1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu về Vật liệu gốm

30 1,8K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hoa văn này được tạo ra khi sản phẩm còn ướt, một số được tạo bằng bàn dập hoặc dùng que nhọn để vẽ, vạch.Các nhà chuyên môn cho rằng trong suốt thời gian dài, từ lúc phát minh ra đồ

Trang 1

I. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA GỐM VIỆT NAM.

Nghề làm gốm là một trong những trong những nghề truyền thống lâu đời nhất của Việt Nam Kết quả khảo cổ học viết đồ gốm đã được người việt chế tác, sử dụng cách đây khoảng 10.000 năm Trải qua năm tháng, gốm sứ không chỉ còn là những đồ dùng thủ công phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người: chén, nồi, ấm, đĩa mà còn hơn thế, gốm sứ đã trở thành một nét đẹp hồn dân tộc, trở thành một vẻ đẹp riêng, một niềm tự hào riêng nói lên cốt cách, tâm hồn của một đất nước.

Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lý và chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm Kinh nghiệm truyền đời của làng gốm Bác Tràng là: ‘nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò’ Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của ngũ hành là: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Sự phát triển của nghề được xem như là sự hành thông của ngũ hành mà sự hành thông của ngũ hành lại nằm trong quá trình lao động sáng tạo với những quá trình kĩ thuật chặt chẽ, chính xác.

Sau đây, xin nêu vài nét khát quát sự có mặt của gốm qua quá trình phát triển lịch sử đất nước:

1 Thời tiền sử: những sản phẩm đất nung được phát hiện cho thấy ở

giai đoạn đầu thường thô có pha lẫn cát hoặc các tạp chất khác, được nặn bằng tay, hoa văn đơn giản ở phía ngoài như các vạch chéo, vân sóng, vân

Trang 2

chải răng lược Các hoa văn này được tạo ra khi sản phẩm còn ướt, một số được tạo bằng bàn dập hoặc dùng que nhọn để vẽ, vạch.

Các nhà chuyên môn cho rằng trong suốt thời gian dài, từ lúc phát minh ra đồ gốm tới đầu thời kỳ đồ đồng, phần lớn gốm được hình thành bởi bàn tay của phụ nữ (vân tay để lại trên sản phẩm cho thấy điều đó); được nung ngoài trời, nhiệt độ thường dưới 700ºc Các sản phẩm gốm thời kỳ này

là đồ đựng, đồ đun nấu, về cuối ta thấy xuất hiện thêm các loại đồ dùng để ăn uống, trang sức.

2 Thời kỳ đồ đồng:

Ở Việt Nam (cách đây 4000 năm), hầu hết các sản phẩm gốm được hình thành bằng bàn xoay một cách khá thành thạo, do vậy tạo nên sự phong phú về chủng loại và kiểu dáng sản phẩm: ngoài các sản phẩm đun nấu còn thấy những sản phẩm gốm để chứa đựng, dụng cụ ăn uống, trang sức, công

cụ lao động và gốm mỹ thuật Về trang trí, gốm đất nung chủ yếu có các hoa văn hình hoạ, nét chìm là chính Một số sản phẩm được xoa một lớp áo bằng nước đất khác màu nhưng chưa phải men Các hoa văn trang trí và cách tạo dáng của gốm giai đoạn này có ảnh hưởng đến tạo dáng và trang trí trên đồ đồng cùng thời.

3 Thời đại đồ sắt: gốm đất nung được sản xuất hầu như khắp các

vùng trong nước Chất lượng gốm còn non lửa và vẫn thô sơ nhưng về tạo dáng và trang trí thì chưa có thời kỳ nào đặc sắc và phong phú bằng Hiện vật thời kỳ này cho thấy nghề gốm vẫn gắn bó với nghề nông nhưng nam giới đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất.

Đến thế kỷ II trước công nguyên Việt Nam bị rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc Nghề gốm tiếp tục phát triển trên vốn kinh nghiệm

cổ truyền, có tiếp thu ảnh hưởng của gốm Trung Hoa Về chủng loại sản phẩm, xuất hiện thêm loại gốm kiến trúc như gạch, ngói Ngoài ra còn có các tượng động vật nhỏ như lợn, bò với kiểu nặn sơ sài Phong cách gốm thời kỳ

Trang 3

này mang phong cách hán hoặc kết hợp hoa văn việt và hoa văn hán Nhiều sản phẩm gốm hán khác được cải biên theo phong cách Việt.

4 Thời Lý - Trần:

Thế kỷ X đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam Thời kỳ phục hồi độc lập dân tộc sau hơn mười thế kỷ đô hộ của phong kiến Trung Hoa Suốt bốn thế kỷ, từ nhà Lý sang nhà Trần, đồ gốm đạt được những thành tựu rực

rỡ Quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm, chất liệu Đều được mở rộng Nhiều loại men được ứng dụng và ổn định về công nghệ Đặc biệt men trắng cũng xuất hiện ở thời kỳ này ngoài men tro và men đất Ba yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm là hình dáng, hoa văn trang trí, men màu Sự phát triển của kỹ thuật và trình độ thẩm mỹ cao đã tạo nên sản phẩm gốm thời kỳ này có ba loại nổi tiếng là gốm men trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men ngọc.

Về tạo dáng gốm Lý - Trần ngoài những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa, quả là cách tạo dáng của những đồ đồng trước đó Trang trí trên gốm Lý - Trần, hoa văn hình học chiếm vị trí phụ Những hoạ tiết chính ở đây

là hoa lá, chim, thú, người Hoa văn trang trí với cách miêu tả giản dị, mộc mạc rất gần gũi với thiên nhiên và con người việt nam Một đặc điểm nữa là nét chìm được làm "bè" ra, một bên rõ cạnh, một bên biến dần vào sản phẩm, làm chỗ chảy dồn men, tạo nên độ đậm nhạt cho hoạ tiết như trên gốm men ngọc hoặc làm giới hạn để tô nâu.

Về kỹ thuật, lò nung cho gốm thời Lý - Trần có một bước tiến lớn như việc sử dụng các lò cóc, lò nằm, có khi cả lò rồng để nâng nhiệt độ nung cho sản phẩm lên đến 1200ºc – 1280ºc Việc sử dụng bao nung và kỹ thuật nung chồng bằng con kê (lòng dong) được ứng dụng rộng rãi đối với nhiều loại sản phẩm đã cho thấy đạt trình độ sản xuất gốm cao cấp, nhất là gốm men ngọc Nhiều địa phương sản xuất gốm ở Thanh Hoá, Hà Nội, vùng Nam Định

Trang 4

Chứng tỏ sự hình thành gốm tập trung và mang tính chuyên nghiệp.

Gốm Lý - Trần đã tạo nên sự chuyển hoá bước đầu giữa yêu cầu sử dụng với chất liệu Điều này nó thể hiện bước tiến bộ về mặt kỹ thuật và nghệ thuật, phản ánh tư tưởng duy lý trong quá trình sáng tạo gốm và ứng dụng

nó vào đời sống một cách tốt đẹp nhất, phù hợp nhất.

5 Sau thế kỷ 14:

Nhiều trung tâm sản xuất gốm chuyên môn hoá nổi tiếng như Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh, Hàm Rồng, Mỹ Thiện, Phú Vinh Chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của nghề Nhiều sản phẩm gốm ghi lại địa

phương, ngày tháng và người sáng tạo ra nó Nhiều quốc gia đã nhập gốm từ Việt Nam, đặc biệt thợ giỏi của Nhật Bản còn bắt chước gốm của Việt Nam.

Tiêu biểu cho kỹ thuật và nghệ thuật gốm Việt Nam thời kỳ này là gốm hoa lam; gốm chạm đắp nổi tinh tế, có bản sắc riêng Ngoài ra còn có loại gốm vẽ men mà người Nhật thời đó trong trà đạo rất ưa chuộng, gọi là "hồng

an nam".

Về kỹ thuật, các loại lò rồng cỡ lớn đã được sử dụng khá rộng rãi, nhiệt

độ và chế độ nung, điều khiển lửa một cách chủ động Loại men tro trấu, tro cây được dùng nhiều Kỹ thuật vẽ hoa đã đạt tới trình độ thành thục, nét trang trí phóng bút mang nhiều chất hội hoạ.

Đến thời Gia Long (đầu thế kỷ XIX), nghề gốm có dấu hiệu xuống dốc bởi việc nhập gốm từ Trung Hoa theo các đơn đặt hàng của triều đình Huế Một vài cơ sở sản xuất gốm ở Biên Hoà, Lái Thiêu đã phát triển một loại gốm

Trang 5

men lửa trung (thường gọi là gốm Biên Hoà) được sử dụng khá rộng rãi ở các địa phương lân cận Đầu thế kỷ XX, ở miền Bắc, một vài cơ sở đã nhập thiết bị từ nước ngoài và nghiên cứu sản xuất đồ sứ, nhưng kết quả không đáng kể.

Trong những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, người Việt Nam không có điều kiện để phát triển nghề thủ công nói chung và nghề gốm nói riêng Nghề gốm bị sa sút và có lúc tưởng chừng bị mất nghề Sau ngày đất nước thống nhất, hầu hết các nghề thủ công được hồi sinh, trong đó nghề gốm là một nghề đã được khôi phục và phát triển rất nhanh Nhiều trung tâm gốm trở lại hoạt động sôi nổi và rất năng động như Bát Tràng, Đông Triều, Phù Lãng, Biên Hoà May mắn thay, các lớp nghệ nhân cũ vẫn còn và các lớp nghệ nhân mới đang xuất hiện Sản phẩm gốm của Việt Nam từ lâu đã là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao và hôm nay nó còn là một mặt hàng lưu niệm không thể thiếu đối với nhiều du khách gần xa.

II. VẬT LIỆU GỐM, GỐM:

Khái niệm gốm: là loại vật liệu có cấu trúc tinh thể bao gồm các hợp chất giữa kim loại và á kim như kim loại với oxi (các oxit), kim loại với nitơ ( các nitrua) kim loại với cabon ( các cacbua), kim loại với silic( các silisua), kim loại với lưu huỳnh ( các sunfua)… liên kết chủ yếu trong vật liệu gốm là liên kết ion tuy nhiên cũng có trường hợp liên kết cộng hóa trị có vai trò

chính.Nguyên liệu để sản xuất gốm gồm một phần hay tất cả là đất sét haycao lanh Phối liệu để sản xuất gốm được tạo hình và sản xuất ở nhiệt độ cao làm cho vật liệu có những tính chất lý hóa đặc trưng Từ gốm còn được dùng để chỉ những sản phẩm làm từ vật liệu gốm.

III. TÍNH CHẤT CHUNG CỦA GỐM:

1 THÀNH PHẦN

Thành phần chính của đất sét là các khoáng alumôsilicát ngậm nước (nAl2O3.mSiO2.pH2O) chúng được tạo thành do fenspát bị phong hóa Tùy theo điều kiện của từng môi trường mà các khoáng tạo ra có thành phần khác nhau, khoáng caolinit 2SiO2.Al2O3.2H2O và khoáng montmôrilonit

4SiO2.Al2O3.nH2O là hai khoáng quyết định những tính chất quan trọng của đất sét như độ dẻo, độ co, độ phân tán, khả năng chịu lửa v.v.

Ngoài ra trong đất sét còn chứa các tạp chất vô cơ và hữu cơ như thạch anh (SiO2), cacbonat (CaCO3, MgCO3), các hợp chất sắt Fe(OH)3, FeS2, tạp chất hữu cơ ở dạng than bùn Màu sắc của đất sét là do tạp chất vô cơ và hữu cơ quyết định.

Trang 6

2 TÍNH CHẤT CƠ BẢN

Tính chất chủ yếu của đất sét là tính dẻo do đất sét có cấu tạo dạng lớp,

có khả năng trao đổi ion và hấp thụ nước nên khi nhào trộn với nước thì đất sét sẽ bị hidrat hóa tạo thành các lớp nước bao quanh dưới tác dụng của ngoại lực ác lớp đất sét trượt lên nhau

Sự co thể tích khi nung và khi sấy khô Hiện tượng co thường đi đôi với hiện tượng nứt, tách, cong vênh Độ co rút được tính bằng phần trăm thể tích sau so với thể tích ban đầu khoảng 5-18%.

Sự thay đổi tính chất hóa lý của đất sét sau khi nung: do đất sét gồm nhiều khoáng chất khi gia nhiệt sẽ xảy ra nhiều quá trình hóa lý như: sự mất nước (lý học), biến đổi thành phần khoáng, biến dổi cấu trúc tinh thể hoặc thù hình, tạo pha mới và gây kết khối Do đó, sau khi nung thành phần

khoáng cơ bản của vật liệu gốm là mulit 3Al2O3.2SiO2 (A3S2) đây là khoáng làm cho sản phẩm có cường độ cao và bền nhiệt.

3 TÍNH CHẤT KHÁC

Ngoài ra, vật liệu gốm còn có đặc tính cơ, tính xốp, tính nhiệt, tính từ và tính quang, tính điện

3.1 Về đặc tính cơ: vật liệu gốm có độ rắn cao nên được dùng làm vật

liệu mài, vật liệu giá đỡ

3.2 Về đặc tính xốp: thể hiện ở khả năng trương nở thể tích lớn do kiểu

cấu trúc dạng vảy chồng khít lên nhau, tạo điều kiện cho các phân tử nước

dễ bám vào khoảng không gian trống và làm tăng thể tích lên 16 lần so với ban đầu.

3.3 Về đặc tính nhiệt: vật liệu gốm có nhiệt độ nóng chảy cao, đặc biệt là

hệ số giãn nở nhiệt thấp nên được dùng làm các thiết bị đòi hỏi có độ bền nhiệt, chịu được các xung nhiệt lớn (lót lò, bọc tàu vũ trụ )

3.4 Về đặc tính từ: Đặc tính từ của vật liệu gốm rất đa dạng Ta có thể

tổng hợp được gốm nghịch từ, gốm thuận từ, gốm sắt từ, gốm phản sắt từ

Trang 7

với độ từ cảm thay đổi từ 0 đến 10 và phụ thuộc rất đa dạng vào nhiệt độ cũng như từ trường ngoài

3.5 Về đặc tính quang: do trong thành phần đất sét có mặt các oxit kim

loại nhóm II đến nhóm VIB như ZnO, Ti2O, BaTi3O… được dùng làm chất xúc tác quang hóa

Ta có thể tổng hợp được các loại vật liệu có các tính chất quang học khác nhau như vật liệu phát quang dưới tác dụng của dòng điện (chất điện phát quang), vật liệu phát quang dưới tác dụng của ánh sáng (chất lân

quang) hoặc các loại gốm sử dụng trong thiết bị phát tia laze.

3.6 Về đặc tính điện: độ dẫn điện của vật liệu gốm thay đổi trong một

- Đơn tinh thể có cấu trúc lớn

- Dạng bột có cấp hạt xác định (nanô, micrô, mili, )

- Dạng sợi có kích thước xác định (micrô, mili, )

- Khối đa tinh thể thiêu kết từ bột

- Dạng màng mỏng có độ dày rất bé cỡ nanô, micrô, mili

Ví dụ cùng thành phần hoá học là nhôm oxit nhưng sản phẩm dưới dạng khối đơn tinh thể α-Al2O3 thì rất trơ về hoá học, có độ rắn cao được dùng làm đá quý (khi có lẫn một lượng tạp chất nào đó), làm kim đĩa hát, làm các ổ gối đỡ Nếu sản phẩm dưới dạng vật liệu xốp γ-Al2O3 thì có dung tích hấp phụ lớn được dùng làm chất mang xúc tác Nếu sản phẩm dưới dạng màng mỏng có độ bền hoá học cao được dùng để phủ gốm Nếu sản phẩm dưới dạng sợi được dùng làm cốt cách nhiệt cho gốm kim loại Nếu sản phẩm dưới dạng bột α-Al2O3 hoặc bột α-Al2O3 rồi tiến hành thiêu kết thành khối thì được dùng làm vật liệu cắt gọt, bột mài

IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP VẬT LIỆU GỐM:

Trang 8

Có nhiều phương pháp tổng hợp vật liệu gốm, mỗi phương pháp cho phép tổng hợp được ưu tiên dưới những dạng sản phẩm khác nhau (đơn tinh thể có kích thước lớn, bột đa tinh thể có cấp hạt xác định (nanô, micrô, mili), màng mỏng, dạng sợi ) Do đó xuất phát từ lĩnh vực sử dụng, từ yêu cầu dạng sản phẩm, điều kiện phòng thí nghiệm ta lựa chọn phương pháp thích hợp

Vật liệu gốm đã góp phần đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mọi ngành khoa học kỹ thuật và công nghiệp cuối thế kỷ XX như công nghệ vật liệu xây dựng, công nghệ chế tạo máy, giao thông vận tải, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, từ, quang, công nghệ chinh phục vũ trụ Đến lượt mình, nhờ sự phát triển đặc biệt nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ cuối thế kỷ XX, nó đã góp phần cho việc xây dựng nhiều phương pháp hiện đại để tổng hợp được nhiều dạng vật liệu mới có cấu trúc và tính chất đặc biệt.

Có nhiều cách phân loại phương pháp tổng hợp vật liệu gốm, sau đây là một số cách phân loại

1 DỰA VÀO SẢN PHẨM

Phân thành:

- Tổng hợp vật liệu gốm dưới dạng bột (nanô, micrô, mili, );

- Thiêu kết bột gốm thành linh kiện mong muốn;

- Tổng hợp vật liệu gốm dưới dạng màng mỏng;

- Tổng hợp vật liệu gốm dưới dạng sợi

2 DỰA VÀO ĐIỀU KIỆN KĨ THUẬT

Phân thành:

- Phương pháp sử dụng nhiệt độ cao;

- Phương pháp tổng hợp dưới áp suất cao;

- Phương pháp tổng hợp có sử dụng pha hơi

3 TRONG TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU NÀY

Chúng tôi phân thành các phương pháp sau:

Trang 9

3.1 Phương pháp gốm truyền thống: Thực hiện phản ứng giữa các pha

rắn ở nhiệt độ cao Sản phẩm của phương pháp này thông thường dưới dạng bột có cấp hạt cỡ milimet Từ sản phẩm đó mới tiến hành tạo hình và thực hiện quá trình kết khối thành vật liệu cụ thể Đây là phương pháp được phát triển lâu đời nhất nhưng sang thiên niên kỷ này vẫn được áp dụng rộng rãi

3.2 Các phương pháp precursor: phương pháp này dùng thủ thuật hoá

học để tăng mức độ tiếp xúc giữa các chất phản ứng nhằm tăng tốc độ phản ứng và hạ nhiệt độ phản ứng Các phương pháp này thường cho sản phẩm gốm dưới dạng bột mịn hơn sản phẩm thu được theo phương pháp gốm truyền thống, có thể đạt tới cấp hạt micrô

Tuỳ theo mức độ phân tán các chất phản ứng có thể phân thành hai phương pháp precursor là:

3.2.1 Phương pháp precursor phân tử: gồm có phương pháp đồng kết tủa

và phương pháp sol-gel

3.2.2 Phương pháp precursor nguyên tử: gồm có phương pháp đồng tạo

phức (phức đa nhân) và phương pháp kết tinh tạo dung dịch rắn

3.3 Phương pháp sol-gel: phương pháp này cũng thực hiện việc tăng mức

độ khuếch tán các chất tham gia phản ứng dưới dạng phân tử, nhưng cơ sở lí thuyết của phương pháp này có nhiều nét đặc thù riêng và đặc biệt là phương pháp này có thể tổng hợp được vật liệu gốm dưới dạng bột micrô, nanô, màng mỏng, dạng sợi, do đó được tách ra thành một phương pháp độc lập.

3.4 Phương pháp kết tinh từ pha lỏng đồng thể hoặc từ pha thuỷ tinh:

Dựa vào giản đồ trạng thái cân bằng giữa pha lỏng và pha rắn để kết tinh Phương pháp này cho sản phẩm gốm dưới dạng tinh thể lớn (đơn tinh thể hoặc đa tinh thể), hoặc sản phẩm dưới dạng gốm - thuỷ tinh (Glass-

Ceramics)

3.5 Phương pháp thực hiện phản ứng xâm nhập, hoặc phản ứng trao

đổi ion trên nền của một cấu trúc mở đã có sẵn: Đây là một phương pháp

cho phép tổng hợp được nhiều hợp chất mới phần lớn dưới dạng bột.

3.6 Phương pháp điện hoá và phương pháp hoá học mềm (Soft

Chemisty): Các phương pháp điện hoá cho phép tạo được vật liệu dưới dạng

màng mỏng hoặc những dạng đơn tinh thể có góc cạnh rất hoàn chỉnh Sử dụng thủ thuật thực nghiệm đặc biệt của hoá học có thể tổng hợp được nhiều

Trang 10

hợp chất có mức oxi hoá bất thường và cấu trúc đặc biệt Sản phẩm của các phương pháp này chủ yếu dưới dạng bột

3.7 Các phương pháp sử dụng áp suất cao và phương pháp thuỷ nhiệt:

phương pháp này cho phép chế tạo được chất rắn có kiểu phối trí mới, kiểu liên kết mới và trạng thái oxi hoá bất thường Thực hiện phản ứng trong các nồi hấp cho phép thu được những đơn tinh thể có kích thước lớn

3.8 Các phương pháp có sự tham gia của pha hơi: như phương pháp

CVT (Chemical Vapor Transport), phương pháp CVD (Chemical Vapor

Decomposition), phương pháp CPE (Chemical Phase Epitaxy), phương pháp MBE (Molecular Beam Epitaxy) cho phép chế tạo được nhiều loại vật liệu

gốm rất đa dạng: bột nanô, màng mỏng với bề dày nanô, mircô xen kẽ

nhau

3.9 Các phương pháp nuôi đơn tinh thể: phương pháp này cho phép chế

tạo được những tinh thể hoàn chỉnh có kích thước lớn với độ nguyên chất

cao Hầu hết các phương pháp chế tạo vật liệu đều liên quan đến việc thực hiện phản ứng giữa các pha rắn Do đó, trước khi giới thiệu các phương pháp chúng tôi nhận thấy cần thiết phải trình bày một số nét lý thuyết về phản ứng giữa các pha rắn là những vấn đề còn ít được nói đến trong giáo trình hoá vô

cơ và hoá lý của chúng ta Tài liệu này nhằm phục vụ cho những nhà hoá học, vật liệu học quan tâm đến vật liệu gốm, trong đó đối tượng chủ yếu là sinh viên và học viên cao học đi về lĩnh vực vật liệu

V. GỐM DÙNG TRONG KĨ THUẬT ĐIỆN TỬ, VÔ TUYẾN:

Các ngành công nghiệp điện tử toàn cầu sẽ không tồn tại mà không có đồ gốm Các loại gốm sứ có tính chất điện bao gồm cả cách điện, bán dẫn, siêu dẫn

và áp điện rất quan trọng với các sản phẩm như điện thoại di động, máy vi tính, truyền hình, và các sản phẩm điện tử tiêu dùng khác.

Trang 11

Gốm sứ cách điện được làm bằng chất liệu đất nung có độ bền cao, sứ cách

điện được sử dụng rộng rãi tại các trạm biến áp hay các công trình điện 24,

35, 110, 220 và 550kV Không chỉ có độ bền, sứ gốm còn có sức chịu nhiệt lớn, khả năng chống chịu với thời tiết khắc nghiệt tốt hơn sứ thủy tinh hay sứ polymer, được sử dụng trong môi trường kể cả sương muối.

1.3 Phân loại và ứng dụng

Sứ cách điện thường được thiết kế và sản xuất cho cấp điện áp nhất định và được chia thành hai dạng chính: sứ đỡ hay sứ treo dùng để đỡ hay treo thanh cái, dây dẫn và các bộ phận mang điện; sứ xuyên dùng để dẫn nhánh hay dẫn xuyên qua tường hoặc nhà.

1.3.1 Sứ xuyên

1.3.2 Sứ trao

Thường dùng cho đường dây có điện áp từ 35kV trở xuống, khi đường dây vượt sông hay đường giao thông thì có thể dùng sứ treo.

Trang 12

1.3.3 Sứ treo

Có thể phân thành sứ thanh và sứ đĩa Sứ thanh được chế tạo có chiều dài và chịu được một điện áp xác định trước Chuỗi sứ được kết lại từ các đĩa và số lượng được ghép với nhau tùy thuộc điện áp đường dây Ưu điểm của việc dùng chuỗi sứ cho đường dây cao thế là điện áp làm việc có thể tăng bằng cách thêm các đĩa sứ với chi phí nhỏ.

Khi cần tăng cường về lực người ta dùng các chuỗi sứ ghép song song, khi tăngcường cách điện người ta tăng thêm số đĩa Việc kẹp dây dẫn vào sứ đứng được thực hiện bằng cách quấn dây hoặc bằng ghíp kẹp dây chuyên dụng.

Việc kẹp dây vào sứ treo được thực hiện bằng khóa kẹp dây chuyên dụng.

Đường dây có điện áp 110kV trở lên dùng sứ treo Chuỗi sứ treo gồm các đĩa

sứ tuỳ theo cấp điện áp mà chuỗi sứ có số đĩa khác nhau.

Trang 13

Ta cũng có thể thấy sứ cách điện trong một số loại tụ điện yêu cầu điện

áp đánh thủng lớn.

Ngoài ra các sản phẩm này còn được sử dụng rộng rãi trong điện thoại

di động, hệ thống định vị tự động và mấy nghe nhạc cầm tay.

Trong bugi của động cơ, ngoài vai trò cách điện những sản phẩm này còn có đặc tính chịu nhiệt cao cũng như trơ với môi trường Thường được sử dụng để sản xuất các bộ phận của máy bay, trực thăng, ô tô, …

Trang 14

2 GỐM ÁP ĐIỆN

Trang 15

là áp điện nghịch: sẽ làm cho vật thay đổi kích thước.

- Gốm áp điện còn được nghiên cứu về tính quang điện tử dùng trong kĩ thuật laze

2.3 Quy trình công nghệ cơ bản:

Ngày đăng: 27/11/2016, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w