri thức:

+, Tri thức thông thường: là những hiểu biết được tích luỹ từ kinh nghiệm sống thường ngày Nhờ những tri thức thông thường, con người có được những hình dung thực tế về các sự vật.Những tri thức thông thường ngày càng được đa dạng và phong phú thêm Chúng chứa đựng những mặt riêng biệt, đúng đắn về thế giới khách quan và là cơ sở cho sự hình thành các tri thức khoa học

+, Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích luỹ từ quá trình nghiên cứu khoa học Tri thức khoa học được biểu diễn dưới dạng các khái niệm, phạm trù, tiên đề, quy luật, định luật, định lý, lý thuyết, học thuyết…

Những tri thức khoa học thuộc bất kỳ một lĩnh vực tri thưc cụ thể nào, nếu được

1

Trang 7

thực hiện ở mức độ đầy đủ, bao giờ cũng trải qua hai quá trình: kinh nghiệm và

lý luận Người ta cũng có thể chia ra tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận

- Tri thức kinh nghiệm: là những tri thức được chủ thể ( con người ) thu nhận trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn Trong nhận thức khoa học, tri thức kinh nghiệm là những kết quả, số liệu, dữ liệu… thu thập được qua thực nghiệm Tri thức kinh nghiệm nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, giúp con người kịp thời điều chỉnh phương hướng cho cách thức hoạt động của mình Những tri thức kinh nghiệm có thể nhiều hạn chế Ở trình độ nhận thức kinh nghiệm chưa thể nắm được cái tất yếu, các mối quan hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng

Vì vậy, khi nhận thức chân lý không thể chỉ dừng lại ở mức độ kinh nghiệm mà cần chuyển lên trình độ nhận thức cao hơn là nhận thức lý luận

- Tri thức lý luận: là những tri thức phản ánh hiện thực trong bản chất, trong những mối liên hệ bên trong mang tính quy luật So với ttri thức kinh nghiệm thì tri thức lý luận khái quát hơn, thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn, nghĩa là “có tính bản chất hơn ” Vì lý do đó, phạm vi áp dụng và ứng dụng tri thức lý luận cũng rộng rãi hơn rất nhiều so với tri thức king nghiệm, kinh nghiệm kết thúc ở đâu thì lý luận bắt đầu tiếp nối từ đó

Tuy vậy trong hoạt động dạy học, GV cũng cần phải coi trọng tri thức kinh nghiệm của học sinh trong việc giúp học sinh nắm vững các tri thức đặc biệt là các tri thức phương pháp Thông qua quá trình đó, GV cố gắng hệ thống hoá các kinh nghiệm của các em thành các lý luận khái quát, giúp các em nhận thức tri thức một cách toàn diện và sâu sắc hơn

* Tri thức vừa là điều kiện vừa là kết quả của hoạt động.Chẳng hạn, việc cộng hai số hữu tỉ đòi hỏi tri thức về giá trị tuyệt đối và về qui tắc cộng hai số hữu tỉ Mặt khác, việc tính đạo hàm của một hàm số dựa vào định nghĩa cũng có thể làm nổi bật lên một tri thức cần thiết lẫn tri thức đạt được trong quá trình hoạt động

1.1.2 Những dạng khác nhau của tri thức trong dạy học Tin học:

Tri thức sự vật trong môn Tin học thường là khái niệm (ví dụ khái niệm

biến), câu lệnh (chẳng hạn câu lệnh lặp với điều kiện trước), cũng có khi là

Trang 8

một yếu tố lịch sử.

Tri thức phương pháp liên hệ với hai loại phương pháp khác nhau về bản

chất: những phương pháp có tính chất tìm tòi (chẳng hạn phương pháp phân tích, tương tự, quy lạ về quen, ) và những phương pháp có tính chất thuật toán như phương pháp sắp xếp mảng theo thứ tự tăng bằng phương pháp chọn trực tiếp hay phương pháp nổi bọt,

Tri thức chuẩn thường liên quan với những chuẩn mực nhất định, chẳng

hạn cách trình bày khi viết một chương trình mang tính cấu trúc

Tri thức giá trị có nội dung là những mệnh đề đánh giá, chẳng hạn "Tin học

có vai trò quan trọng trong khoa học và công nghệ cũng như trong đời sống", "Khái quát hoá là một thao tác trí tuệ cần thiết cho mọi khoa học, trong đó có Tin học"

2 Các cách dạy học tri thức phương pháp trong môn Tin học

Nội dung của tư tưởng chủ đạo này là: Dẫn dắt học sinh kiến tạo tri thức, đặc biệt là tri thức phương pháp, như phương tiện và kết quả của hoạt động.

Tri thức vừa là điều kiện vừa là kết quả của hoạt động Vì vậy, trong việc dạy học, ta cần quan tâm cả những tri thức cần thiết lẫn những tri thức đạt được trong quá trình hoạt động Cần chú ý các dạng khác nhau của tri thức: tri thức sự vật, tri thức phương pháp, tri thức chuẩn và tri thức giá trị Đặc biệt là tri thức phương pháp định hướng trực tiếp cho hoạt động và ảnh hưởng quan trọng tới việc rèn luyện kĩ năng

Những tri thức phương pháp thường gặp là:

-Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động tương ứng với những nội dung tin học cụ thể như đặt tên các đối tượng trong chương trình, khai báo phần tiêu đề của chương trình con, truyền đối tượng cụ thể vào tham chiếu khi gọi chương trình con,

-Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động trí tuệ phổ biến trong tin học như lật ngược vấn đề, phân chia trường hợp, xét tính giải được

-Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động trí tuệ chung như so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá,…

-Những tri thức về phương pháp thực hiện những hoạt động ngôn ngữ như

1

Trang 9

phát biểu bằng lời sự giống nhau và khác nhau của các câu lệnh lặp, thiết lập các biểu thức logic, liên kết các biểu thức logic dưới dạng hội hay tuyển của chúng v.v

Những tri thức phương pháp thể hiện hai loại phương pháp khác nhau về bản chất và đều có ý nghĩa to lớn trong giáo dục tin học, đó là những phương

pháp có tính chất thuật toán (ví dụ: phương pháp sắp xếp mảng) và những phương pháp có tính chất tìm đoán (chẳng hạn phương pháp chung để giải

để giải một bài toán)

Ở một số nơi đã từng có khuynh hướng muốn dạy một cách tường minh cả những tri thức phương pháp hoạt động trí tuệ chung như quan sát, mô tả, so sánh, ngay từ những lớp dưới, thậm chí từ lớp 1 Bên cạnh đó lại có những

ý kiến không tán thành cách làm ồ ạt như trên và cho rằng chỉ nên dạy cho học sinh những tri thức phương pháp thực sự cần thiết và số lượng tri thức như vậy cần thu gọn tới mức tối thiểu Tác giả cuốn sách này chia sẻ sự đồng tình với những ý kiến loại sau Nhìn chung, liên quan đến những tri thức phương pháp có nhiều vấn đề cần cân nhắc giải quyết, chẳng hạn:

-Xác định tập hợp tối thiểu những tri thức phương pháp cần dạy

-Xác định yêu cầu về mức độ hoàn chỉnh của những tri thức phương pháp cần dạy, đặc biệt là đối với những phương pháp có tính chất tìm đoán Những tri thức phương pháp quá chung chung sẽ ít tác dụng chỉ dẫn, điều khiển hoạt động Mặt khác, những tri thức phương pháp quá rậm rạp lại có thể làm cho học sinh lâm vào trình trạng rối ren

-Xác định yêu cầu về mức độ tường minh của những tri thức phương pháp cần dạy: dạy một cách tường minh hay là thông báo trong quá trình tiến hành hoạt động, hay chỉ thực hành ăn khớp với một tri thức nào đó, hay là một hình thức trung gian giữa những hình thức kể trên

-Xác định yêu cầu về mức độ chặt chẽ của quá trình hình thành tri thức phương pháp: lập luận lôgic hay dựa vào trực giác hoặc thừa nhận

Những vấn đề nêu trên hiện nay còn chưa được nghiên cứu đầy đủ Tuy nhiên, người có trách nhiệm giải quyết trước hết không phải là giáo viên mà

là những người làm chương trình và viết sách giáo khoa

Đứng trước một nội dung dạy học, người thầy giáo cần nắm được tất cả các tri thức phương pháp có thể có trong nội dung đó Nắm được như vậy không phải là để dạy tất cả cho học sinh một cách tường minh mà còn phải căn cứ

Trang 10

vào mục tiêu và tình hình cụ thể để lựa chọn cách thức, cấp độ làm việc thích hợp, từ cấp độ dạy học tường minh tri thức phương pháp được phát biểu tổng quát, tới cấp độ thực hành ăn khớp với tri thức phương pháp Các cấp độ đó sẽ được giải thích và minh họa dưới đây

Ở cấp độ này, người thầy phải rèn luyện cho trò những hoạt động dựa trên tri thức phương pháp được phát biểu một cách tổng quát, không chỉ dừng ở mức độ thực hành theo mẫu ăn khớp với tri thức phương pháp này Từng bước hành động, phải làm cho hoc sinh hiểu được ngôn ngữ diễn tả bước đó

và tập cho họ biết hành động dựa trên phương tiện ngôn ngữ đó

Dạy học tường minh tri thức phương pháp được phát biểu một cách tổng quát là một trong những cách làm đối với những tri thức được quy định tường minh trong chương trình, ví dụ như các bước lập báo cáo trong ACCESS (lớp 12), …

Những quyết định quan trọng trong dạy học tường minh những tri thức phương pháp được phát biểu tổng quát như mức độ hoàn chỉnh của tri thức phương pháp và mức độ chặt chẽ của quá trình hình thành những tri thức phương pháp đó đã được quy định rõ trong chương trình hoặc được nêu trong sách giáo khoa

Đối với một số tri thức phương pháp chưa được quy định trong chương trình, giáo viên vẫn có thể suy nghĩ khả năng thông báo chúng trong quá trình học sinh hoạt động nếu những tiêu chuẩn sau đây được thoả mãn:

-Những tri thức phương pháp này giúp học sinh dễ dàng thực hiện một số hoạt động quan trọng nào đó được quy định trong chương trình;

-Việc thông báo những tri thức này dễ hiểu và tốn ít thời gian

Chẳng hạn, “quy lạ về quen” là một tri thức phương pháp tuy không được

quy định trong chương trình nhưng thoả mãn cả hai điều kiện trên Tri thức này có thể được thông báo cho học sinh trong quá trình họ hoạt động ở rất nhiều cơ hội khác nhau

Ví dụ Khi dạy bài 6 " Biểu mẫu" Khi dạy về khái niệm biểu mẫu:

Ta cho học sinh quan sát hai bảng và yêu cầu học sinh so sách cách hiển thị

1

Ngày đăng: 02/11/2016, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w