Để giải quyết vấn đề này cần hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường,sớm ban hành đồng bộ khung pháp lý bảo vệ môi trường, phân bố lại địa bàn sản xuất công nghệ theo
Trang 1
Danh sách nhóm 9:
Nguyễn Thị Thanh Thảo 2009140369 Nguyễn Hoàng Phúc 2009140431 Nguyễn Thị Mỹ Thuận 2009140265
Trang 2
Mở đầu
Sự ra đời của các khu công nghiệp đã đem lại thành tựu to lơn, khẳng định vai trò quan
trọng, khẳng định vai trò quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, đẩy nhanh tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế Tuy nhiên , khi các khu công nghiệp
đi vào hoạt động và ngày càng phát triển, thì đồng thời cũng nãy sinh không ít bất cập, ảnh hưởng đến đời sống xã hội cộng đồng, gây ra các trình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Để giải quyết vấn đề này cần hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường,sớm ban hành đồng bộ khung pháp lý bảo vệ môi trường, phân bố lại địa bàn sản xuất công nghệ theo hướng tập trung hóa và quy hoạch hợp lý hơn, triển khai các hệ thống xử lý chất thải, nước thải, rác thải, nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường của các chủ đầu tư khu công nghiệp và doanh nghiệp,… Trong số các giải pháp đó thì việc hướng tới xây dựng khu công nghiệp sinh thái (KCNST) đang được quan tâm Khu công nghiệp sinh thái được xem
là hướng phát triển công nghiệp bền vững mang tính khả thi nhất Khái niệm sinh thái công nghiệp và khu công nghiệp sinh thái tuy đã phát triển ở một số nước trên thế giới _phần lớn
là ở Châu Âu và Mỹ những vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta Hiện đã có một số dự án xây dựng những chỉ mới bắt đầu Hôm nay, nhóm 9 tụi em xin tìm hiểu nghiên cứu về đề tài Khu công nghiệp sinh thái
Trang 3Chương 1 Tổng quan về khu công nghiệp sinh thái
1.1 Khái niệm
Khu công nghiệp sinh thái (Khu công nghiệp sinh thái – Eco-Industrial Park) là một cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có mối liên hệ mật thiết trên cùng một lợi ích là hướng tới một hoạt động mang tính xã hội, kinh tế và môi trường chất lượng cao, thông qua sự hợp tác trong sự quản lý các vấn đề môi trường và nguồn tài nguyên Bằng các hoạt động hợp tác chặc chẽ với nhau, cộng đồng Khu công nghiệp sinh thái sẽ đạt được một hiệu quả tổng thể lớn hơn nhiều so với tổng các hiệu quả mà từng doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ gộp lại Trong Khu công nghiệp sinh thái cơ sở hạ tầng công nghiệp được thiết kế sao cho chúng có thể tạo thành một chuổi hệ sinh thái hòa hợp với hệ sinh thái tự nhiên trên toàn cầu Khu công nghiệp sinh thái hình thành trên cơ sở Sinh thái học Công nghiệp ,sản xuất sạch, quy hoạch, kiến trúc và xây dựng bền vững, tiết kiệm năng lượng và hợp tác các doanh nghiệp
Khái niệm Khu công nghiệp sinh thái bắt đầu được phát triển từ những năm 90 của thế kỷ 20 trên cơ sở của Sinh thái học công nghiệp Hệ công nghiệp không phải là các thực thể riêng rẽ là là tổng thể các hệ thống liên quan giống như hệ sinh thái ; sinh thái công nghiệp tìm các loại trừ khái niệm “ chất thải’’ trong sản xuất công nghiệp Mục tiêu cơ bản là tăng cường hiệu quả của hoạt động công nghiệp và cải thiện môi trường : giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, giảm thiểu các tác động xấu môi trường, duy trì hệ sinh thái tự nhiên của khu vực ……
Khu công nghiệp sinh thái được hình thành dựa trên nghiên cứu và thử nghiệm trong các lĩnh vực cấp thiết hiện nay như : sinh thái học công nghiệp, sản xuất sạch, quy hoach Kiến trúc và xây dựng bền vững, tiết kiệm năng lượng; hợp tác doanh
Trang 4nghiệp Các lĩnh vực này đang tạo nên một trào lưu rộng khắp bằng các nghiên cứu, nchính sách và đự án cụ thể nhằm chứng tỏ các nguyên tắc của phát triển bền vững
1.2 Các loại khu công nghiệp sinh thái
a. Khu công nghiệp sinh thái nông nghiệp (KCNSTNN)
KCNSTNN tập trung vào nhóm các doanh chế biến thực phẩm sử dụng nhiều
năng lượng, nước và biomass để tạo ra các dòng lưu chuyển thuận lợi trong hệ sinh thái công nghiệp bền vững, giúp nhà nông nghiệp thực hiện một số mục tiêu cơ bản: Bảo tồn duy trì các tập quán nông nghiệp truyền thống mang tính sinh thái, hỗ trợ chuyển đổi phương thức nông nghiệp cũ sang nông nghiệp sinh thái Bảo tồn và giữ gìn quỹ đất nông nghiệp và hệ thống thủy lợi, hạn chế xuống cấp Duy trì, đổi mới môi trường kinh tế và xã hội nông thôn
b. Khu công nghiệp sinh thái tái tạo tài nguyên (KCNSTTTTN)
Là một cơ hội rất lớn từ việc chấm dứt khái niệm “chất thải” và làm sạch môi ttáirường đô thị KCN này tạo ra lợi ích về kinh tế và môi trường to lớn từ việc quản
lý, tái sử dụng, tái chế một cách hệ thống các các dòng chất thải công nghiệp, thương mại, nhà ở và công cộng Đây không đơn thuần là một thống thu gom và xử lý mà là một hệ thống có thể tái tạo lại giá trị chất thải, tạo nên các cơ hội kinh doanh và việc làm, tạo nguồn lợi nhuận mới, đồng thời đem lại hiệu quả về môi trường và sức khỏe cộng đồng Tóm lại KCNSTTTTN là biến các chất thải thành các sản phẩm có thể bán được
c. Khu công nghiệp sinh thái năng lượng tái sinh (KCNSTNLTS)
Nhiệm vụ chính là phát triển công nghệ năng lượng tái sinh và tiết kiệm năng lượng KCN này có các ưu điểm: kích thước nhỏ gọn, công suất lớn, giá thành rẻ Hiện nay, có các thiết bị cung cấp năng lượng tái sinh có rất nhiều loại bao gồm: thiết
bị điện hóa, thiết bị năng lượng gió, pin mặt trời, nước nóng mặt trời, năng lượng sinh học, nhà máy phát điện khí đốt
d. KCNST nhà máy điện (KCNSTNMD)
Trang 5Nhà máy nhiệt điện không chỉ cung cấp điện năng mà còn tạo ra một lượng nhiệt thừa rất lơn trong suốt quá trình hoạt động Việc hình thành KCNSTNMD để tận dụng nguồn năng lượng dư này cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của toàn khu vực Nguồn năng lượng này còn được sử dụng trong các ngành nông nghiệp, chế biến và sinh hoạt quanh vùng
e. Khu công nghiệp lọc hóa dầu (KCNLHD)
Là một giải pháp hữu ích để ngành công nghiệp lọc hóa dầu phát triển bền vững trong xu thế phát triển chung toàn cầu KCN này thường có quy mô lớn với rất nhiều nhà máy, cơ cấu hoạt động và hệ thống quản lý môi trường phức tạp, thường được đặt gần các mỏ dầu khí đốt hay khu vực có khả năng vận cuyển và cung cấp dầu thô liên tục (như ven biển)
1.3 Mục tiêu của khu công nghiệp sinh thái :
Nhằm xây dựng một hệ công nghiệp gồm nhiều nhà máy hoạt động độc lập nhưng kết hợp với nhau một cách tự nguyện, hình thành quan hệ cộng sinh giữa các nhà máy với nhau và với môi trường Như vậy, các nhà máy trong Khu công nghiệp sinh thái
cố gắng đạt được những lợi ích kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường chung thông qua việc quản lý hiệu quả năng lượng, nước và nguyên liệu sử dụng
Theo nghiên cứu của trường Đại học Comell, một Khu công nghiệp sinh thái phải bao gồm các nhà máy cộng tác với nhau trên cơ sở phối hợp Trao đổi các loại sản phẩm phụ Tái sinh,tái chế,tái sử dụng sản phẩm phụ tại nhà máy,với các nhà máy khác và theo hướng bảo toàn tài nguyên thiên nhiên Các nhà máy phấn đấu sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường ( sản phẩm sạch ) Xử lý chất thải tập trung Các loại hình công nghiệp phát triển trong Khu công nghiệp được quy hoạch theo định hướng bảo vệ môi trường của Khu công nghiệp sinh thái Kết hợp giữa phát triển công nghiệp với các khu vực lân cận (vùng nông nghiệp, khu dân cư ) trong chu trình trao đổi vật chất (nguyên liệu, sản phẩm, phế phẩm, chất thải,…)
Trang 6Mục tiêu của Khu công nghiệp sinh thái là cải thiện hoạt động kinh tế đồng thời giảm thiểu các tác động tới môi trường của các doanh nghiệp thành viên trong khu công nghiệp sinh thái
Một Khu công nghiệp sinh thái cần phải là :
• Một mạng lưới hay 1 nhóm các doanh nghiệp sử dụng các phế phẩm, phụ phẩm cua nhau
• Một tập hợp các doanh nghiệp tái chế
• Một tập hợp các công ty có công nghệ sản xuất bảo vệ môi trường
• Một tập hợp các công ty sản xuất bảo vệ môi trường
• Một tập hợp các công ty sản xuất sạch
• Khu công nghiệp được thiết kế theo một chủ đề môi trường nhất định ( ví du: Khu công nghiệp sinh thái năng lượng tái sinh, tái tạo tài nguyên)
• Khu công nghiệp với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và công trình xây dựng bảo vệ môi trường
• Khu vực phát triển hổn hợp( công nghiệp, thương mại,….)
Mục tiêu của khu công nghiệp sinh thái là xây dựng một hệ công nghiệp gồm nhiều nhà máy hoạt động độc lập nhưng có quan hệ cộng sinh nhằm giải quyết các chất thải gây ô nhiểm môi trường Qua đó, các nhà máy trong Khu công nghiệp sinh thái vừa đạt được những lợi ích kinh tế, vừa đạt được hiệu quả bảo vệ môi trường chung thông qua việc quản lý hiệu quả năng lượng, nước và nguyên liệu sử dụng
1.4 Lợi ích của khu công nghiệp sinh thái
Khu công nghiệp sinh thái có khả năng đáp ứng sự phát triển bền vững và mang lại các lợi ích về kinh tế, môi trường - xã hội,…
a. Đối với doanh nghiệp
- Giảm chi phí, tăng hiệu quả sản xuất bằng cách tiết kiệm, tái chế, tái sử dụng nguyên vật liệu và năng lượng: tái chế và tái sử dụng chất thải
- Đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nhờ chia sẻ chi phí cho các dịch vụ chung: quản lý chất thải, đào tạo nhân lực, nguồn cung cấp và hệ thống thông tin môi trường cùng các dịch vụ hỗ trợ khác
- Những lợi ích cho các doanh nghiệp thành viên là làm tang giá trị bất động sản và lợi nhuận cho nhu cầu đầu tư KCNST
b. Lợi ích cho môi trường :
- Giảm các nguồn gây ô nhiễm cho môi trường, giảm lượng chất thải cũng như giảm nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các nghiên cứu mới nhất
Trang 7về sản xuất sạch, bao gồm: hạn chế ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải, tái tạo tài nguyên và các phương pháp quản lý môi trường và công nghệ mới khác
- Đảm bảo cân bằng sinh thái tại khu vực sản xuất Trong suốt quá trình hình thành
và phát triển Khu công nghiệp sinh thái: từ việc chọn địa điểm, quy hoạch, xây dựng, tổ chức hệ thống hạ tầng kỹ thuật, lựa chọn doanh nghiệp, quá trình hoạt động, quản lý, đều phù hợp với các điều kiện thực tế và đặc điểm sinh thái của khu đất xây dựng và khu vực xung quanh
- Tất cả vì mục tiêu môi trường, mỗi Khu công nghiệp sinh thái có một mô hình phát triển và quản lý riêng để không ngừng nâng cao đặc trưng cơ bản của nó để bảo vệ môi trường
- Mô hình Khu công nghiệp sinh thái ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không chỉ trong tăng trưởng kinh tế mà còn là công cụ bảo vệ môi trường
c. Lợi ích cho xã hội :
- Khu công nghiệp sinh thái là một động lực phát triển kinh tế-xã hội mạnh của khu vực lân cận , thu hút các tập đoàn lớn trong nước và nước ngoài Tạo việc làm mới trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ
- Tạo một bộ mặt mới , một môi trường trong sạch và hấp dẫn cho toàn khu vực, làm thay đổi cách nhìn thiếu thiện cảm cố hữu của cộng đồng đối với sản xuất công nghiệp lâu nay
- Tạo động lực hổ trợ các dự án phát triển mở rộng của địa phương về: đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, phát triển nhà ở,cải tạo và nâng cấp hệ thống kỹ thuật
- Khu công nghiệp sinh thái tạo điều kiện hợp tác với các cơ quan nhà nước trong việc thiết lập các chính sách, luật lệ về môi trường và kinh doanh ngày càng thích ứng với xu thế hội nhập và phát triển bền vững
d. Đối với sản xuất công nghiệp
- KCNST là một động lực phát triển kinh tế công nghiệp toàn khu vực: tăng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thu hút đầu tư, cơ hội việc làm cho người lao động
- Tạo điều kiện hỗ trợ và phát triển các ngành công nghiệp nhỏ địa phương, làng nghề truyền thống cùng tồn tại phát triển
- Thúc đẩy quá trình đổi mới, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học, tăng nhanh tốc độ triển khai công nghệ mới
Trang 8Ví dụ : Khu Công Nghiệp Nhơn Trạch 2 thành lập năm 1997 trên địa bàn 2 xã
Hiệp Phú và Phú Hội, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai với diện tích 347ha với các ngành công nghiệp như: dệt may, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến sản phẩm gỗ, thực phẩm, hóa chất và hóa mỹ phẩm, điện tử, điện gia dụng… Tổng lưu lượng nước thải phát sinh từ KCN là 14.000m3/ngày, trong đó bảy công ty dệt may chiếm 96% tổng lưu lượng nước phát sinh toàn KCN, tổng số chất thải rắn phát sinh là 970 tấn/tháng trong đó chất thải không nguy hại là 840 tấn/tháng và khoảng
200 tấn bùn thải từ nhà máy xử lý nước thải tập trung Được coi là KCN ST dệt may, ban quản lý KCN đã giảm thiểu ô nhiễm môi trường bằng cách áp dụng sản xuất sạch hơn đối với 7 công ty dệt may trong KCN, tách dòng của nước thải, lưu lượng nước thải giảm từ 14.000m3/ngày xuống còn 9.000-11.000m3/ngày, điện giảm
37.000kwh/ngày và hoá chất tiêu thụ giảm từ 10-14% Tiếp theo là KCN hình thành một mạng lưới trao đổi chất thải, giấy caton được sử dụng để sản xuất hộp caton, nguyên liệu vải, sợi phế liệu được sử dụng để sản xuất các sản phẩm như giẻ lau, bụi bông… Còn mạng lưới trao đổi chất thải bên ngoài KCN được thiết lập đối với tái chế phế liệu như: nhựa, giấy và caton… Chất thải rắn, khí thải đều được xử lý, còn nước thải được xử lý và tái sử dụng cho các thiết bị vệ sinh ở khu lưu trú của công nhân (240 m3/ngày), tưới cây (500m3/ngày) ngoài ra nước thải sau xử lý là 7.500 m3/ngày
1.5 Khó khăn và thách thức của khu công nghiệp sinh thái
- KCNST đòi hỏi một chi phí ban đầu cao hơn, thời gian thu hồi vốn và lợi nhuận dài hơn KCN thông thường Các chi phí có thể phát sinh Các chủ đầu tư có thể tìm cách trì hoãn hoặc cắt giảm các hạng mục bảo vệ môi trường để giảm chi phí đầu tư
- Chủ đầu tư phải có sự bảo đảm cung cấp tài chính cho dự án với thời gian dài hơn, phải lường trước các vần đề phát sinh
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tận dụng dịch vụ môi trường chung nhưng
họ lại rất khó có thể đạt được công nghệ mới cần thiết để cải thiện hoạt động trường Vì vậy cần phải có dịch vụ hỗ trợ chính trong KCNST
- Các doanh nghiệp trong KCNST cần phải liên kết mật thiết với nhau và không ngừng hợp tác nâng cao hiệu quả hoạt động trên mọi lĩnh vực Chính vì thế bất cứ
Trang 9sự đình trệ, yếu kém tại bất cứ khâu nào trong hệ thống cùng làm giảm hiệu quả hoạt động của KCNST
- Các chính môi trường tập trung vào việc xử lý đầu ra nhiều hơn là các giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường
- Các yêu cầu môi trường trong việc phát triển KCNST có thể không được các cơ quan quản lý nhà nước chấp thuận hoặc chậm thông qua, đặc biệt là các nước đang phát triển có bộ máy nhà nước cồng kềnh
- Trình độ tay nghề của cán bộ công nhân không đáp ứng được yêu cầu
1.6 Các khu công nghiệp sinh thái hiện nay
1.6.1. Trên thế giới.
Khu công nghiệp Kalundborg, Đan Mạch được xem là một ví dụ điển hình để hình thành hệ thống lý luận sinh thái học công nghiệp và các Khu công nghiệp sinh thái trên thế giới Một trong những nghiên cứu của sinh thái công nghiệp,vào việc phát triển một hệ thống trao đổi năng lượng và nguyên vật liệu giữa các công ty từ năm
1972 Thực tế vận hành Khu công nghiệp sinh thái từ năm 1972 - 2003 cho thấy mang lại lợi ích thiết thực như sau (Côté và Hakk, 1995; Cohenrosenthal và
McGalliard, 2003): Giảm tiêu thụ nguồn tài nguyên (Dầu:19.000 tấn/năm, than đá: 30.000 tấn/năm, nước: 600.000 m3/năm); Giảm lượng khí thải phát sinh: CO2:
130.000 tấn/năm, SO2: 3.700 tấn/năm: Tái sử dụng phế phẩm (Tro: 135 tấn/năm, Sulphua: 2.800 tấn/năm, Thạch cao: 80.000 tấn/năm, Nito trong bùn: 800.000
tấn/năm) Mô hình hoạt động Khu công nghiệp này là cơ sở quan trọng để hình thành
hệ thống lý luận sinh thái công nghiệp và các Khu công nghiệp sinh thái trên thế giới Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 30 Khu công nghiệp sinh thái, phần lớn nằm ở nước mỹ và châu âu Tại châu Á, mạng lưới công nghiệp sinh thái với một số Khu công nghiệp sinh thái đã được thành lập và phát triển ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn
Độ và một số nước khác Với sự nghiên cứu ngày càng sâu về sinh thái công nghiệp
và các lĩnh vực liên quan khác , với các tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ, Khu công nghiệp sinh thái đã trở thành một mô hình mới cho phát triển công nghiệp,kinh tế và xã hội phù hợp với tiến trình phát triển bền vững toàn cầu
Trang 10Toàn cảnh khu công nghiệp Kalundborg, Đan Mạch
Khu công nghiệp sinh thái Riverside (Burlington), Vermont, Mỹ Có diện tích 40ha (không kể khu vực các nông trại), là một KCNST nông nghiệp hỗn hợp đa chức năng, bao gồm cả các khu vực cây xanh, vui chơi giải trí công cộng của địa phương và vùng đầm lầy KCNST này áp dụng caccs nguyên tắc hệ sinh thái công nghiệp để thiết lập một mô hình phát triển bền vững khép kín, tập trung vào nông nghiệp, nhà kính và năng lượng sạch
Thành phần cơ bản trong KCNST Riverside là nhà máy nhiệt điện từ gỗ McNeil, trạm
xử lý nước thải dạng Living Machine, nhà máy compost hóa và các nông trại,
ao thủy sản, nhà kính Các thành phần hoạt động theo một chu trình khép kín đầu vào, đầu ra kết hợp từ trạm thu gom gỗ thải, nhà máy sản xuất ximang, nhà máy sản xuất kem tới các nông trại trong vùng