Dịch tễ học chấn thương Đại học y tế công cộng Giáo trình dành cho cử nhân y tế công cộng Tổng quan chấn thương Dịch tễ học chấn thương Chiến lược phòng ngừa và kiểm soát chấn thương Giám sát chấn thương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
GIÁO TRÌNH DỊCH TỄ HỌC CHẤN THƯƠNG Tài liệu sử dụng giảng dạy cho Cử nhân Y tế công cộng
HÀ NỘI, 2011
Trang 2MỤC LỤC
TỔNG QUAN VỀ CHẤN THƯƠNG - VẤN ĐỀ Y TẾ CÔNG CỘNG TOÀN CẦU 3
DỊCH TỄ HỌC CHẤN THƯƠNG 20
CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA VÀ KIỂM SOÁT CHẤN THƯƠNG 35
GIÁM SÁT CHẤN THƯƠNG 49
XÂY DỰNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT CHẤN THƯƠNG 61
Trang 3TỔNG QUAN VỀ CHẤN THƯƠNG - VẤN ĐỀ Y TẾ
CÔNG CỘNG TOÀN CẦU
Mục tiêu bài học:
Sau khi học xong bài này học viên có khả năng:
1 Nêu được định nghĩa chấn thương/tai nạn thương tích
2 Nêu được khung lý thuyết về dịch tễ học của chấn thương để áp dụng trong nghiên cứu, phòng ngừa và kiểm soát chấn thương
3 Trình bày và giải thích được tại sao chấn thương là vấn đề của y tế công cộng
4 Mô tả được những nét khái quát về gánh nặng chấn thương tại Việt Nam
I Định nghĩa chấn thương
Tại nhiều nơi trên thế giới, chấn thương đang là gánh nặng bệnh tật hàng đầu và nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nhiều lứa tuổi, từ trẻ nhỏ, vị thành niên và thanh niên, cho tới người trưởng thành và người cao tuổi Tuy vậy, suốt một thời gian dài mọi người thường hay gọi các hiện tượng chấn thương (injury) là “tai nạn” (accident) Cách gọi phổ biến như vậy khiến chúng ta dễ có cảm tưởng rằng các sự kiện chấn thương xảy ra do những “tai bay vạ gió” nào
đó, không lường trước và do vậy không thể phòng tránh được Vậy chấn thương là gì? Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta cần khẳng định với nhau là: “Chấn thương không phải là tai nạn” Theo định nghĩa mới đây của Gibson và Haddon, được chấp nhận một cách rộng rãi thì:
Chấn thương là bất cứ tổn thương có chủ định hay không có chủ định cho cơ thể người được gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp tính đối với năng lượng nhiệt, cơ học, điện hay năng lượng hoá học, hay bởi sự thiếu vắng của các yếu tố thiết yếu như sức nóng hay ôxy
Như vậy có thể thấy các sự kiện chấn thương xảy ra với con người có thể hết sức đa dạng, từ những dạng năng lượng nhiệt (như bỏng nước nóng), hóa chất (bỏng hóa chất, ngộ độc hóa chất), cơ học (ngã, va chạm xe cộ, bị vật sắc nhọn đâm, động vật cắn, ), điện (điện giật), cho tới những sự kiện do nạn nhân bị thiếu những yếu tố thiết yếu cho sự sống (như ngạt, bị chết đuối, bị chết cóng vì lạnh, )
Tai nạn và chấn thương
Chấn thương không phải là tai nạn Sự tiến triển về chấn thương được phản ánh theo cách mà chúng được phân loại Trước kia chấn thương được phân loại một cách truyền thống là chấn thương do tai nạn hay chủ ý Đầu tiên việc kiểm soát chấn thương tập trung vào “phòng ngừa tai nạn”, còn bạo lực có chủ ý được dành cho luật pháp, tâm thần và các nhà xã hội học Điều này không có ý nói rằng các ngành nghề trên không góp phần vào việc kiểm soát chấn thương hay cho rằng tất cả những cố gắng trên nhằm phòng ngừa tai nạn đều không thành
Trang 4công, nhưng phạm vi của các điều tra khoa học về tính hiệu quả của các tiếp cận này đều rất hạn chế
“Tai nạn” liên quan đến một tập hợp rất lớn, rối bời và không rõ ràng của các sự kiện, mà chỉ một phần nhỏ của các sự kiện này mang tính chấn thương Bất cứ một sự kiện không chủ ý, ngẫu nhiên can thiệp vào công việc hàng ngày của ai đó thì đều thường được gọi là một tai nạn Trong nhiều ngành nghề, “tai nạn” thường được hiểu như những “sự cố” bất thường, không mong muốn, xảy ra vào một thời điểm nào đó Chẳng hạn, “tai nạn lao động” tại một phân xưởng sản xuất có thể xảy ra khi một bộ phận của cỗ máy bị gãy và làm cỗ máy bị hỏng, ngừng hoạt động Sự kiện đó đồng thời cũng có thể dẫn tới hậu quả chấn thương cho người công nhân tại chỗ nếu mảnh vỡ gây thương tích cho công nhân Như vậy sự cố trong lao động
đó có thể hoặc có thể không gây ra thương tích cho con người Vì vậy tai nạn thường để chỉ một sự kiện gây ra hay có tiềm năng gây ra chấn thương Nếu xét kỹ ví dụ trên thì có thể thấy rằng rất có nhiều khả năng “sự cố” gãy vỡ bộ phận của máy móc gây nên chấn thương trên cơ thể người công nhân là hoàn toàn có thể phòng tránh, hay ít nhất là giảm nhẹ được Chẳng hạn, nếu máy móc được bảo dưỡng, kiểm tra định kỳ nghiêm ngặt để phát hiện sớm những chi tiết bị xuống cấp, hỏng hóc để kịp thời sửa chữa thì sự cố đó có thể đã không xảy ra Thêm nữa, cho dù sự cố đó có xảy ra nhưng nếu máy được thiết kế tốt, có bộ phận che chắn, thì rất có thể khi bị sự cố mảnh vỡ sẽ không văng vào người công nhân Cuối cùng, nếu người công nhân có ý thức chấp hành các qui định an toàn lao động và được bảo hộ bởi các quần áo, thiết bị cá nhân (mũ, kính, găng, ) đầy đủ thì rất có thể mảnh vỡ dù có văng vào người cũng không gây thương tích nghiêm trọng cho nạn nhân
Nhiều chuyên gia y tế công cộng (YTCC) cho rằng sự sử dụng rộng rãi thuật ngữ “tai nạn” đã không chỉ gây nên nhầm lẫn đáng báo động mà còn kìm hãm các cố gắng nhằm làm giảm chấn thương Điều này xảy ra do nhiều người cho rằng “tai nạn” là cái gì đó tồn tại không thể
dự đoán trước và hoàn toàn ngẫu nhiên và chính vì vậy không thể phòng ngừa được Nghĩa rộng khác của “tai nạn” là hậu quả của sự bất cẩn của con người mà người bị chấn thương thường lấy đó làm cái cớ qui kết trách nhiệm cho nó đã gây nên chấn thương cho họ
Chỉ là hai khái niệm đơn giản nhưng mang lại những ý nghĩa khác nhau ở những con người khác nhau, từ sự tin tưởng cho rằng đây là số trời không thể tránh cho đến ý tưởng tán thành một cách rộng rãi cho rằng đó là những “sự kiện” hay “hiện tượng” chấn thương là có thể phòng ngừa và kiểm soát được theo nhiều cách khác nhau Sử dụng khái niệm chấn thương và phòng ngừa chấn thương thay cho tai nạn và phòng ngừa tai nạn, có thể giúp mọi người hiểu các khái niệm và các biện pháp cần thiết để thiết kế các chương trình phòng ngừa có hiệu quả hơn
Trong thực tế, các sự cố gây nên thương tổn cho con người thường là không ngẫu nhiên và có các yếu tố nguy cơ có thể phân biệt được Những yếu tố nguy cơ thường gắn liền với mối tác động qua lại giữa phương tiện giao thông, trang thiết bị, điều kiện lao động, sinh hoạt, môi trường và hoàn cảnh xã hội, v.v cũng như những thói quen, hành vi của từng con người Chính vì lẽ đó, nghiên cứu về chấn thương và các biện pháp, chiến lược phòng chống và kiểm soát chấn thương cũng có thể áp dụng những phương pháp luận và mô hình lý thuyết dịch tễ học
Trang 5II Khung lý thuyết về dịch tễ học chấn thương
Trong thực tế, hầu hết các vấn đề chấn thương được biết thường phân bố không ngẫu nhiên xét theo các khía cạnh thời gian, nơi chốn và con người
Các sự kiện chấn thương có thể được phân tích dựa trên nguyên tắc bộ ba dịch tễ học (tác nhân, vật chủ, môi trường) như những loại bệnh tật khác, nhất là những bệnh truyền nhiễm Bên cạnh đó, Haddon (1980) cũng nhấn mạnh tới sự cần thiết phải phân tích những yếu tố về trang thiết bị/phương tiện và những hoạt động của chủ thể (con người) khi sự kiện chấn thương xảy ra Bảng 1 dưới đây so sánh dịch tễ học của bênh sốt rét và chấn thương do giao thông
Bảng 1 So sánh mô hình dịch tễ của bệnh sốt rét và chấn thương sọ não do giao thông
xảy ra với người đi xe máy
Biến cố xảy ra ban đầu Muỗi đốt Tai nạn giao thông làm cho người
đi xe máy va đầu vào thân cây bên đường
Tác nhân Ký sinh trùng sốt rét
(Plasmodium)
Năng lượng cơ học (khi va chạm)
Véc tơ /vật mang Muỗi Anopheles Chiếc xe máy
Hoạt động Bệnh nhân bị muỗi đốt lúc
Nạn nhân là một thanh niên nam, đang say rượu, lái xe trong tình trạng không tỉnh táo, lại chưa có kinh nghiệm đi xe máy
Yếu tố phương tiện/trang
thiết bị
Màn chống muỗi, lưới chống muỗi
Mũ bảo hiểm đi xe máy
Yếu tố môi trường Nhà ở trong khu vực ẩm ướt,
gần ao, xung quanh nhiều bụi cây rậm rạp, không được phun thuốc muỗi, đang mùa mưa
Nạn nhân lái xe máy gặp đoạn đường cua không có biển báo, mặt đường bị nghiêng, trời mưa, cây bên đường lại không có rào chắn
Yếu tố thời gian/tầm
nhìn
Trời đêm Trời tối, khó nhìn đường
Nguồn: Peter Barss và cộng sự
Trang 6Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng mô hình phân tích tác nhân – vật chủ - môi trường thường
được áp dụng trong bệnh truyền nhiễm có thể được sử dụng để mô tả dịch tễ học của chấn thương Cụ thể là chấn thương do giao thông gây nên tổn thương não Mặc dù chấn thương có thể được mô tả cụ thể bằng cách sử dụng các khái niệm của dịch tễ học bệnh truyền nhiễm nhưng dịch tễ học chấn thương vẫn bị chậm phát triển vào cỡ hàng thập kỷ Cho đến gần đây các tác nhân gây chấn thương mới được xác định một cách chính xác là các dạng khác nhau của năng lượng cơ học, nhiệt, hoá, điện, từ trường ion hoá, hay ngược lại - quá thiếu năng lượng trong trường hợp bị ngạt (Gibson, 1961) Chính các nhà tâm lý học đã xác định vấn đề này chứ không phải các nhà dịch tễ học Vào thời gian đó nhiều tác giả đã cho rằng ô tô, súng
và rượu, v.v cũng là các tác nhân gây nên chấn thương, nhưng điều này là sai lầm trong việc
sử dụng dịch tễ học xét theo khía cạnh tác nhân Ô tô và súng là các vật chuyên chở năng lượng cơ học theo cách nói của dịch tễ học, và rượu góp phần vào chấn thương bằng cách đôi khi tác động lên hành vi của con người, đưa người ta tới nguy cơ phơi nhiễm đối với năng lượng gây nguy cơ cao
Hình 1 Mô hình dịch tễ học ứng dụng trong chấn thương
Dịch tễ học chấn thương tìm tòi xác định các yếu tố nguy cơ, các nhóm đích và trả lời các câu hỏi: Ai/ Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Tại sao? khi sự kiện chấn thương xảy ra Phần lớn chấn thương có thể phòng ngừa được rất nhiều thông qua các cách tiếp cận như giáo dục, áp dụng các qui tắc, điều lệ và cơ khí hoá
2 Phân loại chấn thương
Có nhiều cách đề phân loại chấn thương (sẽ được trình bày chi tiết trong những bài sau) Cách phân loại phổ biến nhất và thường được đề cập trong hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế dựa trên ý định của sự kiện chấn thương Ngoài ra người ta cũng có thể phân theo nguyên nhân
Môi trường
Thời tiết, nhiệt độ,
thời gian trong ngày,
thời gian trong năm,
yếu tố môi trường có
hại, sự thay đổi về
trang thiết bị và thiết
kế
Các phân loại chấn thương
Va chạm hay đâm nhau của các phương tiện có động cơ và người đi bộ, ngã, cháy bỏng, ngộ độc, chết đuối, v.v
Vật chủ
Tuổi, giới, giáo dục,
kỹ năng, điều kiện thể chất, trạng thái tâm thần, sử dụng rượu, ma tuý và hành
vi có nguy cơ khác
Tác nhân
Sự truyền năng lượng bất thường hay sự can thiệp vào sự truyền năng lượng (ví dụ năng lượng cơ học được chuyển dịch do tác động của một vật di chuyển; các dạng năng lượng khác là nhiệt, hoá học, điện và phóng xạ)
Trang 7bên ngoài, bản chất của chấn thương, bộ phận cơ thể bị chấn thương, địa điểm nơi chấn thương xảy ra, và hoạt động của nạn nhân khi bị chấn thương Khi phân loại theo ý định của các đối tượng tham gia vào quá trình diễn biến hay sự kiện chấn thương, chấn thương thường
được chia thành hai nhóm lớn là chấn thương có chủ định (intentional injury) và chấn thương không có chủ định (unintentional injury)
Chấn thương không chủ định (vô ý)
Chấn thương không chủ định: Chấn thương gây nên không do chủ ý của những người bị chấn thương hay của những người khác
KHÁC
CÓ CHỦ ĐỊNH ( CỐ Ý)
GIẾT NGƯỜI
TỰ SÁT
CHIẾN TRANH
ĐÁNH NHAU CHẤN THƯƠNG
HÀNH HẠ TRẺ
EM
Trang 8Hình 2 Sơ đồ phân loại chấn thương
Thuật ngữ “tai nạn” thường được sử dụng một cách rộng rãi khi người ta bàn về chấn thương
không chủ định Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, thuật ngữ này thường gây ra cảm tưởng
rằng sự may mắn và tính ngẫu nhiên đóng vai trò chính thường ít khi đúng Chấn thương
không chủ định - khi mà không có sự cố ý nào, thường lại có các yếu tố con người tham gia
Những yếu tố này có thể tìm thấy đồng thời ở cả nạn nhân bị chấn thương và nhữngngười khác trong cộng đồng Nhiều yếu tố thuộc về hành vi con người (chẳng hạn như trạng thái tình cảm, sử dụng chất ma tuý làm thay đổi khả năng tự chủ, áp lực của bạn cùng lứa hay sự thiếu kinh nghiệm của tuổi trẻ, v.v.) đều đóng vai trò nhất định cả trong chấn thương không chủ định và chấn thương có chủ định
Chấn thương có chủ định
Chấn thương có chủ định: Chấn thương gây nên có sự chủ ý của người chấn thương hay của
cả những người khác Nhóm này còn có thể được phân ra thành những loại như:
- Chấn thương có chủ định tự mình gây ra (nạn nhân tự gây thương tích cho mình)
- Chấn thương có chủ định gây ra bởi người khác (người bị chấn thương là nạn nhân của hành động do người khác gây nên)
- Các chấn thương trong hoàn cảnh chiến tranh
Chấn thương có chủ định còn được nhiều tác giả gọi là hành vi “bạo lực” (violence) Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa bạo lực như sau: “Việc sử dụng (hoặc đe dọa sử dụng) có
dụng ý một lực hoặc sức mạnh vật lý chống lại bản thân, người khác hoặc chống lại một nhóm hay cộng đồng, dẫn đến kết quả (hoặc có khả năng cao dẫn đến kết quả) chấn thương,
tử vong, phát triển dị dạng, hay những tổn hại về tâm lý, tinh thần.”
- Bạo lực trong trường học
III Chấn thương - Vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu
Trên toàn thế giới tỉ lệ tử vong và mắc bệnh liên quan đến chấn thương ngày càng gia tăng không ngừng, sụ gia tăng không ngừng này chính là một thử thách gắt gao đối với YTCC trong việc kiểm soát và phòng ngừa các bệnh đóng vai trò nổi bật
Chấn thương thực sự là một vấn đề y tế công cộng
Theo WHO thì chấn thương:
- Thường là nguyên nhân đứng thứ nhất hay thứ hai trong các nguyên nhân nhập viện
- Nguyên nhân chính gây tàn phế, số năm sống tiềm tàng bị mất (YPLL)
- Chiếm 12% gánh nặng bệnh tật toàn cầu
Trang 9- 90% tử vong do chấn thương xảy ra ở các nước thu nhập trung bình và thấp
Chấn thương thực sự là một vấn đề toàn cầu và là một đại dịch, trên toàn thế giới trung bình mỗi năm có khoảng gần 5 triệu người tử vong liên quan tới chấn thương (chiếm 9% tổng số các nguyên nhân tử vong) (WHO, 2000) Như vậy trung bình một ngày có khoảng 16.000 ca
tử vong do chấn thương trên toàn cầu Nói cách khác, số người chết do các nguyên nhân chấn thương trên toàn thế giới mỗi ngày tương đương với khoảng 40 máy bay Boeing 747 bị rơi (400 hành khách trên 1 máy bay) Phép so sánh như vậy cho chúng ta thấy rằng vấn đề chấn thương trầm trọng và đáng báo động đến mức nào
Chấn thương đang là vụ đại dịch (pandemic), nó xảy ra và hoành hành không chỉ ở các nước đang phát triển và các nước phát triển (theo nếp cũ thì người ta cho rằng chấn thương chỉ là vấn đề của các nước công nghiệp phát triển) Theo P Gracer thì mỗi năm có khoảng 3,4 triệu
tử vong ở các nước đang phát triển, 807.000 tử vong ở các nước phát triển do các loại chấn thương gây nên Trên toàn thế giới chấn thương là nguyên nhân gây nên khoảng 78 triệu người trở nên tàn phế mỗi năm (Berger and Mohan, 1996) Các nguyên nhân tử vong hàng đầu được tổng kết trong bảng 2 đối với những nước có thu nhập trung bình và thấp (1998) cho thấy các loại chấn thương chiếm vai trò quan trọng về số các trường hợp tử vong ở các nhóm tuổi
Bảng 2 Nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước thu nhập trung bình và thấp, 1998
2 Sốt rét (209.109) Chấn thương giao thông đường bộ
(524.063)
3 Chấn thương giao thông đường bộ
(156.643)
Bạo lực (483.647)
6 Chấn thương chiến tranh
Ở Trung quốc, Ai Cập, Mỹ các nguyên nhân gây nên chấn thương chủ yếu là do các phương tiện giao thông có động cơ mà chủ yếu là do ô tô, theo sau đó là các nguyên nhân như ngã, cháy và bỏng, chết đuối, tự tử, giết người
Theo thông báo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC Atlanta, Mỹ) trong năm 1995 các tử vong là có liên quan đến chấn thương chiếm 6% tổng tất cả tử vong và chấn thương gây nên
tử vong ở người trẻ tuổi nhiều hơn bệnh tật và các nguyên nhân tự nhiên khác Nếu các
nguyên nhân tử vong do súng nổ giảm thì các nguyên nhân tử vong do giao thông lại gia tăng
Trang 10Mô hình bệnh tật và tử vong ở nhiều nước trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể trong vài thập kỷ qua Tại Mỹ, trong khoảng từ 1910 tới 1990 tỷ suất tử vong do các bệnh về dạ dày ruột trên cộng đồng đã giảm từ 115 xuống khoảng 2 phần 100.000 Tình hình bệnh lao cũng giảm tương tự (từ 155 xuống khoảng 2 phần 100.000) Tuy nhiên tỷ suất tử vong do chấn thương chỉ giảm được khoảng 20%, do vậy các nguyên nhân chấn thương hiện chiếm hàng thứ 4 trong tổng số các trường hợp tử vong (sau một số bênh tim mạn tính, ung thư và đột quỵ) (Baker và cs, 1992)
Trên thế giới, gánh nặng chấn thương do giao thông vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tất cả các nguyên nhân chấn thương WHO ước tính trong Báo cáo Toàn cầu về Chấn thương Giao thông năm 2004 rằng:
- Chấn thương thông đường bộ làm chết 1,2 triệu người mỗi năm (hay 3242 người mỗi ngày)
- Các vụ tai nạn giao thông đường bộ để lại hậu quả thương tích hoặc tàn tật cho vào khoảng từ 20 tới 50 triệu người mỗi năm
- Riêng chấn thương giao thông đã đứng hàng thứ 11 trong các nguyên nhân tử vong hàng đầu, chiếm 2,1% tổng số tử vong trên toàn thế giới
- Có 73% các trường hợp tử vong do chấn thương giao thông là nam giới
Các chi phí kinh tế của chấn thương
Các chi phí hàng năm về xã hội và y tế của chấn thương được ước tính là vượt quá 500 tỉ USD tính trên toàn thế giới (WHO 1989a) Chấn thương chiếm lên tới 1/3 của tất cả các nhập viện (WHO 1989a) Thêm vào đó là chi phí cho các dịch vụ cấp cứu, các chi phí không thể kể hết cho việc tiếp tục điều trị, phục hồi chức năng, và mất khả năng lao động do cả tử vong và tàn tật gây nên Người ta ước tính rằng chi phí cho việc điều trị cho mỗi trường hợp tử vong ở
Mỹ vào khoảng 317 nghìn USD trong năm 1985, 34 nghìn cho mỗi trường hợp nhập viện và
500 USD cho mỗi trường hợp chấn thương không cần nhập viện (Rice và cộng sự 1989)
Ở Thái lan ước tính cho thấy rằng chi phí cho chấn thương chiếm vào khoảng 2% sản phẩm quốc nội, không tính đến các chi phí cho tàn phế lâu dài (WHO 1987b)
Bởi sự thiệt hại chủ yếu rơi vào nhóm người trẻ tuổi cho nên chấn thương là nguyên nhân chính của số năm mất khả năng sống tiềm tàng ở các nước công nghiệp phát triển Ví dụ ở Mỹ chấn thương chiếm 40,8% của YPLL, chi phí ước tính vào khoảng 158 tỉ USD/năm cho cả chấn thương gây nên tử vong và chấn thương không gây nên tử vong (Rice và cộng sự 1989)
Ở Ai Cập thì tình trạng còn tồi tệ hơn, chấn thương chiếm 78% YPLL và từ 10-30% của tất cả các ca nhập viện
Tàn tật, bao gồm cả tạm thời và vĩnh viễn do hậu quả của chấn thương không tử vong gây nên là chi phí đáng kể của chấn thương Ở Mỹ tàn tật do chấn thương làm mất khả năng hoạt động bình thường vào khoảng 3 ngày/người/năm Theo WHO (1986) ước tính rằng có 13% dân số thế giới bị tàn tật và tàn tật do chấn thương gây nên chiếm tối thiểu 15% trong số này
Trang 11Hình 3 Chi phí trực tiếp và gián tiếp của chấn thương và các bệnh hô hấp
Nguồn: DeCodes, Baker & Schumann 1988
Bảng 3 Ước tính tử vong toàn cầu do chấn thương và ngộ độc (theo vùng, tuổi, giới và
năm, trên 100.000 dân)
Trang 12Chi phí bởi sự hỏng hóc, tài sản bị phá huỷ, bảo hiểm và các vật dụng không thuộc về y tế khác thường cao hơn những chi phí do mất khả năng lao động hay chăm sóc y tế dành cho chấn thương Nghiên cứu tiến hành ở 5 nước đang phát triển (Thổ Nhĩ Kỳ, Thái lan và 3 nước Châu Phi khác) trong các năm từ 1961 - 1971 cho thấy rằng các chi phí do phá huỷ tài sản hay phương tiện chiếm từ 60 - 87% chi phí gây nên bởi các vụ đâm ô tô (Jacobs & Sayer, Badouy 1989) Không có trường hợp nào chi phí dành cho y tế vượt quá 9% chi phí do vụ đâm ô tô gây nên
Gần đây nhất, năm 2004 WHO ước tính trên toàn thế giới riêng chi phí do chấn thương giao thông đường bộ gây nên vào khoảng 518 tỷ USD mỗi năm Chi phí này ở nhóm nước thu nhập thấp và trung bình cộng lại là 65 tỷ USD, lớn hơn cả số viện trợ cho phát triển mà những nước này nhận được
Tình hình chấn thương ở các nước đang phát triển
Một số tóm tắt về tình hình chấn thương ở một số các nước đang phát triển cho ta thấy được
rõ hơn vấn đề chấn thương tại nhóm các nước đang phát triển, bác bỏ quan điểm cũ cho rằng chấn thương chủ yếu chỉ có ở các nước phát triển
Ở Ai Cập, chấn thương là nguyên nhân thứ hai trong các nguyên nhân nhập viện Còn ở Zambia, tỉ lệ tử vong do phương tiện giao thông có động cơ tăng gấp 3 trong 10 năm gần đây Thái lan là nước gần ta nhất có xu hướng phát triển chung đặc trưng của các nước đang phát triển, thì từ năm 1969 chấn thương đã là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong Tỉ lệ tử vong tăng lên gấp hai lần trong những năm từ 1975-1982 (tăng từ 16 tới 33 tử vong/100.000 dân) Trong năm 1983 có gần 3 triệu người bị chấn thương đã điều trị trong các bệnh viện và có 31.000 trường hợp tử vong Gánh nặng kinh tế của chấn thương tăng lên không ngừng, chỉ riêng chi phí trực tiếp cho chấn thương đã lên tới 1,5 triệu USD trong năm 1987
Tại Brazil, tỷ lệ các ca tử vong do bệnh truyền nhiễm trong tổng số tử vong giảm từ 45% năm
1930 xuống còn 11% vào năm 1980, trong khi các bệnh tim mạch, ung thư và chấn thương tăng lên (Ngân hàng Thế giới, 1989)
Ở Trung Quốc, do tỷ lệ người già ngày một tăng lên trong dân số, chấn thương từ vị trí nguyên nhân tử vong hàng thứ 2 đã trở thành nguyên nhân đứng hàng thứ 5, sau các bệnh ung thư, bệnh tim mạch và đột quỵ ở người già, và bệnh hệ hô hấp Tuy vậy, tỷ suất tử vong do chấn thương vẫn vượt xa tỷ suất tử vong do bệnh truyền nhiễm; và chấn thương là nguyên nhân tử vong hàng đầu (ở cả nam và nữ) trong độ tuổi từ 1 – 44 (Li và Baker, 1991; WHO, 1991) Trung Quốc có tỉ lệ tử vong liên quan tới chấn thương hiệu chỉnh theo tuổi cao hơn cả
ở Mỹ (69 trường hợp so với 61 trường hợp tính trên 100.000 dân) Ở Mỹ các tỉ lệ tử vong cao nhất liên quan tới đâm ô tô, cháy và giết người Trung Quốc tỉ lệ tử vong lớn hơn liên quan tới chết đuối, ngộ độc, ngã và tự sát
Ấn Độ: tử vong hàng năm liên quan tới chấn thương được ước tính vào khoảng từ 130.000 - 650.000 Số giường trong bệnh viện dành cho chấn thương chiếm vào khoảng 15% Hàng năm có vào khoảng hơn 100.000 tử vong và 1 triệu tàn phế do bỏng gây nên Ở Ấn độ, tỉ lệ tử vong do phương tiện giao thông có động cơ tăng gấp đôi từ 1957 đến 1979 Trong năm 1992 nhà nước thông báo là có khoảng hơn 57.000 người chết do các chấn thương liên quan tới giao thông
Trang 13Trung Đông và Châu Phi: ở Trung Đông và Châu Phi số lượng xe ô tô tăng đáng chú ý vào những năm giữa thập kỷ 80 Tử vong trên 100.000 dân liên quan tới giao thông trải từ 2,5 ở Ethiopia, 13,4 ở Kenia, đến 17,1 và 30,5 ở Nam Phi (so với 10,0 ở Thuỵ Điển) Khi sử dụng tỉ
lệ "tử vong do giao thông trên số ô tô đăng ký" thì tỉ lệ tử vong đó vượt quá Mỹ và các nước Châu Âu
Theo WHO thì khoảng 80% gánh nặng chấn thương nằm trong các nước đang phát triển mà các nước này chiếm 80% dân số toàn thế giới, 90% tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ở các nước đang phát triển Những tỉ lệ tử vong cao này không chỉ là do sự bùng nổ về dân số, đô thị hoá, công nghiệp hoá mà còn bị làm cho gia tăng và trầm trọng hơn bởi sự nghèo đói Nhìn bao quát chung tất cả thì tỉ lệ chấn thương cao hơn thường gặp trong các nhóm có đời sống kinh tế xã hội thấp hơn
Ở các nước đang phát triển, chấn thương thường được nhìn nhận như là một hậu quả không thể tránh khỏi của sự thay đổi về công nghệ và phát triển kinh tế và như thế là một cái giá phải trả cho sự phát triển Trong cách nhìn bao quát chung cả về mặt thương nghiệp và cộng đồng thì những thu nhập được trước mắt về mặt kinh tế thường có nhiều giá trị hay ảnh hưởng hơn các chi phí mà tử vong và tàn tật bởi chấn thương gây nên Chịu sự bất lợi về mặt kinh tế xã hội và chính trị, những người dân ở các nước đang phát triển phải sống hàng ngày với các nguy cơ chấn thương vốn không thể chấp nhận được ở các nước công nghiệp phát triển
Từ các năm của giữa thập kỷ 1980 việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học vào trong nghiên cứu chấn thương đã làm tăng lên sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ của chấn thương, các nhóm đích cũng như việc phát triển các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát chấn thương Đáng tiếc là phần lớn các cố gắng trên chỉ được thực hiện ở các nước có thu nhập cao hay là các nước phát triển và chỉ một số ít các cố gắng được thực hiện ở các nước có thu nhập thấp hay các nưóc đang phát triển
Bảng 4 Các yếu tố nguy cơ lựa chọn kết hợp với sự kiện ở các nước đang phát triển
Ngộ độc
Tuổi
Dưới 15 có không không có không có có
Từ 65 trở lên không không không có không không không Tình trạng kinh tế
Nhìn chung thì những nguyên nhân dẫn đến chấn thương ở các nước đang phát triển thường là
do các nguyên nhân xếp theo thứ tự giảm dần theo mức độ trầm trọng như sau:
Trang 14 Chấn thương do giao thông
Đối với các nước đang phát triển người ta cho rằng những nước này chuyển dịch theo cái gọi
là "sự chuyển đổi (hay quá độ) dịch tễ học" từ tình hình bệnh tật mà chủ yếu là các bệnh truyền nhiễm trong vòng 15-20 năm gần đây đã làm gia tăng thêm sự trầm trọng của chấn thương và nó đã làm nổi bật một cách rõ nét chấn thương như là một nguyên nhân tử vong quan trọng nhất của lứa tuổi từ 1 đến 44
Ở nhiều nước công ngiệp hoá nhanh trong số các nước đang phát triển, các tỷ lệ tử vong tuyệt đối do chấn thương cũng tăng lên nhanh chóng Cùng với sự phát triển là sự thay đổi về công nghệ và xã hội đã làm thay đổi nguy cơ chấn thương Những thay đổi này có tiềm năng tác động lên số mới mắc do chấn thương đồng thời trên cả 2 phương diện: có hại (chẳng hạn qua việc tăng các yếu tố có hại hay tăng các hành vi có nguy cơ), và cả có lợi (chẳng hạn như qua các sản phẩm và hành vi an toàn) Ở phần lớn các nước đang phát triển cho đến nay những thay đổi về môi trường và cách sống này đã làm trầm trọng hơn các vấn đề về chấn thương hơn là cải thiện nó
Sự gia tăng cơ giới hoá giao thông ở các nước đang phát triển có lẽ là một ví dụ thuyết phục nhất cho hậu quả có hại không mong muốn của sự thay đổi công nghệ Ví dụ ở Thái Lan, tỷ lệ
tử vong do ô tô tăng gần 30% mỗi năm (Punyahotra, 1982), từ những năm 1947 nguyên nhân
tử vong do chấn thương từ đứng hàng thứ sáu đã nhảy lên thứ nhất Chỉ riêng tử vong do giao thông đã chiếm số YPLL nhiều hơn cả lao và sốt rét cộng lại
IV Tình hình chấn thương tại Việt Nam
Tại Việt Nam theo số liệu từ cuộc Hội thảo phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ năm
1993 thì tỷ lệ tử vong trên quần thể của chấn thương là 3,7/100 000 dân và tỷ lệ tử vong trên phương tiện giao thông là 12/10 000 phương tiện giao thông được đăng ký Các tỷ lệ này là các tỷ lệ đặc trưng cho một nước đang ở trong giai đoạn ô tô, xe máy hoá cao, tỷ lệ tử vong thấp trên khía cạnh quần thể, nhưng cao trên khía cạnh liên quan tới số phương tiện được đăng ký
Theo số liệu của cục cảnh sát giao thông (Bộ Nội vụ) từ 1990 đến tháng 5/1997, trên phạm vi
cả nước đã xảy ra 92.071 vụ tai nạn giao thông làm chết 31.385 người và làm bị thương 95.719 người khác, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm 95% số vụ, 94% số người chết, 98% số người bị thương Từ 1991 đến nay, tai nạn giao thông luôn gia tăng, trung bình năm sau tăng hơn năm trước 2000 vụ So với năm 1991 thì năm 1996 số vụ tai nạn giao thông tăng 2,68 lần, số người chết tăng 2,52 lần, số người bị thương tăng 3,05 lần Trong 5 năm 1991- 1994, bình quân mỗi ngày tai nạn giao thông làm chết 13 người, nhưng 6 tháng đầu
Trang 15năm 1995 tai nạn giao thông tiếp tục tăng, bình quân mỗi ngày chết 17 người Số chết và số bị thương do tai nạn giao thông có xu hướng ngày càng gia tăng
Bảng 5 Tổng kết tình hình tại nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam (1990-2002)
Năm
Số vụ Số người chết Số người bị thương
Số vụ
Tăng so với năm trước (%)
Số chết
Tăng so với năm trước (%)
Số bị thương năm trước (%) Tăng so với
Nguyồn: Bộ Giao thông, 2004
Theo Niên giám Thống kê Y tế từ năm 1993 - 1996, thì nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong là viêm phổi (1,1/100 000 dân) rồi sau đó đến lao phổi và xuất huyết não, trong khi đó tai nạn giao thông đứng thứ 5 (0,7/100 000), tự tử (0,6/100 000) Nếu phân chia theo nhóm bệnh thì tỉ lệ mắc của nhóm tai nạn, chấn thương, ngộ độc đứng hàng thứ 4 trong khi đó tỷ lệ
tử vong cao hơn rất nhiều so với nhóm bệnh đầu tiên là nhiễm trùng và ký sinh trùng Số liệu thống kê bệnh viện được tổng kết vào năm 2003 ước tính chấn thương do tai nạn giao thông tại Việt Nam đứng hàng thứ 6 trong nhóm 10 nguyên nhân bệnh tật và đứng thứ 4 trong số 10 nhóm nguyên nhân gây tử vong hàng đầu
Các số liệu trên chỉ nói lên phần nào của thực trạng tình hình chấn thương ở nước ta, một nước có tỷ lệ dân số ở tuổi trẻ cao, đang trên đà cơ giới hoá cao trong khi đó cơ sở hạ tầng cũng như các biện pháp bảo vệ khỏi chấn thương chưa được quan tâm đúng mức và hữu hiệu Hơn thế nữa, những thống kê tại bệnh viện của ngành y tế cũng như những thống kê của ngành giao thông và công an có những hạn chế nhất định về tính đầy đủ của số liệu Chính vì vậy, những cuộc điều tra cộng đồng đóng vai trò đáng kể trong việc cung cấp một nguồn số liệu để đánh giá thực trạng chấn thương tại Việt Nam Bên cạnh những cuộc điều tra nhỏ lẻ mang tính địa phương, cuộc Điều tra Chấn thương Liên trường tại Việt Nam (còn gọi là cuộc Điều tra Chấn thương ở Việt Nam - ĐTCTVN) do Trường Đại học Y tế Công cộng chủ trì, kết hợp với các trường đại học y dược trong cả nước tiến hành vào năm 2001 đã một lần nữa khẳng định gánh nặng chấn thương là một trong số những vấn đề sức khỏe hàng đầu tại Việt Nam
ĐTCTVN là một cuộc điều tra mang tính quốc gia về các trường hợp tử vong do tất cả mọi nguyên nhân và những thông tin về các chấn thương ở mọi lứa tuổi của người dân Việt Nam với mẫu nghiên cứu gồm 27.000 hộ gia đình thuộc tám vùng sinh thái của Việt Nam
Trang 16ĐTCTVN đã cho thấy rõ chấn thương đang dần trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam, đặc biệt ở lứa tuổi trẻ em Trong khi bệnh mạn tính là nguyên nhân lớn nhất gây tử vong ở những người trên 50 tuổi, thì ở nhóm tuổi dưới 50 (nhóm chiếm
tỉ lệ dân số lớn nhất Việt Nam), chấn thương là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong Hình
4 cho thấy, ở nhóm dưới 50 tuổi, tỉ lệ các trường hợp tử vong do chấn thương chiếm tới hơn 50% tổng số các trường hợp tử vong và có thể đến hơn 80% (nhóm 5-9 tuổi); trong khi các tỉ
lệ trường hợp tử vong do bệnh mạn tính đứng thứ hai khoảng dưới 30% và tỉ lệ các trường hợp tử vong do bệnh truyền nhiễm chỉ chiếm dưới 20% tổng số các trường hợp tử vong
Hình 4 Tỉ lệ các trường hợp tử vong do chấn thương và các nhóm bệnh tại Việt Nam
Nguồn: ĐTCTVN 2001
Hình 5 cũng cho thấy một xu hướng tương tự khi xét các nhóm nguyên nhân chấn thương, bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm trong số các trường hợp không gây tử vong: trừ nhóm tuổi sơ sinh (dưới 1 tuổi) và nhóm trên 50 tuổi, chấn thương hiện là nguyên nhân lớn nhất gây
ra các trường hợp bệnh, tiếp theo sau là các bệnh mạn tính và các bệnh truyền nhiễm Bên cạnh đó, khi xét chung ở tất cả các nhóm tuổi, chấn thương cũng là một nguyên nhân đáng kể dẫn đến các trường hợp bệnh, xấp xỉ bằng bệnh mạn tính và hơn hẳn so với bệnh truyền nhiễm Theo kết quả ĐTCTVN 2001 có khoảng 5,5% người Việt Nam đã bị thương trong năm đó, với mức độ nghiêm trọng phải cần đến các can thiệp y tế hay phải nghỉ học hay nghỉ làm ít nhất là một ngày
ĐTCTVN cũng cho thấy ở Việt Nam có một mô hình dịch tễ học đặc thù về tử vong do chấn thương và mô hình này tuỳ thuộc vào từng lứa tuổi khác nhau Từ tuổi sơ sinh cho tới lứa tuổi dậy thì, đuối nước là một nguyên nhân nổi bật gây tử vong ở tất cả các nhóm tuổi, vượt xa các nguyên nhân khác Bắt đầu từ sau lứa tuổi dậy thì, tai nạn giao thông đường bộ (TNGT) bắt đầu nổi bật và sau đó tăng nhanh khi tuổi tăng Chấn thương do giao thông đường bộ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở những nhóm tuổi từ 15 tuổi trở lên Mô hình bao gồm đuối nước vượt trội ở lứa tuổi trẻ nhỏ và chấn thương do giao thông đường bộ nổi bật ở lứa tuổi trẻ lớn là một mô hình phổ biến ở cả các quốc gia láng giềng của Việt Nam
Trang 17Hình 5 Tỉ lệ các trường hợp bệnh do chấn thương và các nhóm bệnh tại Việt Nam
Nguồn: ĐTCTVN 2001
Với tỉ suất 26,7 trường hợp tử vong tính trên 100.000 dân, TNGT là nguyên nhân hàng đầu gây nên tử vong ở Việt Nam, với dân số khoảng 78 triệu vào năm 2001, tỉ suất này có nghĩa là trung bình có khoảng hơn 20.000 trường hợp tử vong do TNGT trong năm 2001 và tương đương mỗi ngày trung bình có khoảng 57 trường hợp tử vong do TNGT
Bỏng Máy
móc Khác
Trang 1828%
62%
Bệnh truyền nhiễm Bệnh mạn tính Chấn thương
nguyên nhân đứng thứ ba gây nên tử vong với tỉ suất tử vong là 9,5/100.000 và gây ra hơn 7.400 trường hợp tử vong ở Việt Nam mỗi năm, hay gần 20 người mỗi ngày Ngộ độc đứng ở
vị trị thứ tư với tỉ suất ngộ độc gây tử vong là 7,3/100.000 và gây ra khoảng hơn 5.600 trường hợp tử vong trong năm 2001, hay khoảng gần 16 người mỗi ngày Vật sắc là nguyên nhân đứng hàng thứ 5 với tỉ suất là 5,3/100.000, hay là có khoảng 11 trẻ bị chết do ngã mỗi ngày Đối với các trường hợp chấn thương không tử vong, TNGT cũng là nguyên nhân hàng đầu vởi tỉ suất trên 100.000 lên đến hơn 1.400, nghĩa là mỗi ngày trung bình có khoảng gần 4.000
số vụ TNGT không dẫn đến tử vong Trong số này thì phần lớn các trường hợp TNGT xảy ra
ở những nhóm tuổi từ 15 trở lên và mức độ nghiêm trọng chủ yếu là các chấn thương ở mức nhẹ và vừa
Đuối nước
Ngộ độc
Ngã Điện giật
Súc vật cắn
Bỏng Ngạt Vật tự
nhiên
Máy móc
Sét đánh Khác
Hình 8 Tỉ lệ YPLL trước tuổi 65 theo nhóm nguyên nhân tại Việt Nam
Nguồn: ĐTCTVN 2001
Trang 19Xét về số năm sống tiềm tàng bị mất, hình 8 cho thấy sự phân bổ tương quan của YPLL ở Việt Nam trong năm 2001 của các nguyên nhân gây tử vong Rõ ràng chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây nên sự mất mát các năm sống của con người
Những kết quả nghiên cứu cũng như các số liệu thống kê nêu trên cho thấy chấn thương đang
là một vấn đề rất nhức nhối trên thế giới và ở Việt Nam, với mọi lứa tuổi nhưng đặc biệt là ở trẻ nhỏ và thanh thiếu niên Việc xây dựng các chương trình phòng chống và kiểm soát chấn thương hiện đang được ngành Y tế và các ngành có liên quan trong toàn xã hội rất quan tâm chú ý Nỗ lực phòng ngừa và kiểm soát chấn thương sẽ không thể mang lại hiệu quả nếu không được áp dụng theo những nguyên tắc khoa học và nhận được sự đầu tư thích đáng Những bài học tiếp theo sẽ tiếp tục đề cập cụ thể về phương pháp luận và những nguyên tắc phòng ngừa và kiểm soát chấn thương
Tài liệu tham khảo:
1 Dean T Jamison, W.Henry Mosley.et al – Editors Disease Control Priorities in
Developing Countries - Published for the World Bank - Oxford University Press
2 Gibson, J.J., The contribution of experimental psychology to the formulation of the
problem of safety: a brief for basic research 1961, New York Association for the Aid of
Crippled children: New York p 77-89
3 Haddon, W., Jr., A note concerning accident theory and research with special reference
to motor vehicle accidents Ann N Y Acad Sci, 1963 107: p 635-46
4 Krug, E.E Injury: a leading cause of the global burden of disease 1999, World Health
Organization: Geneva
5 Lawrence R.Berger, Dinesh Mohan Injury control - a global view Delhi Oxford
University Press 1996
6 Leon S.Robertson Injury Epidemiology 1992
7 Peter Barss, Gordon Smith, Susan Baker, Dinesh Mohan Injury Prevention: An
International Perspective Oxford University Press 1998
8 Le, Linh C; Linnan, Mike J Vietnam Multi-center Injury Survey, Annex on
Cause-specific injury rates by age-group, sex and location in Vietnam Hanoi School of Public
Health; June 2003 (report to UNICEF)
9 Lê Vũ Anh, Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lê Cự Linh, Phạm Việt
Cường, Bùi Thanh Tâm, Lã Ngọc Quang và cs Chỉ số đánh giá chấn thương trong các
lĩnh vực Bộ Y tế, Hà Nội 3/2004
10 Lê Vũ Anh, Lê Cự Linh, Phạm Việt Cường Chấn thương: Một số kết quả sơ bộ từ
cuộc điều tra chấn thương đầu tiên tại Việt Nam Tạp chí Y Tế Công Cộng Số 1(1),
8/2004
11 Susan P.Baker, Brian O'neil The injury fact book Lexington Books D.C Health and
company Lexington, Massachusetts
12 Trường Đại học Y tế Công cộng Điều tra Chấn thương tại Việt Nam (Báo cáo đề tài cấp
bộ) 2003
13 WHO Global burden of disease attributable to injuries, 2000 estimates, (in World Health
Report 2001) World Health Organization: Geneva
14 WHO World Report on Road Traffic Injury Prevention 2004, World Health
Organization: Geneva
Trang 20DỊCH TỄ HỌC CHẤN THƯƠNG
Mục tiêu bài học
Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:
1 Trình bày được các dạng năng lượng gây chấn thương
2 Mô tả được những khái niệm cơ bản của dịch tễ học áp dụng trong nghiên cứu và phòng chống chấn thương
3 Mô tả và tính toán được một số chỉ số đo lường chấn thương
4 Nêu được một số vấn đề liên quan đến đo lường và đánh giá tác động của chấn thương lên sức khoẻ
1 Giới thiệu về chấn thương
Trong dịch tễ học chấn thương, trước hết chúng ta phải biết được chấn thương là gì? Trong nhiều thế kỷ, người ta quan niệm chấn thương và tai nạn là những sự kiện chết người Một cách khái quát, chấn thương xảy ra khi sự truyền năng lượng bất thường từ các vật thể sang cơ thể con người, mà mức năng lượng này quá sức chịu đựng của cơ thể con người Các dạng năng lượng có thể gây chấn thương cho con người bao gồm: năng lượng cơ học, nhiệt độ, năng lượng hoá học, năng lượng điện và năng lượng phóng xạ
- Năng lượng cơ học: có thể gây xuyên thủng; không xuyên thủng; nén
Bất kỳ một vật thể nào, có thể là vật thể sống hoặc không phải vật thể sống, khi chuyển động đều sản sinh ra một lực tác động Lực sản sinh ra được tính theo công thức: F = (mv2)/2 Trong đó F là lực sản sinh ra khi di vật di chuyển; m là trọng lượng của vật; v là vận tốc di chuyển tính bằng m/giây Khi vật di chuyển càng nhanh cũng như vật càng nặng thì lực sản sinh ra càng lớn
Khi một người bị dừng lại đột ngột do va vào vật đang di chuyển (ví dụ trong các vụ đâm xe) thì lực do xe sản sinh ra khi đang di chuyển sẽ được giải phóng ra môi trường, lên xe
cộ khác hoặc vào cơ thể người bị va chạm Các bộ phận cơ thể sẽ bị tổn thương do lực tác động Mức độ tổn thương này phụ thuộc vào cường độ lực tác động, diện tích phần bị tác động, hình dáng và mức độ đàn hồi của vật tác động
- Nhiệt độ và năng lượng hoá học
Các trường hợp bị chấn thương và tử vong do chấn thương liên quan tới cháy, sức nóng và khói là những hậu quả của việc các vật liệu dễ cháy bị cháy và giải phóng ra năng lượng làm tổn thương Nguồn gây cháy thường gặp nhất là thuốc lá hút dở bị rơi xuống các vật liệu dễ cháy như thảm trải nền hoặc giường, cháy âm ỉ rồi gây hoả hoạn lớn Nhiều nguồn gây cháy khác rất đa dạng, tuỳ thuộc vào đặc điểm của điều kiện sống Có thể là bật lửa, bếp gas, các vật đánh lửa bằng điện Các nguồn nhiệt không do cháy có thể là nước và các dung dịch khác được đun nóng Tổn thương cơ thể do nhiệt là sự tổn thương mô, tế bào và
cơ quan cơ thể do tiếp xúc nhiệt độ quá sức chịu đựng
Tổn thương do hoá chất khác có thể do hít phải, uống phải, tiêm phải hoặc ngấm phải những hoá chất có tính gây tổn thương Những hoá chất này phản ứng với các chất sinh hoá của cơ thể và nhanh chóng huỷ hoại các tế bào
Trang 21Tuy nhiên, liều-đáp ứng của các cá nhân có thể rất khác nhau do tính nhạy cảm của cơ thể, phát triển thể lực và kinh nghiệm của bản thân, cũng như sự có mặt của các yếu tố hoá chất có tác dụng cộng hưởng khác có ảnh hưởng rất lớn tới mức trầm trọng của chấn thương
- Năng lượng điện, phóng xạ
Năng lượng điện cũng là một nguồn năng lượng gây tổn thương trầm trọng Khái niệm ampere liên quan tới cường độ dòng điện đang di chuyển trong đường dẫn, và là yếu tố quyết định tới các tổn thương của cơ thể khi tiếp xúc với dòng điện không được bảo vệ Cường độ dòng điện càng lớn thì mức độ tổn thương của cơ thể càng nặng
Các chất phóng xạ cũng sản sinh ra những năng lượng gây tổn thương cho cơ thể Các phản ứng hạt nhân không được bảo vệ sẽ sản sinh ra một lượng năng lượng khổng lồ, nhiệt độ có thể lên đến hàng ngàn độ C, đồng thời sản sinh ra áp lực tác động rất lớn và làm tổn thương cơ thể rất mạnh mẽ
- Các yếu tố thiết yếu cho sự sống
Các cơ quan, bộ phận của cơ thể sẽ không thể hoạt động được khi có quá ít năng lượng được cung cấp từ quá trình trao đổi chất nội tế bào Sự thiếu vắng của ô xy sẽ làm ngắt quãng quá trình trao đổi chất nội sinh, được gọi là ngạt, dẫn tới sự tổn thương của các tế bào quan trọng trong não và tim Ngạt có thể do các dị vật ngăn chặn đường thở (mũi, họng hoặc các phế quản) Các dạng ngạt thường gặp nhất đó là ngạt trong đuối nước, ít gặp hơn có thể là tràn dịch màng phổi do một số bệnh tim phổi gây ra
2 Một số khái niệm dịch tễ học cơ bản
2.1 Những khái niệm cơ bản
Dịch tễ học mô tả:
Sự đặc tính hoá về phân phối của những tình trạng hoặc những biến cố liên quan đến sức khoẻ
là một khía cạnh rộng của dịch tễ học được gọi là dịch tễ học mô tả
Cho biết: Cái gì?
Ai?
Khi nào?
Ở đâu?
Của những biến cố có liên quan đến sức khoẻ
Những yếu tố quyết định/nguy cơ Dịch tễ học cũng được sử dụng để tìm nguyên nhân và
những yếu tố khác ảnh hưởng đến sự xuất hiện của những biến cố liên quan đến sức khoẻ
Dịch tễ học phân tích Cố gắng cho biết xem Tại sao và Thế nào của những biến cố đó bằng
cách so sánh những nhóm với những tỷ lệ xuất hiện bệnh khác nhau và những khác biệt về đặc tính dân số, cấu trúc di truyền hoặc miễn dịch, hành vi, những yếu tố tiếp xúc thuộc môi trường, và những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn
Những biến cố hoặc tình trạng có liên quan đến sức khoẻ: Bệnh truyền nhiễm và bệnh
không truyền nhiễm, chấn thương; Phương pháp dịch tễ học được áp dụng cho những bệnh mạn tính, chấn thương, những khuyết tật bẩm sinh, sức khoẻ bà mẹ-trẻ em, sức khoẻ nghề nghiệp, và sức khoẻ môi trường; Những hành vi có liên quan đến sức khoẻ và sự thoải mái (vận động, sử dụng dây dây an toàn, )
Trang 22Những quần thể xác định Mặc dù cả những nhà dịch tễ học và bác sĩ điều trị trong thực
hành lâm sàng đều quan tâm đến bệnh và kiểm soát bệnh, nhưng họ khác nhau nhiều trong
cách nhìn nhận “người bệnh.” Những bác sĩ lâm sàng quan tâm đến sức khoẻ của một cá nhân, những nhà dịch tễ quan tâm đến sức khoẻ chung của những người dân trong một cộng đồng hoặc một khu vực khác
2.2 Những câu hỏi dịch tễ học thường hỏi về chấn thương
1 Phạm vi, độ lớn của tình trạng chấn thương như thế nào?
2 Các yếu tố nguy cơ quan trọng gây chấn thương trong cộng đồng là gì?
3 Quần thể nào có nguy cơ?
4 Bao nhiêu người hiện nay đang mắc bệnh?
5 Bao nhiêu người có nguy cơ bị mắc bệnh (hoặc dẫn đến tử vong)?
2.3 Cách tiếp cận dịch tễ học trong phòng chống chấn thương
Các nhà dịch tễ học sử dụng cách tiếp cận của Mô hình Sức khoẻ cộng đồng trong việc tăng cường sức khoẻ cho cộng đồng Hình 1, mô tả mô hình sức khoẻ cộng đồng
Xác định tỷ lệ mắc,
tử vong
Môi trường xã hội, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
Bước tiếp theo đó là triển khai các nghiên cứu phân tích để xác định các yếu tố nguy cơ đặc thù theo từng loại chấn thương, từng loại đối tượng bị chấn thương và các giải pháp can thiệp có thể
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trên, chúng ta có thể triển khai các can thiệp để giảm thiểu tác động của chấn thương thông qua việc giảm tỷ lệ mắc, tàn tật, tử
Trang 23vong Thông qua việc áp dụng những mô hình can thiệp thành công đã được thử nghiệm hoặc triển khai mô hình can thiệp mới
Để kiểm định được can thiệp có những kết quả như kỳ vọng hay không, chúng ta phải triển khai những nghiên cứu đánh giá Từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho can thiệp, hoặc mô tả lại vấn đề và đưa ra những định hướng cho can thiệp mới
3 Mô hình dịch tễ học chấn thương
Ngay từ những nă 1949, J.E Gordon đã đưa ra: “Thay vì vấn đề được đặt ngoài tình trạng bệnh và hầu như không được quan tâm trong phạm vi của y học dự phòng, chấn thương cũng
là vấn đề y tế công cộng như bệnh Sởi Chấn thương tuân theo cách tiếp cận dịch tễ học tương
tự (như đối với bệnh sởi) và điều tối thiểu mà mọi người thấy rõ là chấn thương có thể phòng ngừa và kiểm soát được”
Chấn thương được coi là nhóm bệnh hay quá trình bệnh chứa đựng đầy đủ các cấu phần của diễn biến bệnh, lịch sử tự nhiên của bệnh và các yếu tố dịch tễ học
Chấn thương luôn luôn tồn tại tối thiểu ở dưới dạng của tình trạng bệnh, các biện pháp nhằm kiểm soát chấn thương rất phong phú và được sử dụng rộng rãi John E.Gordon từ khoảng hơn
30 năm trước đây đã cho rằng chấn thương khi được đặc tính hóa theo vụ dịch, thay đổi mang tính chất mùa, xu hướng dài và các sự phân bố theo vùng địa lý, kinh tế xã hội, thành thị nông thôn thì nó tự thể hiện theo nhiều khía cạnh hay phương diện khác nhau giống như các bệnh truyền nhiễm rất cổ điển và các dạng bệnh học khác mà đã được hiểu cặn kẽ Trong thực tế, tất cả các phân bố chấn thương được biết thì rất không ngẫu nhiên theo các khía cạnh thời
gian, nơi chốn và con người
Dựa trên kinh nghiệm của những người tiền nhiệm trong việc điều tra, nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm, nhiều nhà dịch tễ học về chấn thương đã tiến hành điều tra của họ khi lưu tâm đến mô hình lý thuyết được các nhà bệnh truyền nhiễm phát triển Các khía cạnh trọng tâm của quá trình này bao gồm vật chủ (người bị chấn thương), tác nhân gây nên chấn thương, vật hay vector chuyên chở tác nhân, cũng như các yếu tố môi trường khác
4 Các vấn đề liên quan trong đo lường chấn thương
4.1 Định nghĩa, nguyên nhân chấn thương
4.1.1 Định nghĩa chấn thương
Việc định nghĩa chính xác những trường hợp chấn thương có vai trò quan trọng trong các cuộc điều tra về xác định tình trạng hiện mắc của chấn thương trong cộng đồng nhằm loại bỏ các chấn thương nhẹ ít có ý nghĩa trong việc đánh giá gánh nặng chấn thương và thiết kế các chiến lược phòng ngừa và xây dựng kế hoạch dịch vụ y tế
Các trường hợp chấn thương thường được chia ra ba loại là tử vong, nhập viện và các trường hợp khác Trong số đó các trường hợp tử vong và nhập viện do chấn thương thì thường dễ xác định hơn là các trường hợp khác (điều trị phòng khám tư, tại nhà hoặc không điều trị gì) Thêm vào đó một số tiêu chí được đặt ra như là các tiêu chí gián tiếp cho việc xác định mức
độ trầm trọng của các trường hợp chấn thương trong các điều tra hay hệ thống giám sát là các mức độ tàn phế tạm thời hay vĩnh viễn, ví dụ như không có khả năng làm việc hoặc thực hiện một số công việc cụ thể trong sinh hoạt hàng ngày
Trang 24Mức độ trầm trọng của chấn thương cũng còn được xác định dựa trên thang bậc phân cấp theo bản chất của chấn thương của những trường hợp được điều trị tại bệnh viện hay tử vong Các
số liệu này giúp cho việc đánh giá gánh nặng về việc cung cấp dịch vụ y tế cho chấn thương tại các cơ sở y tế cũng như đánh giá tác động và hiệu lực của các biện pháp dự phòng cấp 3
Ví dụ dưới đây là một số định nghĩa trường hợp chấn thương trong các nghiên cứu về tình trạng mắc chấn thương
Tất cả các trường hợp chấn thương trong vòng một năm vừa qua dẫn đến việc hạn chế
sinh hoạt tối thiểu 1 ngày (Nghiên cứu xác định tỷ lệ hiện mắc chấn thương tại Chí
Linh, 1999)
Chấn thương được định nghĩa là những thương tổn cấp tính do: ngã, đụng xe ô tô, xe máy, ngã cây, chấn thương trong lao động, vui chơi, v.v dẫn đến bị vết thương phần mềm chảy máu, bong gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng phải mổ, chấn thương sọ não, bỏng các loại, mà cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y
tế, hoặc bị hạn chế sinh hoạt hàng ngày mất tối thiểu 1 ngày (Điều tra chấn thương
liên trường, 2001)
4.1.2 Nguyên nhân chấn thương
- Chấn thương giao thông là những trường hợp chấn thương xảy ra do sự va chạm bất
ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người; xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng; nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe
- Bỏng là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, chất
rắn nóng, lửa Các chấn thương da do sự phát xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hoá học cũng như tổn thương phổi do bị khói xộc vào cũng được coi là những trường hợp bỏng
- Đuối nước là những trường chấn thương xảy ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng,
dầu, ) dẫn đến ngạt do thiếu ô xy hoặc ngừng tim dẫn đến tử vong trong vòng 24 giờ hoặc cần đến chăm sóc y tế hoặc bị các biến chứng khác
- Điện giật là những trường hợp chấn thương do tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện dẫn
đến bị thương hoặc tử vong
- Ngã là những trường hợp chấn thương do bị ngã, rơi từ trên cao hoặc ngã trên cùng một
mặt bằng
- Động vật cắn chấn thương do động vật cắn là những trường hợp chấn thương do động
vật cắn, húc, đâm phải
- Ngộ độc là những trường hợp hít phải, ăn vào, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử
vong hoặc ngộ độc cần đến chăm sóc y tế Chấn thương do ngộ độc còn có thể phân ra thành nguyên nhân do ngộ độc thức ăn hoặc ngộ độc do các chất độc khác
- Máy móc là những chấn thương xảy ra khi tiếp xúc, vận hành máy móc trang thiết bị
dẫn đến thương tổn thực thể hoặc tử vong
- Bạo lực là hành động sử dụng vũ lực hăm doạ hoặc đánh đập người, nhóm người, cộng
đồng khác dẫn đến chấn thương, tử vong, tổn thương tinh thần, chậm phát triển
Trang 25- Tự tử là trường hợp tử vong do chấn thương, ngộ độc, hoặc ngạt mà có đủ bằng chứng
rằng tử vong đó do chính nạn nhân tự gây ra mới mục đích đem lại cái chết cho chính
họ
- Có ý định tự tử là hành vi do tự làm thương tổn bản thân nhưng chưa gây tử vong mà
có đủ bằng chứng rằng nạn nhân định đem lại cái chết cho bản thân Một dự định tự tử
có thể hoặc không dẫn đến thương tích
4.2 Phân lĩnh vực chấn thương
Chấn thương giao thông là sự va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người;
xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng; nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây
ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe
Được xác định là chấn thương thương giao thông khi có 3 đặc điểm: (1) xảy ra hoặc xuất phát
ở những đường/tuyến giao thông công cộng; (2) có ít nhất một nạn nhân (tử vong hoặc không
tử vong), và (3) có ít nhất 1 phương tiện tham gia giao thông đang chuyển động
Chấn thương trong lao động là những trường hợp chấn thương xảy ra do tác động của các
yếu tố nguy hiểm độc hại trong lao động gây tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng nào của
cơ thể người lao động hoặc gây tử vong xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn sau khi làm việc) Được coi là chấn thương lao động đối với các trường hợp chấn thương hoặc tử vong do chấn thương đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nhà và khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết mà luật lao động và nội quy lao động của cơ sở cho phép (như nghỉ giải lao, ăn cơm giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh) Tất cả các trường hợp trên xảy ra ở địa
điểm và thời gian hợp lý
Chấn thương trong trường học là tất cả những trường hợp chấn thương xảy ra đối với học
sinh, cán bộ giáo dục gắn liền với các hoạt động giảng dạy, học tập, lao động, vui chơi giải trí, các hoạt động ngoại khoá và các sinh hoạt do nhà trường quản lý
Chấn thương trong cộng đồng tập hợp tất cả các trường hợp chấn thương trong cộng đồng
Gây ra bởi các nguyên nhân và xảy ra ở mọi lứa tuổi Chính vì vậy mà chấn thương cộng đồng có thể được hiểu là một khái niệm rộng, bao hàm nhiều phân loại chấn thương khác hiện đang được sử dụng, như chấn thương Giao thông; chấn thương Lao động; chấn thương Học đường;
Ghi chú: Việc phân chia các lĩnh vực chấn thương đôi khi cũng sẽ có những chồng chéo giữa các lĩnh vực Trong những trường hợp như vậy cần chỉ rõ các nguyên nhân, hoàn cảnh để có thể phân biệt được rõ ràng
Trang 26mô tả các nguyên nhân bên ngoài, ví dụ như gẫy xương cánh tay nhưng không cho biết là nguyên nhân do giao thông hay bạo lực
Mã hoá chấn thương thứ hai là theo các nguyên nhân bên ngoài (External causes) do TCYTTG phát triển và được sử dụng trong phân loại bệnh quốc tế 9 và 10 Mã theo các nguyên nhân bên ngoài chia chấn thương ra làm một số các phân nhóm chính như chấn thương “không có chủ định”, chấn thương “có chủ định” (giết người, tự tử, ) và một phân loại nữa là “không xác định” Tuy nhiên, trong mã hoá này thì thường bị thiếu các thông tin
về lâm sàng
Ngoài hai cách mã hoá chấn thương đã nêu trên, hiện nay người ta còn sử dụng các cách phân loại chấn thương theo mức độ trầm trọng Các hệ thống đó bao gồm:
− AIS - Abbreviated Injuy Scale: Thang đo chấn thương rút gọn: AIS là một chỉ số đo
lường chấn thương dựa trên việc cho điểm các chấn thương theo vị trí cơ thể Theo phương pháp này, chấn thương được phân theo thang điểm từ 1 đến 6 như sau:
Bảng 6 Thang đo chấn thương rút gọn
2 Trung bình chấn động, gãy xương
3 Nặng Gãy nhiều xương sườn, bầm dập nội tạng
5 Nguy cấp Đứt dây cột sống, vỡ lá lách
6 Không thể phục hồi được Tử vong, bỏng 100%
Đối với các trường hợp bệnh nhân chỉ có một chấn thương, người ta có thể dùng AIS để
đo lường Tuy nhiên đối với các trường hợp bệnh nhân bị nhiều loại chấn thương thì AIS lại không cho chúng ta một đo lường tổng thể và chính xác về độ trầm trọng của bệnh nhân đó
− ISS - Injury Severity Score: Điểm đánh giá mức độ trầm trọng của chấn thương
o ISS là một chỉ số đo lường chấn thương dựa trên việc cho điểm các chấn thương theo
vị trí cơ thể, phương pháp này cho chúng ta điểm số đánh giá chấn thương chung của một bệnh nhân đa chấn thương Phương pháp tính ISS được phát triển vào năm 1974 trong một nghiên cứu về chấn thương xe mô tô, với các nạn nhân bị đa chấn thương và cho đến bây giờ, nó vẫn được sử dụng như là một công cụ trong các nghiên cứu chấn thương trên thế giới, dễ dàng cho việc so sánh kết quả nghiên cứu ở các nơi khác
nhau ISS được tính bằng tổng các bình phương của ba giá trị AIS tương ứng với
ba chấn thương nặng nhất
o Ứng với mỗi bệnh nhân, người ta sẽ tính được AIS cho từng chấn thương, một bệnh nhân có thể có nhiều giá trị AIS, để đo lường mức độ chấn thương của một cá thể, người ta tính ISS bằng cách lấy bình phương của 3 giá trị AIS lớn nhất cộng lại với nhau
o Điểm số ISS nằm trong khoảng từ 0 đến 75, điểm ISS càng lớn thì thể hiện chấn thương đó càng nặng Với những chấn thương có AIS là 6 (tử vong/không thể phục hồi được) thì giá trị ISS sẽ được tính là 75
o Ở một số nước, người ta dùng ISS để đánh giá về “nguy cơ đe doạ cuộc sống” hay xác xuất tử vong như sau:
Trang 27§ Nếu ISS < 25 thì có nghĩa là nguy cơ tử vong thấp, tức là mức độ của chấn thương
là nhẹ và ISS trên 25 thì mức độ chấn thương là tăng lên
§ Nếu ISS = 50 tức là xác xuất tử vong là 50%
§ Nếu ISS >=70 có nghĩa xác xuất tử vong là 100%
o Việc sử dụng mã hoá một cách chính xác sẽ làm tăng tính giá trị của các số liệu thu thập giúp cho đánh giá đúng gánh nặng chấn thương của cộng đồng Tuy nhiên, ở một
số nước đang phát triển, việc phân loại các trường hợp chấn thương còn chưa được chính xác do việc chẩn đoán, thói quen cũng như nguồn các số liệu chưa được đại diện cho quần thể
4.4 Nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân góp phần của tử vong
Một vấn đề nữa trong phân loại chấn thương mà có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ chấn thương là những trường hợp tử vong bao hàm cả các nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân góp phần Một số trường hợp bị chấn thương, với nguyên nhân sâu xa là do chấn thương giao thông, ví
dụ xe ô tô đâm vào nhau, rồi xe bốc cháy, khi đó nguyên nhân góp phần hay có thể là trực tiếp lại là nhiệt độ do ô tô cháy gây nên
Một ví dụ khác có thể là người công nhân sửa chữa điện trên cột cao bị điện giật và do không đeo dây bảo hiểm nên ngã từ trên cột cao xuống Khi đó nguyên nhân sâu xa gây chấn thương cho người công nhân đó là điện giật, nhưng nguyên nhân trực tiếp gây chấn thương nặng hơn
đó là ngã trên cao xuống
4.5 Đánh giá tác động của chấn thương
- Đánh giá tác động sức khoẻ của chấn thương qua số liệu tử vong
o Sự sẵn có của các nguồn số liệu tử vong
o Tác động của chấn thương được đánh giá thông qua các tỷ suất tử vong thô và
tỷ suất được điều chỉnh theo tuổi và giới
o Tác động của chấn thương được đánh giá thông qua chỉ số đo lường số năm mất khả năng sống tiềm tàng do chết non
- Đánh giá tác động sức khoẻ của chấn thương qua số liệu mắc bệnh
o Qui trình thông báo các trường hợp chấn thương và các nguồn số liệu
· Các nguồn số liệu từ cơ sở y tế
· Các nguồn số liệu khác ngoài cơ sở y tế
· Các nguồn số liệu từ các cuộc điều tra cộng đồng
- Đánh giá tác động của chấn thương do tàn phế và tử vong theo chỉ số DALY’s
5 Các chỉ số đo lường chấn thương
5.1 Khái niệm
Chỉ số chấn thương là số liệu mắc, tử vong do chấn thương thu thập để phục vụ cho việc lập
kế hoạch, quản lý các hoạt động phòng chống chấn thương Là bằng chứng cho việc phân tích nhu cầu, điều hành hoạt động, đánh giá việc triển khai và tác động của các chương trình can thiệp
Trang 285.2 Ý nghĩa của chỉ số chấn thương
- Các chỉ số chấn thương sẽ giúp những ta đánh giá được thực trạng, xu thế phát triển và định hướng các mục tiêu, từ đó giúp ta lựa chọn ưu tiên đầu tư, tiến hành các hoạt động phù hợp với tình hình thực tế
- Thông qua định nghĩa, phương pháp tính toán của từng chỉ số sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách, quản lý hiểu rõ được ý nghĩa của từng con số để phân tích, đánh giá và
sử dụng số liệu
- Giúp các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực phòng chống chấn thương, các cán bộ thống
kê, cán bộ nghiên cứu thống nhất các thuật ngữ, phương pháp thu thập và xử lý số liệu đảm bảo cung cấp các thông tin có chất lượng
- Phân tích nguyên nhân, tác động của chấn thương đến sức khoẻ của con người
- Góp phần hạn chế sự chồng chéo, gánh nặng về số liệu cho những người chịu trách nhiệm thu thập các thông tin về chấn thương
5.3 Các chỉ số đo lường chấn thương
Số trường hợp bị chấn thương trong một cộng đồng trong một
khoảng thời gian nhất định x 100.000 Dân số theo cộng đồng đó cùng giai đoạn
2 Tỷ suất chấn thương phân theo giới tính
• Khái niệm:
Là số trường hợp chấn thương phân chia theo giới trong một cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định chia cho dân số theo giới tính đó của cộng động trong cùng giai đoạn
• Công thức tính:
Số trường hợp chấn thương phân chia theo giới trong một cộng đồng
trong một khoảng thời gian nhất định x 100.000 Dân số theo giới của cộng đồng đó trong cùng giai đoạn
3 Tỷ suất chấn thương phân theo nhóm tuổi
• Khái niệm:
Là số trường hợp chấn thương phân chia theo nhóm tuổi của cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định chia cho dân số của nhóm tuổi của cộng đồng đó trong cùng giai đoạn
• Công thức tính:
Trang 29Số trường hợp bị chấn thương phân theo nhóm tuổi của cộng đồng
trong một khoảng thời gian nhất định x 100.000 Dân số cùng nhóm tuổi của cộng đồng đó trong cùng giai đoạn
4 Tỷ suất chấn thương phân theo nguyên nhân ban đầu gây ra chấn thương
• Khái niệm:
Là số trường hợp chấn thương phân chia theo nguyên nhân ban đầu của một cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định chia cho tổng số người bị chấn thương trong cộng đồng đó trong cùng giai đoạn
Các nguyên nhân ban đầu có thể phân là:
- Tai nạn giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không)
Số trường hợp bị chấn thương phân theo nguyên nhân ban đầu của
một cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định x 100.000 Dân số của cộng đồng đó trong cùng khoảng thời gian
5 Tỷ suất tử vong do chấn thương
• Khái niệm:
Là số trường hợp chấn thương tử vong chấn thương do các nguyên nhân của một cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định chia cho dân số theo khu vực địa lý cùng giai đoạn
• Công thức tính:
Số trường hợp bị tử vong do chấn thương của một cộng đồng trong
một giai đoạn nhất định x 100.000 Dân số của cộng đồng đó trong cùng giai đoạn
Trang 305.4.2 Các chỉ số đánh giá chấn thương giao thông (CTGT)
1 Số vụ, số người chết, số người bị thương
• Khái niệm: là số vụ, số người chết, bị thương do CTGT xảy ra trên một khu vực địa lý trong một năm xác định
Vụ tai nạn giao thông là những "va chạm" có người bị tổn hại sức khỏe với tỷ lệ thương tật từ 5% trở lên hoặc thiệt hại vật chất 1 triệu đồng trở lên
• Công thức tính: cộng dồn số các trường hợp và phân loại
2 Số vụ, số người bị chết, bị thương tính trên đầu phương tiện cơ giới:
• Khái niệm:
Đo lường tỷ số giữa số vụ tai nạn giao thông, số trường hợp bị CTGT không dẫn đến
tử vong và CTGT dẫn đến tử vong trên tổng số phương tiện cơ giới đường bộ có đăng
ký
• Công thức tính:
Số vụ tai nạn giao thông (hoặc số người chết, số người bị thương)
× 10.000 Tổng số phương tiện cơ giới đường bộ có đăng ký
3 Tỷ suất chấn thương giao thông không tử vong:
• Khái niệm:
Đo lường tỷ suất người bị CTGT nói chung, không dẫn tới tử vong, thuộc một khu vực, cộng đồng trong một khoảng thời gian xác định
• Công thức tính:
Số trường hợp bị CTGT không dẫn đến tử vong ở một khu vực địa lý
hay đơn vị hành chính nhất định trong một giai đoạn nhất định × 100.000 Tổng số dân theo khu vực địa lý/hành chính, cùng giai đoạn
4 Tỷ suất tử vong do chấn thương giao thông:
• Khái niệm:
Đo lường tỷ suất người bị CTGT nói chung, dẫn tới tử vong, thuộc một khu vực, cộng đồng trong một khoảng thời gian xác định
• Công thức tính:
Số trường hợp bị CTGT dẫn đến tử vong ở một khu vực địa lý hay
đơn vị hành chính nhất định trong một giai đoạn nhất định × 100.000 Tổng số dân theo khu vực địa lý/hành chính, cùng giai đoạn
5.4.3 Chỉ số đánh giá chấn thương trong lao động (CTLĐ)
1 Số vụ, số người bị CTLĐ theo thời gian, địa điểm xảy ra và giới tính
1.1 Tổng số vụ CTLĐ
Trang 31- Tổng số vụ trong tháng
- Tổng số vụ trong 3 tháng
- Tổng số vụ trong 12 tháng
1.2 Tổng số người bị CTLĐ- chết và bị thương (từng tháng, từng quí, cả năm)
- Tổng số người bị CTLĐ trong tháng (nam, nữ)
- Tổng số người bị CTLĐ trong 3 tháng (nam, nữ)
- Tổng số người bị CTLĐ trong 12 tháng (nam,nữ)
2 Tỷ lệ phần trăm chấn thương theo mức độ nặng nhẹ và vị trí thương tổn
- Tỷ lệ % người chết CTLĐ
Số người chết do CTLĐ
x 100 Tổng số người bị CTLĐ
3 Tỷ lệ % CTLĐ theo nguyên nhân và loại CTLĐ
- Tỷ lệ % CTLĐ phân theo nguyên nhân
§ Tỷ lệ % CTLĐ do điều kiện vật liệu, máy móc, thiết bị không an toàn
§ Tỷ lệ % CTLĐ do không có hoặc không sử dụng trang bị BHLĐ
4 Thiệt hại về người, lao động và vật chất do CTLĐ
- Tổng số người chết do CTLĐ
- Tổng số người bị thương do CTLĐ phải nằm điều trị
- Tỷ lệ % người bị mất sức lao động theo phân loại
5 Các hoạt động phòng chống chấn thương trong lao động
5.1 Tỷ lệ % doanh nghiệp sản xuất có Hội đồng Bảo hộ lao động và mạng lưới an toàn viên
- Cách tính:
Tổng số doanh nghiệp có Hội đồng & ATV
x 100 Tổng số đơn vị được điều tra
5.2 Tổng chi phí hàng năm của doanh nghiệp dành cho phòng chống chấn thương trong 1000 lao động và 1 tỷ Việt nam Đồng doanh thu sản xuất
- Cách tính: