Vì thế họat động thương mại vừa chịu sự chi phối của các quy luật của nền sản xuất hàng hóa, vừa chịu chi phối của các quy luật kinh tế vốn có của mỗi chế độ xã hội – Chính trị mà ngành
Trang 1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI
Đề tài:
“Nâng cao Vai trò của quản lý nhà nước về thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
Người thực hiện: Ngô Duy Khâm Lớp cao học: Quản lý kinh tế K21 Hải Phòng
Hải Phòng - 2016
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Thương mại đã ra đời rất lâu và nó đã tồn tại qua các phương thức sản xuất xã hội Xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa Vì thế họat động thương mại vừa chịu sự chi phối của các quy luật của nền sản xuất hàng hóa, vừa chịu chi phối của các quy luật kinh tế vốn có của mỗi chế độ xã hội – Chính trị mà ngành thương mại đang hoạt động Sản xuất là điểm xuất phát, tiêu dùng là điểm cuối cùng của thương mại: thực hiện chức năng phân phối và trao đổi là khâu trung gian Với vị trí này thương mại một mặt chịu sự cho phối của sản xuất và tiêu dùng, mặt khác nó tác động tích cực và chủ động trở lại đối với sản xuất và tiêu dùng, mặt khác nó tác động tích cực và chủ động trở lại đối với sản xuất và tiêu dùng Thương mại đại diện cho người tiêu dùng để tác động đến sản xuất, vừa đại diện cho sản xuất để tác động đến tiêu dùng, góp phần thúc đẩy quá trình tài sản xuất mở rộng phát triển, nó đóng vai trò như một mắt xích trong bộ máy kinh tế
Sự phát triển lực lượng sản xuất toàn cầu, sự phát triển khoa học công nghệ thông tin như vũ bão và xét về bản chất sự phát triển các mối quan hệ kinh
tế thị trường, theo đó luật mâu thuẫn về trọng tài thương mại quốc tế của ủy ban liên hiệp quốc về thương mại thông qua ngày 26/6/1985 đã xác định nội dung của hoạt động thương mại theo nghĩa rộng “bao gồm hầu như tất cả các quan hệ liên quan đến hoạt động kinh tế như: Giao dịch, mua bán, dịch vụ ” Tuy nhiên xuất phát từ yêu cầu, nội dung và phạm vị nghiên cứu của chương trình học môn học quản lý nhà nước về Thương mại, em mạnh dạn đề cập đến vấn đề “Nâng cao Vai trò của quản lý nhà nước về thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
Trong khuôn khổ bài viết chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy, cô để em hoàn thiện kiến thức và bài việt của mình được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm thương mại và Quản lý nhà nước về Thương mại
- Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức,
tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình
thức thương mại hàng đổi hàng Trong quá trình này, người bán là người cung
cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó
- Quản lý nhà nước về Thương mại:
Tất cả các nền kinh tế thị trường của các nước đã và đang phát triển đều
có sự quản lý, điều khiển, can thiệp của Nhà nước ở những phạm vị và mức độ khác nhau và bằng các phương thức khách nhau Ngày nay, trong nền kinh tế hiện đại, ở nhiều góc độ hầu như đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp mà trong
đó không thể thiếu vai trò quản lý của Nhà nước
Ta có thể hiểu QLNN về Thương mại là quá trình thực hiện và phối hợp các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động thương mại trên thị trường trọng sự tác động của hệ thống quản lý đến hệ thống bị quản
lý nhằm đạt mục tiêu thong qua việc sử dụng các công cụ bao gồm các nội dung
cơ bản là hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại, phân tích và xây dựng các chính sách thương mại quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trương; xác lập các chương trình, dự án cụ thể hóa chiến lược, đặc biệt
là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế
1.2 Lịch sử về sự ra đời của Thương mại
Thương mại là một phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Kinh tế hàng hóa
Về mặt lịch sử, kinh tế loài người đã trải qua hai quá trình là Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa Xã hội loài người bắt đầu bằng kinh tế tự nhiên Trong nền kinh tế tự nhiên con người sản xuất ra các sản phẩm với mục đích phục vụ cho nhu cầu của bản thân họ,vì thế chưa có trao đổi hàng hóa và dịch vụ
Trang 5Trao đổi hàng hóa chỉ xuất hiện trong nền kinh tế hàng hóa khi phân công lao động xã hội đã tương đối phát triển và chế độ tư hữu hình thành Trong lịch sử phát triển loài người trao đổi hàng hóa xuất hiện vào giai đoạn cuối của
xã hội cộng đồng nguyên thủy và thời kỳ đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ Lúc đầu trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp theo hình thức hàng đổi hàng (H-H’)
Khi xã hội xuất hiện tiền tệ thì từ đó trao đổi được tiến hành thông qua môi giới của tiến tệ (H- T – H’) và lưu thông hàng hóa ra đời
Lưu thông hàng hóa là hình thái phát triển của trao đổi hàng hóa, đó là
sự trao đổi hàng hóa thông qua môi giới của tiền tệ
Lưu thông hàng hóa ra đời làm cho quá trình mua bán trao đổi dễ dàng hơn, thuận tiện , mở rộng hơn về không gian và thời gian Nó đã thúc đẩy mạnh
mẽ sự phát triển của trao đổi và đưa đến sự phủ định trao đổi hàng hóa trực tiếp
Tuy nhiên sự tách rời giữa quá trình mua bán cũng làm xuất hiện mầm mống của mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng Do vậy cũng làm nảy sinh những điều kiện dẫn tới khủng hoảng sản xuất và tiêu thụ
Trong trao đổi hàng hóa trực tiếp và lưu thông hàng hóa, chủ thể của hoạt động trao đổi là những người sản xuất và những người tiêu dùng, không có sự tham gia của những người trung gian (thương nhân) Mục đích của hoạt động trao đổi là giá trị sử dụng
Sự phát triển ngày càng cao của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một tầng lớp xã hội mới, đó là những người thương gia Khác với những người sản xuất trực tiếp và những người tiêu dùng trực tiếp, thương gia bỏ tiền
ra mua hàng hóa của những người sản xuất, sau đó bán lại để kiếm lời trong hoạt động buôn bán Hoạt động kinh tế của những người thương gia thông qua mua bán để kiếm lời chính là hoạt động thương mại (T - H - T')
Khác với trao đổi hàng hóa trực tiếp và lưu thông hàng hóa, hoạt động thương mại bắt đầu bằng tiền với hành vi mua và kết thúc cũng bằng tiền với hành vi bán mục đích của hoạt động thương mại không phải là giá trị sử dụng
mà là giá trị cụ thể là nhằm vào lợi nhuận Lưu thông hàng hóa ra đời đã phủ định trao đổi hàng hóa trực tiếp, ngược lại thương mại ra đời không đưa đến sự phủ định lưu thông mà trái lại nó làm cho lưu thông hàng hóa phát triển ở một trình độ cao hơn
Như vậy, sự xuất hiện của hoạt động thương mại gắn liền với sự xuất hiện của thương gia Về lịch sử, những người thương gia xuất hiện vào cuối chế độ công xã nguyên thủy và đầu chế độ phong kiến Những hoạt động thương mại lúc đầu chỉ giới hạn chủ yếu trong lĩnh vực trao đổi các sản phẩm hữu hình
Trang 6(thương mại hàng hóa), sau đó được mở rộng sang các sản phẩm vô hình (thương mại dịch vụ), và trong nền kinh tế hiện đại, thương mại còn liên quan rất chặt chẽ với các hoạt động đầu tư và sở hữu trí tuệ
Những người thương gia ngày càng đông trong xã hội như là kết quả tất yếu của quá trình phân công lao động xã hội ngày càng mở rộng và chuyên sâu Khi đó, một bộ phận lao động xã hội tách khỏi sản xuất, độc lập với sản xuất, chuyên làm chức năng lưu thông làm xuất hiện một ngành kinh tế mới đó là ngành Thương mại
Ngành thương mại ra đời như là kết quả tất yếu của sự phát triển trao đổi
và phân công lao động xã hội Phân công lao động lần thứ nhất bằng việc tách chăn nuôi ra khỏi trồng trọt đã thúc đẩy sự phát triển của trao đổi và tiền tệ xuất hiện trong giai đoạn này
Phân công lao động lần thứ hai bằng việc tách thủ công nghiệp khỏi nông nghiệp, sản xuất hàng hóa hình thành Phân công lao động lần thứ ba với việc tách riêng chức năng tiêu thụ khỏi chức năng sản xuất, đã làm xuất hiện một ngành kinh tế chuyên làm chức năng trao đổi, mua bán nhằm vào mục đích kiếm lời trong nền kinh tế đó là ngành thương mại Phân công lao động xã hội vẫn tiếp tục phát triển và tạo ra nhiều ngành mới
Trong lĩnh vực thương mại, ngoài ngành phân phối là ngành chuyên cung cấp các dịch vụ mua bán hàng hóa hữu hình gồm bán buôn và bán lẻ, còn có các ngành thương mại dịch vụ chuyên đảm nhận việc cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua các hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận (hiện nay theo phân loại của WTO, lĩnh vực thương mại dịch vụ được phân thành 12 ngành, trong đó có 155 tiểu ngành dịch vụ khác nhau)
Ngành thương mại ra đời vừa là sự tiến bộ của lịch sử, vừa là điều kiện thúc đẩy sự phát triển một bước cao hơn nữa của sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là 2 yếu tố cơ bản hợp thành Kinh tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa tất nhiên sản sinh và hình thành thị trường
Vì thế, nói tới thương mại, nói đến kinh tế hàng hóa, không thể tách rời phạm trù thị trương và kinh tế thị 5 trường
Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường, cũng như thương mại và thị trường
đó là những mặt không thể tách rời nhau của cùng một sự vật
1.3 Chức năng QLNN về thương mại
- Chức năng hoạch định: Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để
định hướng hoạt động Thương mại của các chủ thể tham gia thị trường Chức năng này bao gồm các nội dung cơ bản là hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển thương mại, phân tích và xây dựng các chính sách thuwong mại quy
Trang 7hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường, xây dựng hệ thống pháp luật có lien quan đến thương mại; xác lập các chương trình, dự án, cụ thể hóa chiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế Vai trò của chức năng hoạch định là giúp cho các doanh nghiệp có phương hướng hình thành phương án chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh Nó vừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh, vừa cho phép nhà nước có thể kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh trên thị trường
- Chức năng phối hợp: Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức, quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản pháp luật Đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước nhằm đưa ra chính sách và pháp luật và thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, hiện thức hoát quy hoạch và kế hoạch
- Chức năng điều tiết các hoạt động thương mại và can thiệp thị trường Mục đích của chức năng này là nhằm điều tiết các hoạt động thuwong mại, điều tiết thị trường để các hoạt động này cũng như thị trường phát triển cân đối, hài hoatf, bền vững và đúng theo định hướng của Nhà nước
- Chức năng kiểm soát: phát hiện những lêch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm phám luật và các quy định của Nhà nước từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của QLNN về Thương mại
1.4 Vai trò và nội dung quản lý nhà nước về thương mại
1.4.1 Vai trò:
Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại thể hiện trên các mặt sau:
- Vai trò duy trì ổn định hoạt động hoạt động thương mại quốc tế của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường;
- Vai trò thúc đẩy;
- Vai trò điều tiết
Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn Trong lĩnh vực thương mại nước ta, vai trò quản lý của nhà nước được thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là: Nhà nước tạo môi trường và điều kiện cho thương mại phát triển.
Nhà nước bảo đảm sự ổn định về mặt kinh tế, chính trị, xã hội cho thương mại phát triển Nhà nước thực thi cơ chế, chính sách để hạn chế tình trạng thiếu cầu, giảm lạm phát, khuyến khích sản xuất và tiêu dùng Nhà nước tập trung xây dựng kết cầu hạ tầng, bao gồm kết cầu hạ tầng vật chất, tài chính, giáo dục và
Trang 8phát luật cho thương mại Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, môi trường vĩ mô phù hợp với xu hướng phát triển của thương mại trong cơ chế thị trường
Hai là: Nhà nước định hướng cho sự phát triển của thương mại Sự định
hướng này được thực hiện thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lước kinh tế xã hội, các chương trình mục tiêu, các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Định hướng dẫn dắt sự phát triển của thương mại còn được bảo đảm bằng hệ thống chính sách, sự tác động của hệ thống tổ chức quản lý thương mại
từ trung ương đến địa phương
Ba là: Nhà nước điều tiết và can thiệp vào quá trình hoạt động thương
mại của nền kinh tế quốc dân Nhà nước có vai trò củng cố, bảo đảm dân chủ, công bằng xã hội cho mọi người, mọi thành phần kinh tế hoạt động thương mại trên thị trường Xây dựng một xã hội văn minh, dân chủ rộng rãi, khuyến khích
và đề cao trách nhiệm cá nhân là điều kiện cho sự phát triển toàn diện kinh tế xã hội Trong kinh tế thị trường sự phân hóa giầu nghèo giữa các tầng lớp xã hội là rất lớn Nhà nước cần có sự can thiệp và điều tiết hợp lý nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định, nhân sách của con người được tôn trọng, đồng thời đảm bảo tính
tự chủ, sáng tạo và ham làm giầu của mọi công dân
Bốn là: quản lý trực tiếp khu vực kinh tế Nhà nước Nhà nước quy định rõ
những bộ phận, những ngành then chốt, những nguồn lực và tài sản mà Nhà nước trực tiếp quản lý Đất đai, các ngành tài nguyên, các sản phẩm và ngành có
ý nghĩa sống còn với quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước Ở đây Nhà nước phải quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia nhằm bảo tồn và phát triển các tài sản đó
Nhà nước trực tiếp quản lý các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước Thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta Vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước là nội dung quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa Duy trì vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước là công việc quan trong để vượt qua nguy cư chệch hướng xã hội chủ nghĩa Thông qua các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước có thể hướng dẫn, chỉ đạo sự phát triển của các doanh nghệp thuộc các thành phần khác, tập trung mọi nguồn lực cho
sự công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Thông qua thành phần kinh tế Nhà nước, Nhà nước nắm và điều tiết một
bộ phân lớn các hàng hóa dịch vụ chủ yếu có ỹ nghĩa quan trọng và then chốt của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm cho nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng và phát triển cân đối với nhịp độ cao
1.4.2 Nội dung
Trang 9Trong Luật thương mại 1997, Chương V, mục 1 điều 245 có quy đinh 12 nội dung vè QLNN về Thương mại ở nướ ta Nhưng trong Luật Thương mại
2005 thay cho Luật 1997, nhà nước không quy định cụ thể về các nội dung QLNN về thương mại ở nước ta Các nội dung này nằm trong các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ và của UBND các cấp
Hiện nay có thể khái quát các nội dung về QLNN về Thương mại ở nước
ta tập trung chủ yếu một số vấn đề sau:
Định hướng cho sự phát triển Thương mại, xây dựng các chiến lược, chính sách, quy hoạch và các kế hoạch phát triển thương mại ở từng cấp từng địa phương
- Thương mại nội địa:
+ Tổ chức điều kiện kinh doanh cho các chủ thể
+ Điều kiện lưu thông của hàng hóa trên thị trường: nhã, chất lượng, chứng từ…
+ Thương mại điện tử
- Thương mại quốc tế:
Hợp tác quố tế: đại diện tham gia ký kết các công ước, điều ước quốc tế
và các hiệp định thương mại song phương của Việt Nam với nước ngoài và các
tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế mà Việt Nam tham gia
Để phù hợp với sự phát triển của Thương mại nước ta trong những năm đổi mới nhà nước đã có nhiều thay đổi trong công tác QLNN về Thương mại, thực hiện không chỉ thay đổi về cơ chế chính sách phát triển thương mại mà còn thể hiện cả trong bộ máy QLNN
CHƯƠNG II VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM 2.1 Đặc trung cơ bản của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Kể từ khi xóa bỏ cơ chế quản lý bao cấp (1986) chuyển sang nền kinh tế
mở cửa nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta gặp rất nhiều khó khăn cả về chủa quan lẫn khách quan Xuất phát điểm từ mức thấp, từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, bị ảnh hưởng nặng lề của chiến tranh và đâu đó vấn còn các hình bóng của cơ chế quản lý thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc ỷ lại, nhưng Việt Nam vẫn quyết tâm mở cửa, hội nhập, hợp tác giao lưu, xây dưng nền kinh tế thị trường trong quản lý của nhà nước và theo định
Trang 10hướng xã hội chủ nghĩa với phương châm “hội nhập nhưng không hòa tan” nền kinh tế thị trường ở nước ta phát triển theo xu thế chung nhưng vẫn mang nét đặc trung phong cách của Việt Nam
2.1.1 Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Phát triển hàng hóa là sự phát triển của lực lương sản xuất xã hội, hàng hóa trên thị trường ngày càng nhiều hơn đáp ứng với nhu cầu đa dạng của thị trường Để thoát khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung việc phát triển hàng hóa đóng vai trò như một nhiệm vụ quan trọng nhất cho sự phát triển nền kinh tế hiện đại, hợp tác và hội nhập theo xu thế phát triển chung của nhân loại
Nhà nước cho phép các cá nhân tập thể tự do thành lập mở rộng các hoạt động kinh doanh, mỗi bộ phận kinh tế là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân trong sự thống nhất các quan hệ hàng hóa, tiền tệ, nhưng các thành phần kinh tế tự do đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh và kinh doanh phải đúng pháp luật, theo cơ chế hiện hành
Nền kinh tế nhà nước luôn giữ vững vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng cà điều tiết nền kinh tế tổng thể
2.1.2 Tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều thông qua thị trường
Trong nền kinh tế thị trường các yếu tố cấu thành sản xuất như lực lượng sản xuất hay tư liệu sản xuất để có thể trở thành đối tượng mua bán và đều được tiền tệ hóa, ở đây tiền tệ đóng vai trò quan trọng, nó như một sức mạnh ghê ghớm tạo nên cộng cụ cần thiết cho các thành phần kinh tế
Kinh tế thị trường là một thể thống nhất của các yếu tố thị trường ở thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường lao động, thị trường chứng khoán Việt Nam đang cố gắng từng bước tạo dựng đồng bộ các yếu tố thị trường thúc đẩy
sự hình thành phát triển bước hoàn thiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.1.3 Cơ chế thị trường tự điều chỉnh
Dấu hiệu cơ bản nhất của cơ chết thị trường là cơ chế hình thành giá, định giá theo quan hệ cung cầu, cơ chế thị trường nó có thể tự điều chỉnh, cân đối nền kinh tế theo yêu cầu của các quy luật giá cả, cạnh tranh hay lưu thông Vận hành nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để khai thác tối đa mọi nguồn lực đưa vào sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn đó nhằm đưa nhịp độ phát triển kinh tế với tốc độ nhanh đáp ứng nhu cầu công cuộc xây dựng đất nước
2.1.4 Kinh tế thị trường có sự quản lý nhà nước