1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

cac bai thuoc đong y chua benh

58 1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cac Bài Thuốc Đông Y Chữa Bệnh
Thể loại Tài liệu
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 814 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bị trúng phong miệng cứng, lấy một nắm lá ớt chỉ thiên loại ớt trái nhỏ, trái mọc ngược quay lên trời thêm một ítnước và muối ăn giã nhuyễn, vắt lấy nước nhỏ vào miệng, xác lá chà mạnh v

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 Chữa sỏi mật bằng y học cổ truyền 3

2 Bài thuốc chữa bệnh suy nhược cơ thể 3

3 Tỏi trộn mật ong 4

4 Cây ớt chữa được nhiều bệnh 4

5 Rau dền: “Rau trường thọ” 5

6- 12 bài thuốc từ cây dâu 5

7- 5 bài thuốc dân gian trị cảm mạo 6

8- 5 bài thuốc Đông y chữa béo phì 7

9 Chữa bệnh đổ mồ hôi chân tay bằng lá lốt 8

10 Lợi ích của trà thảo mộc 8

11 Bài thuốc chữa bệnh quai bị 9

12 Những bài thuốc từ vừng 9

13 Chữa ho gà băng đông y 10

14 Chữa bệnh bằng hoa cúc bách nhật 11

15 Lá mơ trị kiết lị 12

16 Chữa ngứa chân 13

17 Trà dược phòng chống viêm khớp mùa lạnh 13

18 Công dụng của Tía tô 14

19 Năm bài thuốc hay từ nghệ đen 15

20 Chữa bệnh bằng vỏ trứng gà 16

21 Tác dụng chữa bệnh của rau cần 16

22 Tác dụng chữa bệnh của xoài 17

23 Chữa phong thấp bằng cách lấy độc trị độc 17

24 Những điều cần biết khi uống thuốc bắc 18

25 Vị thuốc từ trứng gà ngâm giấm 18

26 Chuối tiêu chữa nhiều bệnh 19

27 Ðiều trị viêm đại tràng mạn bằng thuốc nam 19

28 Chữa ngủ mê bằng đông y 20

29 Cách phân biệt mật ong giả và thật 21

30 Chữa hôi nách bằng các bài thuốc cung đình 21

31 Cách nhận biết mật gấu thật 21

32 Bưởi - loại quả nhiều lợi ích 22

33 Tự chữa một số bệnh về tiểu tiện 23

34 Chữa lông mày rụng theo y học cổ truyền 23

35 Chữa ho bằng hoa đu đủ đực 23

36 Dược thảo chữa suy dinh dưỡng trẻ em 24

37 Những món ăn “không đội trời chung” với nhau 25

38 Móng giò lợn trong phòng chữa bệnh 25

39 Dược thảo trị chấn thương và vết thương phần mềm 26

40 Hạt chanh giảm ho, giải độc 27

41 Chữa đau lưng khi hành kinh bằng y học cổ truyền 27

42 Một số bài thuốc giúp phái mạnh thêm mạnh 28

43 Bài thuốc nam trị bệnh thủy đậu 29

44 Các món ăn bài thuốc dành cho phụ nữ 29

45 Món ăn bài thuốc chữa trẻ biếng ăn 30

46 Dược thiện giúp phục hồi trí nhớ sau chấn thương 30

47 Hoa quỳnh chữa sỏi thận 31

48 Cá chạch chữa bệnh gan 32

49 5 bài thuốc vừa làm đẹp, vừa tăng cường sức khỏe 32

50 Thuốc hay, dễ kiếm 33

51 Chữa bệnh với chuối xanh 35

52 Dùng tỏi trị bệnh thế nào cho đúng? 35

53 10 bài thuốc chữa cao huyết áp 36

Trang 2

54 Những phương thuốc bí truyền chữa bệnh tăng huyết áp 37

55 Ngài tằm có trị "yếu sinh lý"? 38

56 8 bài thuốc chữa chứng say nắng 38

57 Dùng não động vật chữa bệnh 40

58 Nhân sâm có thể là thuốc độc 41

59 Quả lê - Thuốc quý chữa nhiệt 41

60 Bài thuốc trị chứng tóc rụng, tóc bạc sớm 41

61 10 bài thuốc trị tăng mỡ máu 42

62 Đông y trị chứng đau đầu ở phụ nữ 43

63 Phương thuốc bí truyền dành cho phái đẹp 45

64 Các bài thuốc từ cà chua 45

65 Món ăn bài thuốc dưỡng thai 46

66 Thuốc Nam chữa ngộ độc thực phẩm 46

67 4 bài thuốc Đông y chữa trị hội chứng mãn kinh 47

68 Chữa chốc đầu cho trẻ em 48

69 Đông y chữa chứng mất ngủ 49

70 Chim cút bồi bổ ngũ tạng 50

71 Thuốc từ hoa cảnh 50

72 Phòng chống cảm mạo mùa hè 51

73 Dược thiện có tính lạnh 52

74 Sử dụng mật gấu không đúng cách: Mất tiền triệu để mang bệnh 53

75 Hạt đậu Món ăn, bài thuốc trong ngày hè 54

76 Một số bài thuốc chữa dạ dày đơn giản mà hiệu nghiệm 55

77 Một số bài thuốc chữa tiểu rắt, tiểu buốt 55

78 Hoa hồng không những có hoa rất đẹp mà giàu dược tính làm thuốc chữa nhiều bệnh 56

79 Thảo dược chữa tiểu đường 56

80 Sắn dây - "Thần dược" mùa hè 57

Trang 3

1 Chữa sỏi mật bằng y học cổ truyền

Sỏi mật thường có các triệu chứng: đau bụng vùng hạ sườn phải, đau lên vai phải; sốt cao liên tục có rét run;vàng da, có thể có ngứa; có thể có gan to, túi mật to Sỏi mật có thể gây ra các biến chứng như: viêm túi mật cấp,viêm màng bụng mật, viêm đường mật, túi mật tích nước, xơ gan ứ mật Tây y điều trị sỏi mật bằng nội khoa, hoặcngoại khoa (phẫu thuật) - nếu đau dữ dội hoặc tái phát nhiều lần thì phẫu thuật cắt bỏ túi mật hoặc mổ ống mật chủyếu lấy hết sỏi và sau đó dẫn lưu

Ngoài ra, sỏi mật có thể điều trị bằng y học cổ truyền Tùy theo thể bệnh mà có những bài thuốc trị khác nhau,chẳng hạn: Sỏi mật do can đởm khí trệ (triệu chứng: sườn phải đau quặn từng cơn, lan sau lưng lên vai, có sốt rét ởmức độ nhẹ, miệng đắng không muốn ăn, buồn nôn hoặc nôn ) thì dùng bài thuốc gồm: sài hồ 6g, chỉ xác 9g, bạchthược 9g, xuyên khung 6g, hương phụ 9g, cam thảo 3g, xuyên luyện tử 9g, diên hồ sách 9g, kim tiền thảo 30g Cònsỏi mật do can đởm thấp nhiệt (triệu chứng: sườn phải trướng đau kéo dài hoặc có cơn lan lên vai, sốt cao sợ rét,miệng đắng họng khô, buồn nôn ) thì dùng bài thuốc gồm: kim tiền thảo 60g, nhân trần 15g, uất kim 9g, chỉ xác 9g,mộc hương 9g, hổ tượng căn 9g, bồ công anh 30g, liên kiều 12g, diên hồ sách 9g, kê nội kim 6g Sỏi mật do huyết ứnhiệt kết (triệu chứng: sườn phải nhói đau kéo dài nhiều ngày, sốt, rét, đêm nặng hơn, vùng đau có thể sờ thấy u cục,bụng trướng, đại tiện táo ), thì dùng bài thuốc gồm: đào nhân, mang tiêu 9g (chiêu), diên hồ sách 9g sinh hoàng 9g(cho sau) - mỗi thứ 9g, cam thảo 6g, nhân trần 12g, kim tiền thảo 30g Sỏi mật do nhiệt độc nội thịnh (triệu chứng:bụng sườn quặn đau trướng đầy, sốt cao rét run, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ, ra nhiều mồ hôi, chất lưỡi đỏ sẫm ) thìdùng bài thuốc: nhân trần 15g, sơn chi 9g, đại hoàng 6g, kim ngân hoa 9g, liên kiều 12g, đan bì 9g, xích thược 9g.Các bài thuốc trên, sắc uống mỗi ngày 1 thang

Lương y Vũ Quốc Trung (Hà Nội)

2 Bài thuốc chữa bệnh suy nhược cơ thể

Đông y gọi bệnh suy nhược cơ thể là chứng hư lao, do lao động nặng trong thời gian dài, ăn uống kém chất dinhdưỡng, do mắc bệnh cấp tính nặng nay đang bình phục, phụ nữ sau sinh nở và thời kỳ nuôi con Một nguyên nhân nữa

là do bẩm sinh Cơ thể suy yếu từ trong bào thai, quá trình phát triển cơ thể chậm chạp Dù bất kỳ nguyên nhân nàodẫn đến cơ thể suy nhược đều chung một điểm là có sự giảm sút về tinh thần, khí huyết, tân dịch, làm mất sự điềuhòa công năng của các tạng phủ Xin giới thiệu những bài thuốc sau, tùy từng bệnh nhân suy nhược ở tạng nào, ta lựachọn bài thuốc cho thích hợp

Khí hư: Chủ yếu thương tổn ở hai tạng phế và tỳ

- Phế khí hư: Thường gặp ở những người bị suy hô hấp do viêm phế quản mạn, tâm phế mạn, giãn phế quản,giãn phế nang Bệnh nhân thở yếu, ho nhỏ tiếng, thở ngắn, thở gấp, tiếng nói nhỏ, người mệt vô lực, tự ra mồ hôi.Nét mặt trắng bệch, gai rét sợ lạnh Phương pháp điều trị chủ yếu là bổ phế khí, nâng cao thể trạng

Bài thuốc: Đẳng sâm, hoàng kỳ, ngũ vị tử mỗi thứ 10g Thục địa, tử uyển, tang bạch bì mỗi thứ 12g Sắc uốngngày một thang

- Tỳ khí hư: hay gặp ở những người mệt mỏi sau lao động nặng, người bị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy mạn doviêm đại tràng mạn, đau dạ dày, mới ốm dậy Người mệt mỏi ăn không thấy ngon, sôi bụng, ậm ạch khó tiêu, đi ngoàilỏng, sút cân, chân tay lạnh, cơ nhẽo, chất lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng, mạch chậm

Bài thuốc: Đẳng sâm 16g, ý dĩ, bạch truật, hoài sơn, biển đậu, liên nhục mỗi thứ 12g, cát cánh, phục linh mỗi thứ8g, trần bì, sa nhân mỗi thứ 6g Ngày uống 20g, thuốc tán dạng bột

Huyết hư: Chủ yếu thương tổn ở 2 tạng tâm và can

- Tâm huyết hư: Hay gặp ở người thiếu máu, phụ nữ sau sinh, người bệnh có triệu chứng hồi hộp, mất ngủ, đánhtrống ngực, hay quên, chóng mặt, hoa mắt, sắc mặt vàng, môi nhạt, lưỡi nhạt, mạch yếu

Bài thuốc: Thục địa 16g, đương quy, bạch thược, xuyên khung, dạ giao đằng, mỗi thứ 12g, bá tử nhân, táo nhân,phục linh mỗi thứ 8g Sắc uống ngày một thang Tác dụng dưỡng huyết an thần

- Can huyết hư: Hay gặp ở người già xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, phụ nữ sau sinh Triệu chứng ù tai đauđầu, mất ngủ, hoa mắt, chóng mặt

Bài thuốc: Đẳng sâm 16g, hoàng kỳ, thục địa, bạch thược, đại táo mỗi thứ 12g, bạch truật, đương quy, xuyênkhung, viễn chí mỗi thứ 8g, cam thảo 6g Sắc uống ngày một thang Tác dụng bổ huyết dưỡng can

Dương hư: Thường gặp ở hai tạng tỳ và thận

- Tỳ dương hư: Gặp ở những người hay rối loạn tiêu hóa, viêm đại tràng mạn, loét dạ dày và tiêu chảy mạn tính.Trời lạnh hay đau bụng, đầy bụng, sợ gió, người lạnh, chân tay lạnh, lưỡi nhạt, rêu trắng, ăn kém, mạch trầm

Bài thuốc: Hoài sơn 16g, hạt sen 12g, sa nhân, vỏ quýt, mạch nha, bán hạ, cây vú bò, mỗi thứ 8g Sắc uống ngàymột thang để ôn trung kiện tỳ

- Thận dương hư: Gặp ở người già, lão suy, thần kinh kém hưng phấn, hay đau lưng, đi tiểu đêm Chân tay lạnh,răng lung lay hay rụng, rêu lưỡi trắng, đi ngoài lỏng, mạch trầm trì

Trang 4

Bài thuốc: Thục địa 16g, sơn thù, hoài sơn mỗi thứ 12g, trạch tả, đan bì, phục linh, phụ tử chế mỗi thứ 8g, nhụcquế 4g Sắc uống nóng ngày một thang Tác dụng ôn bổ thận dương.

Âm hư: Gồm phế, tâm, tỳ, can và thận âm hư

- Phế âm hư: Những người bị viêm họng, viêm phế quản mạn tính, suy nhược do lao Người gầy, ho khan, ho ramáu, ra mồ hôi, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng

Bài thuốc: Sa sâm 20g, hoài sơn 16g, mạch môn, thiên môn, thục địa mỗi thứ 12g, mạch nha, quy bản, tang bạch

bì đều 10g, trần bì 4g Sắc uống ngày một thang Tác dụng tư âm dưỡng phế

- Tâm âm hư: Thường gặp ở những người thiếu máu, phụ nữ sau sinh, mất máu nhiều, ngủ kém hay mơ màng,mộng mị, hồi hộp, hay quên, miệng khô, lưỡi đỏ, chân tay nóng, người nóng

Bài thuốc: Kỷ tử, mạch môn, sa sâm, liên nhục mỗi thứ 12g Long nhãn, tâm sen, táo nhân, đăng tâm mỗi thứ 8g,sắc uống ngày một thang Tác dụng an thần định trí

- Can âm hư: Hay gặp ở phụ nữ mãn kinh, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch ở người già Người bồn chồn khóchịu, hoa mắt, nhức đầu, chóng mặt, lưỡi khô, môi đỏ, mạch huyền

Bài thuốc: Kỷ tử, hà thủ ô, thục địa, đỗ đen sao, sa sâm mỗi thứ 12g Tang thầm, long nhãn, cúc hoa, mạch mônmỗi thứ 8g Sắc uống ngày một thang

- Thận âm hư: Hay gặp ở người suy nhược thần kinh, tăng huyết áp, bệnh rối loạn chất tạo keo, sau khi mắc cácbệnh truyền nhiễm Người hoa mắt, chóng mặt, đau lưng, mỏi gối, tai ù, miệng khô, lưỡi đỏ, vã mồ hôi

Bài thuốc: Thục địa 16g, sơn thù, hoài sơn mỗi thứ 12g, trạch tả, đan bì, phục linh mỗi thứ 8g Sắc uống ngày mộtthang, uống nguội

Bài thuốc trên chữa bệnh suy nhược cơ thể, nếu thấy mình có bệnh cần đến khám tại các cơ sở chữa bệnh củabác sĩ đông y hay lương y gia truyền để được điều trị kịp thời và hiệu quả

(Sức khoẻ và Đời sống)

3 Tỏi trộn mật ong

Dùng rượu tỏi có cảm giác bị xót bao tử có thể là do ảnh hưởng của rượu Chứ tỏi có tác dụng làm lành vếtthương, tỏi cũng nóng, nhưng không đến mức làm xót bao tử Dân gian còn có một cách khác dùng tỏi thay cho rượutỏi đó là tỏi trộn mật ong, được làm bằng cách: dùng tỏi còn tươi có tép nhỏ, xay nát rồi đem trộn với mật ong, chovào trong chai để dành dùng dần (mật ong có tác dụng bảo quản tỏi không hư) Dùng tỏi trộn mật ong, ngoài nhữngtác dụng gần giống như rượu tỏi: hỗ trợ tiêu hóa, tiêu diệt các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh (nhờ tỏi có một số tinhdầu, chất kháng khuẩn, có tác dụng ức chế các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh), còn giúp kháng được một số gốc oxyhóa, các yếu tố thuận lợi dẫn đến ung thư Theo y học cổ truyền, tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng sát trùng, giảiđộc, hành khí Mật ong khi trộn với tỏi, ngoài công dụng bảo quản tỏi không hư, mật ong còn là chất bổ dưỡng cungcấp các vitamin, giúp làm lành các vết loét bao tử Người bình thường mỗi ngày dùng một muỗng mật ong cũng rấttốt, có thể dùng riêng một mình mật ong, hoặc có thể pha với nước chanh để dùng Nói thêm: dân gian còn có cáchdùng mật ong đánh với lòng đỏ trứng gà (trứng gà đã được kiểm dịch), đánh đến khi lòng đỏ trứng chuyển sang màutrắng hơi vàng lợt (lúc này mật ong đã làm chín lòng trứng), xong rót bia vào và đánh đều lên sẽ có một thức uống rấtthơm ngon và bổ dưỡng

Lương y Trần Duy Linh (TP.HCM)

4 Cây ớt chữa được nhiều bệnh

Ngoài giá trị kinh tế, cây ớt còn là cây thuốc có công dụng chữa bệnh Sau đây là một số bài thuốc được lương y

Lê Ngọc Vân (Ninh Thuận) sưu tầm trong dân gian, chữa trị một số bệnh rất hiệu quả

Bị trúng phong miệng cứng, lấy một nắm lá ớt chỉ thiên (loại ớt trái nhỏ, trái mọc ngược quay lên trời) thêm một ítnước và muối ăn giã nhuyễn, vắt lấy nước nhỏ vào miệng, xác lá chà mạnh vào chân răng, người bệnh sẽ tỉnh lại.Chữa rắn rết cắn: lá ớt giã nhỏ đắp vào vết thương, có tác dụng hút độc, đắp cho đến khi đưa đến bệnh viện điều trị.Chữa bệnh vẩy nến: cạo một chén vỏ cây tre có thân màu vàng, một nắm lá ớt sao chín, 7 - 10 lá sống đời, thiên niênkiện 300 gam (có bán ở tiệm thuốc Đông y), cho cả bốn vị vào ấm, đổ 2,5 lít nước, nấu đậm uống thay nước hằngngày, uống liên tục trong 5 ngày, bệnh thuyên giảm, hết vẩy nến Chữa bệnh chàm: một nắm lá ớt tươi, một muỗng

mẻ chua (mẻ ủ bằng cơm nguội dùng để nấu ăn) giã nhỏ, gói trong vải thưa, đắp lên vết chàm đã rửa sạch bằng nướcmuối, giữ trong 12 giờ Mỗi ngày đắp một lần, liên tục trong 10 ngày sẽ lành bệnh Rễ cây ớt, cây chanh, cây xuyêntiêu (có bán ở tiệm thuốc Đông y), mỗi thứ 15 gam, cho vào ấm, đổ hai chén nước, sắc còn nửa chén, ngày uống mộtlần, liên tục trong một tuần sẽ chữa được chứng đau bụng kinh niên do rối loạn đại tràng chức năng

Theo y học cổ truyền, trái ớt có vị cay, tính nóng, có công dụng trừ hàn, mạnh tỳ vị, giải độc, tiêu viêm, kích thíchtiêu hóa, dùng chữa các chứng lạnh bụng, cảm lạnh, đau nhức ngoài da, viêm nấm, kém ăn Những người hay bị đaulưng, đau khớp, mua 15 trái ớt chín, vài lá đu đủ, lá ngải cứu, giã nhỏ, sau đó đem ngâm rượu nồng độ cao, xoa bópthường xuyên vào chỗ đau nhức sẽ thuyên giảm được chứng bệnh

Theo Thanh Niên

Trang 5

5 Rau dền: “Rau trường thọ”

Rau dền có vị hơi ngọt, tính mát Theo đông y, rau dền có công hiệu thanh nhiệt lợi thấp (làm mát, khử nhiệt),lương huyết chỉ huyết (mát máu, cầm máu), chỉ lỵ (chữa kiết) Thường dùng chữa các chứng kiết lỵ trắng và đỏ, bí đạitiểu tiện, đau mắt đỏ, đau họng, chảy máu cam

Rau dền chứa nhiều protid, lipid, glucid, nhiều vitamin và chất khoáng Các protid chứa trong đó được cơ thể hấpthu triệt để Chất bêta-caroten trong dền hơn gấp 2 lần so với loại cà, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể,giúp ích cho việc tăng cường cơ thể, nâng cao sức miễn dịch, nên được mệnh danh “rau trường thọ”

Hàm lượng chất sắt trong rau dền nhiều hơn so với bó xôi, hàm lượng canxi gấp 3 lần, là “kẻ đứng đầu” của cácloại rau tươi Điều quan trọng hơn là, trong rau dền không chứa acid oxalic; canxi và sắt trong dền sau khi đi vào cơthể rất dễ được tận dụng và hấp thu, vì vậy, rau dền thúc đẩy phát triển cơ thể cho trẻ, có giá trị dinh dưỡng cao, giúpxương gãy mau liền

Rau dền luộc: Có công hiệu khai vị trợ tiêu hóa, thích hợp dùng cho các chứng khẩu vị kém, bụng no đầy Món canh rau dền: Công hiệu thanh nhiệt giải độc, có tác dụng hỗ trợ điều trị cho người đau mắt đỏ, sưng đauhầu họng do “hỏa bốc lên” Món canh thanh nhạt tươi mát, thông đại tiểu tiện, là thức ăn lý tưởng cho người táo bón

do nhiệt

Rau dền xào: Công hiệu bồi bổ, giúp tăng trưởng, rất thích hợp cho trẻ em

Món cháo rau dền tía: Công hiệu thanh nhiệt chữa kiết, thích hợp dùng cho các chứng già yếu suy nhược, đại tiệnkhông thông, bệnh lỵ cấp tính, viêm ruột cấp tính Thường dùng giúp bổ ích tì vị, mạnh cơ thể

Tuy nhiên, do rau dền có tính mát, nên không thích hợp dùng cho người thể chất lạnh; tiêu lỏng và tiêu chảy mạntính (lâu ngày)

Theo NLĐ

6- 12 bài thuốc từ cây dâu

Việc vội vàng động phòng khi kinh nguyệt chưa dứt dễ sinh chứng toàn thân đau nhức như dùi đâm Nên dùng ládâu già và lược gãy, nệm rách, tóc rối lượng bằng nhau, đem đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đồng cân (khoảng

12 g) với nước nóng thì khỏi

Bổ huyết, dưỡng huyết

Phù tang chí bảo là một bài thuốc hay đã được đề cập đến trong nhiều y thư cổ Uống ba tháng thì thân thể mọcđầy mụn do sức thuốc đẩy ra; sau đó khắp mình sẽ tươi sáng, da dẻ mịn màng Nếu uống liên tục nửa năm, khí lực trởnên mạnh mẽ, bệnh tật dần dần tiêu tan Trường kỳ uống mãi thì gân cốt rắn chắc, khí huyết dồi dào, rõ tai, sángmắt, tinh thần khoan khoái,

Tăng thêm tuổi thọ

Chọn lá dâu non, hái lúc mặt trời mọc, rửa sạch bụi phấn, phơi nắng cho khô Vừng đen phân nửa, xát tróc vỏ,đem đồ chín “cửu chưng cửu sái” (có nghĩa là chín lần đồ, chín lần phơi), cùng lá dâu tán bột, có thể đem xay nhỏ, choluyện mật làm thành viên hoàn

Cũng hai vị thuốc này, Tuệ Tĩnh còn dùng nấu với nước vo gạo để gội đầu, chỉ 7 lần mà tóc dài được vài “thước”!Nếu đúng như vậy thì bài thuốc này có tác dụng kích thích mọc tóc

Chữa thong manh, đau mắt

Tuệ Tĩnh cũng giới thiệu dùng chữa chứng thong manh bằng lá dâu tươi đem về giã nát, phơi khô, đốt thành than,nấu lấy nước mà rửa mắt Xưa có người thong manh đến 20 năm mà đã chữa khỏi bằng bài thuốc này

Để chữa đau mắt gió hay chảy nước mắt: Lá dâu hái vào tháng chạp, hãm lấy nước mà rửa hàng ngày

Chữa hen suyễn lâu ngày: Lá dâu già, lá thầu dầu già, trấu sao mật, các vị tán nhỏ, thắng mật làm viên bằng hạtngô đồng, mỗi lần uống một viên với nước sôi Bài thuốc này được Tuệ Tĩnh cho là rất hay

Chữa huyết áp cao: Lá dâu bánh tẻ một nắm nhỏ, cá diếc sống một con Đem cá diếc bỏ vào châu pha nước muốicho nhả hết nhớt, không mổ, để nguyên con đem luộc, gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu mà ăn

Hoặc: Vỏ rễ dâu 15,5 g, sinh địa 9 g, hoài sơn (củ mài) 15,5 g, phục linh 6 g, mẫu đơn bì 9 g, tri mẫu 15,5 g, sasâm bắc 15,5 g, táo ta 10 g, mai rùa 10 g, thạch xương bồ 6 g, huyền sâm 15,5 g, đương quy 6 g, hà thủ ô đỏ 10 g,hoàng cầm 6 g Sắc uống ngày một thang Uống liên tục 2-3 tháng

Trang 6

Hoặc: Trai sông 50-100 g, lá dâu tươi 20 g thái nhỏ, nấm hương 20 g, hành củ khô 2-3 củ Nấu cháo ăn hàngngày, có tác dụng hạ huyết áp tốt Bài thuốc này thích hợp với người già bị tăng huyết áp và u xơ tiền liệt tuyến có cácdấu hiệu tiểu không thông, tiểu đêm, tiểu nhiều lần… Đặc biệt là người tăng huyết áp bị chứng “trên bảo dưới chẳngchịu nghe” thì cũng nên dùng.

Tẩy sán: Lấy dao tre cạo lấy vỏ trắng ở cành dâu 3 nắm, nước 3 bát sắc lấy 1 bát Tối hôm trước phải nhịn ăn,sáng mai bụng đói thì uống, sán sẽ xuống hết Uống 2-3 lần

Chữa tiểu buốt, nước tiểu đục: Tổ bọ ngựa trên cây dâu, mỗi lần chỉ cần một cái nướng khô, tán nhỏ, uống vớirượu lúc đói, nặng thì uống 2-3 lần là khỏi Chuyên trị chứng “cao lâm” tiểu buốt Ngài tằm bỏ đầu, chân, cánh, sấykhô, tán nhỏ, giã với cơm vo thành viên bằng hạt ngô đồng, uống với nước muối lúc đói, chữa được nước tiểu đục,trắng

Chữa viêm họng: Mộc nhĩ cây dâu lấy vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, thứ trắng như vẩy cá, giã nhỏ, lấy lụa bọc lạithành viên, tẩm mật ngậm, có tác dụng chữa bệnh viêm họng

Chữa viêm tuyến vú: Đọt dâu non một nắm, giã nhỏ đắp vào chỗ vú sưng, lấy giấy dấp nước đắp ngoài, khi khô lạithay, hết viêm thì thôi

Chữa thiếu máu, mất ngủ: Quả dâu chín ngâm với đường (hoặc mật ong), mỗi ngày pha nước uống Uống liên tụctrong nhiều ngày càng tốt Nếu mất ngủ, nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ

Theo Sức Khỏe Đời Sống7- 5 bài thuốc dân gian trị cảm mạo

Thời tiết thay đổi làm bạn dễ bị cảm mạo Trị bệnh bằng thuốc tây đôi khi gây ra những tác dụng phụ không mongmuốn Những bài thuốc trị cảm mạo có nguồn gốc từ thiên nhiên sau đây sẽ là giải pháp tốt nhất cho bạn

2 Cây mâm xôi

Lấy 100g quả mâm xôi tươi trộn với 50g mứt hoa quả rồi đun sôi với 500ml nước trong vòng 15 - 20phút Dùngnước này để uống

Tác dụng: Trong thành phần của cây mâm xôi chứa rất nhiều vitamin C, aspirin tự nhiên và axit salixilic có tácdụng giải nhiệt và hạ sốt Các chất có trong mứt hoa quả làm ức chế sự phát triển của quá trình viêm nhiễm trong cơthể

3 Tỏi

Tỏi xay nhỏ, ép lấy nước, trộn với mật ong theo tỉ lệ 1:1 Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 thìa cà phê

Xay nhỏ 200g tỏi, đun sôi kỹ với 500ml nước trong vòng 15 - 20phút Sau đó đổ ra cốc, đặt gần mũi và hít thậtsâu

Lưu ý: Tỏi giúp chống nghẹt mũi Tuy nhiên tuyệt đối không được dùng nước ép từ tỏi nhỏ thẳng vào mũi Lớpniêm mạc phía trong mũi rất dễ bị bỏng

Hãy nghiền nhỏ tỏi, gói lại bằng vải băng rồi đặt ở mỗi bên lỗ mũi từ 5-7 phút Mũi bạn sẽ thông trở lại

Tác dụng: Tỏi có chứa nhiều fitoxit - chất kháng sinh tự nhiên giúp khử trùng, tiêu độc

Tuy nhiên, không nên dùng phương pháp này cho trẻ em và những người mắc bệnh gan và tim mạch

Theo Dân Trí

Trang 7

8- 5 bài thuốc Đông y chữa béo phì

Đông y có nhiều bài thuốc để chữa béo phì đơn thuần (không phải bệnh lý), mắc phải do chế độ ăn uống sinh hoạtkhông hợp lý Tuy nhiên, không có bài thuốc chung cho tất cả người béo, vì mỗi thể bệnh cần một bài thuốc riêng.Béo phì được phân ra hai loại chính: Béo phì đơn thuần (simple obesity) và béo phì bệnh lý (pathological obesity).Béo phì thông thường chủ yếu do năng lượng hấp thụ vào cơ thể vượt quá mức năng lượng tiêu hao gây nên

Thông thường, khi chỉ số BMI vượt quá 30, đã loại trừ béo phì do một số bệnh nội tiết như Hội chứng Cushing(lượng hoóc môn cortisosteroid trong cơ thể quá cao), suy tuyến giáp trạng, buồng trứng đa nang thì đó là béo phìđơn thuần

Ngoài ra, bệnh còn được chia thành béo phì thể chất (do di truyền) và béo phì mắc phải (do sinh hoạt và ăn uốngkhông hợp lý)

Trong Đông y, béo phì đơn thuần, mắc phải thuộc phạm vi của các chứng đàm ẩm, thủy thũng và hư lao Béo phì

là chứng bệnh thuộc loại hình "gốc hư ngọn thực", nghĩa là người to béo trong khi cơ thể suy yếu, hoạt động của tạngphủ bị rối loạn Nguyên nhân thường là: chức năng sinh lý suy giảm, đàm thấp ứ đọng; dạ dày nóng, chức năng tiêuhóa hấp thụ suy yếu; âm dương mất cân bằng

Thực tế lâm sàng cho thấy, để chữa khỏi chứng bệnh béo phì, đối với mỗi người cần có phép chữa và bài thuốcthích hợp Không thể sử dụng một loại thuốc giảm béo cho tất cả mọi người

Những người béo phì đơn thuần, mắc phải có thể căn cứ vào những biểu hiện của bản thân mà chọn dùng mộttrong các bài thuốc dưới đây:

1 Bổ khí hóa đàm thang

Phòng kỷ, bạch truật, sơn tra (sao cháy), đẳng sâm mỗi thứ 12 g; hoàng kỳ, phục linh mỗi thứ 15 g; trư linh, bán

hạ, lá sen mỗi thứ 9 g, trần bì 6 g Nấu với 1.500 ml nước, còn 600 ml, chia 3 lần uống trong ngày Uống liên tục 20ngày, nghỉ 5 ngày rồi tiếp tục liệu trình khác Thường sau 1 liệu trình bắt đầu có chuyển biến

Bài thuốc này dùng cho người béo phì thuộc loại hình “Khí hư đàm tích” (chức năng sinh lý suy giảm, đàm thấp ứđọng) Thể bệnh này hay gặp ở sau độ tuổi trung niên, chức năng tiêu hóa và hô hấp đã suy giảm, khiến cho “đàmtrọc” (sản vật bệnh lý, mỡ dư thừa) tích đọng lại, thành ra béo phì

Biểu hiện: Người béo phì, hễ hoạt động là thở hụt hơi, vã mồ hôi, da nhợt nhạt, tinh thần uể oải, người mệt mỏi,thích ngủ, kém ăn, bụng ngực trướng đầy, đại tiện phân nhão hoặc tiêu chảy, thân thể nặng nề hoặc phù thũng; chấtlưỡi bệu, rêu lưỡi trắng

2 Lợi thấp hóa đàm thang

Trần bì (vỏ quít để lâu ngày) 10 g, bán hạ 8 g, phục linh 16 g, xương bồ 8 g, viễn chí 6 g, trạch tả 12 g, đông qua

bì (vỏ bí đao) 20 g Sắc uống thay nước trong ngày, liên tục 20 ngày, nghỉ 5 ngày lại tiếp tục liệu trình khác

Bài thuốc áp dụng cho trường hợp béo phì thuộc loại hình “Đàm nhiệt tích trệ”, hay gặp ở những người ăn nhiều

đồ béo ngọt, uống nhiều rượu Biểu hiện: Thân hình to béo, người nặng nề đuối sức, có thể kèm theo đầu choáng,mắt hoa, ngực đầy tức, ngột ngạt khó chịu; phụ nữ bế kinh hoặc không thụ thai được, rêu lưỡi nhớt hoặc vàng nhớt

3 Thanh vị thông phủ thang

Đại hoàng, bán hạ, thần khúc mỗi thứ 8 g; chỉ thực, trạch tả, sơn tra mỗi thứ 12 g; mạch nha 10 g, phục linh 16 g,

kê nội kim 6 g Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình 20 ngày

Bài thuốc có tác dụng trừ hỏa nhiệt ở phủ vị - dạ dày, kiện tỳ, trừ đàm thấp, chữa béo phì thuộc loại hình “vị nhiệt

tỳ hư” (dạ dày nóng, chức năng tiêu hóa hấp thụ suy yếu) Dạng bệnh này hay gặp ở thanh thiếu niên, phụ nữ cómang hoặc phát phì sau khi sinh đẻ Biểu hiện: Ăn nhiều, mau đói, miệng khát, uống nước nhiều, thân hình béo phì,mặt đỏ tươi, tinh thần sung mãn, đại tiện bí kết, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng

4 Thanh nhiệt hóa đàm thang

Hoàng liên 3 g, hoàng cầm, hậu phác, bán hạ, sơn chi tử mỗi thứ 9 g, thạch cao 15 g (sắc trước 30 phút), đạihoàng 5 g (cho vào sau, trước khi bắc thuốc ra 5 phút), cam thảo 5 g Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từngliệu trình 20 ngày

Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, làm tan đờm, chữa béo phì thể “đàm nhiệt nội trở” với những biểu hiện: Ngườibéo phì, da mặt bóng loáng như bôi mỡ, ăn rất khỏe, mau đói, sợ nóng, phiền táo, miệng đắng, họng khô, tiểu tiệnvàng sẻn hoặc đại tiện bí kết Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng

5 Hóa tích thang

Đan sâm, xích thược mỗi thứ 15 g; đào nhân, lai phục tử, lá sen, hồng hoa, xuyên khung, diên hồ sách mỗi thứ 9

g, thanh bì 6 g, trạch lan, trạch tả, phục linh mỗi thứ 12 g Sắc uống thay nước trong ngày; uống theo từng liệu trình

20 ngày

Bài thuốc có tác dụng chữa béo phì thuộc loại hình “đàm ứ nội tích”, với những biểu hiện: Người béo phì, hoạtđộng một chút là mệt mỏi, thở dốc, dễ ra mồ hôi, đầu choáng váng, ngực bụng trướng đầy, mạng sườn căng tức, đauhoặc nổi cục; chất lưỡi tối bệu, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc nhớt

Theo Tiền Phong

Trang 8

9 Chữa bệnh đổ mồ hôi chân tay bằng lá lốt

Có một cách chữa bệnh đổ mồ hôi chân tay không cần mổ và không mất tiền nhưng khá hiệu nghiệm Tôi bị bệnh ra mồ hôi chân tay từ thời tuổi trẻ Đi tất buổi sáng, buổi chiều đã phải thay vì mùi hôi Một người bạn dântộc Nùng đã mách tôi cách chữa bệnh Nhưng hồi ấy tôi không để ý Cách đây hơn 10 năm nhớ lại, tôi đã thử chữa.Thật bất ngờ, một tuần sau khi dùng thuốc, bệnh của tôi đã thuyên giảm cơ bản

Bài thuốc đơn giản như sau: nhổ những cây lá lốt lấy cả rễ, cắt bỏ phần ngọn rồi chặt thành từng khúc dài bằnghai đốt ngón tay Rửa thật sạch, đem phơi cho tái đi, sau đó đem sao vàng Khi mẻ cây lá lốt sao chuyển sang màuvàng, đổ xuống đám đất sạch cho nguội đi Phương pháp này dân gian gọi là "hạ thổ" để lấy "âm dương"

Mỗi ngày, lấy một nắm lá lốt đã sao vàng ấy cho vào ấm đun sôi chừng 15 phút Nước lá lốt này không nên đặcquá hoặc loãng quá Uống cả ngày như uống nước chè Mỗi ngày một ấm thuốc, uống liên tục trong vòng 7 ngày Saukhi ngừng uống 4 đến 5 ngày tiếp tục uống thuốc thêm một tuần nữa chắc chắn bạn không còn phải khó chịu vì bệnh

ra mồ hôi chân tay nữa

Nhiều năm qua, khi tiếp xúc với nhiều người, hễ bắt tay ai ướt mồ hôi tôi đều mách cho họ cách chữa Rất nhiềungười đã khỏi bệnh khi chữa bằng phương pháp uống cây lá lốt như cách mà tôi trình bày ở trên Riêng tôi, cứ sau 2năm tôi lại dùng lại một đợt thuốc lá lốt cho "chắc ăn"

Tôi mong nhiều người sẽ chữa khỏi bệnh bằng phương pháp đơn giản này Nếu bạn ở nông thôn thì chắc chắn sẽkhông tốn tiền vì cây lá lốt rất sẵn trong vườn nhà bạn (Nếu có gì chưa rõ, bạn đọc có thể liên hệ tôi theo địa chỉ: số

5 Hòa Mã, Hà Nội, ĐT: 0913219865)

10 Lợi ích của trà thảo mộc

Các loại trà có nguồn gốc từ thảo mộc ngày càng trở thành đồ uống phổ biến với nhiều công dụng tốt cho sứckhoẻ của con người

Trà bạc hà giúp giảm căng thẳng, hỗ trợ hệ tiêu hoá và có tác dụng hạ sốt do bị cảm lạnh hoặc cảm cúm

Uống trà sau bữa ăn giúp hỗ trợ quá trình tiêu hoá, giảm đầy hơi và cảm giác buồn nôn, giảm các triệu chứng củacảm lạnh và cảm cúm

6 Trà lá cây mâm xôi

Trà lá cây mâm xôi có tác dụng làm sạch nên rất hữu hiệu giúp sạch miệng, là nước súc miệng trị chứng viêmhọng Không nên dùng loại trà này trong suốt thời gian đầu khi mang thai

Trang 9

Quai bị là một bệnh truyền nhiễm do virut gây ra, bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân khi tiết trời mưa, lạnh,

độ ẩm cao Bệnh hay gặp ở trẻ em từ 5-10 tuổi, bệnh lây nhanh ở các lớp học, nhà trẻ mẫu giáo Có khi người lớncũng mắc ở các vùng dân trí thấp, vệ sinh kém Bệnh lây qua đường hô hấp khi tiếp xúc trực tiếp như nói chuyện, ho,hắt hơi, virut khuyếch tán trong không khí nên dễ thành dịch Theo quan niệm của Đông y cho rằng, đây là dịch độcxâm nhập vào cơ thể qua mũi, miệng vào kinh thiếu dương, đi theo đởm kinh ra ngoài phát bệnh Đởm và can có quan

hệ biểu lý tạng phủ, nên có các triệu chứng của can và kinh can kèm theo viêm tinh hoàn, sốt cao co giật Chính vìvậy, nên khi bị quai bị thường có biến chứng viêm tinh hoàn dẫn đến teo tinh hoàn và vô sinh sau này

Triệu chứng của quai bị xuất hiện nhanh, rầm rộ Sau một đêm ngủ, sáng ra đã thấy má sưng ở quai hàm, có thểmột hoặc hai bên cùng một lúc, sưng ngày càng to, rất nóng và đau, sờ thấy rắn, người có sốt, đau đầu, mệt mỏi,không muốn ăn, nhai đau nên chỉ nuốt chửng Môi khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, người háo nhiệt, khát nước nhiều Bệnhkéo dài từ 7-15 ngày có khi hơn Trường hợp nặng còn sốt cao, mê sảng, viêm tuyến mang tai, viêm tinh hoàn, đauđầu dữ dội, nôn thốc nôn tháo

Phương pháp điều trị: Chống viêm, thanh nhiệt, giải độc, chỉ thống

Bài 1: Sài đất 20g, bồ công anh 16g, kinh giới, kim ngân, thổ phục linh mỗi thứ 12g, chỉ xác 8g, cam thảo nam 8g,bạc hà 6g Sắc uống ngày một thang chia 3 lần

Bài 2: Bồ công anh 16g, hạ khô thảo, kim ngân, sài hồ, mỗi thứ 12g, ngưu bàng tử, liên kiều, hoàng cầm mỗi thứ8g Sắc uống ngày một thang chia 3 lần

Bài 3: Thạch cao 16g, ngưu bàng, cát căn mỗi thứ 12g, thăng ma, hoàng cầm, liên kiều, cát cánh, thiên hoa phấnmỗi thứ 8g, cam thảo 4g Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần

Nếu có viêm tinh hoàn dùng thêm hạt vải 12g, khổ luyện tử 8g

Tại chỗ vùng mang tai dùng hạt gấc mài với dấm bôi vào chỗ viêm ngày 3-4 lần

Để bệnh nhân nghỉ ngơi tuyệt đối, tránh đi lại nhiều đề phòng biến chứng Ăn uống chất mềm, đủ dinh dưỡng đểbệnh mau chóng bình phục

Khi có đau bụng dưới ở trẻ gái hoặc đau tinh hoàn ở trẻ trai cần dùng kháng sinh theo chỉ định của thầy thuốc

Theo BS Nguyễn Kim Lan SK&ĐS

12 Những bài thuốc từ vừng

Hạt vừng (còn gọi là mè) có 2 loại: vừng vàng và vừng đen, có tên khoa học là Sésamum indim D.C Theo Đông y,vừng có tác dụng ích gan (tăng cường chức năng gan), bổ thận, dưỡng huyết, nâng cao thể lực, nuôi dưỡng não tủy,bền gân cốt, minh mục (làm sáng mắt), kéo dài tuổi thọ, tăng tiết sữa, làm vết thương mau lành, chống táo kết, trịbỏng, chống loãng xương, đặc biệt là làm quên cảm giác đói, rất có lợi đối với người thừa cân (để điều trị béo phì) Một số bài thuốc đơn giản từ hạt vừng:

- Làm thuốc bổ dưỡng: dùng dầu vừng từ 10 - 25 ml/ngày, dùng liên tục khoảng 30 - 40 ngày; hoặc dùng viênvừng (thường dùng loại vừng đen): sao chín, giã nhỏ, dùng nước cơm nhào đều, viên thành từng viên nhỏ (bằng hạtđậu xanh), sấy khô, ngày dùng từ 15 - 30 gr (hoặc tán thành bột và cũng dùng như trên)

- Lợi sữa: Phụ nữ sau sinh nếu ít sữa dùng vừng (vừng vàng hay đen đều được) sao cho chín, hoặc giã nát (thêm

ít muối để dễ ăn), hoặc để nguyên cả hạt, mỗi ngày ăn khoảng 50 gr (nếu để nguyên hạt cần nhai thật nhuyễn)

- Bị bỏng hoặc vết thương lâu lành: bôi dầu vừng lên vết thương (sau khi đã làm sạch vết thương), sau 5 - 7 ngàyvết thương sẽ lên da non và mau lành, có thể tránh được sẹo lồi

- Trị cao huyết áp, bán thân bất toại (di chứng của tai biến mạch máu não), xơ vữa mạch máu : Vừng đen đã saochín, dùng cùng với hà thủ ô, ngưu tất, liều lượng bằng nhau, số lượng không hạn chế, tán mịn, dùng nước cơm trộnđều viên thành từng viên nhỏ, ngày dùng 30 - 40 gr (chia làm 3 lần: sáng, trưa, chiều), chiêu với nước ấm Trị táobón: dầu vừng 40 - 60 ml/ngày (uống 1 lần) hoặc ăn vừng 50 gr/ngày

Phong trào ăn gạo lứt muối mè lâu nay cũng xuất phát từ những tác dụng của gạo lứt và vừng như đã trình bày,riêng về tác dụng của gạo lứt, chúng tôi sẽ đề cập trong một dịp khác

Theo BSGĐ

13 Chữa ho gà băng đông y

Trang 10

Ho gà là bệnh nhiễm khuẩn, lây theo đường hô hấp, có thể gây dịch do vi khuẩn Bordetella pertissus, đôi khi doBordetella parapertissis gây nên Ho gà rất hay lây Nguồn bệnh là người bị ho gà lây truyền, nhất là ở thời kỳ viêmlong, bắt đầu có cơn ho, sau đó mức độ giảm dần.

Bệnh lây trực tiếp do các bụi nước bắn ra trong cơn ho Sau khi mắc bệnh ho gà thì có khả năng miễn dịch bềnvững, nên rất ít khi mắc bệnh lần thứ hai

Theo Đông y, nguyên nhân ho gà là do tạng phủ trẻ non yếu, bì phu cơ nhục không kín đáo, ngoài thì bị ngộ độc

tà thời khí xâm phạm, trong lại có đờm hỏa ẩn nấp, phế kinh bị bế tắc nên phế khí không thông sướng, nhân đó phát

ho từng cơn kịch liệt Không chữa bệnh kịp thời thì bệnh dễ kiêm phát các chứng khác

Các triệu chứng ho gà thường thấy: trẻ ho ngày nhẹ, đêm nặng; ho không kịp thở, không khóc được Hoặc ho sặc

từ bụng dưới xốc lên, ho liên tiếp vài chục tiếng, nghỉ một tí lại ho; nặng nữa thì khi ho lại nôn mửa, căng tức 2 bênsườn, nước mắt nước mũi chảy, lâu ngày không khỏi

Thời gian nung bệnh từ 1-3 tuần Bệnh diễn biến qua 3 thời kỳ, tùy từng thời kỳ mà dùng các bài thuốc thích hợp.Thời kỳ đầu, cảm nhiễm phế hàn:

Triệu chứng: chảy nước mũi, ngạt mũi, ho liên tục, ngày nhẹ đêm nặng, rêu lưỡi trắng mỏng Mạch phù khẩn.Phép chữa: khu phong tán hàn chỉ khái

Bài thuốc: Tử tô 12g, bách bộ 12g, lá dâu tằm 16g, trần bì 8g Nước 300ml, sắc còn 100ml, chia uống 3 lần trongngày

Hoặc bài “Tiểu thanh long thang”: Ma hoàng 4g, chích thảo 4g, bạch thược 6g, bán hạ chế 12g, quế chi 4g, ngũ vị

tử 4g, tế tân 4g, can khương 4g Nước 150ml, sắc còn 50ml chia uống 3 lần trong ngày

- Nếu thiên về phế nhiệt: ho có đờm vàng, rêu lưỡi vàng Mạch sác Phép chữa: sơ biểu thanh nhiệt

Bài thuốc: Kinh giới 6g, lá xương sông 10g, bạc hà 6g, lá chanh 8g, lá hẹ tươi 6g, bối mẫu 6g, rau má 12g, nghệvàng nướng 3 lát Nước 300ml, sắc còn 100ml, ngày uống 3 lần

Thời kỳ ho cơn: Vào cuối tuần thứ 2 sau khi phát bệnh: thời gian dài hay ngắn tùy bệnh nặng hay nhẹ Nói chung

từ 3-6 tuần, nặng có thể kéo dài vài tháng hoặc hơn Lúc này ho sặc sụa, nhẹ thì một ngày ho 10 cơn, nặng thì 20cơn Lúc ho mặt đỏ bừng, thè lưỡi, còng lưng, gân cổ kéo lên, mắt đỏ, nước mắt nước mũi trào ra, mu mắt sưng húp,

ho liên tiếp không nghỉ; cuối cùng thở sâu vào 1 cái thì đỡ ho Trong khi thở vào nghe kêu như tiếng sáo hoặc như gàgáy, đến khi ngừng tiếng kêu thì ho lại như trước Về đêm cơn ho này càng nhiều hơn; ho chấn động gây chảy máumũi đờm có dây máu, chảy máu mắt, kết thành ban đỏ Nếu ho kéo dài mãi, thân thể càng suy nhược, dễ phát sưngphổi, ho suyễn

Đây là thể đàm nhiệt bế phế Phép chữa: thanh nhiệt hóa đàm

Bài thuốc:

Bài 1: Lá chanh 300g, địa liền 400g, vỏ rễ dâu (tẩm mật sao) 1.000g, rau sam 1.000g, tía tô 300g Nước 6 lít, sắccòn 2 lít, cho ít đường đủ ngọt Cách dùng: trẻ từ 1-3 tuổi mỗi lần uống 15-20ml (1 thìa canh) Trẻ từ 3-5 tuổi mỗi lầnuống 2 thìa canh, ngày uống 3 lần

Bài 2: “Ma hạnh gia vị”: Ma hoàng 6g, tiền hồ 12g, hạnh nhân 6g, cát cánh 12g, thạch cao 12g, trần bì 6g, camthảo 4g, bối mẫu 6g Nước 300ml, sắc còn 100ml, chia 3-4 lần uống trong ngày

- Ho nặng không ngủ được, gia: Viễn chí 4g, câu đằng 8g

- Đờm nhiều, gia: La bặc tử 8g, tô tử 8g

- Nôn nhiều, gia: Trúc nhự 8g, bán hạ chế 8g, gừng tươi 2 lát

- Ho ra máu, chảy máu mũi, gia: chi tử sao 8g, a giao 8g (sắc thuốc xong mới cho a giao)

Bài 3: “Tả bạch tán gia giảm”: Tang bạch bì 12g, địa cốt bì 12g, cam thảo 4g, sinh địa 12g, mạch môn 12g, cátcánh 8g, tri mẫu 8g, trúc nhự 8g, gừng tươi 2 lát Sắc uống và gia giảm như bài trên

Bài 4: “Lô tử hoàn”: Bắc hạnh nhân, sơn chi tử (sao đen), thạch cao, cáp phấn, thiên hoa phấn, mỗi vị 2 lạng(80g) Ngưu bàng tử 120g, cam thảo 16g, ma hoàng 32g, thanh đại 40g Tán bột hòa mật ong quyết nhuyễn làm viênbằng hạt nhãn Ngày uống 1-2 viên theo lứa tuổi Dùng đăng tâm thảo (bấc đèn) và lá tre nấu nước để uống thuốc.Bài 5: Dùng khi ho ra máu: Tang bạch bì 12g, cam thảo 4g, địa cốt bì 12g, chi tử (sao đen) 4g, trắc bá diệp (saođen) 4g, bồ hoàng (sao đen) 4g, a giao 4g (cho vào sau khi sắc xong thuốc) Nước 300ml, sắc còn 100ml, chia uốngngày 3-4 lần

Trang 11

Bài 6: Dung dịch tỏi: 50% nước cốt tỏi, 50% nước sôi hòa chung dùng Trẻ trên 5 tuổi mỗi lần uống 10-20ml.Ngày 4 lần sau bữa ăn 45 phút Trẻ dưới 5 tuổi giảm một nửa.

Bài 7: Mật gà sấy khô, tán mịn trộn một ít đường Cách dùng: trẻ dưới 1 tuổi dùng 1 cái, chia 3 ngày, mỗi ngàyuống 2 lần Trẻ 1-2 tuổi dùng 1 cái, chia 2 ngày, mỗi ngày uống 2 lần Trẻ 3-5 tuổi dùng 1 cái, uống trong 1 ngày, chia

2 lần Trẻ 5-10 tuổi, dùng 2 cái, uống trong 1 ngày, chia 2 lần

Thời kỳ hồi phục: Phế khí hư hoặc phế âm hư

Triệu chứng: Cơn ho giảm dần, số lần ho ít hơn, tiếng rít giảm dần đến hết, cơn ho yếu, thở ngắn, dễ ra mồ hôi,khát nước, triều nhiệt, chất lưỡi đỏ Phép chữa: tư dưỡng phế ấm, phế khí, kiện tỳ

Bài thuốc: “Sa sâm mạch đông thang” gia giảm Sa sâm 12g, thiên hoa phấn 12g, liên nhục 8g, mạch môn 12g,bạch biển đậu 12g, trần bì 6g, tang bạch bì 12g, ý dĩ 12g, cam thảo 4g Nước 300ml, sắc còn 100ml, chia uống 3 lầntrong ngày Nếu sốt nhiều, mồm khô Mạch tế sác, gia: địa cốt bì 12g, bối mẫu 8g, bạch thược 12g Mồ hôi trộm gia:mẫu lệ 12g, lá dâu 12g; ăn kém, đầy bụng, gia: hậu phác, mạch nha đều 8g

Cháo thuốc dân gian chữa bệnh ho gà

- Hạt dẻ, bí đao 50g, râu ngô 10g Đun sôi lấy nước hòa đường phèn uống

- Lấy 1 củ tỏi to, bóc vỏ, giã nát ngâm nước sôi 20 phút, rồi đun sôi 30 phút, pha mật ong, uống

- Lấy 100g hồ đào, sao vàng uống với mật ong

- Lấy 1 bộ gan gà ép lấy nước hòa với 15ml, nước đường Trẻ dưới 1 tuổi uống mỗi lần 5ml Trẻ 2-3 tuổi uống 8ml

4 tuổi trở lên uống 15ml Uống 2 lần trong ngày vào buổi sáng và tối, liên tục trong 3-5 ngày

- Cháo nhị bì cam thảo: Vỏ rễ dâu 9g, địa cốt bì 9g, cam thảo bột 3g, gạo lứt 50g Trước hết đun 3 vị trên vớinước vừa đủ, đun 30 phút, bỏ bã lấy nước rồi cho gạo lứt vào nấu cháo ăn

- Cháo đậu cô ve, táo đỏ: Đậu cô ve 16g, táo đỏ 10 quả, gạo lứt 30g, đường phèn vừa đủ Tất cả rửa sạch chovào nồi, nước vừa đủ nấu thành cháo loãng rồi cho đường phèn, ăn nóng

- Nước cơm hòa xuyên bối, đường phèn: Khi nấu cơm sôi, múc lấy nước cơm đựng vào bát, cho xuyên bối mẫu 9g

và đường phèn 15g, hấp cách thủy (hoặc hấp trên cơm đang cạn) Uống ngày 2 lần sáng và tối

- Nước cà rốt, táo tàu: Cà rốt 200g, rửa sạch thái lát cùng với 25g táo tàu, nước 1.200ml, đun cạn còn 400ml, chođường phèn vừa đủ, khuấy tan là được, uống 2 lần trong ngày Day bấm mạch 2 huyệt ngư tế để thanh nhiệt tả phế,giảm ho và 2 huyệt xích trạch để điều hòa và sơ thông phế khí khỏi ho, dễ thở

Bài thuốc kinh nghiêm của lương y Thái Vạn

Theo Lương y Minh Chánh/Sức Khỏe&Đời Sống

Đau đầu do phong hỏa: (1) Hoa cúc bách nhật 9g, mã tiên thảo 12g, sắc uống (2) Hoa cúc bách nhật 6g, câu

đằng 6g, cương tàm 6g, cúc hoa 10g, sắc uống ngày 1 thang

Tăng huyết áp: Hoa cúc bách nhật 15g, hạ khô thảo 30g, cúc hoa 15g, sắc uống hằng ngày.

Hội chứng tiền đình: Hoa cúc bách nhật 15g, cúc hoa 15g, mạch môn 10g, thạch hộc 10g, tang diệp 10g, sắc

uống ngày 1 thang

Ho do ngoại cảm phong nhiệt: Hoa cúc bách nhật 20g, tỳ bà diệp 30g, bạc hà 10g, sắc uống ngày 1 thang Hen và viêm phế quản: (1) cụm hoa cúc bách nhật tươi hoặc 15-20g hoa khô sắc uống ngày 1 thang (2) Hoa

cúc bách nhật trắng 20 bông, tỳ bà diệp 5 cái, sắc uống ngày 1 thang (3) Hoa cúc bách nhật 30g, kim tiền thảo 30g,sắc uống ngày 1 thang (4) Hoa cúc bách nhật 6g, rễ cúc bách nhật 9g, sắc uống ngày 1 thang (5) Hoa cúc báchnhật 15g, nga bất thực thảo 30g, cam thảo dây 30g, sắc uống ngày 1 thang (6) Hoa cúc bách nhật 10g, địa long 10g,

tỳ bà diệp 10g, ma hoàng sao 6g, hạnh nhân 10g, sắc uống ngày 1 thang

Ho gà: (1) Hoa cúc bách nhật 19g, nga bất thực thảo 15g, sắc kỹ lấy nước hòa thêm một chút đường phèn uống

ngày 1 thang (2) Hoa cúc bách nhật 10g, bách bộ sao 15g, bối mẫu 6g, bạch cương tàm 10g, câu đằng 10g, sắc uốngngày 1 thang

Trang 12

Giảm thị lực: Hoa cúc bách nhật 10g, hạn liên thảo 10g, chử thực tử 10g, cam thảo 15g, sắc uống ngày 1 thang Kiết lỵ: (1) Hoa cúc bách nhật 10 cụm sắc kỹ lấy nước, hòa thêm một chút rượu vàng uống trong ngày (2) Hoa

cúc bách nhật 15g, tần bì 15g, bạch thược 20g, mộc hương 6g, sắc uống ngày 1 thang

Viêm đại tràng mạn tính thể lỏng: Hoa cúc bách nhật 15g, câu cốt diệp 30g, hoàng kinh tử 10g, sắc uống

ngày 1 thang

Đau mắt đỏ: Hoa cúc bách nhật 10g, cúc hoa 15g, tang diệp 15g, sắc uống thay trà trong ngày.

Tiểu tiện bất lợi: Hoa cúc bách nhật 9g sắc uống hằng ngày.

Trẻ em khóc dạ đề: Hoa cúc bách nhật tươi 5 cụm, thuyền thoái 3 cái, cúc hoa 3g, sắc uống ngày 1 thang Trẻ em trướng bụng: (1) Hoa cúc bách nhật khô 6-9g sắc uống ngày 1 thang (2) Hoa cúc bách nhật 5g, lai

phục tử 6g, sắc uống ngày 1 thang

Trẻ em kinh phong: (1) Hoa cúc bách nhật 10 cái, con cào cào khô 7 con, sắc uống ngày 1 thang (2) Hoa cúc

bách nhật 6g sắc uống ngày 1 thang

Trẻ em đi lỏng: Hoa cúc bách nhật 6g, bạch truật 12g, cát căn sao 12g, bạch linh 12g, xa tiền tử 10g, sắc uống

ngày 1 thang

Viêm loét da: Hoa cúc bách nhật 15-30g, sắc uống hoặc nấu nước rửa hằng ngày.

Một công trình nghiên cứu của các nhà y học cổ truyền Trung Quốc đã dùng dịch 100% và 200% tiêm bắp thịt chế

từ cúc bách nhật để điều trị viêm phế quản mạn tính cho thấy: trên 120 bệnh nhân được tiêm dịch 200% mỗi ngày 1lần, mỗi lần 2ml, 10 ngày là một liệu trình, sau 5 liệu trình đạt hiệu quả 93,3%; trên 125 bệnh nhân được tiêm dịch100%, sau 4 liệu trình đạt hiệu quả 73,6% Có tác giả còn dùng dịch tiêm cúc bách nhật 30% để thủy châm vào cáchuyệt vị châm cứu như phế du, định suyễn, thiên đột, phong long, đản trung, mỗi huyệt tiêm 0,3ml để điều trị 40 cahen phế quản và viêm phế quản thể hen, đạt hiệu quả 70% Cũng có tác giả dùng dưới dạng viên nén cúc bách nhật(mỗi viên tương đương với 3,2g dược liệu sống), mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên, 10 ngày là một liệu trình, dùngliên tục 2 liệu trình, điều trị 500 bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, đạt hiệu quả 77,1% và điều trị 174 bệnh nhânhen phế quản, đạt hiệu quả 81,8%

Theo Sức Khỏe&Đời Sống

15 Lá mơ trị kiết lị

Lá mơ tam thể còn gọi là mơ lông (vì cả hai mặt của lá đều có nhiều lông, rất mịn), mặt trên của lá có màu xanh,mặt dưới có màu tim tím Tên khoa học là Paederia tomentosa lour, là loại cây leo, mọc hoang ở mọi nơi (thường ở cáchàng rào) Có thể trồng bằng dây (lấy những đoạn dây ở gần gốc, dài khoảng 30 cm, vùi ở hàng rào) Chỉ trồng mộtlần, có thể dùng nhiều năm Ngoài việc dùng làm gia vị đối với các món ăn như thịt cầy, bê thui , lá mơ còn là một vịthuốc để trị một số bệnh hiệu quả

Chứng kiết lỵ, viêm ruột mãn tính: Lá mơ tam thể: 50 -100g, rửa hay lau sạch lông, giã nhuyễn, trộn với 1 - 2 quảtrứng gà (cả lòng đỏ và lòng trắng), cho thêm 5 - 10g muối, trộn đều, xào hoặc cuộn vào lá chuối nướng cho đến khi

có mùi thơm Mỗi ngày ăn 2 - 3 lần liên tục trong 7 - 10 ngày, rất công hiệu

Chứng phong tê thấp (đau nhức xương khớp, luôn có cảm giác nặng nề, bứt rứt), dùng theo hai cách:

- Uống: lấy cả lá và dây, cắt nhỏ, mỗi đoạn chừng 1 - 2 cm, sao vàng Mỗi lần dùng 50g, sắc với 200 ml, còn 100

ml, chia đều, uống 3 lần trong ngày, liên tục 10 - 15 ngày

- Dùng để xoa bóp: cũng dùng cả lá và thân: thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, ngâm trong rượu (trên 40 độ) lắc đềumỗi ngày Xoa tại các vùng đau nhức

Ngoài ra ở một số nước, người ta còn dùng nước sắc lá mơ để trị chứng bí tiểu tiện và sỏi thận, liều dùng cũngnhư trên Tuy nhiên điều này chưa được thử nghiệm ở Việt Nam

Theo Bác sĩ gia đình

Trang 13

16 Chữa ngứa chân

Bài 4:

Vì tiếp xúc với nước không sạch, chân tay hoặc cả người bị ngứa ngáy, gãi mãi không hết Cách chữa: khế chín,

5-10 quả, nướng nóng, bóp nát lấy nước thoa vào chỗ ngứa, làm một vài lần là khỏi

Theo TK

17 Trà dược phòng chống viêm khớp mùa lạnh

Tiết trời mưa phùn gió bấc lạnh lẽo là điều kiện thuận lợi cho bệnh lý viêm khớp phát sinh và phát triển, trong đóphải kể đến các chứng bệnh thường gặp như hư xương sụn cột sống cổ, hư xương sụn cột sống thắt lưng, viêm quanhkhớp vai, viêm khớp dạng thấp, viêm thoái hóa khớp gối, viêm cột sống dính khớp Khi bị các chứng bệnh này, việcdùng các thuốc chống viêm, giảm đau và thực hành lý liệu pháp là hai vấn đề không thể thiếu trong thực tiễn lâm sàngcủa y học hiện đại Tuy nhiên, vì còn khá nhiều các tác dụng phụ nên những tân dược loại này không hẳn đã là chỗdựa đáng tin cậy của người bệnh

Trong y học cổ truyền, các bệnh khớp nói chung đều thuộc phạm vi chứng tý, phát sinh do nhiều nguyên nhân,trong đó phải kể đến 4 nhân tố chính là phong, hàn, thấp và nhiệt Tùy theo từng mùa mà các nhân tố này giữ vai tròchính phụ khác nhau, về mùa lạnh, phong, hàn và thấp là 3 nhân tố chủ đạo mà cổ nhân thường gọi là chứng phonghàn thấp tý Về mặt trị liệu, ngoài việc kê đơn bốc thuốc và châm cứu xoa bóp, người xưa còn sử dụng một chế phẩmrất độc đáo được gọi là trà dược Trong bài viết này xin được giới thiệu với độc giả một số công thức trà dược điểnhình để phòng chống viêm khớp về mùa lạnh

Bài 1: Thổ ngưu tất (rễ cỏ xước) 30g, kê huyết đằng 30g Hai vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30

phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày Công dụng: thanh nhiệt khứ thấp, hoạt huyết thư cân, dùng chobệnh viêm khớp có dấu hiệu sưng nóng Trong bài, thổ ngưu tất vị đắng chua, tính bình, có công dụng hoạt huyết hóa

ứ, trừ thấp lợi niệu, thanh nhiệt giải độc; kê huyết đằng vị đắng, tính ấm, có công dụng hoạt huyết bổ huyết, thư cânhoạt lạc Nghiên cứu hiện đại cho thấy cả hai vị đều có tác dụng chống viêm khá tốt, riêng thổ ngưu tất đã có nhữngcông trình nghiên cứu ứng dụng điều trị viêm họng và bệnh bạch hầu đạt hiệu quả cao

Bài 2: Thổ phục linh 40g, uy linh tiên 30g, phòng kỷ 10g Các vị tán vụn, mỗi ngày lấy 30g hãm với nước sôi trong

bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày Công dụng: trừ thấp hoạt lạc, giải độc giảm đau, dùngcho bệnh viêm khớp có triệu chứng đau cố định, tại chỗ nề nhẹ Trong bài, thổ phục linh vị ngọt, tính bình, có côngdụng giải độc, trừ thấp, lợi quan tiết; uy linh tiên vị cay mặn, tính ấm, có công dụng trừ phong thấp, thông kinh lạc vàgiảm đau; phòng kỷ vị cay đắng, tính lạnh, có công dụng trừ phong thấp, lợi niệu giảm đau Nghiên cứu hiện đại đãchứng minh cả 3 vị đều có tác dụng kháng khuẩn chống viêm, uy linh tiên và phòng kỷ còn có tác dụng giảm đau rấtthích hợp đối với việc trị liệu viêm khớp

Bài 3: Sinh địa 50g, khương hoạt 30g, độc hoạt 30g, kê huyết đằng 40g, đương quy 30g, thiên ma 20g, ngưu tất

20g, tỳ giải 20g Tất cả sấy khô tán vụn, mỗi ngày lấy 20 - 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùngđược, uống thay trà trong ngày, người uống được rượu có thể pha thêm chút ít hoàng tửu thì càng tốt Công dụng:khu phong trừ thấp, hoạt huyết giảm đau, dùng cho bệnh viêm khớp lâu ngày, khí huyết suy nhược, các khớp có biểuhiện viêm dính và biến dạng Trong bài, sinh địa và đương quy có tác dụng tư âm bổ huyết; khương hoạt trừ phongthấp nửa trên, độc hoạt trừ phong thấp nửa dưới cơ thể; ngưu tất và kê huyết đằng hoạt huyết bổ thận; tỳ giải thảithấp qua đường tiết niệu Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh thiên ma, ngưu tất và độc hoạt đều có tác dụng chốngviêm và giảm đau rõ rệt

Bài 4: Dâm dương hoắc 30g, uy linh tiên 30g, xuyên khung 30g, nhục quế 30g, ké đầu ngựa 30g Tất cả tán vụn,

mỗi ngày lấy 30 - 40g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày, có

Trang 14

thể pha thêm một chút rượu thì càng tốt Công dụng: tráng dương hoạt huyết, khứ phong trừ thấp, dùng cho chứngviêm khớp giai đoạn muộn khi các khớp đã biến dạng, thể trạng suy yếu, toàn thân đau mỏi, sợ lạnh, tay chân lạnh Trong bài, dâm dương hoắc vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận tráng dương, khứ phong trừ thấp; nhục quế vịngọt, tính nóng, có công dụng bổ nguyên dương, ấm tỳ vị, trừ hàn, thông huyết mạch; xuyên khung hoạt huyết; uylinh tiên và ké đầu ngựa trừ phong thấp Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh dâm dương hoắc có tác dụng chốngviêm; xuyên khung, nhục quế, uy linh tiên và ké đầu ngựa đều có khả năng giảm đau rõ rệt.

Bài 5: Hoàng kỳ sống 10g, quế chi 4,5g, bạch thược sao 7,5g, ngũ gia bì 6g, gừng tươi 2 lát Các vị thái vụn hãm

với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày Công dụng: bổ khí huyết, trừphong thấp, dùng cho chứng viêm khớp ở người suy nhược cơ thể, thiếu máu, các khớp đau nhưng không sưng nóng,chườm nóng đỡ đau

Nhìn chung, các phương trà dược nói trên đều rất đơn giản, dễ chế, dễ dùng, rẻ tiền và đạt hiệu quả ở một mức

độ nhất định Có thể sử dụng để điều trị dự phòng, điều trị hỗ trợ các thuốc khác trong giai đoạn bệnh tái phát và điềutrị duy trì khi bệnh đã ổn định

Sức khoẻ & đời sống

18 Công dụng của Tía tô

Nếu bị đau bụng đi ngoài, nôn mửa do ăn các loại thực phẩm như cua cá, có thể lấy một nắm lá tía tô giã lấy nướccốt để uống Nếu có ngứa, nổi mẩn (dị ứng) thì lấy bã đã sắc hoặc lá tươi xoa xát lên da Ngoài ra, có thể dùng bài "Tử tô giải độc thang" gồm lá tía tô 10 g, gừng tươi 8 g, sinh cam thảo 2 g Nước 600 ml sắccòn 200 ml, chia 2-3 lần trong ngày, uống nóng

Để tránh rối loạn tiêu hóa, nên ăn kèm tía tô tươi trong bữa ăn có các loại thủy hải sản tanh lạnh Không ăn lá tía

tô với cá chép vì có thể sinh nhọt

Chữa táo bón ở người già suy nhược: Hạt tía tô, hạt me lượng bằng nhau, giã nhuyễn cho nước lắng, lấy nước nấuchín để uống Hoặc hạt tía tô, hạt vừng đều 10 g, giã nhuyễn, cho nước để gạn lấy nước nấu cháo, dùng cả khi táobón do ung thư ruột

Ngoài việc chữa các rối loạn ở đường tiêu hóa, tía tô còn có rất nhiều công dụng khác

Giải cảm

Xông: Lấy lá tía tô cùng các lá thơm khác tạo thành nồi lá xông và lau rửa Nếu lá xông được rửa sạch kỹ thì cóthể lấy ra một bát để uống trước hay sau khi xông Xông xong lau khô mồ hôi cả người, đắp chăn nằm nghỉ Nhớ nướcsôi mới cho lá xông vào nồi - đậy kín và khi xông mở vung Cần chú ý kẻo bỏng và chỉ xông cho người lớn ngồi trongchăn Thận trọng với người già yếu và trẻ em

Cháo tía tô: Nấu cháo gạo tẻ cho ra bát, trộn lá tía tô non thái chỉ Ăn nóng, có thể thêm hành lá tươi thái nhỏ.Xông xong nghỉ một lúc, dậy ăn bát cháo giải cảm này là phương pháp giải cảm lạnh dân gian rất có hiệu nghiệm.Uống nước tía tô: Tía tô tươi 15-20 g giã nát, chế nước sôi, gạn nước trong để uống Hoặc lá tía tô khô hãm nướcsôi uống Uống xong đi nằm đắp chăn Hai cách này đều kém ra mồ hôi Dùng cho trẻ em người già yếu

Ngâm chân: Dùng lượng lớn lá tía tô bỏ vào nồi nước đang sôi để sôi lại, đổ ra chậu, đậy bằng 1 cái rổ thưa, đặt 2bàn chân lên xông Khi nước nguội, cho 2 chân vào ngâm rửa… công hiệu vô cùng

Chữa ho hen

Thương hàn, ho hen: 1 nắm lá tía tô nấu nước uống dần là dứt cơn hen suyễn (Thiên kim phương)

Người lớn hay có cơn hen: Hạt tía tô 1 lạng, sao qua tán bột, đổ 2 bát nước vào quấy đều, lọc bỏ bã Nấu cháo ănlúc đói

Trẻ em ho nhiều thở gấp, mặt tím tái: Hạt tía tô 20 g tán thành bột, hòa với nước đun sôi để còn âm ấm, lọc bỏ bãcho uống Cẩn thận hơn thì cho bột vào túi vải hãm vào nước sôi Hoặc lấy bột này hòa vào cháo, hãm vào nước sôihoặc hòa vào nước cơm cho trẻ uống

Ho do phế hư hoặc đàm trắng đục dính, nặng ngực: Hạt tía tô 90 g sao thơm, tán bột, ngâm với 1 lít rượu gạongon trong 10 hôm, chắt lấy nước trong bỏ bã Uống mỗi lần 15-30 ml Ngày uống 3 lần sáng, trưa, tối (nếu đàmvàng, cổ khô, miệng khát, môi đỏ thì không dùng)

An thai

Động thai: Sắc cành lá cây tía tô để uống Hoặc sắc lấy nước nấu cháo để ăn

Trang 15

Có thai sắp sinh bị phù: Cành, lá tía tô 80 g, vỏ gừng tươi 30 g, cho 3 bát nước đun sôi kỹ (đậy vung kín) lấy nướcuống và xông Công thức này cũng có tác dụng an thai.

Có thai cảm sốt: Lá tía tô, kinh giới mỗi thứ một nắm sắc lấy nước uống, tiếp đó ăn cháo trứng gà nóng Trứng gàđen tốt nhất

Vú sưng: Lá tía tô 1 nắm nấu nước nóng, đồng thời lấy 1 nắm lá tía tô giã nhuyễn đắp lên vú sưng

Nôn mửa dữ dội khi có thai, động thai: Cành tía tô 12 g, sắn dây 12 g Sắc chung lấy nước uống

Thiếu máu: Uống nước lá tía tô (30 lá xay nhuyễn) Để cho dễ uống, xay kèm vài quả táo, ít đường phèn Nướcnày cũng có tác dụng an thai tuy có kém hơn cành tía tô

Chăm sóc da

Người Nhật rất chuộng trà tía tô dùng uống thay trà, đồng thời dùng nước trà tía tô để gội đầu, tắm rửa để bảo vệ

da, dưỡng da tươi nhuận, trừ vết nhăn, vết nám, khô ngứa da, vì tía tô làm ẩm da, dịu da, tăng cường trao đổi chất Súc miệng bằng trà tía tô sẽ tẩy sạch miệng, làm thơm miệng Gội đầu bằng tía tô làm tóc bền mượt, tóc khôngrụng và không bị chẻ, sạch gầu

Da mẩn ngứa, mụn cóc, dùng lá tía tô xoa sát trực tiếp hoặc nghiền nhuyễn cho vào túi vải mà xoa xát

Theo SK

19 Năm bài thuốc hay từ nghệ đen

Nghệ đen thường được dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh, tích huyết Xin giới thiệu năm bàithuốc thông dụng sử dụng vị thuốc này

Theo y học cổ truyền, nghệ đen là tên gọi của vị thuốc “nga truật”, thuộc họ gừng (Zingiberaceae)

Hiện nay, khoa học hiện đại đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của nghệ đen; gồm: tinh bột 82,6%,tinh dầu 1 - 1,5%, khá nhiều chất tương tự có trong thành phần của nghệ vàng và một số khoáng vi lượng Nghiêncứu thực nghiệm trên động vật cho thấy nghệ đen có tác dụng tăng cường sự bài tiết mật rõ rệt trên chuột cốngtrắng, đồng thời ức chế nhẹ sự tiết dịch dạ dày; giảm tốc độ di chuyển than hoạt trong ruột chuột nhắt trắng Ngoài

ra, nghệ đen còn có tác dụng kích thích tiêu hóa, tăng trương lực ống tiêu hóa

Các nghiên cứu của một số nước cho thấy, tinh dầu nghệ đen có tính kháng khuẩn Y học hiện đại dùng nghệ đen

để chế rượu bổ trường sinh (Elixir de longue vie) gồm các vị: nghệ đen, lô hội, long đởm thảo, đại hoàng, phan hồnghoa và tá dược

Theo y học cổ truyền, nghệ đen (nga truật) có vị cay, đắng, tính ôn, vào kinh can; có tác dụng hành khí, pháhuyết, thông kinh, tiêu tích, hóa thực

Nghệ đen thường được dùng làm thuốc chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh, tích huyết, hành kinhkhông thông, nhiều máu cục (huyết khối) Liều dùng 3-6g dưới dạng sắc uống hoặc tán bột

Dưới đây là một số bài thuốc thông dụng có sử dụng nghệ đen

Bài 1: Chữa chứng huyết ứ, hành kinh không thông, có nhiều huyết khối; bế kinh, máu ra kéo dài, đen, đông

thành khối nhỏ Người bệnh thường kèm theo đau bụng trước khi thấy kinh

Nghệ đen và ích mẫu, lượng bằng nhau 15g Sắc uống ngày một thang

Bài 2: Chữa chứng nôn ở trẻ đang bú: Nghệ đen 4g, muối ăn 3 hạt, đun với sữa cho sôi chừng 5 phút, hòa tan tý

chút ngưu hoàng (lượng bằng hạt gạo) Cách dùng: Chia uống nhiều lần trong ngày

Bài 3: Chữa cam tích, trẻ biếng ăn, suy dinh dưỡng, đại tiện phân thối khẳn: Nghệ đen 6g, hạt muồng trâu 4g.

Sắc uống ngày 1 thang

Trang 16

Bài 4: Nghệ đen hoàn: Nghệ đen 160g, cốc nha 20g, khiên ngưu (sao) 40g, hạt cau 40g, đăng tâm (bấc lùng)

16g, nam mộc hương 16g, thanh bì 20g, thanh mộc hương 20g; củ gấu 160g, tam lăng 160g, đinh hương 16g Tất cảcác vị tán thành bột mịn, hoàn thành viên Liều dùng: Ngày uống 8 đến 12g với nước sắc gừng (nướng chín)

Tác dụng: Chữa chứng ăn kém, chậm tiêu, đầy hơi, mệt mỏi, lạnh bụng, đại tiện phân sống, nấm mạn tính đườngruột

Bài 5: Nghệ đen tán: Nghệ đen, bạch chỉ, hồi hương, cam thảo, đương quy, thục địa, bạch thược, xuyên khung.

Lượng các vị bằng nhau (đều 40g) Tất cả các vị tán bột, hoàn thành viên Liều dùng: uống 8 đến 12g

Tác dụng: Bổ khí, dưỡng huyết, trị nhiều bệnh về khí huyết

Đây là bài thuốc bổ khả dụng, dùng chữa nhiều chứng bệnh thuộc phạm vi chứng suy nhược, tiêu hóa hấp thukém, thể trạng xanh xao, thiếu máu, dễ cảm vặt mà “Trung Quốc bách khoa đại từ điển” gọi là chữa bách bệnh (liệt

kê 33 chứng bệnh khác nhau) Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế cho thấy nếu bài thuốc được làm thành thang sắc uốngthì hiệu quả kém hẳn, do việc sắc đã làm thay đổi tính chất bài thuốc, đặc biệt là một số vị thuốc chứa tinh dầu nhưbạch chỉ, hồi hương bị bay mất tinh dầu và làm mất cái “hay” của bài thuốc

20 Chữa bệnh bằng vỏ trứng gà

Bệnh hôi miệng, viêm loét dạ dày - tá tràng có thể chữa khỏi bằng cách dùng vỏ trứng gà sống nghiền nát, rây bộtmịn, uống ngày 3 lần với nước sôi để nguội, mỗi lần 2 g

Sau đây là một số bài thuốc khác từ vỏ trứng gà:

- Chữa khí hư: Vỏ trứng sống 200 g, hạt bông (sao đen cho hết khói) 80 g Tất cả tán nhỏ, trộn với rượu, làmthành viên bằng hạt ngô, uống cùng với nước cơm vào lúc đói, mỗi lần 20 viên

- Chữa ho gà: Vỏ trứng sống 1 cái, rễ cỏ gà 20 g, lá chanh 20 g, lá táo 20 g, vỏ quýt 10 g, tất cả thái nhỏ, saovàng, sắc với 400 ml nước đến khi còn 100 ml, uống 2 lần/ngày

- Chữa sốt cao, sốt kéo dài: Vỏ trứng đã nở con 20 g, rửa sạch, nghiền nát, phơi khô, sao vàng, tán bột để uống

- Chữa lở loét: Lấy vỏ trứng đã nở con sao vàng, tán bột mịn, hòa với dầu vừng, bôi lên chỗ lở loét hằng ngày

- Chữa mắt sưng đỏ, chảy nước mắt, nhiều dử, sợ ánh sáng: Vỏ trứng đã nở con 50 g, sao vàng, tán bột mịn,uống mỗi lần 1-4 g với nước nóng

DS Huyền Hoa, KH&ĐS

21 Tác dụng chữa bệnh của rau cần

Nếu bị cao huyết áp hoặc ho lâu ngày không khỏi, có thể lấy rau cần ta rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống ngày 2 lần (sáng và chiều) trong 5-7 ngày, có thể uống với mật ong Còn khi chân bị nứt nẻ, hãy lấy

250 lá rau cần tây sắc với 1 lít nước để ngâm chân.

Cả cần ta và cần tây đều có thể dùng để chữa bệnh Cần ta vị ngọt, tính mát, có tác dụng lợi đại tràng, thông tiểu,ích khí, kích thích vị giác Sau đây là một số bài thuốc từ 2 loại rau này:

- Chữa đi ngoài phân lỏng ở trẻ:

Rau cần ta 40 g bỏ rễ, rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống 2 lần trong ngày

- Chữa tiểu buốt, tiểu ra máu:

Rau cần ta cả rễ, để tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống hằng ngày, càng nhiều càng tốt

Ngoài ra, có thể dùng rau cần ta (200-300 g) sắc với táo tàu (30-50 g) uống trong ngày để chữa tiểu buốt, tiểurắt

- Chữa loét miệng, viêm họng, khản tiếng: Súc miệng hằng ngày bằng nước ép lá cần tây

- Chữa cao huyết áp:

Mỗi ngày dùng vài cây cần tây tươi rửa sạch, thái nhỏ, vắt lấy nước uống; hoặc phơi dược liệu trong bóng râm rồisắc uống Cũng có thể xào cần tây với thịt cho chín tới (không xào kỹ) ăn hằng ngày trong bữa cơm chiều Khi có kếtquả thì dừng ngay, không nên dùng kéo dài

Khoa Học & Đời Sống

Trang 17

22 Tác dụng chữa bệnh của xoài

Theo y học cổ truyền, xoài có tác dụng cầm máu, lợi tiểu, được dùng để chữa ho ra máu, chảy máu đường ruột, đau răng, rong kinh, trừ giun sán Tất cả các loại xoài ở Việt Nam đều có thể dùng làm thuốc Sau đây là một số bài thuốc từ xoài:

- Ho ra máu: Vỏ trái xoài chín nấu thành cao lỏng, mỗi lần dùng 10 g hòa với 120 ml nước, cách 1-2 giờ uống 1thìa cà phê

- Chảy máu đường ruột hoặc tử cung: Lấy vỏ quả xoài cát chín nấu thành cao lỏng Khi dùng, lấy 10 g cao

hòa với 120 ml nước sôi, cách 3 giờ uống 2 thìa cà phê

- Đau răng, lở loét chân răng: Vạt lấy một miếng vỏ cây xoài bằng 2 bàn tay, thái nhỏ, đổ 3 bát nước, đun nhỏ

lửa cho đến khi còn 1 bát Mỗi ngày ngậm (thỉnh thoảng súc cho thuốc thấm vào chân răng) 3 lần, mỗi lần 10 phút.Hoặc: Vỏ cây xoài sao khô 3 phần, bồ kết sao khô 1 phần, quả na sao khô 1 phần Tất cả tán mịn, trộn đều, rắcvào chỗ răng đau hoặc xát vào lợi

- Thổ tả: Lá xoài 100 g (sao vàng), lá chanh 100 g, đổ 2 bát nước vào sắc còn 1 bát, sau đó cho vào 10 ml rượu

bạc hà (hoặc thêm 50 g lá bạc hà vào nấu chung), uống nóng, từng hớp một

- Rong kinh và khí hư: Vỏ quả xoài chín 30 g, sắc uống hằng ngày.

- Đi ngoài ra máu, lỵ mạn tính: Vỏ quả xoài chín 50 g, phơi khô, sắc uống hằng ngày.

- Trừ giun đũa: Nhân hạt xoài 20 g, hạt chanh 15 g, 2 thứ giã nát, đổ 2 bát nước, sắc còn 1 bát, uống vào sáng

sớm lúc còn đói, uống liền trong 2-3 ngày

- Làm săn da: Lá xoài tươi 50 g, giã nát, đắp mặt trong 20 phút rồi rửa mặt thật sạch.

- Rửa vết thương: Lá xoài tươi 200 g, cho vào 1 lít nước, đun sôi 10 phút, dùng để rửa vết thương.

- Ho, viêm họng: Lá xoài tươi 200 g, cho vào 1 lít nước, đun nhỏ lửa cho sôi 15 phút, sau đó bắc xuống, dùng

khăn trùm kín đầu để xông Khi xông nhớ há miệng để đưa hơi vào cổ họng Làm mỗi ngày 1 lần

Lưu ý:

- Thịt quả xoài có tác dụng lợi tiểu, chữa hoại huyết, nhưng nếu ăn nhiều sẽ nóng

- Mủ xoài có chất độc gây nôn mửa, tiêu chảy, viêm da

BS Đỗ Văn Sơn, Sức Khỏe & Đời Sống

23 Chữa phong thấp bằng cách lấy độc trị độc

Hiếm ai trong đời không vài lần bị tê mỏi chân tay hay nhức đau xương khớp (dân gian gọi là phong

tê thấp) Bệnh được cải thiện rất hiệu quả bằng phương thuốc cổ nổi tiếng có mã tiền một vị thuốc độc làm chủ đạo.

-Phong tê thấp là bệnh khá phổ biến, với những biến chứng tai hại, ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống củangười bệnh Đông y đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý chữa bệnh này, trong đó có việc dùng hạt mã tiền theonguyên tắc "lấy độc trị độc"

Mã tiền giúp thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, trừ khử ứ trệ, thông kinh hoạt lạc, chống tê mỏi và cắt cơnđau Do đó hầu hết các bài thuốc chữa phong tê thấp đều có nó Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, vị thuốc này khi sửdụng với liều nhỏ sẽ kích thích thần kinh trung ương, làm mạnh tim, giảm đau, chống ho, trừ đờm và tăng tiết dịch vị

Mã tiền sống là thuốc rất độc (bảng A), sau khi bào chế theo phương pháp truyền thống thì độ độc giảm bớt (bảngB), nhưng vẫn chỉ được sử dụng với liều lượng rất nhỏ Trong Đông y truyền thống, mã tiền chế chủ yếu được dùngchữa trị tê liệt, đau nhức kinh niên do phong thấp hoặc ngoại thương Trên lâm sàng hiện đại, nó được sử dụng đểchữa trị tổn thương phần mềm, viêm khớp xương trong bệnh phong thấp, đau do ung thư, nhược cơ nặng, liệt nửangười do tai biến mạch máu não, bại liệt do ngoại thương

Trong phương "Thuốc phong bà Giằng" nổi tiếng, mã tiền được sử dụng cùng các vị thuốc khác theo cấu trúc

"quân - thần -tá -sứ" kinh điển:

- Mã tiền là "quân" (vua, tức vị thuốc chủ đạo)

- Thương truật là "thần" - vị tể tướng hỗ trợ trực tiếp cho quân vương Nó tăng cường tác dụng giảm đau của mãtiền

- Hương phụ, mộc hương, thương truật là "tá", tức phụ tá để hạn chế tác dụng phụ của vị thuốc chính Các vị nàygiúp tăng tác dụng giảm đau, hạn chế các tác dụng phụ của thuốc

- Địa liền, quế chi là "sứ", tức có tác dụng dẫn đường, đưa thuốc tới vị trí bệnh và điều hòa phương thuốc

Phương thuốc trên phối hợp các vị nóng và lạnh nên có tính bình, thích hợp cho cả người tạng hàn lẫn tạng nhiệt

Sự phối hợp trên lại phát huy được sở trường và hạn chế sự độc hại của mã tiền nên an toàn, ít tác dụng phụ Nó giúpchữa trị các chứng tê mỏi chân tay, đau xương khớp, đau thần kinh tọa, đau thần kinh liên sườn do phong tê thấp,đau do gút Những người bị tiểu đường, tăng mỡ máu, tăng huyết áp và một số chứng bệnh tiêu hóa mạn tính cũng cóthể dùng

Bài thuốc phong bà Giằng hiện cũng được bào chế dưới dạng viên nén bao phim để tiện sử dụng và dễ xác địnhliều lượng hơn Đó là thuốc Vimatine do Đại học Dược Hà Nội bào chế Thay vì phải uống hàng chục viên hoàn, bệnhnhân chỉ cần dùng 2-3 viên nén mỗi lần

Lương y Huyên Thảo, Sức Khỏe & Đời Sống

Trang 18

24 Những điều cần biết khi uống thuốc bắc

Đối với các thuốc chữa bệnh tỳ vị hoặc dùng để công hạ, nên uống giữa hai bữa ăn để thức ăn không ảnh hưởng đến thuốc Còn với các thuốc diệt trùng thì nên uống cách đêm (trước khi ngủ uống một lần, sáng hôm sau uống lần nữa khi còn đói) để tiện cho việc thải các loại trùng bị diệt ra khỏi cơ thể.

Đối với thuốc bắc, việc uống trước hay sau khi ăn, uống nóng hay lạnh, ngâm hay sắc tùy thuộc vào loại thuốc vàbệnh cần điều trị Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:

- Uống trước bữa ăn 30-60 phút:

Áp dụng với các thuốc chữa bệnh can thận hư, bệnh đường ruột, dạ dày và các bệnh từ lưng trở xuống Trongtrạng thái bụng đói, dược tính dễ dàng chuyển xuống dưới, thuốc uống vào sẽ tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc đườngtiêu hóa, nhanh chóng đi qua dạ dày, xuống ruột Nhờ đó, thuốc sẽ nhanh chóng được hấp thu và phát huy tác dụng,không bị thức ăn trong dạ dày làm loãng

- Uống sau bữa ăn 15-30 phút:

Áp dụng cho các bệnh phía trên như tâm, phế, ngực và trên dạ dày Các loại thuốc gây kích thích đối với đườngtiêu hóa hoặc có độc tính khá cao cũng nên uống sau khi ăn để tránh hấp thu quá nhanh, gây trúng độc

- Uống vào sáng sớm khi đói:

Áp dụng cho các loại thuốc thang bồi bổ để thuốc được hấp thu đầy đủ Các thuốc dùng để diệt trùng, công hạ vàchữa bệnh mạch máu tứ chi cũng nên uống lúc đói, nhằm làm cho thuốc nhanh đến ruột, nồng độ thuốc không bịgiảm đi

- Uống trước khi ngủ 15-20 phút: Áp dụng cho các thuốc bổ tâm tỳ, an thần, ngủ ngon và chữa các bệnh ứ trệ,bệnh vùng ngực Uống xong nên nằm ngửa, nếu là thuốc trầm giáng thì nên nằm nghiêng

- Uống ấm: Các thuốc sắc ôn hòa và bổ dưỡng

- Uống nguội: Các thuốc sắc giải độc, phòng nôn, thanh nhiệt

- Uống nóng: Các thuốc sắc giải biểu (cho ra mồ hôi) nên uống nóng để toát được mồ hôi Các loại thuốc khử hàn,thông huyết mạch cũng nên uống nóng

Nông Nghiệp Việt Nam

25 Vị thuốc từ trứng gà ngâm giấm

Trứng gà ngâm giấm ăn trở thành vị thuốc, có tác dụng chữa một số bệnh như viêm loét dạ dày, viêm

da thần kinh, ngứa da trâu Cách làm cũng đơn giản.

Trứng gà là thức ăn và cũng là một vị thuốc quý Các thành phần dinh dưỡng như chất đạm (protein), chất béo,chất đường, chất khoáng và các sinh tố trong trứng gà được "pha trộn" với tỷ lệ cực kỳ hợp lý Về mặt trị liệu theoĐông y, trứng gà có vị ngọt, tính bình, có tác dụng tư âm nhuận táo, dưỡng huyết an thai, dùng để bổ dưỡng, chữa hokhan, khản tiếng, mắt đỏ họng đau, thai động không yên, sản hậu miệng khát, kiết lỵ, bỏng

Giấm là gia vị thông dụng và cũng được sử dụng như một vị thuốc trong Đông y từ hơn 2.000 năm trước TheoĐông y, giấm có vị chua, đắng, tính ấm Có tác dụng tiêu thực, tán ứ, giải độc, sát trùng, chỉ huyết (cầm máu) TrongĐông y, giấm có thể dùng riêng, có thể sử dụng để sao tẩm hoặc phối chế với các vị thuốc khác Trứng gà ngâm vớigiấm là một dạng phối chế như vậy, và có thể chữa được một số bệnh

Trang 19

Triệu chứng: Trên da nổi lên từng đám sần sùi, dày cộp, khô, đóng vảy cạy tróc vụn, giống như da trâu, kèm theongứa từng cơn, nên gọi là "ngưu bì tiên" (ngưu bì = da trâu, tiên = ngứa).

Hằng ngày dùng bông sạch chấm nước trứng ngâm giấm bôi vào những chỗ da bị bệnh 4-5 lần, mỗi lần bôi 1-2phút Cần chú ý bôi thuốc đều đặn không gián đoạn Nói chung, sau 1-2 ngày, là chỗ da bị bệnh đã bong vẩy, khôngcòn ngứa kịch liệt như trước hoặc hết ngứa hẳn

Đối với một số bệnh đường tiêu hóa, còn có thể sử dụng trứng theo một số cách khác:

- Chữa dạ dày viêm, đau: Có thể dùng trứng theo hai phương pháp sau:

(1) Trứng đốt rượu: Dùng 200 ml cồn hoặc rượu trắng cao độ đổ vào một cái bát hoặc dụng cụ chịu nhiệt, chomột quả trứng gà sống vào, châm lửa đốt cho cồn hoặc rượu cháy hết, sau đó bóc trứng ăn, sau khi đốt, thường trứngvẫn "lòng đào" (lòng đỏ còn hơi lỏng)

(2) Trứng trộn gừng rán: Gừng tươi 30 gam thái nhỏ, trứng gà 1 quả, đập ra, trộn đều với gừng, sau đó dùng 30

ml dầu thực vật rán chín; chia làm 3 phần ăn trong ngày

- Chữa viêm ruột cấp, kiết lỵ: Lấy 5-10 quả trứng gà (có thể dùng trứng vịt), dùng kim nhỏ đục một số lỗ nhỏ ởđầu quả trứng, rồi đem ngâm trong giấm 7-10 ngày Mỗi ngày lấy một quả trứng đã ngâm giấm luộc ăn

Theo Tri Thức Trẻ

26 Chuối tiêu chữa nhiều bệnh

Nếu như quả chuối tiêu xanh được dùng chữa bệnh tiêu chảy và kiết lỵ thì chuối tiêu chín lại có tác dụng nhuận tràng, chữa táo bón Chuối chín còn giúp làm dịu các thương tổn ở ruột, thúc đẩy chúng lên

da non.

Quả chuối tiêu chín rất tốt cho trẻ nhỏ, trẻ đang độ lớn, người dưỡng sức, người già, người lao động trí óc và

tay chân Chuối tốt cho hệ xương, sự sinh trưởng và cân bằng thần kinh Người suy nhược nên ăn chuối hằng ngày

Vỏ quả chuối tiêu chữa lỵ, đau bụng, thổ tả, ngày dùng 15-30 g sắc uống; hoặc sắc lấy nước rửa những chỗ mẩn

ngứa, lở loét Bột quả chuối tiêu xanh để phòng và chữa loét dạ dày Vỏ quả chuối xanh có tác dụng diệt nấm, nhựacủa quả chuối xanh chữa hắc lào

Lá chuối tiêu non còn ở trong thân đem giã nát, đắp làm thuốc cầm máu vết thương, làm dịu vết bỏng Củ và rễ

chuối tiêu giã lấy nước cốt hoặc dịch thân cây uống chữa sưng tấy, nhọt sưng đau, nóng quá phát cuồng, mê sảng, cogiật, kiết lỵ tiêu chảy

Sau đây là các bài thuốc có chuối tiêu:

Chữa trúng độc do ăn uống: Củ chuối tiêu thái miếng, cho đầy nồi, đổ ngập nước, lấy một bát cho uống để làm

nôn mửa

Chữa nhọt, sưng tấy, mụn nhọt: Củ hoặc rễ chuối tiêu giã nát đắp.

Chữa phế nhiệt, đàm suyễn: Rễ chuối tiêu 60 g, rau sam 30 g, giã nát, ép lấy nước, đun ấm, bỏ bã uống nước Chữa đái ra máu: Rễ chuối tiêu tươi 120 g, cỏ nhọ nồi 30 g, sắc nước uống.

Chữa sốt cao phát cuồng, mê sảng, co giật: Dùng một lóng trúc hoặc nứa vót nhọn đầu, chọc vào giữa thân

cây chuối tiêu cho nước chảy ra Hứng lấy một bát uống Có thể dùng củ và rễ, giã nát vắt lấy nước cốt uống

Chữa hắc lào: Rửa sạch chỗ hắc lào bằng nước nóng, gãi cho sượt da ra, lau khô Lấy một quả chuối xanh còn

non trên cây, bẻ hoặc cắt cho nhựa chảy ra, chấm bôi vào chỗ có nấm, làm 4-5 lần

Phòng và chữa viêm loét dạ dày: Thịt quả chuối tiêu xanh, phơi sấy khô ở nhiệt độ dưới 50 độ C, tán bột, ăn

hằng ngày với liều 20-30 g

Chữa phụ nữ ít sữa và người già táo bón: Hoa chuối tiêu thái nhỏ, luộc chín, trộn với muối vừng hoặc muối

lạc rang, ăn 2-3 bữa liền

Chữa táo bón: Chuối 2 quả, để cả vỏ, nấu chín ăn, dùng nhiều lần.

Chữa tăng huyết áp: Vỏ và cuống quả chuối tiêu 30-60 g, sắc uống, dùng nhiều lần.

K.Y (st)/Baobinhdinh

27 Ðiều trị viêm đại tràng mạn bằng thuốc nam

Viêm đại tràng mạn là bệnh rất hay gặp ở nước ta Bệnh xuất hiện sau nhiễm khuẩn, nhiễm ký sinh trùng ở ruột Bệnh diễn biến mạn tính, có từng đợt tiến triển.

Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm đại tràng mạn, bao gồm:

- Nhiễm khuẩn: các loại vi khuẩn gây hội chứng lỵ như shigella, samonella

- Nhiễm nguyên sinh động vật: amip, lamblia

- Nhiễm ký sinh trùng: các loại giun sống ký sinh ở đại tràng như giun đũa, giun kim, giun tóc và các loại sán ruột

- Chế độ ăn uống: ăn uống không điều độ kéo dài hoặc các thức ăn gây kích thích, tổn thương niêm mạc ruột

- Táo bón kéo dài

- Viêm đại tràng thứ phát sau các bệnh khác của hệ tiêu hóa

Trang 20

Triệu chứng

Biểu hiện rất đa dạng:

- Rối loạn tiêu hóa kéo dài: đi ngoài phân lúc táo, lúc lỏng Phân thường nát, không thành khuôn, đi từ 2-6 lầntrong ngày Bệnh nhân thường cảm thấy không thoải mái sau khi đi đại tiện, hay có cảm giác mót rặn muốn đi nữa

- Bụng trướng hơi: khu trú dọc khung đại tràng, bệnh nhân luôn cảm thấy căng tức, khó chịu

- Ðau bụng: là triệu chứng hay gặp Ðau âm ỉ ở phần dưới bụng hoặc đau dọc khung đại tràng Ðau tăng sau khi

ăn và trước khi đi đại tiện Sau khi trung tiện hoặc đại tiện thì đau giảm hơn

- Tình trạng toàn thân ít thay đổi Nếu có thay đổi chỉ gặp ở người luôn lo lắng về trình trạng bệnh tật của mìnhhoặc ăn uống quá kiêng khem

Bài 4: Rối loạn tiêu hóa, người mệt mỏi ăn kém: bố chính sâm 12g, bạch truật 12g, biển đậu 12g, ý dĩ sao 12g, vỏquýt 6g, hạt sen 12g Tất cả sao vàng, tán bột, ngày uống 30g, chia ba lần, hoặc sắc uống ngày một thang

Bài 5: Chữa táo bón, suy nhược cơ thể: lá dâu (đồ chín, phơi khô) 500g, vừng đen sao 250g, con tằm (đồ chín, sấykhô) 250g Tất cả tán bột, lấy kẹo mạch nha hoặc mật ong làm viên, sấy khô Ngày uống 20g, chia hai lần

Phòng bệnh

- Tìm nguyên nhân gây bệnh và điều trị kịp thời

- Giữ vệ sinh ăn uống, nên ăn điều độ và cân đối khẩu phần ăn

- Không ăn thức ăn ôi thiu và thức ăn bảo quản lạnh quá lâu

- Giữ tinh thần ổn định, không lo lắng quá nhiều đến bệnh

(Ngày 15/9/2004 - Báo SK&ĐS)

28 Chữa ngủ mê bằng đông y

Bản chất của giấc ngủ là một quá trình ức chế lan khắp vỏ não và lan xuống cả các phần ở dưới vỏ não Lúc thức,hoạt động của vỏ não do những điểm hưng phấn và ức chế xen kẽ nhau, hạn chế lẫn nhau, ức chế không khuyếch tánlan toả được, vì thế không ngủ

Khi ức chế chiếm ưu thế, nó sẽ phá tán sự hạn chế của hưng phấn, khuyếch tán khắp vỏ não, lan xuống phần dưới

vỏ não và tạo được giấc ngủ

Giấc ngủ được sử dụng như một phương pháp điều trị một số bệnh Giấc ngủ đối với người ốm là một trong nhữngbiện pháp tốt cho việc hồi phục sức khoẻ Kéo dài giấc ngủ sinh lý của bệnh nhân là một trong những việc cần làmtrong bệnh viện

Ngủ mê, nói sảng là bệnh lý có hại cho sức khoẻ, bạn cần đến khám ở chuyên khoa thần kinh để tìm nguyên nhân

và được chữa trị

Theo y học cổ truyền, “tâm tàng thần, chủ thần chí” cho nên hiện tượng ngủ mê, nói sảng có quan hệ đến tạngtâm, thuộc phạm trù chính xung do rối loạn nhịp tim hoặc do tâm thận bất giao (thuỷ hoả vị tế)

Có thể dùng các bài thuốc dưới đây chữa chứng mê ngủ.

Bài 1: Nhân sâm 4g, đương quy 16g, bạch thược 16g, ngũ vị tử 4g, táo nhân 20g, mạch môn 20g, bạch truật 16g,

bồi mẫu 6g, liên tâm 8g, lạc tiên 20g

Bài 2: Thục địa 20g, sơn thù 12g, nhân sâm 6g, đương quy 16g, táo nhân 12g, bạch giới tử 12g, mạch môn 16g,

nhục quế 2g, hoàng liên 8g

Cho 750ml nước (3 bát) vào thang thuốc, đun kỹ lấy 250ml nước thuốc (1 bát) Sắc tiếp lần 2 như lần 1 Trộn 2bát thuốc vào nhau uống 3-4 lần trong ngày Mỗi ngày uống một thang Các vị thuốc trên có thể mua ở các hàng thuốcđông dược

Theo BS Hoài Hương/Tiền Phong

Trang 21

29 Cách phân biệt mật ong giả và thật

Lấy một tờ giấy trắng sạch và bôi mật ong lên đó Mật tốt sẽ thấm rất chậm, còn loại giả thì chỉ vừa phết lên là thấm ướt ngay.

Mật ong giả là loại mật đã bị hoà lẫn với nước đường, muối ăn, đạm hoá học, tinh bột, đường mạch nha Mùithơm của nó nhạt, có thể có mùi lạ, khi nuốt thấy có cảm giác hơi vướng cổ Còn mật ong nguyên chất thì khi nhấm có

vị ngọt đậm, mùi thơm đậm, ngọt nhưng không ngấy

Mật ong nguyên chất thì khi khuấy thấy rất mềm, thò ngón tay vào không thấy cảm giác sạn, bỏ vào miệng nếmthì thấy tan rất nhanh Còn mật ong “chế biến” thì khi quấy có cảm giác cứng, khó tan

Mật ong thật đặc quánh, độ kết dính cao, thơm, có các màu trắng, vàng nhạt hay hồng nhạt, trông rất trong Tuy nhiên, rất khó phân biệt mật ong giả và thật bằng mắt thường Sau đây là vài cách thử:

Dùng chiếc đũa tre sạch khêu một ít mật ong rồi kéo thành sợi Sợi kéo dài sẽ đứt; nếu sau đó mật co lại thànhcục tròn thì đó là loại tốt

Dùng một que tre sạch khuấy đều lên, nếu trong mật ong có trộn lẫn các chất khác thì bạn sẽ thấy màu đục hiệnlên, còn mật ong chính hiệu thì không có hiện tượng ấy

Dùng một sợi thép hơ nóng đỏ lên chọc vào mật ong, nếu thấy sủi bọt phả hơi lên thì đó là mật ong giả, người ta

30 Chữa hôi nách bằng các bài thuốc cung đình

Cung cấm Trung Hoa xưa có nhiều bài thuốc bí truyền chống lại mùi khó chịu ở vùng dưới cánh tay, bảo tồn sự quyến rũ cho cung tần mỹ nữ Các vị thuốc thường được dùng là băng phiến, hoắc hương

Nhiều sách Đông y viết, để chữa hôi nách, nếu dùng phèn chua, xạ hương thoa ngoài thì có thể thuyên giảm mộtthời gian, sau đó lại có mùi như trước Để chữa tận gốc, cần tán hết tà khí ở can Nên kiêng các thức cay nóng và kíchthích

Sau đây là một số bài thuốc vốn được dùng trong cung cấm Trung Hoa nhờ tác dụng khá lâu dài:

Bài thuốc của Đào Ẩn Cư

Thanh mộc hương (mật hương), hoắc hương, kê thiệt hương (mẫu đinh hương), hồ phấn (diên phấn) mỗi thứ 30

g Nghiền nhỏ mịn các dược liệu Lấy vải bọc thuốc lại, hằng ngày để vào trong hố nách Khi nào thấy thuốc hết mùithì thay (thường khoảng 10-15 ngày)

Bài “thiên kim phương”

Tân di, xuyên khung, tế tân, đỗ hành, cảo bản mỗi thứ 4 g, ngâm vào giấm gạo thuần chất trong một đêm cho nở

Đổ nước sắc lấy nước đặc, cất vào lọ đậy nắp để dùng dần Trước lúc đi ngủ, lấy nước thuốc xoa vào da vùng hố nách,xoa hằng ngày cho đến khi khỏi

Ở Việt Nam có 3 loại gấu: gấu lợn có miệng giống miệng lợn; gấu chó thân hình nhỏ, tai ngắn, ngực có khoangchữ V màu ngà; gấu ngựa lớn hơn gấu chó, có khoang chữ V trắng Theo y học cổ truyền, mật gấu ngựa là tốt nhất,tiếp đến là mật gấu lợn, gấu chó

Có rất nhiều cách thử để nhận biết mật gấu thật hay giả Thứ nhất, bạn hãy quan sát túi mật, khi cắt ra giữa đám

đen có hạt lổn nhổn màu vàng óng đặc trưng Nếm thấy vị đắng, sau có cảm giác mát, ngọt, dính lưỡi Nếu ngậm lâu

sẽ tan hết Nếu là mật giả sẽ không dính lưỡi, không mát, không bóng, có mùi tanh khó ngửi

Cách thử thứ 2 là dùng lửa đốt, mật gấu thật sẽ không cháy.

Cách thứ 3 là lấy 1 hạt trong túi mật thả vào cốc nước trong, sẽ thấy các sợi vàng thõng xuống đáy cốc, có khi

hạt mật còn quay tròn

Trang 22

Cũng có thể nhỏ 1 giọt mật vào máu, máu sẽ tan và không đông Hoặc hòa mật gấu trong nước cất, cho thêm một

ít đường kính, sau đó nhỏ 1-2 giọt axit sunfuric, bạn sẽ được một dung dịch màu đỏ rất đặc trưng nếu là mật thật.Mật gấu vị đắng hơi ngọt, tính lạnh, có tác dụng: phá ứ hồi sinh (trong trường hợp ngã bất tỉnh); chữa đau nhức

do huyết ứ, chữa co giật, vàng da Liều dùng từ 0,5 g đến 2 g, hòa nước uống hoặc cho vào cháo để ăn Y học cổtruyền thường dùng mật gấu để xoa bóp và làm thuốc chữa đau mắt

Mật gấu dễ bị sâu, mốc nên khi bảo quản nên tránh ẩm, nóng, cất trong hộp kín có chất hút ẩm

TS Dương Trọng Hiếu, Sức Khỏe & Đời Sống

32 Bưởi - loại quả nhiều lợi ích

Trẻ đau trướng bụng hoặc tiêu chảy do ăn không tiêu có thể chữa bằng cách: Lấy vỏ bưởi rửa sạch, cạo bỏ lớp ngoài, cắt thành từng khúc, nấu với nước sôi một lát rồi vắt nước, ngâm trong đường 1 tuần Lấy nước mứt nuốt dần, dùng liền 5 ngày.

Nước bưởi chứa nhiều chất bổ dưỡng như các loại đường trái cây, đạm, béo, acid tannic, beta-caroten và các chấtkhoáng như phospho, sắt, canxi, kali, magiê, các vitamin B1, B2, C

Đông y cho rằng mỗi bộ phận của quả bưởi đều có tác dụng riêng Cơm bưởi vị ngọt, chua, tính mát, không độc,

có tác dụng kiện tỳ, trị ho, giải rượu Vỏ ngoài chứa tinh dầu (vỏ trong thường dùng làm mứt), vị cay, đắng, ngọt, tính

ấm, có tác dụng trị ho, giảm đau Hạt bưởi vị đắng, tính ấm, chứa chất béo, có tác dụng trị đau thoát vị bẹn, sa đì Lábưởi vị đắng, the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, tán khí, thông kinh lạc, giải cảm, trừ đờm, tiêu thực, hoạthuyết, tiêu sưng, tiêu viêm

Theo y học hiện đại, nước bưởi có thành phần tựa như insulin, giúp hạ đường huyết, có tác dụng hỗ trợ đối vớibệnh nhân tiểu đường, cao huyết áp Vỏ chứa tinh dầu giúp kháng viêm, làm giãn mạch Kiểm chứng thực tế cho thấy

ăn bưởi đều đặn sẽ giúp giảm cân và phòng chống được tiểu đường

Vỏ ngoài của bưởi chứa nhiều tinh dầu, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và trị cảm cúm, thường được dùng trong liệupháp nấu nồi xông giải cảm Ngồi ra, vỏ bưởi còn chứa nhiều flavonoid như naringosid, hesperidin, diosmin, diosmetin,hesperitin có tác dụng bảo vệ thành mao mạch, giảm tính thấm, giúp cho mao mạch đàn hồi và bền vững hơn, từ đóngăn ngừa tai biến do vỡ các mao mạch, gián tiếp giúp hạ huyết áp Một số người còn dùng vỏ ngoài quả bưởi xoatrên da đầu để kích thích lỗ chân lông phòng trị bệnh hói hay rụng tóc

Một số bài thuốc có bưởi

1 Chữa ho nhiều, đàm khí nghịch

- Cơm bưởi 100 g, rượu gạo 15 ml, mật ong 30 ml, chưng cách thủy cho chín nhừ, mỗi ngày ăn 1 lần

- Cơm bưởi cắt nhuyễn cho vào bình, ngâm rượu, đậy kín 1 đêm, nấu nhừ, dùng mật ong trộn đều, ngậm nuốtthường xuyên

2 Rối loạn tiêu hóa, thai phụ miệng nhạt, nước dãi trào ngược

- Cơm bưởi 60 g, ăn hết một lần, mỗi ngày ăn 3 lần

- Nước bưởi, mỗi lần dùng 50 g, ngày 3 lần, dùng liền 5 ngày

- Bưởi 5-8 quả ép lấy nước, dùng lửa nấu đặc, thêm 500 g mật ong, 100 g đường phèn, 10 ml nước gừng tươi,cùng nấu thành dạng cao, để nguội, đựng trong lọ Mỗi lần dùng 15 ml, ngày 2 lần, dùng liền 5 ngày

3 Hôi miệng, giải rượu

- Cơm bưởi 100 g, nhai nuốt dần dần

- Bưởi 1 quả lấy nước, vỏ quít 10 g, gùng tươi 6 g, thêm đường đen lượng vừa nấu chung, mỗi ngày dùng 1 liều,dùng liền trong 5 ngày

4 Say tàu xe hay rối loạn tiêu hóa, miệng nhạt buồn nôn do cảm

Mứt bưởi 30-60 g, nhai nuốt dần

5 Đau khớp hay té ngã sưng đau

Vỏ bưởi tươi 250 g, gừng tươi 30 g, cùng băm nhuyễn, đắp tại chỗ, mỗi ngày thay 1 lần

6 Dị ứng da hay mẩn ngứa không rõ nguyên nhân

Bưởi da xanh 1 quả, cắt bổ nguyên quả, nấu nước thoa rửa tại chỗ, mỗi ngày làm 3 lần, đồng thời có thể ăn bưởi

60 g, mỗi ngày 3 lần

7 Thoát vị bẹn, sa đì

Hạt bưởi 15 g, băm nhuyễn nấu nước uống, ngày uống 1 lần vào sáng và chiều

8 Bong gân, sưng khớp do lạnh, chấn thương

Lá bưởi không kể liều lượng, nướng chín để nắn, xoa bóp hay nấu nước xông và ngâm tại chỗ

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Trang 23

33 Tự chữa một số bệnh về tiểu tiện

Nếu bị tiểu tiện khó khăn hoặc không tiểu được sau phẫu thuật, có thể lấy tỏi tươi bóc hết vỏ, giã nát, vắt lấy nước, nhỏ vào đầu đường niệu Sau 3-5 phút, tình trạng trên sẽ bị giải trừ Nếu nhỏ một lần chưa

có hiệu quả tốt thì nhỏ lần thứ 2, chắc chắn sẽ có kết quả mong muốn.

Sau đây là một số phương pháp đơn giản khác chữa các biểu hiện khác thường về tiết niệu:

- Sỏi đường niệu: Rễ và lá cây ngô tươi mỗi thứ 60 g, nấu lấy nước uống trong nhiều ngày, sỏi sẽ mòn dần.Hoặc: Râu ngô và kim tiền thảo mỗi thứ 30 g, nấu lấy nước uống thường xuyên

- Nước tiểu ngắn và đỏ: Khế tươi 2-3 quả giã nát, hòa với một cốc nước sôi để nguội, trộn đều, chia 2-3 lần uốngtrong ngày

- Thủy thũng do viêm thận: Ăn hành tây Chất Meletin trong củ hành tây có tác dụng lợi niệu rất rõ rệt

- Bí tiểu hoặc đau rát đường niệu khi tiểu: Lấy vỏ hạt đậu xanh nấu lên uống

Hoặc: Lấy 500 g giã đỗ ép lấy nước, hòa thêm nước đường trắng vào uống, có thể lợi tiểu và hết đau rát

- Tiểu tiện ra máu: Lấy nửa chén vỏ lụa của hạt lạc rang, nghiền thành bột, pha với nước sôi, uống thay trà

- Di niệu ở trẻ nhỏ: Mỗi buổi sáng sớm, khi ngủ dậy, ăn một bát cháo kê (cho đường vừa phải hoặc chút muối) Ănliên tục trong 1 tháng sẽ khỏi

- Tiểu tiện ra máu: Lá cây cà (loại cà pháo, cà bát, cà tím) để qua năm, rang khô, nghiền thành bột, hòa với chútrượu hoặc chút nước muối loãng để uống, mỗi lần 10 g, ngày 2 lần

- Tiểu tiện quá nhiều lần trong ngày: Dùng một trong các món ăn bài thuốc sau:

+ Tiểu hồi hương rang khô với chút muối, nghiền thành bột, ăn với bánh dày hoặc xôi nếp thường xuyên cho đếnkhi khỏi bệnh

+ Thịt rùa đen lượng vừa phải, nấu với thịt thỏ thành món ăn trong ngày Ăn mấy ngày liền sẽ khỏi bệnh

+ Lấy ruột 1 con gà trống làm sạch, đem xào lên thành món ăn

+ Nấu xôi đậu đen ăn với gan lợn mấy ngày liền

+ Phổi dê và thịt dê nấu cùng nhau, ăn với chút muối, gia vị hoặc nước mắm, tương

BS Nông Thúy Ngọc, Nông Nghiệp Việt Nam

34 Chữa lông mày rụng theo y học cổ truyền

Gừng sống 1 miếng rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước, cho một ít sữa ong chúa vào khuấy đều Mỗi tối trước khi đi ngủ, dùng bút lông chấm vào nước thuốc rồi kẻ vào chỗ lông mày rụng, sáng dậy rửa mặt như thường Thuốc có công dụng làm da mềm mại và ấm, giúp lông mày mọc nhiều.

Sau đây là vài bài thuốc khác:

- Khi lông mày ngứa và rụng (do gãi nhiều) chỉ còn rất thưa thớt, hãy lấy lá liễu rủ (thùy dương), gừng sống mỗithứ một ít đem rửa sạch Lá liễu hong khô, nghiền vụn; gừng sống vắt lấy nước Cho 2 thứ vào trong một dụng cụsạch bằng sắt, điều chế thành thuốc dạng hồ Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, chấm que bông vào thuốc đó, bôi lên lôngmày, đồng thời lấy tay xoa miết cho phát nóng lên Mỗi ngày làm một lần, phải kiên trì trong một thời gian dài

- Gừng sống 1 miếng, hạt cải 9 g, sinh bán hạ 3 g Gừng rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước; hạt cải và sinh bán hạrang khô giòn, nghiền thành bột, hòa với nước gừng Lấy bút lông sạch chấm vào thuốc, kẻ lên chỗ lông mày bị rụngngày 3 lần Thuốc có công hiệu nhuận da thịt, giúp mọc lông mày

- Gừng sống và liên tử thảo mỗi thứ một ít, rửa sạch, để ráo nước, giã nhỏ, vắt lấy nước cốt Lấy que bông nhúngvào nước đó bôi lên chỗ lông mày rụng, đồng thời lấy tay xoa để cho thuốc ngấm vào da, ngày làm 2-3 lần

BS Nông Thúy Ngọc, Nông Nghiệp Việt Nam

35 Chữa ho bằng hoa đu đủ đực

Để chữa ho, nhất là ho trẻ em, có thể lấy hoa đu đủ đực (chọn hoa mới nở) 10-20 g trộn với đường trắng hoặc mật ong, hấp cơm trong 15-20 phút; sau đó lấy ra, nghiền nát; uống làm 2-3 lần trong ngày với nước đun sôi để nguội.

Có thể kết hợp hoa đu đủ đực với các vị thuốc khác để chữa ho trong các trường hợp sau:

Trang 24

- Ho gà:

Hoa đu đủ đực 20 g (sao vàng), vỏ quýt lâu năm 20 g, vỏ rễ dâu 20 g (tẩm mật sao lên), củ bách bộ 12 g (phơikhô), phèn phi 12 g Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 3 lần Trẻ em 1-5 tuổi mỗi lần uống 1-4 g; trẻ 6-10 tuổimỗi lần uống 5-8 g

Hoặc: Hoa đu đủ đực, nghệ vàng mỗi thứ 15 g; trần bì 20 g (tẩm nước gừng sao lên), vỏ rễ dâu (tẩm mật rồi sao),

vỏ cây khế (sao vàng), chua me đất hoa vàng, cam thảo đất, lá chanh non mỗi thứ 30 g; rau má, lá lốt mỗi thứ 40 g.Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày Dùng trong 5-7 ngày

DS Đỗ Huy Bích, Sức Khỏe & Đời Sống

36 Dược thảo chữa suy dinh dưỡng trẻ em

Y học cổ truyền gọi suy dinh dưỡng ở trẻ em là chứng cam Bệnh này luôn liên quan đến sự tích trệ thức ăn nên được gọi là cam tích Đông y có rất nhiều vị thuốc đạt kết quả tốt trong điều trị bệnh này

Trong y học cổ truyền, suy dinh dưỡng độ 1 được chữa như tiêu chảy; độ 2 (tiêu chảy suy dinh dưỡng) gọi là tỳ

hư, gây chứng cam; độ 3 gọi là can cam (cam thể khô) Các dược thảo chữa cam gồm:

Bạch thược: Có tác dụng kháng khuẩn, ức chế co thắt cơ trơn, giảm đau; được dùng chữa đau bụng, tiêu chảy do

co bóp quá mạnh, ra mồ hôi trộm, tiểu tiện khó Ngày dùng 6-12 g bạch thược sống, dạng thuốc sắc

Bạch truật: Có tác dụng chống viêm, chống loét các cơ quan đường tiêu hóa, chống suy giảm chức năng gan, tăngtiết mật, lợi tiểu Là vị thuốc bổ dùng điều trị bụng trướng đầy, ăn chậm tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, phân sống, viêmruột mạn tính Ngày dùng 6-12 g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột

Cà rốt: Ngoài công dụng làm thức ăn, cà rốt được dùng cho người gầy còm, thiếu máu, ăn uống chậm tiêu, chữa

lỵ mạn tính, trẻ em tiêu chảy, chậm lớn hay răng mọc chậm Ngày dùng 20-50 g Cà rốt còn được dùng làm nguyênliệu chế thành caroten

Chỉ thực: Chữa ăn uống không tiêu, đầy hơi, tích trệ, tiểu tiện khó Ngày dùng 6-12 g dưới dạng thuốc sắc Đẳng sâm: Có tác dụng bổ toàn thân, kích thích miễn dịch, tăng hồng cầu Được dùng chữa tỳ vị hay kém ăn, tiêuchảy, cơ thể suy nhược

Đậu ván trắng (bạch biển đậu): Quả non đậu ván trắng là món ăn giàu chất bổ, quả già cho hạt làm thuốc dùngbồi bổ cơ thể, chữa tỳ vị hư nhược, chán ăn, tiêu chảy lâu ngừng, đau bụng, nôn mửa, đầy bụng khó tiêu, trẻ em camtích Ngày dùng 6-12 g, sắc uống

Hạt sen (liên nhục): Có tác dụng bổ tỳ, dùng điều trị tỳ hư, tiêu chảy mạn tính, kém ăn, cơ thể suy nhược Ngàydùng 12-30 g, dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán

Hoài sơn: Là một vị thuốc bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ăn uống kém tiêu, viêm ruột mạn tính, tiêu chảy kéo dài Ngàyuống 12-24 g dạng thuốc sắc, thuốc bột

Mạch nha: Chứa các chất men có tác dụng giúp tiêu hóa thức ăn có tinh bột, làm ăn ngon, trị sôi bụng

Nga truật (nghệ đen): Có tác dụng tăng tiết mật, kích thích tiêu hóa, dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi.Ngày dùng 3-6 g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột

Phục linh: Có tác dụng chống nôn, trị tiêu chảy kéo dài, tăng cường miễn dịch, bảo vệ gan Được dùng làm thuốc

bổ, chữa tỳ hư, kém ăn, bụng đầy trướng, tiêu chảy Ngày dùng 5-10 g dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột

Sa nhân: Sa nhân và tinh dầu sa nhân có tác dụng kháng khuẩn, kích thích và giúp tiêu hóa, chữa ăn không tiêu,đau bụng lạnh, tiêu chảy Ngày dùng 3-6 g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán

Trần bì: Chữa ăn không tiêu, đau bụng, nôn mửa Ngày dùng 4-12 g dạng thuốc sắc hay thuốc bột

Ý dĩ: Do có lượng protid, chất béo và lượng tinh bột khá cao nên ý dĩ được coi là có tác dụng bổ, dùng chữa rốiloạn tiêu hóa, đau bụng, tiêu chảy, làm thuốc bồi dưỡng cơ thể, nhất là đối với trẻ em Ý dĩ hầm với hạt sen và thịt nạc

là một loại thức ăn, thuốc điều trị người gầy yếu, trẻ em suy dinh dưỡng Ngày dùng 8-30 g, dạng thuốc sắc

Điều trị suy dinh dưỡng do tiêu chảy

Bệnh do tỳ hư, còn gọi là tỳ cam, tương ứng với suy dinh dưỡng độ 2 Triệu chứng: Mặt vàng, người gầy, miệngkhô, khát nước, sôi bụng, tiêu chảy Có trường hợp do tân dịch giảm gây táo bón, bụng to, gân xanh nổi lên, nước tiểuđục trắng, rêu lưỡi trắng Phương pháp chữa chính là bổ khí, bổ tỳ vị

- Hoài sơn 12 g, bạch truật, sinh địa mỗi vị 6 g; cam thảo nam, thạch môn mỗi vị 4 g; sa nhân 2 g Sắc uống ngàymột thang

- Hoài sơn, đậu ván trắng mỗi vị 8 g, bạch truật 6 g, chỉ thực, trần bì, kê nội kim mỗi vị 4 g Sắc uống ngày mộtthang Nếu do tích trệ thức ăn, bụng trướng, thêm đại phúc bì, sơn tra, thần khúc mỗi vị 4 g Nếu do nhiễm giun gâytích trệ, đau bụng, thêm sử quân tử 4 g

- Hoàng liên, thần khúc, mạch nha mỗi vị 6 g; bạch truật, trần bì, cam thảo, nga truật, thanh bì, sử quân tử,hoàng liên mỗi vị 4 g; binh lang, tam lăng mỗi vị 2 g, lô hội 0,2 g Sắc uống ngày một thang

- Hoài sơn, ý dĩ, mạch nha mỗi vị 100 g; đẳng sâm, bạch truật mỗi vị 50 g; hạt cau, vỏ quýt mỗi vị 25 g Tất cảsao vàng, tán thành bột mịn, trộn đều, mỗi ngày uống 16-20 g bột

- Chữa suy dinh dưỡng, tiêu chảy do nhiễm giun: Sơn dược, đậu ván trắng, sử quân tử, thần khúc mỗi vị 80 g;hoàng liên, sơn tra, bạch đậu khấu mỗi vị 40 g; binh lang 20 g, ngân sài hồ, mạch nha mỗi vị 6 g; lô hội 5 g Tán nhỏlàm viên, ngày uống 4-8 g

Trang 25

Điều trị suy dinh dưỡng thể khô

Bệnh do khí huyết hư, can thận hư, gọi là can cam, tương ứng với suy dinh dưỡng độ 3 Triệu chứng: Người gầy,

da khô, bộ mặt già, tinh thần mệt mỏi, kém ăn, tiếng khóc nhỏ, rêu lưỡi mỏng khô, lông, tóc khô Ngoài ra còn có cáctriệu chứng khác như khô loét giác mạc, loét miệng, tử ban (lắng đọng sắc tố), phù thũng… Phương pháp chữa là bổkhí huyết, bổ can, thận tỳ vị

- Thục địa 12 g; hà thủ ô, kê huyết đằng, ý dĩ, đậu đen, hạt sen mỗi vị 8 g; bạch truật, ngũ gia bì, kê nội kim mỗi

vị 6 g Sắc uống ngày một thang

- Hoài sơn (sao) 60 g; phục linh, đậu ván trắng, sơn tra, mạch nha, thần khúc, đơn quy mỗi vị 45 g; bạch truật(sao), trần bì, sử tử quân, mỗi vị 30 g; hoàng liên, cam thảo mỗi vị 20 g Tán bột, rây mịn, trộn với mật ong hoànthành viên bằng hạt đậu xanh Mỗi lần uống 3 g, ngày uống 2-3 lần

- Đẳng sâm, bạch truật, thục địa, xuyên khung, đơn quy, bạch thược mỗi vị 8 g; phục linh 6 g; cam thảo 4 g Sắcuống ngày một thang Nếu loét khô giác mạc, thêm kỷ tử, cúc hoa mỗi vị 8 g Nếu loét miệng, thêm ngọc trúc, thăng

ma mỗi vị 6 g; hoàng liên 4 g Nếu tử ban (lắng đọng sắc tố) thêm hoàng kỳ, a giao Nếu có sốt mà xuất huyết, thêmsinh địa, rễ cỏ tranh mỗi vị 12 g; đan bì 6 g Nếu có phù dinh dưỡng, thêm phục linh 12 g, quế chi 2 g

Theo VTV

37 Những món ăn “không đội trời chung” với nhau

Một số loại thực phẩm khi nấu chung, hoặc đưa vào cơ thể cùng một lúc có thể tương tác nhau gây tình trạng khó tiêu hóa, ngộ độc hoặc nhiễm độc lâu dài cho cơ thể

Trong chế biến món ăn, cũng như món ăn bài thuốc trị bệnh, nên lưu ý tránh những thức ăn “kị” nhau Dưới đây

là một số lời khuyên của thầy thuốc Đông y, được đúc kết từ lâu đời:

+ Thịt heo không nên ăn với ốc bươu, cam thảo

+ Thịt bò, thịt trâu không nên ăn chung với lươn và hẹ

+ Gan dê không nên ăn với măng tre

+ Măng tre không dùng chung với mạch nha

+ Thịt chó không nên ăn với tỏi (vì sẽ gây khó tiêu)

+ Củ tỏi không nên ăn chung với cá trắm (vì sẽ dễ làm cho bụng chướng đầy, hay sinh ra sán)

+ Cua không nên dùng với cam, quít (vì dễ gây buồn nôn)

+ Thịt gà, trứng gà không nên ăn với quả lí

+ Quả lí không nên nấu chung với cá trắm đen

+ Cua không nên ăn với mật ong, kem, sẽ làm ứ trệ ở dạ dày

+ Cua không nên ăn với bí đỏ

+ Bí đỏ không nấu với tôm

+ Thịt dê không nên ăn chung với bí ngô, hoặc không nên dùng nồi đồng để nấu

+ Kị việc dùng cành củi cây dâu tằm để nấu thịt lươn

+ Lươn kị nấu với táo đỏ

+ Thịt lươn trắng kị ăn với giấm

+ Cua không nấu với quả cà dái dê

+ Bắp kị nấu với ốc

+ Ốc không nấu với mì để ăn

+ Cơm mà đậy không kĩ, để thằn lằn đái vào thì ăn sẽ bị ngộ độc

Tùy theo mỗi người, mà những món ăn “kị” nhau sẽ gây nên những chứng như: khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy.Thận yếu thì phát theo chứng của thận, dạ dày yếu thì phát chứng dạ dày

Theo Thanh Niên Online

38 Móng giò lợn trong phòng chữa bệnh

Theo dinh dưỡng học cổ truyền, móng giò lợn ngọt mặn, tính bình; có công dụng bổ huyết, thông sữa, thường được dùng chữa các chứng bệnh như sản phụ khí huyết suy nhược, thiếu sữa hoặc mất sữa, ung thũng, nhọt độc

Sách Tùy tức cư ẩm thực phổ cho rằng móng giò có khả năng tăng thận tinh nên làm khỏe lưng và chân, bổ vịdịch nên làm sáng da, mạnh cơ nên chữa được bệnh trĩ, trợ huyết mạch nên làm tăng lượng sữa, so với thịt còn bổhơn nhiều

Theo dinh dưỡng học hiện đại, móng giò lợn khá giàu chất dinh dưỡng, ngoài đạm và chất béo còn có nhiều canxi,phốt pho, sắt, magiê, mangan, kẽm, các vitamin B, A Ngoài ra, móng giò còn có systine, myoglobin và là nguồn cungcấp collagen rất tốt Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng: người già và người gầy yếu nếu thường xuyên

ăn móng giò sẽ cải thiện được chức năng tích nước kém của các tế bào mô, thúc đẩy quá trình tạo hemoglobin vàhồng cầu

Để phát huy hiệu quả bổ dưỡng và chữa bệnh của loại thực phẩm này, người xưa thường sử dụng móng giò trongcác món ăn - bài thuốc:

Trang 26

Sản phụ thiếu máu, thiếu sữa:

Móng giò 2 cái (chừng 600 g), đương quy 30 g, nước sạch 1.000 ml Móng giò làm sạch, chặt miếng, chần quanước sôi rồi đem hầm kỹ với đương quy, khi nhừ chế đủ gia vị, ăn nóng

Móng giò 2 cái, đậu tương 100 g, nước sạch 1.500 ml, hành 50 g, gừng tươi 10 g và gia vị vừa đủ Móng giò làmsạch, chặt miếng, chần qua nước sôi; đậu tương đãi sạch Hai thứ cho vào nồi hầm kỹ, khi nhừ chế đủ gia vị, chia ănvài lần trong ngày

Móng giò 2 cái, lạc nhân 200 g, gừng 10 g, hành 50 g, muối 5 g, rượu trắng 2 thìa canh, nước sạch 1.500 ml.Móng giò làm sạch, chặt miếng, cho vào nồi hầm thật nhừ cùng với lạc nhân, khi được chế đủ gia vị, chia ăn vài lầntrong ngày

Móng giò 2 cái, hoàng kỳ 18 g, đương quy 10 g, xuyên sơn giáp 8 g, thông thảo 6 g Sắc kỹ hoàng kỳ, đương quy,xuyên sơn giáp và thông thảo lấy nước bỏ bã rồi cho móng giò vào hầm thật nhừ, chế đủ gia vị, ăn nóng Dùng thíchhợp cho phụ nữ sau khi sinh con thiếu sữa, sữa loãng, thiếu máu, da khô, chán ăn, đại tiện lỏng nát

Chống nếp nhăn:

Móng giò 2 cái, lạc nhân 100 g, đại táo 10 quả, nước sạch 1.000 ml Ngâm đại táo và lạc nhân trong nước chừngnửa giờ rồi vớt ra; chân giò làm sạch, chặt miếng Tất cả cho vào nồi hầm thật nhừ, khi được chế đủ gia vị, chia ăn vàilần trong ngày Công dụng: Bổ khí ích huyết, hoạt huyết, phòng chống nếp nhăn trên da mặt

An thần, chữa động kinh:

Móng giò 2 cái, tim lợn 1 quả, địa du tươi 30 g Móng giò làm sạch, chặt miếng, chần qua nước sôi; tim lợn rửasạch, thái miếng Tất cả đem hầm thật nhừ trong lửa nhỏ, khi được chế đủ gia vị, ăn nóng Công dụng: Bổ khí, dưỡnghuyết, an thần, thường dùng để chữa bệnh động kinh

Chữa lở loét:

Lấy một bộ móng lợn, thêm hành tươi nấu kỹ, vớt bỏ bọt, cho thêm một chút muối rồi lấy nước đó rửa các vếtthương bị nhiễm khuẩn, lở loét, sưng đau

ThS Hoàng Khánh ToànTheo Sức Khỏe & Đời Sống

39 Dược thảo trị chấn thương và vết thương phần mềm

Nõn chuối tiêu, lá trầu không, bèo cái, lá sắn dây, nõn dứa là những vị thuốc quen thuộc, dễ kiếm nhưng lại chữa rất hiệu quả các vết thương phần mềm và chấn thương

Cũng như y học hiện đại, cách chữa các vết thương phần mềm của y học cổ truyền cũng là cầm máu, rửa sạch vếtthương, làm mất các mô hoại tử, làm mọc mô hạt, liền vết thương Đặc điểm của cách chữa cổ truyền là áp dụng đồngthời các phương thuốc uống có tác dụng toàn thân để thúc đẩy liền vết thương và làm mất các mô hoại tử, kích thíchmọc mô hạt, làm liền da (sinh cơ) Kết quả điều trị tốt và tương đối nhanh

Các bài thuốc uống có tác dụng toàn thân:

Chống khát do mất máu: Lá sắn dây rửa sạch, giã nát cho vào một bát nước đun sôi để nguội, thêm ít đường vàvài hạt muối, uống ngày một lần

Làm mát máu tiêu độc, chống viêm nhiễm: Lá mặt quỷ (sao vàng) 40 g, nõn dứa dại 12 g, cánh bèo cái 8 g, gừngsao cháy 4 g Sắc uống ngày một thang

Chữa nhiễm khuẩn quanh vết thương: Lá cúc tần 40 g, lá xạ can 20 g Rửa sạch, giã n hỏ, đắp lên chỗ lở loétquanh vết thương

Chữa đụng dập, bầm máu, sưng tấy đau

Rượu xoa bóp làm khí huyết lưu thông, tiêu viêm, giảm đau, giãn gân cơ: Ô đầu, huyết giác mỗi vị 40 g, nghệ già

30 g; thiên niên kiện, địa liền mỗi vị 20 g; long não 15 g; đại hồi, quế chi mỗi vị 12 g Tán nhỏ các vị thuốc, ngâm vớimột lít rượu trong một tuần Lọc bỏ bã, thêm rượu cho vừa đủ một lít Xoa nhẹ nhàng lên chỗ bị sưng đau

Trang 27

Thuốc bôi đắp làm khí huyết lưu thông, tiêu viêm, giảm đau: Bột cúc tần 800 g, bột quế chi 160 g, bột đại hoàng

80 g, sáp ong 200 g, dầu thầu dầu 2 lít Các vị trên tán nhỏ, rây thành bột mịn, đun sôi dầu thầu dầu, cho sáp ongvào, đánh tan, rồi tắt lửa, cho bột thuốc vào đánh nhuyễn làm thành cao Dùng đắp

Hoặc: Ngưu tất, hồng hoa, ô đầu, bán hạ, bạch phụ tử, địa liền, thương truật, đậu khấu, mỗi vị 15 g, sáp ong 20g,dầu thầu dầu 20 0ml Tất cả các vị sao, tán thành bột, cho vào dầu thầu dầu và sáp ong nấu thành cao Dùng vừa xoavừa đắp

Thuốc uống trong làm khí huyết lưu thông, tiêu viêm: Lá móng tay, ngải cứu, huyết giác mỗi vị 12 g; tô mộc 10 g;nghệ 8 g Sắc uống ngày một thang

Chữa sai khớp và bong gân

Các khớp sau khi đã chỉnh hình theo phương pháp y học hiện đại, được đắp tại chỗ các vị thuốc làm lưu thông khíhuyết, tiêu viêm, giảm đau:

- Cây cỏ lào, dùng lá non và cành rửa sạch, sao nóng đắp vào vết thương rồi băng chặt

- Vòi voi (lá và hoa) 30 g, tỏi 1 củ, muối ăn 10 g Tất cả rửa sạch, giã nát đắp vào chỗ sưng tấy, băng chặt

- Đu đủ xanh, lá na (mãng cầu) mỗi vị 10 g, muối ăn, vôi tôi, mỗi vị 5 g Giã nhỏ cho vào gạc đắp lên vết thương,băng lại

- Nghệ già 20 g, lá cúc tần, lá trầu không, lá xạ can, mỗi vị 12 g Giã nát trộn với một ít giấm, bọc gạc đắp lên nơisưng đau, 2-3 ngày thay băng một lần

- Lá náng rửa sạch, giã nát, chưng nóng với giấm mà chườm đắp để chữa bong gân

- Củ nâu, cỏ nọc sởi, cỏ chó đẻ răng cưa, lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát mà đắp lên trị sai khớp

- Lá cà độc dược, lá dây đau xương, rửa sạch, giã nát, chưng nóng với giấm và đắp để giảm đau

- Cốt toái bổ tươi, bóc bỏ hết lông tơ và lá khô, rửa sạch, giã nhỏ, dấp nước, gói vào lá chuối đã nướng cho mềm,đắp lên các chỗ đau, bó lại Thay thuốc bó nhiều lần trong ngày, và thường đắp trong 3-7 ngày, để chữa bong gân tụmáu

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

40 Hạt chanh giảm ho, giải độc

Hạt chanh, một dư phẩm thường bị loại bỏ khi sử dụng quả chanh, lại là vị thuốc được dùng khá phổ biến theo kinh nghiệm dân gian.

Khi trẻ bị ho, lấy hạt chanh, hạt quất, lá thạch xương bồ- mỗi vị 10g, mật gà đen một cái Tất cả dùng tươi, giãnhỏ, thêm đường, hấp cơm cho chín rồi uống làm 2-3 lần trong ngày

Hoặc hạt chanh 10g, lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, nước 20ml Các dược liệu đem nghiền nát, hòa với nước rồithêm mật ong hoặc đường kính, uống làm 3 lần trong ngày, dùng vài ngày

Để giải độc chữa rắn cắn, lấy hạt chanh tươi hoặc phơi khô 10-20g nhai nhỏ, nuốt nước, lấy bã đắp vào vết cắn(đây là kinh nghiệm của nhân dân ở một số vùng miền núi nước ta và ở một vài địa phương của Ấn Độ)

Về cơ chế tác dụng của hạt chanh đối với nọc rắn, theo kinh nghiệm dân gian, những vị thuốc có chất đắngthường có tác dụng giải độc tốt (chất đắng trong hạt chanh đã được xác định là lemonin hay pepolimonin)

Dùng riêng hoặc phối hợp hạt chanh 15g, mướp đắng 10 hạt, rễ thạch xương bồ 12g, củ gấu 20g, muối ăn vài hạt.Tất cả để tươi giã nhỏ, ngâm với 30ml nước sôi trong 10 phút, khuấy đều rồi chắt hoặc lọc Người lớn uống làm hai lầncách nhau 20 phút; trẻ em dưới 15 tuổi uống 1/4 đến 1/3 liều người lớn

Ngoài ra, hạt chanh vừa tách khỏi múi quả (10-20g) ngâm ngay vào một chén nước nóng trong vài giờ Chất nướcdính bao quanh hạt sẽ nở và tan ra thành một dung dịch đặc nhầy, thêm đường, uống một lần trong ngày, chữa táobón

Theo Sức khỏe & đời sống

41 Chữa đau lưng khi hành kinh bằng y học cổ truyền

Than quả sơn ta, đường đỏ mỗi thứ 30 g, hạt hướng dương (bóc vỏ) 1,5 g, nấu lấy 2 bát con nước thuốc, chia 2lần uống trong ngày Bài thuốc này sẽ giúp bạn giảm phần nào sự khó chịu mà cơn đau lưng do huyết ứ trở lạc gây ratrong những ngày hành kinh

Sau đây là một số bài thuốc khác:

- Đương quy, cao da lừa (a giao), bạch chỉ, tục đoạn, xuyên khung, ngô thù du, bồ hoàng mỗi thứ 9 g; gừng khô,bạch truật mỗi thứ 6 g; phụ tử, thục địa mỗi thứ 12 g Tất cả sắc lấy nước uống trong ngày Dùng cho những ngườiđau thắt lưng khi hành kinh do huyết hư, không thịnh vượng

- Đào nhân, hồng hoa, xuyên khung, đương quy, uy linh tiên, nga truật, diên hồ sách, hương phụ, mộc hương mỗithứ 9 g, sắc lấy nước uống trong ngày Dùng cho những người đau thắt lưng khi hành kinh do huyết ứ trở lạc

Trang 28

- Sơn thù du, sơn dược, phá cố chỉ, đỗ trọng mỗi thứ 12 g; đương quy, ngũ vị tử, độc hoạt mỗi thứ 6 g; hồ đào,nhân hạt táo mỗi thứ 9 g, tất cả sắc lấy nước uống trong ngày Dùng cho những người đau thắt lưng khi hành kinh dogan thận hư tổn.

BS Nông Thúy Ngọc, Nông Nghiệp Việt Nam

42 Một số bài thuốc giúp phái mạnh thêm mạnh

Người bị liệt dương, suy yếu tình dục do thận dương suy có thể "lấy lại phong độ" bằng cách dùng thịt dê trắng thái mỏng, nhúng nước sôi cho chín tái, rồi ăn với rau hẹ Lá hẹ tính ôn, vị cay, không độc,

có tác dụng bổ thận, tráng dương, bổ tinh Thịt dê tính ấm, vị ngọt, có khả năng bổ nguyên dương, ích khí huyết, bổ thận, ích tinh, trợ dương.

Hàng nghìn năm trước đây, người La Mã, Ai Cập, Trung Hoa đã dùng các loại động thực vật để chữa trị chứngnhược dương, thiểu năng tình dục Họ tìm ăn đủ loại cơ quan sinh dục của động vật, từ khỉ, dê, gà trống, đến bò,ngựa, hươu nai Sau đây là một số loài cây, con thường được sử dụng với mục đích này:

1 Hươu: Hippocrate, ông tổ nền y học phương Tây, khuyên ăn cơ quan sinh dục hươu đực để bổ thận, tăng dục

năng Vị thuốc này chữa được chứng liệt dương, thiểu năng tình dục, xuất tinh sớm Cách chế biến:

- Lấy 100 g gạo tẻ nấu nhừ thành cháo, cho vào một bộ tinh hoàn hươu đã bỏ màng, thái mỏng, cùng với 60 gnhục dung (đã tẩm rượu một đêm, thái nhỏ) và gia vị, ăn trong ngày

- Tinh hoàn hươu một bộ rửa sạch, bỏ màng, giã nhuyễn rồi ngâm trong 500 ml rượu trắng 30-40 độ trong 7-10ngày Uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ

- Tinh hoàn hươu một bộ rửa sạch, bỏ màng, sấy khô, tán mịn, ngày dùng 3-5 g, chiêu bằng nước đun sôi đểnguội

2 Dê: Thịt dê, thận dê thường được dùng để chữa trị chứng liệt dương, yếu sinh lý, suy giảm Theo sách "Thực y

tâm kính", để chữa trị chứng suy yếu tình dục, dương sự bất hành, liệt dương, nên dùng thận dê luộc chín, sấy khô,tán mịn, uống dần mỗi ngày một vài thìa

Tinh hoàn dê dùng để nấu cháo ăn; hoặc dầm nát, ngâm với rượu trắng 30-40 độ để uống Bài thuốc này cũng cótác dụng cường dương

3 Chó: Thịt chó và dương vật chó vị mặn, có tác dụng bổ thận, bổ tỳ, tráng dương, khử hàn, trợ dương, thường

dùng cho người bất lực do thận suy

Dương vật chó chứa kích thích tố nam, có tác dụng ích tinh, tráng dương, chữa thiểu năng tình dục, liệt dương, ditinh, mỏi lưng gối Cách dùng: Uống 4-12 g mỗi ngày dưới dạng sấy khô, tán bột hoặc ngâm rượu (ngâm đơn độchoặc phối hợp với kỷ tử và nhục quế)

Để chữa trị liệt dương do thận hư, có thể dùng dương vật chó sao khô với bột hoạt thạch rồi tán mịn, mỗi ngàyuống 2 lần, mỗi lần 5 g với nước sôi để nguội

4 Dâm dương hoắc: Dâm dương hoắc được suy tôn là vua của các thuốc quyến rũ vì nó có tác dụng tăng dục

năng mạnh Theo các tài liệu cổ, Dâm dương hoắc vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, kích thích sinh dục,tráng dương, ích tinh, chuyên trị liệt dương, khu phong, trừ thấp

Cách dùng: Uống 4-12 g/ngày dưới dạng ngâm rượu hoặc sắc Tốt nhất là phải sao tẩm với mỡ dê: Rán chảy 250

g mỡ dê, bỏ tóp mỡ, cho 1 kg dâm dương hoắc đã thái nhỏ vào, đảo đều cho thấm hết mỡ Dùng dược liệu đã saotẩm để ngâm rượu hoặc sắc uống

5 Tắc kè: Tắc kè vị mặn, tính ôn, có tác dụng bổ phế, thận, ích tinh, trợ dương, chữa hen, trị liệt dương.

Người liệt dương nên dùng một cặp tắc kè (1 đực, 1 cái) mổ bỏ ruột, đầu, sấy khô, ngâm với rượu 30-40 độ (cóthể thêm trần bì hay vỏ cam cho dễ uống) trong 1-2 tuần Ngày uống 10-15 ml

6 Trai: Theo kinh nghiệm dân gian, có thể chữa liệt dương do thận hư bằng cách lấy 50 g trai hầm chín với một

quả thận chó, ăn trong vài ngày, sau đó nghỉ vài ngày rồi lại ăn, vài lần như thế sẽ khỏi

7 Ngài tằm: Ngài tằm vị mặn, tính ấm, có công dụng bổ thận, tráng dương, cường tinh, dùng cho người liệt

dương, di tinh, tiểu đêm nhiều Cách dùng:

- Ngài tằm 7 con (bỏ đầu, chân, cánh) sao vàng, tôm he bóc vỏ 20 g Hai thứ giã nát, trộn với trứng gà (2 quả),rán hoặc hấp chín, ăn thường xuyên Thuốc có tác dụng bổ thận, cường dương, ích tinh, chữa liệt dương

- Ngài tằm 100 g, ngâm 500 ml rượu trong 7-10 ngày (càng lâu càng tốt) Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20-30 ml.Thuốc có công dụng chữa bệnh lãnh cảm ở nữ giới

DS Phan Quốc Đống, Sức Khỏe & Đời Sống

Trang 29

43 Bài thuốc nam trị bệnh thủy đậu

Thủy đậu còn gọi thủy hoa, dân gian hay gọi là bệnh trái rạ Đây là loại bệnh truyền nhiễm thông thường, trẻ em hay mắc phải, thỉnh thoảng cũng gặp ở người lớn Sau đây là cách phân loại bệnh và những vị thuốc nam dễ tìm để chữa trị căn bệnh này.

1 Loại nhẹ

* Triệu chứng: Sốt nhẹ hoặc không sốt, chảy nước mũi, ho ít, ăn uống bình thường, các nốt đậu mọc rải rác màuhồng nhạt, ngứa nhiều

* Phép chữa: Sơ phong thanh nhiệt

* Bài thuốc: Lá dâu tằm tươi 30 g rửa sạch, lá tre tươi 20 g, cỏ màn chầu tươi 20 g rửa sạch thái ngắn, cam thảođất tươi 20 g thái ngắn Nước 1.000 ml, sắc còn 300 ml, mỗi lần uống 30-50 ml, chia uống trong ngày

Nếu người bệnh không sốt nóng, mụn đậu mọc thưa ít, ăn ngủ, tiêu tiểu bình thường, có thể không cần uốngthuốc, nên dùng nước đun sôi để nguội tắm rửa, tránh gió và điều dưỡng tốt

2 Loại nặng

* Triệu chứng: Sốt cao, buồn phiền, khát, thủy đậu mọc dày, sắc tím tối, mặt đỏ, miệng môi khô hồng, niêm mạcmiệng có những nốt phỏng

* Phép chữa: Thanh nhiệt giải độc là chủ yếu

* Bài thuốc: Vỏ đậu xanh hoặc đậu xanh cả vỏ 20-30 g, rau om tươi 20 g rửa sạch, quả dành dành 16 g, kim ngânhoa 16 g, rễ cỏ tranh 12 g Bài thuốc này nên sắc 2 lần Lần đầu cách sắc như bài thuốc trên, lần sau đổ 600 ml nướcsắc còn 200 ml, dồn lại với nước thứ nhất, cô lại còn 300 ml chia 2 lần uống trong ngày Trẻ em tùy theo tuổi có thểdùng 1/2 liều Dùng liên tục cho đến khi khỏi hẳn

Lương y Nguyễn Đức Nghĩa (Sài Gòn Giải Phóng)

44 Các món ăn bài thuốc dành cho phụ nữ

Để chữa bế kinh sau khi sinh, có thể dùng củ sen (thái mỏng) 250 g, đào nhân 10 g rửa sạch, thêm nước vừa đủ, đun nhỏ lửa cho đến khi củ sen chín, nêm gia vị cho vừa ăn Củ sen có tác dụng thanh nhiệt, mát máu, làm tan máu bầm Đào nhân có khả năng hoạt huyết, thông kinh, khử bầm, giảm đau.

Sau đây là một số món ăn - bài thuốc cổ truyền đơn giản mà bạn có thể tham khảo:

Bài 1: Táo đỏ 10 quả (bỏ hạt), củ sen 250 g (thái mỏng), xương lợn 500 g (chặt miếng nhỏ), lạc 100 g Tất cả rửa

sạch, cho vào nồi (tốt nhất là nồi đất), đổ ngập nước, đun to lửa cho sôi Sau đó đun nhỏ lửa khoảng 3 giờ (nhớ thêmnước cho đủ), thêm gia vị cho vừa ăn

Công dụng: Chữa trị kinh nguyệt kéo dài, lượng kinh quá nhiều, kinh màu đỏ, nhạt và loãng Thuốc cũng có hiệuquả cao đối với người khi hành kinh kéo dài kèm chảy máu cam, nôn ra máu, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da

Bài 2: Dùng cho phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh.

Hà thủ ô (đã chế) 20 g, huỳnh kỳ 15 g, táo đỏ 10 quả, gà ác (thịt đen) 200 g Huỳnh kỳ, hà thủ ô rửa sạch, chovào túi vải mỏng, buộc chặt miệng lại; táo đỏ rửa sạch, bỏ hạt; gà ác làm sạch, chặt miếng nhỏ Cho tất cả vào nồiđất, cho nước vừa đủ, đun to lửa cho mau sôi rồi giảm lửa nhỏ, đun tiếp khoảng 2 giờ cho nhừ Vớt túi thuốc ra, nêmgia vị cho vừa ăn

Công dụng: Bổ khí huyết, tư bổ can thận, chữa khí huyết hư nhược, can thận suy kém, chóng mặt, ù tai, đổ mồhôi, tim hồi hộp, mất ngủ, sợ hãi, suy nhược

Bài 3: Đương quy 15 g, huỳnh kỳ 35 g, gà ác 500 g Gà ác làm sạch, bỏ bộ đồ lòng; đương quy, huỳnh kỳ rửa

sạch Bỏ tất cả vào nồi đất, đổ nước xâm xấp, nấu lửa lớn cho sôi, sau đó giảm lửa cho nhỏ, hầm nhừ, nêm gia vị vừaăn

Công dụng: Điều khí, bổ huyết, bổ thận, điều kinh

Bài 4: Bạch tuộc (mực đầu tròn) 100 g, lạc 60 g, thịt gà 250 g, rượu nếp 100 g Bạch tuộc làm sạch, ngâm trong

nước cho mềm; lạc rửa sạch; thịt gà rửa sạch, chặt miếng nhỏ Cho tất cả vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, nấu lửa lớncho mau sôi, sau đó để lửa riu riu cho mềm, nêm gia vị vừa ăn Lúc dùng, thêm một ít rượu nếp vào canh, ăn cả cáilẫn nước

Công dụng: Thông sữa, dưỡng huyết

BS Đỗ Văn Sơn, Sức Khỏe & Đời Sống

Ngày đăng: 13/06/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w