+ Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính cũng thể hiện rõ trong văn hoá nhận thức, ứng xử của người Việt: coi trọng kinh nghiệm chủ quan hơn là cơ sở khá
Trang 1ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM.
Câu 1: Hãy chỉ ra sự khác nhau giữa hai loại hình văn hóa phương Đông / phương Tây và lý giải nguyên nhân của sự khác nhau đó.
Văn hoá gốc chăn nuôi du mục Văn hoá gốc nông nghiệp, trồng trọt
Hình thành ở phương Tây bao gồm toàn bộ Chây Âu
Phương Tây là vùng khí hậu lạnh, khô, địa hình chủ yếu
là thảo nguyên, rất thích hợp cho nghề chăn nuôi
Hình thành ở phương Đông bao gồm châu Á và châu Phi Phương Đông là vùng có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, tạo nên sông nên đồng bằng trù phí, phì nhiêu, thích hợp cho nghề trồng trọt phát triển
Đòi hỏi cư dân phải sống theo lối du cư, nay đây mai
đó, từ đó tạo thành thói quen thích đi lại (trọng động)
Nghề trồng trọt buộc con người phải sống định cư Do sống định cư nên cư dân nông nghiệp phải lo tạo dựng một cuộc sống ổn định lâu dài, không thích sự di chuyển, đổi thay (trọng tĩnh)
Vì luôn di chuyển nên cuộc sống không phụ thuộc
nhiều vào thiên nhiên, từ đó nảy sinh tâm lý coi thường
thiên nhiên và có tham vọng chinh phục, chế ngự thiên
nhiên
Vì nghề trồng trọt phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên cư dân nông nghiệp rất tôn trọng, sùng bái và mong muốn sống hoà hợp với thiên nhiên
Vì sống du cư nên tính gắn kết cộng đồng của cư dân
du mục không cao, yếu tố cá nhân được coi trọng, dẫn
đến tâm lý ganh đua, cạnh tranh, hiếu thắng, lối ứng xử
độc tôn, độc đoán trong tiếp nhân, cứng rắn trong đối
phó
Cuộc sống định cư đã tạo cho cư dân nông nghiệp tính gắn kết cộng đồng cao
Vì cuộc sống du cư cần đến sức mạnh và bản lĩnh nên
người đàn ông có vai trò quan trọng; tư tưởng sức mạnh,
trọng võ, trong nam giới cũng từ đó mà ra
Cuộc sống định cư và tính cố kết cộng đồng đã tạo nên lối sống tình nghĩa, trọng văn, trọng phụ nữ
Nghề chăn nuôi du mục đòi hỏi sự khẳng định vai trò
cá nhân, thêm vào đó, đối tượng mà hằng ngày con
người tiếp xúc là đàn gia súc với từng cá thể độc lập, từ
đó hình thành kiểu tư duy phân tích chú trọng vào từng
yếu tố Kiểu tư duy này là cơ sở cho sự phát triển của
khoa học dựa trên những cơ sở khách quan, lý tính
Nghề trồng trọt của cư dân nông nghiệp phụ thuộc cùng lúc vào nhiều yếu tố: trời, đất, nắng, mưa,… nên từ đây hình thành kiểu tư duy tổng hợp – biện chứng, coi trọng mối quan hệ giữa các yếu tố Lối tư duy này thiên
về kinh nghiệm chủ quan, cảm tính hơn là coi trọng các
cơ sở khách quan và khoa học thực nghiệm
Kiểu tư duy phân tích là nguyên nhân sinh ra lối sống
trọng lý, ứng xử theo nguyên tắc; thói quen tôn trọng
pháp luật cũng vì vậy mà được hình thành rất sớm ở
phương Tây
Lối tư duy tổng hợp, biện chứng là nguyên nhân dẫn đến thái độ ứng xử mềm dẻo, linh hoạt
Câu 2: Hãy chỉ ra những bằng chứng cho thấy văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình
- Do vị trí địa lý nằm ở góc tận cùng phía đông – nam châu Á nên VN thuộc loại hình văn hoá gốc nông nghiệp, trồng trọt điển hình Tất cả đặc trưng của loại hình này đều được thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hoá VN
- Biểu hiện:
+ Người Việt từ xưa đến nay đều ưa thích một cuộc sống định cư ổn định (An cư lạc nghiệp), vì vậy đã tạo nên
tình cảm gắn bó với quê hương xứ sở, với làng, nước Nhưng cũng từ đây hình thành lối sống tự trị, khép kín, hướng nội
+ Cư dân nông nghiệp VN rất sùng bái tự nhiên, luôn mong muốn mưa thuận gió hoà để có cuộc sống no đủ (câu cửa miệng của người Việt là “ơn Trời”, “lạy Trời”, “nhờ Trời”,…) Các tín ngưỡng và lễ hội sùng bái tự nhiên vì vậy rất phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi vùng miền của đất nước
+ Cuộc sống đinh cư tạo cho người Việt tính cố kết cộng đồng cao (Bán anh em xa mua láng giềng gần, Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ,…).
Trang 2+ Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa (Lá lành đùm lá rách; Chị ngã em nâng; Bầu ơi thương lấy bí cùng,…); các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lý (Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình; Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thể,…).
+ Cuộc sống định cư ổn định cần đến vai trò chăm lo thu vén của người phụ nữ Thêm nữa, nghề trồng trọt, đồng
áng cũng là công việc phù hợp với phụ nữ, do đó, vai trò của người phụ nữ được tôn trọng, đề cao (Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng; Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bá; Ba đồng một mớ đàn ông, đem
bỏ vào lồng cho kiến nó tha, ba trăm một mụ đàn bà, đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi, ).
Sau này, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên mới hình thành tư tưởng trọng nam khinh nữ Tuy nhiên hiện nay, vẫn còn các dân tộc không chịu hoặc ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa (Chăm, Êđê, Giarai,…), vẫn duy trị chế độ mẫu hệ
+ Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính cũng thể hiện rõ trong văn hoá nhận
thức, ứng xử của người Việt: coi trọng kinh nghiệm chủ quan hơn là cơ sở khách quan và tri thức khoa học (Nhìn mặt mà bắt hình dong; Trăm hay không bằng tay quen; Sống lâu lên lão làng,…).
Kiểu tư duy thiên về chủ quan, cảm tính kết hợp với lối sống trọng tình đã tạo nên thói quen tư duy, ứng xử tuỳ
tiện (Yêu nên tốt, ghét nên xấu; Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười; Thưowng nhau mọi việc chẳng nề, dẫu trăm chỗ lệnh cũng kê cho bằng,…).
+ Lối tư duy tổng hợp – biện chứng cũng là nguyên nhân dẫn đến lối ứng xử mềm dảo, linh hoạt được thể hiện rõ
qua quan niệm sống của người Việt: “Tuỳ cơ ứng biến”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “Đi với Bụt mặc áo cà sa,
đi với ma mặc áo giấy”,…
Câu 3: Hãy chỉ ra những bằng chứng cho thấy khả năng tận dụng tự nhiên và xã hội của người Việt biểu hiện ở lĩnh vực văn hóa vật chất
1 Văn hóa ẩm thực:
a Cơ cấu bữa ăn của người Việt:
- Hai yếu tố có tính trội chi phối đến văn hoá vật chất của người Việt, đó là tính sông nước và thực vật Sự chi phối đó được thể hiện trong việc lựa chọn cơ cấu bữa ăn truyền thống: cơm – rau – cá – thịt (theo thứ tự quan trọng giảm dần)
+ Món ăn cung cấp tinh bột chủ yếu trong bữa ăn là cơm Không phải ngẫu nhiên mà người Việt gọi bữa ăn là bữa cơm, người Việt có thói quen gặp nhau thường hỏi: “Ăn cơm chưa?” Tục ngữ có rất nhiều câu nói về vai trò
quan trọng hàng đầu của cơm gạp (Cơm tẻ mẹ ruột; Người sống về gạo, cá bạo về nước,…) Ngoài cơm, từ gạo còn
chế biến thành nhiều món ăn khác (bánh cuốn, cháo, bún, miến, bánh đa, bánh chưng, bánh dầy,…)
+ Trong bữa ăn của ngươì Việt, sau cơm là đến rau
Tục ngữ có rất nhiều câu nói về tầm quan trọng của rau: Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống;
Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ; Đói ăn ray, đau uống thuốc,…)
Là một đất nước nằm ở xứ nhiệt đới, là một trong những trung tâm của nghề trồng trọt, rau quả của Việt Nam mùa nào thức ây, vô cùng phong phú
Ngoài rau, dưa và cà là hai món ăn đặc trưng trong bữa ăn cổ truyền của người nông dân Việt Nam (Thịt cá laf hương hoa, tương cà là gia bản; Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương,…).
Ngoài các loại rau, dưa, cà, còn có các loại rau gia vị rất đa dạng như: hành, tỏi, gừng, ớt, riềng, sả, rau mùi, rau răm, rau húng, thìa là, tía tô,… cũng là những thứ rau gia vị không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt
+ Thức ăn cung cấp đạm động vật của người Việt chủ yếu là cá – sản phẩm của vùng sông nước (nhiều sông – gần biển) Từ các loại thuỷ, hải sản, người Việt lại chế biến các loại mắm (mắm tôm, mắm tép, mắm cáy, mắm cá, mắm rươi,…) và nước mắm dùng làm nước chấm Một bữa cơm người Việt hầu như không thể thiếu được món nước mắm
- Nước uống, hút: cùng với thức ăn, đồ uống của người Việt cũng là sản phẩm của nghề trồng trọt
+ Nước uống thông dụng là nước chè xanh, nước chè vối; rượu là loại đồ uống được nấu từ gạo nếp
+ Thuốc lào là thứ đồ hút truyền thống, được chế biến từ lá cây thái nhỏ, phơi khô, có khả năng gây nghiện Với nhiều người, hút thuốc lào là một đam mê không thể bỏ
+ Ăn trầu là một phong tục rất độc đáo, có từ rất lâu đời ở VN, phổ biến đến mức người Việt coi “miếng trầu là đầu câu chuyện” Trong nhiều nghi lễ của người Việt, đặc biệt, trong phong tục cưới hỏi không thể thiếu được nghi
lễ trầu cau
Trang 3b Tính tổng hợp trong văn hoá ẩm thực của người Việt:
- Tư duy tổng hợp – biện chứng là một đặc trưng của văn hoá gốc nông nghiệp trồng trọt cũng chi phối đến văn hoá ẩm thực Việt Nam
- Biểu hiện:
+ Trong cách chế biến thức ăn: hầu hết các món ăn đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp (xào, nấu, canh, rau sống, bánh chưng, nem rán, nước chấm, bún,…) tạo nên những món ăn hấp dẫn, đa màu sắc, đa hương vị
+ Trong cách ăn: mâm cơm người Việt bao giờ cũng có đồng thời nhiều thức ăn: canh, rau, dưa, cá, thịt,… được chế biến đa dạng: xào, rán, nấu, luộc, kho,… Quá trình ăn cũng là sự tổng hợp các món ăn
c Tính linh hoạt:
- Lối ứng xử mềm dẻo, linh hoạt của nông nghiệp trồng trọt cũng được thể hiện rõ nét trong văn hoá ẩm thực VN
- Biểu hiện:
+ Việc ăn uống theo mùa, theo vùng miền, đó là một biểu hiện của lối ứng xử thích nghi với môi trường tự nhiên, cũng vừa là một cách tự thích nghi của nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp
+ Việc chế biến thức ăn và lựa chọn các món ăn để điều chỉnh, làm cân bằng các trạng thái của cơ thể (âm – dương, nóng – lạnh) giữa cơ thể với môi trường để đối phó với thời tiết Ăn uống theo mùa, theo vùng miền cũng là cách để con người vừa tận dụng, vừa ứng phó với môi trường tự nhiên, cũng vừa tạo nên sự cân bằng giữa con người với môi trường
+ Tính linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn: đôi đũa Có thể dùng đôi đũa một cách linh hoạt với nhiều chức năng khác nhau Tập quán dùng đũa lâu đời đã làm hình thành cả một triết lý đôi đũa ở người Việt, đó là tính cặp
đôi (Vợ chồng như đũa có đôi), tính cân xứng (Bây giờ chồng thấp vợ cao, như đôi đũa lệch so sao cho bằng; Vợ dại không hại bằng đũa vênh), tính tập thể (Vơ đũa cả nắm).
d Tính cộng đồng:
- Tính cộng đồng như một đặc trưng biểu hiện của lối sống nông nghiệp cũng chi phối đến văn hoá ẩm thực VN
- Biểu hiện:
+ Bữa ăn của người Việt là bữa ăn chung; các thành viên trong bữa ăn liên quan và phụ thuộc nhau (chung nồi cơm, chung chén nước chấm, chung đĩa thức ăn, khác hẳn mỗi suất ăn độc lập của người phương Tây)
+ Vì mang tính cộng đồng nên trong bữa ăn người Việt rất thích trò chuyện
e Tính chuẩn mực và mực thước:
- Do lối sống cộng đồng cùng với sự chi phối của quan niệm Nho giáo coi trọng tính tôn ti, thứ bậc nên người
Việt rất coi trọng nghi lễ và thái độ ứng xử ý tứ, mực thước, chừng mực trong ăn uống (Ăn trông nồi, ngồi trông hướng; Miếng ăn là miếng nhục,…).
2 Văn hóa trang phục:
a Quan niệm về mặc của người Việt:
- Chú trọng tính bền chắc (Ăn chắc, mặc bền).
- Thích trang phục kín đáo, giản dị
- Ưa các màu sắc âm tính: nâu, đen, chàm, gụ, tím,…; các trang phục có màu sắc dương tính (đỏ, vàng, xanh lá cây, xanh lá mạ,…) chỉ mặc vào dịp lễ, hội
- Người Việt cũng rất có ý thức về việc làm đẹp (Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân; Cau già khéo bổ thì ngon, nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa).
b Chất liệu may mặc truyền thống của người Việt:
- Người Việt thường sử dụng các chất liệu may mặc có sẵn trong tự nhiên, mang đậm dấu ấn nông nghiệp trồng trọt, có nguồn gốc từ thưc vật, là những chất liệu mỏng, thoáng mát như tơ tằm, tơ chuối, sợi bông, sợi đay, sợi gai
- Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang ra đời từ rất sớm Nông và tang là hai đặc điểm tiêu biểu của con người
là ăn và mặc Từ tơ tằm, nhân dân ta đã dệt nên nhiều loại vải rất phong phú (tơ, lụa, lượt, là, gấm vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, thoa, vân, sồi,…)
- Ngày nay, khi công nghiệp phát triển, nhiều loại vải đẹp đã được sản xuất từ các chất liệu hoá học, nhưng tơ tằm vẫn là thứ vải sang trọng, rất được ưu thích
c Kiểu trang phục truyền thống của người Việt:
* Trang phục của phụ nữ:
Trang 4- Trang phục truyền thống phổ biến thời phong kiến gồm váy, yếm, áo cánh (áo tứ thân), áo dài, quần lĩnh, khăn chít đầu, thắt lưng) Trong đó, chiếc váy được bảo tồn như là một trong những nét bản sắc văn hoá dân tộc để phân
biệt với trang phục người Tàu (Cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không).
- Trong các dịp lễ hội, phụ nữ mặc áo dài (tứ thân hoặc năm thân, bỏ buông hai vạt trước, hoặc áo mớ bảy mớ ba với nhiều màu sắc sặc sỡ)
- Màu sắc trang phục truyền thống của người Việt chủ yếu là những gam màu trầm, tối: miền Bắc là màu nâu, gụ (màu đất); miền Nam là màu đen (màu bùn – phù hợp vói miền sông nước) Màu sắc trang phục cũng phản ánh phong cách truyền thống của người Việt là ưu sự kín đáo, giản dị, đồng thời cũng phản ánh sự thích nghi với môi trường sống và sinh hoạt của nghề trồng lúa nước
- Ngoài ra, chiếc nón cũng là một bộ phận kèm theo không thể thiếu trong trang phục của người phụ nữ VN truyền thống Nón để che nắng, che mưa, do đặc thù khí hậu nắng lắm, mưa nhiều nên nón có đặc điểm là rộng vành và có mái dốc
* Trang phục của nam giới:
- Trang phục truyền thống thường ngày là áo cánh, quần lá toạ; ngày lễ tết, lễ hội thì đội khăn xếp, mặc áo the, quần ống sớ
- Sang những thập niên đầu thế kỉ XX, do tác động của phong trào Âu hoá, trang phục truyền thống của người Việt mới bắt đầu thay đổi
Tóm lại, trang phục của người Việt đã thể hiện sự ứng xử linh hoạt để đối phó với môi trường tự nhiên vùng nhiệt đới và nghề trồng lúa nước Trong sự ứng xử với môi trường xã hội, trang phục của người Việt thể hiện quan niệm thẩm mỹ về vẻ đẹp kín đáo, giản dị
3 Văn hóa ở và đi lại:
a Ứng xử trong văn hoá ở của người Việt:
Đối với cư dân nông nghiệp, ngôi nhà là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho cuộc sống định cư ổn định, bởi vậy, trong quan niệm của người Việt, có “an cư” mới “lạc nghiệp”
* Ứng xử với tự nhiên:
- Vật liệu làm nhà: từ nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên như gỗ, tre, nứa, rơm rạ, lá cọ, lá mía, ngói Qua đó thể hiện khả năng sáng tạo trong việc thích nghi và tận dụng các điều kiện tự nhiên
- Kiến trúc nhà:
+ Mang dấu ấn của vùng sông nước: nhà sàn là kiểu nhà phổ biến của người Việt từ thời Đông Sơn, thích hợp cho cả miền sông nước lẫn miền núi để ứng phó với tác động xấu của môi trường (tránh côn trùng, thú dữ, tránh lũ
ở miền núi và tránh ngập lụt ở đồng bằng)
+ Sang thời phong kiến, dù đã chuyển sang kiểu nhà đất bằng là phổ biến, song dấu ấn văn hoá sông nước còn thể hiện ở kiểu nàh mái cong mô phỏng mũi thuyền
+ Không gian ngôi nhà Việt là không gian mở, có cửa rộng, thoáng mát, giao hoà với tự nhiên; xung quanh nhà
có cây xanh bao bọc, chở che
+ Nhà được cấu trúc số gian lẻ (số dương) theo quan niệm Âm dương – Ngũ hành
- Chọn hướng nhà và chọn đất làm nhà:
+ Để ứng phó với môi trường tự nhiên, hướng nhà được ưu thích của người Việt là hướng nam hoặc đông nam
(Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng nam) Hướng này vừa tận dụng được gió mát từ biển thổi vào, vừa tránh được
nắng nóng từ phía tây sang và gió lạnh từ phía bắc xuống
+ Việc chọn đất, chọn ngày làm nhà của người Việt được đưa theo thuật phong thuỷ, trên cơ sở của quan niệm
Âm dương – Ngũ hành
* Ứng xử với xã hội: Kiến trúc nhà ở của người Việt mang tính cộng đồng:
- Khác với kiểu kiến trúc phương Tây được chia thành nhiều phòng biệt lập, nhà Việt truyền thống là một không gian sinh hoạt cộng đồng giữa các thành viên trong gia đình với các gian nhà thường để thông nhau, không có vách ngăn
- Ranh giới giữa các nhà hàng xóm cũng thường chỉ được ngăn cách tượng trưng bằng một hàng cây (râm bụt, ruối, mùng tơi,…) được xén thấp để dễ quan hệ qua lại
b Văn hoá đi lại:
* Giao thông đường bộ: kém phát triển vì nhiều lí do:
- Do lối sống nông nghiệp ở định cư nên cư dân ít có nhu cầu di chuyển khỏi nơi cư trú
Trang 5- Do nền kinh tế tự cung tự cấp đã khiến cho nhu cầu giao lưu, mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các vùng rất hạn chế
- Do địa hình sông ngòi dày đặc nên rất khó khăn cho việc làm đường bộ
Do vậy, cho đến thế kỷ XIX, giao thông đường bộ ở nước ta chỉ mới có những con đường nhỏ; phương tiện đi lại và vận chuyển ngoài sức trâu, ngựa, voi thì phổ biến là đi bộ; quan lại thì di chuyển bằng cáng, kiệu
* Giao thông đường thuỷ:
- Do đặc điểm là vùng sông nước, với hệ thống sống ngoài chằng chịt, có bờ biển kéo dài từ Bắc chí Nam nên phương tiện đi lại và vận tải phổ biến là đường thuỷ
- Các phương tiện chuyên chở và giao thông đường thuỷ ở VN rất phong phú: thuyền, ghe, xuồng, bè, phà, tàu,…
- Do giao thông đường thuỷ phát triển nên phần lớn đô thị VN đều là những cảng sông, cảng biển (Vân Đồn, Thăng Long, Phố Hiến, Hội An, Qui Nhơn, Nam Định,….)
- Cuộc sống và sinh hoạt gắn với sông nước đã khiến cho hình ảnh sông nước và con thuyền đã ăn sâu vào trong
tư duy, trong cách nghĩ, được biểu hiện ra trong ngôn từ ví von, so sánh (Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo; Buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện; Thuyền theo lái, gái theo chồng,…).
Câu 4: Anh hay chị hãy trình bày những hiểu biết của mình về âm dương – ngũ hành và ảnh hưởng của nó đến triết lý sống của người Việt Nam.
a Thuyết Âm – dương: quan niệm về bản chất tinh thần (mặt định tính) của vũ trụ
* Nội dung của thuyết Âm – dương: khái quát nguyên lý hình thành vũ trụ: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi
sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hoá vô cùng”
- Thuyết Âm – dương quan niệm, thuở sơ khai, vĩ trụ tồn tại trong trạng thái hỗn mang, không định hình, không giới hạn, bao la, vô tận, đến cực điểm gọi là thái cực (sự hợp nhất đến mức cực điểm, tuyệt đối)
- Sự hợp nhất khi đạt đến cực điểm sẽ phân chia thành hai: thái cực sinh lưỡng nghi Lưỡng nghi là âm dương Cặp đối lập âm – dương gốc trong vũ trụ là Đất – Trời Từ cặp đối lập âm – dương gốc trong vũ trụ suy ra cặp đối lập âm – dương ứng với con người là Mẹ - Cha
- Cặp đối lập âm – dương gốc (Đất – Trời, Mẹ - Cha) lại giao hoà với nhau tạo thành 4 tổ hợp mới là tứ tượng (đất trời sinh ra 4 mùa; cha mẹ sinh ra con cái).s
- Tứ tượng lại phối hợp với nhau để tạo thành 8 tổ hợp gọi là bát quái: càn – đoài – ly – chấn – tốn – khảm – cấn – khôn (trời – đầm – lửa – sấm – gió – nước – núi – đất)
- Bát quái lại tiếp tục kết hợp với nhau để tạo thành 64 quẻ, tượng trưng cho các trạng thái, tình huống thường gặp trong thế giới tự nhiên và cuộc sống con người
Sự giao hoà giữa các mặt đối lập (âm – dương) trong vũ trụ và con người tạo ra những sự vật mới
* Đặc tính của âm – dương:
- Vận dụng 2 cặp đối lập âm – dương gốc là đất – trời, mẹ - cha, người xưa đã suy ra các đặc tính trội của âm dương trong tương quan với nhau:
-Ứng dụng các đặc tính trên vào việc xem xét các sự vật và hiện tượng, người xưa cũng suy ra vô số những cặp đối lập âm – dương khác như:
Về con
người
Về thời gian Về không
gian
Về màu sắc Về tính chất Về thời tiết Về phương
vị
Về hình khối
Nam – nữ
Đực – cái
Mạnh – yếu
Sống – chết
Sáng – tối Ngày – đêm
Đất – nước Lửa – nước Núi – sông
Trắng – đen
Đỏ - xanh
Đỏ - đen
Tốt – xấu Cứng – mềm Thịnh – suy
Nắng – mưa Nóng – lạnh Mùa hè – mùa đông
Nam – bắc Đông – tây
Tròn – vuông Cao – thấp
* Biểu tượng của âm – dương:
- Biểu tượng âm – dương được thể hiện trong một hình tròn kín, có 2 phần uốn lượn chia
vòng tròn làm 2 phần bằng nhau với 2 phần đối nghịch: đen – trắng Phần trắng biểu tượng
cho dương, phần đen biểu tượng cho âm Trong phần trắng (dương) có dấu chấm đen (âm)
và ngược lại
Dương Cao Nóng Sáng Cứng rắn Nhanh Động Phát triển Hướng ngoại Lý trí
Trang 6- Biểu tượng này nói lên rằng: mọi sự vật và hiện tượng đều tồn tại trong sự hợp thành giữa âm và dương Âm – dương tồn tại trong nhau không thể tách rời nhau; trong âm có
dương và trong dương có âm
* Quy luật tương tác của âm – dương:
- Âm – dương đối nghịch nhau nhưng giao hoà: dựa vào nhau, là nguồn gốc của nhau Không có âm, dương không thể tồn tại; không có dương, âm cũng không thể tồn tại (trong âm có dương, trong dương có âm, không có cái gì hoàn toàn âm, không có cái gì hoàn toàn dương)
- Âm – dương chuyển hoá: âm có thể chuyển hoá thành dương và ngược lại, cái này yếu đi thì cái kia mạnh lên (âm cực sinh dương và dương cực sinh âm)
Ví dụ: Đêm sáng dần thì sẽ chuyển sang ngày, ngày tối dần sẽ chuyển sang đêm
Nắng yếu dần thì chuyển sang mưa và sau cơn mưa trời sẽ nắng
Nóng bớt dần thì sẽ chuyển sang lạnh và ngược lại
Mặt trời lặn thì mặt trăng lên, trăng lặn thì mặt trời mọc
- Quy luật chuyển hoá âm – dương cũng nói lên rằng, âm – dương phải nằm trong trạng thái cân bằng động thì mới duy trì được sự phát triển, vận động bình thường của sự vật
Mọi sự tồn tại, vận hành của các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều dựa trên cơ sở sự đối lập và chuyển hoá giữa hai mặt đối lập nhưng thống nhất âm – dương
b Thuyết Ngũ hành:
* Khái niệm về thuyết Ngũ hành:
- Hành: vận động; Ngũ hành: trạng thái vận động động của 5 loại vật chất tạo ra vũ trụ
- Thuyết Ngũ hành quan niệm về cấu trúc vật chất (mặt định lượng) của vũ trụ
* Nội dung của thuyết Ngũ hành:
- Vũ trụ được tạo bởi 5 yếu tố vật chất cơ bản: Kim – Mộc – Thuỷ – Hoả – Thổ
- Đặc tính của mỗi hành:
+ Thuỷ (nước): lạnh, hướng xuống
+ Hoả (lửa): nóng, hướng lên
+ Mộc (cây): sinh sôi, đặc điểm dài, thẳng
+ Kim (kim loại): thanh tĩnh, thu sát
+ Thổ (đất): nuôi lớn, hoá dục
- Các hành không chỉ là những vật chất cụ thể mà còn tượng trưng cho một số thuộc tính cane bản của vật chất, cả trong thế giới vĩ mô và vi mô Vì vậy, có thể qui các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên về các hành:
+ Hành thuỷ: không chỉ là nước, mà còn chỉ phương Bắc; chỉ mùa đông; chỉ những sự vật có hình dáng ngoằn ngoèo; chỉ những sự vật có tính chất hướng xuống; chỉ màu đen; chỉ vị mặn; chỉ con rùa (Hành thuỷ có tính âm mạnh nhất)
+ Hành hoả: không chỉ là lửa; mà còn chỉ phương Nam; chỉ mùa hè; chỉ những sự vật có hình dáng nhọn; chỉ những sự vật có tính chất hướng lên; chỉ màu đỏ; chỉ vị đắng; chỉ con chim (thích ở phương nam ấm nóng, rất động, bay lên) (Hành thuỷ có tính dương mạnh nhất)
+ Hành mộc: không chỉ là cây cối; mà còn chỉ phương Đông; chỉ mùa xuân; chỉ những sự vật có hình dáng dài; chỉ màu xanh; chỉ vị chua; chỉ con rồng
+ Hành kim: không chỉ là kim loại; mà còn chỉ phương Tây; chỉ mùa thu; chỉ những sự vật có hình dáng tròn; chỉ màu trắng; chỉ vị cay; chỉ con hổ
+ Hành thổ: không chỉ là đất; mà còn chỉ những gì ở vị trí trung tâm (ví
dụ khoản giữa các mùa); chỉ những sự vật có hình dáng vuông; chỉ màu
vàng; chỉ vị ngọt; chỉ con người (Con người ở trung tâm vũ trụ, cai quản
muôn loài, cai quản bốn phương – vua mặc hoàng bào)
- Đặc điểm của ngũ hành: luôn luôn vận động theo 2 quy luật:
+ Ngũ hành tương sinh: cùng bồi bổ, thúc đẩy, trợ giúp nhau phát triển
Thuỷ sinh mộc: nước tưới cho cây tốt tươi
Mộc sinh hoả: cây khô làm nhiên liệu cho lửa cháy
Hoả sinh thổ: lửa cháy sinh ra tro làm cho đất màu mỡ
Thổ sinh kim: trong lòng đất sinh ra kim loại
Kim sinh thuỷ: kim loại nóng chảy thành nước
Cứ thế mà thay nhau theo năm tháng
Trang 7+ Ngũ hành tương khắc: chế ngự, khắc lại, khống chế, kìm hãm nhau.
Thuỷ khắc hoả: nước dập lửa
Hoả khắc kim: lửa nung chảy kim loại
Kim khắc mộc: dao chặt cây
Mộc khắc thổ: cây hút chất màu của đất
Thổ khắc thuỷ: đất đắp đê ngăn nước
- Nguyên tắc tương sinh tương khắc trong ngũ hành cũng dựa trên nguyên lý âm – dương Sinh – khắc là hai mặt không thể tách rời của sự vật; không có sinh thì sự vật không phát sinh và phát triển được, không có khắc thì không thể duy trì được sự cân bằng và điều hoà trong sự phát triển và tiến hoá của sự vật
Nhờ tương sinh tương khắc mà các sự vật duy trì được trạng thái cân bằng động Quan hệ tương sinh – tương khắc là cơ sở để duy trì sự tồn tại của vạn vật, là nguyên nhân thúc đẩy vạn vật sinh trưởng, phát triển và không ngừng tiến hoá
- Ngũ hành quá thừa:
+ Xuất phát từ nguyên lí âm – dương, thuyết Ngũ hành quan niệm, phàm vật gì cực thịnh thì thừa Vật cực thịnh, thái quá sẽ bị chuyển hoá sang trạng thái khác
Ví dụ: Vật cứng quá thì dễ gãy (ngọc cứng dễ vỡ, sắt cứng dễ gãy, cây cao quá dễ đổ) Như vậy, trong mạnh đã có
mầm yếu (Đầy quá sẽ đổ, Già néo đứt dây).
+ Thuyết Âm – dương và Ngũ hành có mỗi liên quan trực tiếp, được kết hợp với nhau để lý giải về nguyên lý hình thành, về bản chất, cấu trúc và sự vận hành của vũ trụ
d Ảnh hưởng của thuyết Âm dương – Ngũ hành với triết lí sống của người Việt:
- Triết lý về sự cân xứng, cặp đôi:
+ Chỉ khi tồn tại trong sự cặp đôi, tương xứng, cân bằng âm – dương thì sự vật mới hoàn thiện, trọn vẹn, bền vững, hợp quy luật
+ Trong thành ngữ, tục ngữ, lời ăn tiếng nói hằng ngày, các cặp âm – dương thường được sử dụng cặp đôi như: trời – đất, cha – mẹ, ông – bà, đất – nước, sông – núi,…
- Triết lý sống quân bình, hài hoà âm dương:
+ Quan niệm trạng thái tồn tại tối ưu của mọi sự vật, từ tự nhiên đến xã hội là sự cân bằng, hài hoà âm dương + Chỉ khi tồn tại trong trạng thái này, sự vật mới ổn định, bền vững, không bị biến đổi sang trạng thái khác (vi
âm cực sinh dương, dương cực sinh âm nên cái gì thái quá cũng dẫn đến bất cập và sinh biến: Đẩy quá sẽ đổ; Già néo đứt dây; Hồng nhan bạc mệnh,…).
+ Từ đó, người Việt Nam sống theo triết lý quân bình, cố gắng duy trì trạng thái âm dương bù trừ nhau, từ việc
ăn uống (chế biến các món ăn) đến việc làm nhà ở (nhà lợp ngói âm dương, mộng gỗ lồi lõm tra khớp vào nhau để
tạo sự bền vững), cho đến việc ứng xử hài hoà trong quan hệ với người khác để không làm mất lòng ai (Dĩ hoà vi quí) người Việt thường phê phán thái độ sống cực đoan: Sướng lắm khổ nhiều; Trèo cao ngã đau; Yêu nhau lắm, cắn nhau đau,…
+ Triết lý sống quân bình cũng khiến cho người Việt thường tự bằng lòng, an phận với những gì mình đang có, không hiếu thắng
- Triết lý sống lạc quan:
+ Nhận thức được quy luật bù trừ âm – dương, vận dụng vào trong cuộc sống, người Việt thường có cái nhìn bình tĩnh, lạc quan trước mọi sự biến: trong rủi có may, trong dở có hay, trong hoạ có phúc
+ Nhận thức được quy luật chuyển hoá âm – dương, người Việt có cái nhìn biện chứng về cuộc sống: Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời; Khổ trước sướng sau, sướng trước khổ sau,…
+ Tuy nhiên, nếu lạc quan thái quá thì lại dẫn đến thái độ tiêu cực: tự bằng lòng, an bài với cuộc sống hiện tại, phó mặc cho số phận, không nỗ lực cố gắng hết mình
Việc nhận thức về không gian, thời gian vũ trụ và con người dựa trên thuyết Âm dương – Ngũ hành đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá tinh thần của người Việt thời phong kiến, từ triết lý sống đến các ứng dụng trong các lĩnh vực của đời sống thực tiễn
Câu 5: Trình bày những hiểu biết của anh /chị về Phật giáo ở Việt Nam và chỉ ra sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt xưa và nay.
Trang 8- Du nhập vào nước ta bằng con đường hoà bình nên đã nhanh chóng bén rễ ngay từ thời Bắc thuộc.
- Vào những thế kỉ đầu thời kỳ Đại Việt, Phật giáo phát triển rất nhanh và đạt tới cực thịnh vào thời Lý – Trần (thế kỷ XI – XIII)
- Thời gian này, chùa không chỉ là trung tâm tín ngưỡng – tôn giáo, mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng của làng xã
- Thời kỳ Lý – Trần có rất nhiều chùa tháp với qui mô lớn và kiến trúc độc đáo được xây dựng: Chùa Phật Tích (Tiên Sơn, Bắc Ninh, 1057), chùa Dạm (Quế Võ, Bắc Ninh, do nguyên phi Ỷ Lan xây dựng năm 1086), chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), chùa Phổ Minh, chùa Quỳnh Lâm, hệ thống chùa Yên Tử,…
- Tuy nhiên, đại bộ phận các thành tựu văn hoá Lý – Trần, tiêu biểu là văn hoá Phật giáo đã bị giặc Minh tàn phá vào đầu thế kỷ XV
- Đến thế kỷ XV, khi nhà Lê tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo thì Phật giáo đã phải nhường chỗ cho sự lên ngôi của Nho giáo
- Đặc điểm Phật giáo VN:
+ Phật giáo VN đã có hơn 2000 năm lịch sử
+ Được người Việt bản địa hoá, khiến nó nhanh chóng cộng sinh để hoà mình trong dòng chảy của văn hoá dân tộc tạo nên sắc thái riêng của Phật giáo VN với các đặc điểm:
* Khuynh hướng nhập thế:
- Giáo lý của Phật giáo là cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh
- Bản thân mục đích ấy đã bao hàm nhân tố nhập thế, do vậy, Phật giáo VN luôn đồng hành với cuộc sống của chúng sinh bằng những việc làm thiết thực:
+ Nhà chùa mở trường dạy học, tham gia đào tạo tri thức;
+ Nhiều nhà sư đồng thời là thầy thuốc chữa bệnh;
+ Nhiều vị cao tăng được triều đình mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng (sự Vạn Hạnh đã vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều Lý; sư Đa Bảo và Viên Thông được tham dự bàn bạc và quyết định các việc trong triều như cố vấn của nhà vua)
- Giáo lý của Phật giáo còn được người Việt cụ thể hoá trong các mối quan hệ đời thường: Tu đầu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu (cha, mẹ được tôn kinh như Phật); Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba
tu chùa; Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng âm phúc cứu cho một người,…
* Tính tổng hợp:
- Là một trong những đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, bởi vậy, tính tổng hợp cũng chi phối đến thái độ ứng
xử với Phật giáo của người Việt, làm nên sắc thái riêng của Phật giáo VN
- Biểu hiện:
+ Dung hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng và truyền thống văn hoá bản địa:
Dung hợp với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (các vị thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp đã được “Phật hoá” thành Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi, Phật Pháp Điện)
Dung hợp với tính ngưỡng thờ Mẫu, Phật giáo VN có khuynh hướng thiên về nữ tính: có rất nhiều Phật Bà, có
vị đức Phật trong quan niệm của Phật giáo nguyên thuỷ Ấn Độ vốn là đàn ông; khi du nhập sang VN đã biến thành Phật Bà; Bồ Tát Quán Thế Âm được biến thành Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay; nhiều ngôi chùa mang tên các bà (Chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Tướng, chùa Bà Dàn, chùa Bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu),…)
Dung hợp giữa việc thờ Phật với việc thờ các vị Thần, Thánh, Mẫu, Thành Hoàng, Thổ Địa, các anh hùng dân tộc; kiến trúc phổ biến của chùa VN là tiền Phật hậu Thần
+ Dung hợp giữa các tông phái Phật giáo:
Đây là một nét đặc trưng rất riêng của Phật giáo VN so với các quốc gia Phật giáo láng giềng Trong khi ở Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia chỉ có Phật giáo Nam Toong, còn ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông
Cổ thuần tuý chỉ có Phật giáo Bắc Tông thì Việt Nam lại có sự dung hoà và điều hợp cả Nam Tông (Tiểu thừa, ở Nam Bộ) và Bắc Tông (Đại thừa, ở Bắc Bộ)
Trong tông phái Đại thừa cũng có sự kết hợp giữa Thiền tông với Mật tông (các vị thiền sư thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không đều giỏi pháp thuật); Thiền tông kết hợp với Tịnh Độ tông (tụng niệm Phật A-di-đà và Bồ Tát)
Nhiều điện thờ ở chùa miền Bắc cùng thờ các loại tượng Phật của các tông phái khác nhau; nhiều chùa miền Nam có xu hướng kết hợp Tiểu thừa với Đại thừa: hình thức là Tiểu thừa nhưng lại theo giáo lý Đại thừa (bên cạnh Thích Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác; bên cạnh áo vàng còn có áo nâu, áo lam)
Trang 9+ Dung hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác:
Thời Đại Việt, Phật giáo với Nho giáo và Đạo giáo cùng tồn tại trong sự dung hợp và bổ sung cho nhau để cùng hướng về một mục đích vì cuộc sống tốt đẹp cho mọi người (Nho giáo quan tâm việc tổ chức xã hội, Đạo giáo
quan tâm đến thể xác con người, Phật giáo lo cho thế giới tinh thần, tâm linh), gọi là hiện tượng tam giáo đồng qui.
Vào đầu thế kỉ XX, ở Nam Bộ hình thành 2 tôn giáo bản địa đều dựa trên nền tảng của Phật giáo, đó là đạo Cao Đài và Hoà Hảo
Đạo Cao Đài (Đại đạo Tam kỳ Phổ độ) là một tôn giáo bản địa (ra đời năm 1926, trung tâm là Toà Thánh Tây Ninh), đó là một bằng chứng hùng hồn cho tính dung hợp của Phật giáo khi nó được xây dựng trên nền tảng của Phật giáo, kết hợp với giáo lý của Nho giáo, Lão giáo và Thiên Chúa giáo, để hướng con người tới một cuộc sống tự tại về thể xác và tinh thần
Đạo Hoà Hảo (Phật giáo Hoà Hảo, ra đời ở ĐBSCL năm 1939) chính là đạo Phật được bản địa hoá trên tinh thần nhấn mạnh “Phật tại tâm, tâm tức Phật” Chủ yếu dựa trên giáo lý Phật giáo nhưng được lược bớt và có sửa đổi đôi chỗ, đồng thời bổ sung thêm phần thực hành đạo đức “Từ ân hiếu nghĩa” để tu thân Đó là thực hành ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại
Giáo lý Phật giáo đã thấm vào tầng sâu nhất của triết lý sống; ngôi chùa là nơi giáo dục đạo đức và lòng hướng thiện, nơi cư trú của tâm hồn, là trung tâm sinh hoạt cộng đồng và cũng là nơi ẩn chứa các giá trị văn hoá truyền thống đã có lịch sử từ lâu đời
Câu 6: Trình bày những hiểu biết của anh /chị về Nho giáo ở Việt Nam và chỉ ra sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt xưa và nay
- Du nhập vào VN từ thời Bắc thuộc, nhưng do xu hướng cưỡng bức văn hoá nên suốt 1000 năm, Nho giáo chưa
có được chỗ đứng trong đời sống của cư dân Việt
- Đến thế kỷ XV, Nho giáo đạt đến cực thịnh khi nhà Lê tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo
- Đặc điểm của Nho giáo VN:
+ Nền nho giáo Trung Hoá đặc biệt coi trọng tư tưởng trung quân, quyền lực của nhà vua được đề cao tuyệt đối,
thì Nho giáo VN tuy vẫn đề cao tư tưởng này nhưng không cực đoan đến mức đòi hỏi phải hi sinh tính mạng vì vua
Mặt khác, quan niệm trung quân ở VN luôn gắn liền với ái quốc, và trong nhiều TH, nước được đề cao hơn vua + Các khái niệm: nhân, nghĩa được mở rộng, nó không chỉ là một khái niệm đạo đức hạn hẹp trong ứng xử cá nhân, mà trở thành một lý tưởng xã hội cao đẹp: vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – “Cáo bình Ngô” – Nguyễn Trãi).
+ Tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo khi vào VN cũng bị làm cho nhẹ bớt đi bởi truyền thống trọng phụ
nữ vốn có trong văn hoá bản địa
+ Từ cuối XVI đến hết XVIII là thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến Đại Việt do Trịnh – Nguyễn phân tranh, Nho giáo đi vào giai đoạn suy vong không thể cứu vãn Các vương triều phong kiến từ Gia Long đến Minh Mạng, Tự Đức đều không thể làm cho Nho giáo có được vị thế như nó đã từng có ở thế kỷ XV
- Tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Biểu hiện:
+ Là nền tảng tư tưởng để tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ sở pháp lý để quản lý, duy trì sự ổn định của xã hội dựa trên các quan hệ cộng đồng xã hội và gia đình theo quan niệm Tam cương, Ngũ thường
Tam cương (3 mối quan hệ chủ chốt trong xã hội): quân thần – phụ tử – phu phụ (vua tôi – cha con – vợ chồng)
Ngũ thường (5 đức tính cơ bản của con người): nhân – nghĩa – lễ – trí – tín
+ Là nền tảng đạo đức để củng cố các mối quan hệ gia đình – xã hội theo thứ bậc, kỷ cương của giáo lý Nho giáo, qua đó xác lập chuẩn mực đạo đức để xây dựng mô hình nhân cách con người VN truyền thống với các tiêu
chí: đạt đức (Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu sửa mình; Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con) và đạt đạo (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín).
+ Nho giáo đã chi phối trực tiếp và toàn diện hệ thống giáo dục, thi cử truyền thống, từ mục đích đến nội dung và phương pháp giáo dục
Câu 7: Hãy chỉ những đặc trưng của văn hoá nông nghiệp ảnh hưởng đến văn hoá giao tiếp ứng xử của người Việt truyền thống
Trang 10a Người Việt coi trọng việc giao tiếp: Do nền văn hoá nông nghiệp sống quần cư, sự gắn kết cộng đồng cao, nên người Việt coi trọng việc giao tiếp và thích giao tiếp Biểu hiện:
- Chào hỏi nhau được xem là một ứng xử văn hoá quan trọng (Lời chào cao hơn mâm cỗ).
- Thích thăm viếng nhau, coi trọng việc thăm viếng như biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, để thắt chặt thêm quan hệ
- Có tính hiếu khách (khách đến nhà thường được đón tiếp niềm nở, chu đáo, tận tình)
b Ứng xử trong giao tiếp của người Việt:
- Thích tìm hiều, quan sát, đánh giá đối tượng giao tiếp: Quan tâm đến những thông tin cá nhân của đối tượng giao tiếp (tuổi tác, quê quán, nghề nghiệp, địa vị, hoàn cảnh gia đình,…) Đặc điểm này có nguyên nhân từ tính cộng đồng và lối sống trọng tình
- Ứng xử nặng tình hơn lý trí:
+ Được thể hiện phổ biến trong tục ngữ, ca dao: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình; Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề, dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng,…
+ Vì trọng tình cảm nên trong giao tiếp, người Việt có cách xưng hô thân mật hoá, coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng: cô, bác, chú, dì, cháu, con,…
- Trọng danh dự hơn giá trị vật chất:
+ Người Việt coi trọng danh dự, danh tiếng hơn là những giá trị vật chất (Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch, rách cho thơm; Trâu chết để da, người ta chết để tiếng).
+ Vì coi trọng danh dự nên nghi thức lời nói trong giao tiếp cũng thể hiện tính tôn ti, thứ bậc (chào nhau theo quan hệ xã hội và sắc thái tình cảm chứ không theo thời gian như nghi thức phương Tây)
+ Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt thường mắc bệnh sĩ diện (Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi; Đem chuông đi đánh nước ngoài, không kêu cũng đánh ba hồi lấy danh; Một quan tiền công không bằng một đồng tiền thưởng; Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp,…).
+ Vì trọng danh dự và sĩ diện nên người Việt rất sợ dư luận, bởi vậy, dư luận trở thành một thứ vũ khí lợi hại, một sợi dây vô hình để ràng buộc cá nhân với cộng đồng, nhờ đó mà duy trì sự ổn định của làng xã
- Giữ ý, cả nể, thiếu tính quyết đoán trong giao tiếp:
+ Khi giao tiếp, người Việt thường có thói quen không mở đầu trực tiếp, không đi thẳng vào vấn đề cần nói mà thường hay mở đầu “vòng vo tam quốc” để đưa đẩy, tạo không khí thân mật và thăm dò thái độ của đối tượng giao tiếp
+ Do giữ ý, người Việt thường không biểu lộ trực tiếp cảm xúc của mình với đối tượng giao tiếp (các bài ca dao
tỏ tình thường nói vòng vo bóng gió)
+ Thái độ giữ ý trong giao tiếp dẫn đến tâm lý nhường nhịn, cả nể, sợ mất lòng người đối thoại (Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau; Học ăn học nói, học gói học mở; Một sự nhịn, chín sự lành,…).
+ Hệ quả của việc giữ ý, cả nể dẫn đến thái độ đắn đo, cân nhắc thái quá, thiếu tính quyết đoán trong giao tiếp
(Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo; Uống lưỡi ba lần trước khi nói,…).
c Văn hoá ngôn từ trong giao tiếp: Đặc trưng của văn hoá ngôn ngữ trong giao tiếp của người Việt:
- Lời nói mang tính biểu trưng, ước lệ cao: không nói trực tiếp, cụ thể vào điều cần nói mà nói bóng gió bằng hình
ảnh ví von, ẩn dụ (Trăm dâu đổ một đầu tằm; Tưởng giếng nước sâu nối sợi gàu dài, ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi dây…) Lối nói này tạo nên tính đa nghĩa, có thể tạo vận dụng linh hoạt vào nhiều văn cảnh giao tiếp khác nhau.
- Tính so sánh và tương phản: trong tục ngữ, thành ngữ, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ông cha ta thường hay
dùng những câu nói có hai vế đối ứng trong quan hệ so sánh, tương phản (Trèo cao – ngã đau; Ông nói gà – bà nói vịt; Đàn ông nông cạn giếng khơi – Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu,…) Cấu trúc này tạo tiết tấu, vần điệu cho
lời nói (giàu chất thơ)
Câu 8: Hãy so sánh và chỉ ra sự thay đổi của văn hóa gia đình Việt Nam xưa và nay Theo anh /chị, hiện nay những giá trị nào của văn hóa gia đình Việt Nam truyền thống cần được gìn giữ và phát huy?
* So sánh và chỉ ra sự thay đổi của văn hoá gia đình Việt Nam xưa và nay:
Cơ
cấu
Quy
mô
- Quy mô gia đình lớn, trong gia đình có
nhiều thế hệ Thường là “tam đại đầu
- Quy mô gia đình giảm dần Các gia đình chỉ có hai thế hệ chung sống là chủ yếu: bố mẹ - con