1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HRM assignment 1 Managing Change của John Kotter trong HRM

12 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHân tích ưu nhược điểm cuẩ mô hình A Maslow trong công tác quản trị nhân sựThuyết X và Thuyết Y là hai lý thuyết về quản trị nhân sự hiện đại được khởi xướng bởi Douglas McGregormô hình Quản lí Đổi mới(Managing Change) của John Kotter vào việc thay đổi văn hóa doanh nghiệp của bạn

Trang 1

KHÁC BIỆT GIỮA HAI HỌC THUYẾT X VÀ Y (CỦA DOUGLAS

MCGREGOR) TRONG QUẢN TRỊ NHÂN SỰ.

1 Hãy phân tích ưu và khuyết điểm của mô hình nhu cầu của A.Maslow.

2 Làm cách nào chúng ta có thể tạo động lực cho nhân viên làm việc tốt hơn?

3 Liệt kê những tiêu chí cần thiết của một CEO (Tổng Giám Đốc)khi bạn chuẩn bị công tác phỏng vấn các ứng viên vào vị trí này?

4 Có thể áp dụng mô hình Quản Lí Đổi Mới (Managing Change) của Jone Kotter vào việc thay đổi văn hóa doanh nghiệp của bạn?

1 Câu 1

- Sự khác nhau giữa 2 học thuyết X và Y (Doughlas McGregor)

- Là lý thuyết máy móc và thiên

hướng tiêu cực về con người và

hành vi con người.

- Cho rằng con người bản chất

không thích làm việc và luôn

trốn tránh khi có thể.

- Cần phải thưởng nếu muốn họ

làm việc và trừng phạt khi họ

không làm việc.

- Con người thích bị kiểm soát,

- Là lý thuyết linh động và thiên hướng tích cực về con người và hành vi con người.

- Cho rằng con người bản chất thích làm việc và không trốn tránh khi có thể.

- Con người làm việc theo nhóm thích tự định hướng và làm chủ.

- Con người sẽ gắn với nhóm nếu

họ đạt được sự thỏa mãn cá

Trang 2

nếu bị kiểm soát mới làm việc

tốt.

- Các nhà quản lý theo Thuyết X

hay có cách hành xử tiêu cực và

cực đoan Khi xảy ra một vấn đề

nào đó, việc đầu tiên họ sẽ làm

là quy trách nhiệm hoặc đổ lỗi

cho ai đó

- Nhà quản lý theo Thuyết X

không tin tưởng bất kỳ ai Họ chỉ

tin vào các hệ thống giám sát

chặt chẽ và có tính máy móc, tin

vào sức mạnh của kỷ luật

nhân.

- Con người muốn và có thể học cách gánh vác trách nhiệm.

- Tài năng con người luôn tiềm

ẩn, vấn đề quan trọng là biết khơi dậy.

- Không cần phải thưởng nếu muốn họ làm việc và không đánh giá cao việc trừng phạt khi

họ không làm việc.

- Con người không thích bị kiểm soát, nếu không bị kiểm soát mới làm việc tốt.

- Các nhà quản lý theo thuyết này cho rằng nếu tạo cơ hội, người lao động sẽ hết sức sáng tạo và tiến bộ trong công việc Nếu cho người lao động quyền tự do thể hiện khả năng tốt nhất của mình mà không bị ràng buộc bởi các hướng dẫn, luật lệ quá chặt chẽ, họ sẽ có khả năng làm gia tăng năng suất lao động đáng kể.

Khi so sánh học thuyết X, Y ta thấy chúng không hề phủ nhận nhau mà sự ra đời của thuyết sau là sự khắc phục những mặt còn yếu kém của các thuyết trước

Thuyết X thì nhìn theo thiên hướng tiêu cực về con người nhưng nó đưa ra phương pháp quản lý chặt chẽ.

Khi nhận xét về học thuyết X ta thấy rằng đây là học thuyết có cái nhìn mang thiên hướng tiêu cực về con người và là một lý thuyết máy móc Theo học thuyết này thì các

Trang 3

nhà quản trị lúc bấy giờ chưa hiểu hết về các mức nhu cầu của con người nên chỉ hiểu đơn giản là người lao động có nhu cầu về tiền hay chỉ nhìn phiến diện và chưa đầy đủ về người lao động nói riêng cũng như bản chất con người nói chung Chính điều đó mà những nhà quản trị theo học thuyết X này thường không tin tưởng vào bất kỳ ai Họ chỉ tin vào hệ thống những quy định của tổ chức và sức mạnh của kỷ luật Khi có một vấn để nào đó xảy ra, họ thường cố quy trách nhiệm cho một cá nhân cụ thể để kỷ luật hoặc khen thưởng

Tuy có những hạn chế như trên nhưng chúng ta không thể kết luận rẳng học thuyết X là học thuyết sai hoàn toàn vì những thiếu sót của học thuyết X xuất phát từ thực tế lúc bấy giờ - đó là sự hiểu biết về quản trị còn đang trong quá trình hoàn chỉnh Như vậy, việc nhìn ra những thiếu sót của học thuyết X lại là tiền đê để cho ra đời những lý thuyết quản trị tiến bộ hơn Từ khi xuất hiện cho đến nay học thuyết X vẫn có ý nghĩa và được ứng dụng nhiều nhất là trong các ngành sản xuất và dịch vụ Học thuyết X giúp các nhà quản trị nhìn nhận lại bản thân để chỉnh sửa hành vi cho phù hợp và nó cũng trở thành học thuyết quản trị nhân lực kinh điển không thể bỏ qua để giảng dậy trong các khối kinh tế

Thuyết Y nhìn nhận con người hơi quá lạc quan nhưng nó cũng đưa ra cách quản lý linh động phù hợp với một số lĩnh vực có tri thức cao và đòi hỏi sự sáng tạo của nhân viên.

Từ nội dung của học thuyết Y ta thấy học thuyết này có tích cực và tiến bộ hơn học thuyết X ở chỗ nó nhìn đúng bản chất con người hơn Nó phát hiện ra rằng, con người không phải là những cỗ máy, sự khích lệ đối với con người nằm trong chính bản thân họ Nhà quản trị cần cung cấp cho họ một môi trường làm việc tốt thì nhà quản trị phải khéo léo kết hợp mục tiêu của cá nhân vào mục tiêu tổ chức Tức là làm cho nhân viên hiểu rằng để thỏa mãn mục tiêu của mình thì mình cần phải thực hiện tốt mục tiêu của tổ chức Việc đánh giá nhân viên theo học thuyết Y này hết sức linh động, các nhà quản trị để cho nhân viên tự đặt ra mục tiêu, tự đánh giá thành tích công việc của mình, khiến cho nhân viên cảm thấy cảm thấy họ thưc sự được tham gia vào hoạt động của tổ chức từ đó họ có trách nhiệm và nhiệt tình hơn Tuy có những điểm tiến bộ như trên, học thuyết Y cũng có những hạn chế đó là việc tuân theo học thuyết Y có thể dẫn đến sự buông lỏng quá trong quản lý hoặc trình độ của tổ chức chưa phù hợp để áp dụng học thuyết này Vì vậy học thuyết Y chỉ có thể được phát huy tốt trong các tổ chức có trình độ phát triển cao và yêu vầu sự sáng tạo như các tập đoàn kinh tế lớn như Microsoft; Unilever; P&G… Và cũng

Trang 4

như học thuyết X, học thuyết Y cũng đã được coi là học thuyết kinh điển trong quản trị nhân lực, được đưa vào giảng dậy trong các khối kinh tế

2 Câu 2

a Ưu điểm

Nhân sự trong tổ chức hầu hết đều thực hiện công việc và hành động tuân theo nhu cầu Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người Nói cách khác, người lãnh đạo hoặc quản lý có thể điều khiển được hành vi của nhân viên bằng cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao Vì vậy, các ưu điểm trong việc ứng dụng thuyết nhu cầu Maslow trong việc quản trị nhân lực như sau:

Xây dựng các cơ chế, chính sách nhân sự phù hợp nhu cầu của người lao động:

Thông qua việc nghiên cứu thuyết Maslow, nhà quản lý sẽ có được sự điều chỉnh phù hợp trong chính sách nhân sự của tổ chức:

Nhu cầu cơ bản có thể được đáp ứng thông qua việc trả lương tốt và công bằng, cung cấp các bữa ăn trưa hoặc ăn giữa ca miễn phí hoặc bảo đảm các khoản phúc lợi khác như tiền thưởng theo danh hiệu thi đua, thưởng các chuyến tham quan, du lịch, thưởng sáng kiến

Để đáp ứng nhu cầu an toàn, nhà quản lý có thể bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì ổn định và đối xử công bằng đối với nhân viên

Để bảo đảm đáp ứng nhu cầu giao tiếp xã hội, người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các bộ phận, khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển doanh nghiệp hoặc

tổ chức Cũng để đáp ứng nhu cầu phát triển quan hệ, doanh nghiệp hoặc tổ chức cần có các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác

Để thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất Bên cạnh được trả tiền lương hay có thu nhập thỏa đáng theo các

Trang 5

quan hệ thị trường, họ cũng mong muốn được tôn trọng các giá trị của con người Các Nhà quản lý hoặc lãnh đạo, do đó, cần có cơ chế và chính.sách khen ngợi, tôn vinh sự thành công và phổ biến kết quả thành đạt của cá nhân một cách rộng rãi Đồng thời, người lao động cũng cần được cung cấp kịp thời thông tin phản hồi, đề bạt nhân sự vào những vị trí công việc mới có mức độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn

Đối với nhu cầu tự hoàn thiện, Nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân Đồng thời, người lao động cần được đào tạo và phát triển, cần được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp hoặc tổ chức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp Các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới “thu phục” khá nhiều nhân viên giỏi, kể cả những nhân viên rất “khó tính” từ nhiều nước khác nhau do cơ chế hấp dẫn mạnh nguồn tài năng này qua việc tạo điều kiện cho

họ có việc làm ổn định, tiền lương trả rất cao và khả năng thăng tiến mạnh, kể cả giao cho họ những trọng trách và vị trí lãnh đạo chủ chốt trong Công ty

Khuyến khích, động viên kịp thời và hiệu quả

Kỹ năng động viên và khuyến khích nhân viên phải được nhà quản lý xây dựng

và hoàn thiện trong quá trình quản lý và điều hành nhân sự Nghiên cứu thuyết Maslow

sẽ giúp các nhà quản lý hiểu được nhu cầu của từng đối tượng nhân viên và đưa ra các phương thức khuyến khích, động viên hiệu quả

Rõ ràng nhu cầu đối với công việc của một nhân sự tân tuyển phải hoàn toàn khác một nhân sự đã công tác lâu năm Nhu cầu của đối tượng người lao động trí óc và lao động chân tay trong kỳ vọng công việc sẽ có những điểm khác biệt Nhà lãnh đao tinh tế nhận thức được các mấu chốt này sẽ giúp việc quản lý nhân sự trở nên hiệu quả hơn

Nhà quản lý có thể áp dụng rất nhiều hình thức khác nhau để nắm bắt được nhu cầu nhân sự của tổ chức, đơn cử một vài phương pháp như:

Thường xuyên tổ chức các cuộc khảo sát định kỳ

Buổi nói chuyện chuyên đề, trưng cầu dân ý

Tiếp cận trực tiếp nhân viên

Tạo môi trường thân thiện, cởi mở để nhân viên có điều kiện bày tỏ tâm tư, nguyện vọng

Trang 6

Một tổ chức vận hành tốt, nhà lãnh đạo cần duy trì các yếu tố tích cực trong môi trường làm việc như:

Sự khen thưởng

Niềm tự hào

Tinh thần cầu tiến

Mong muốn đóng góp cho tổ chức

Sự nhìn nhận

Tinh thần thi đua

Tài chính

Mức sống

Nhà quản lý có thể sử dụng các phong cách động viên đối với từng đối tượng nhân viên như:

Truyền đạt: Củng cố tinh thần nhân viên thông qua các cuộc nói chuyện cởi

mở là một cách động viên hữu hiệu nhất

Trình bày thử thách: khi gặp thử thách nhân sự sẽ có thêm động cơ để học hỏi nhiều kỹ năng mới và vận dụng các kỹ năng sẵn có

Giải quyết vấn đề: Nhà quản lý hướng dẫn nhân sự giải quyết vấn đề

nhưng để họ tự tìm ra giải pháp

Hướng dẫn, kèm cặp: Hướng dẫn nhân sự một cách cặn kẽ là một trong những cách giúp gia tăng hiệu quả công việc

Huấn luyện: Nhân sự có cơ hội được học hỏi, được phát triển bản thân là một sự khíh lệ, giúp cải tiến hiệu quả kinh doanh

Tuy nhiên để đạt được hiệu quả thực sự trong động viên và khích lê, nhà quản

lý phải xuất phát từ chính nhiệt huyết và trái tim nhiệt thành dành cho nhân viên

b Khuyết điểm của thuyết nhu cầu Maslow:

Những nhược điểm chính của thuyết bậc thang nhu cầu:

Trang 7

Mô hình bậc thang đã để lại những khoảng trống lớn giữa các bậc với nhau, các nhà nghiên cứu gần đây đã đưa ra những vấn đề khó lý giải đối với Pyramid of Needs của Maslow như sau:

Nhiều người cần nhu cầu Độc Lập, Tự Do hơn là cần sự an toàn của chính mạng sống họ

Con người ta có thể cùng một lúc có nhiều loại nhu cầu , thậm chí có cả 5 loại nhu cầu

Trong trường hợp một nhu cầu cấp thấp chưa được thỏa mãn vẫn có thể nảy sinh nhu cầu ở cấp cao hơn

Sự tương tác chi phối lẫn nhau giữa các nhu cầu (nhu cầu cấp thấp nhất cũng

có thể tác động đến nhu cầu cấp cao nhất và ngược lại)

Cùng 1 nhu cầu, nhưng có những cá nhân lại có sự đòi hỏi ít hay nhiều khác nhau Ví dụ giới trí thức mang tư tưởng "chủ nghĩa xã hội" (Châu Âu), họ không có đòi hỏi cao về vật chất ở những tầng dưới nhưng lại có đòi hỏi sự thỏa mãn cao ở tầng trên

Nhu cầu thấp nhất (nhu cầu sinh lý) và nhu cầu cao nhất (nhu cầu tự hoàn thiện hay nhu cầu thành tích) không phải là giới hạn cuối cùng của một bộ khung nhu cầu cứng nhắc mà đơn giản chỉ là điểm chỉ định bắt đầu và kết thúc của một quá trình vận động tuần hoàn liên tục và phát triển hướng lên theo hình xoắn ốc

Vấn đề khó khăn nhất đối với từng cá nhân trong 1 xã hội lớn đó là xác định được điểm nào là điểm thỏa mãn nhu cầu ở 1 tầng Với cá nhân khác nhau, thì điểm thỏa mãn của họ hoàn toàn khác nhau Ví dụ, nếu bạn là người tham tiền và sống theo chủ nghĩa thực dụng, thì nhu cầu thỏa mãn ở phần dưới rất cao Nếu bác là người có tư tưởng dân trí cao, có tầm nhìn xa, bác

có thể chỉ cần no ấm 2 bữa ăn và có thể vượt sang những tầng khác

Điểm khiếm khuyết trầm trọng của Maslow là hoàn toàn không thể giải thích được tại sao lại có hàng triệu người VN khi chưa đủ no ấm, chưa đủ

an toàn, chưa thỏa mãn các yếu tố tình cảm, lại có thể lăn xả và 1 cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu quốc và tình nguyện hy sinh để đưa đất nước tiến lên 1 chủ nghĩa xã hội Cho nên, đối với xã hội phương đông thì thuyết này chưa

Trang 8

đủ để tạo ra hiệu quả trong lĩnh vực quản trị.

Nguyên nhân của sự hạn chế:

Tác giả là người phương tây, sống và làm việc trong xã hội mà tính thực dụng cao hơn cả Nên khi áp dụng ở xã hội có tính tập thể cao hơn thì không hẳn phù hợp

Năm tầng nhu cầu chỉ là một chu kỳ của cả quá trình vận động liên tục, sau khi thỏa mãn nhu cầu thành công, con người lại phát sinh ra nhu cầu sinh lý (ở mức cao hơn trước) chu trình phát triển của nhu cầu không chỉ giới hạn trong một khung cứng nhắc của Tháp nhu cầu mà thực chất nó được tiếp diễn liên tục không ngừng tăng trưởng lên theo chu trình xoắn ốc và luôn hướng đến một đẳng cấp mới

Thực tế cuộc sống cho thấy nhu cầu của con người rất phức tạp chứ không phải hoàn toàn giống như mô hình bậc thang cứng nhắc bậc này nối tiếp bậc kia

3 Câu 3

“Đa số mọi người không thể tự tạo động lực cho bản thân bởi họ không biết động cơ làm việc của chính mình Họ không có mục tiêu hay kế hoạch nào cho cuộc đời và sự nghiệp của mình.” Warren Greshes, tác giả cuốn “The Best Damn

Management Book Ever”

Động lực là một trong những nguồn lực khơi cảm hứng cho con người trong một hành động nhất định Trong công việc, nguồn động lực của nhân viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình sẽ có tác động quan trọng đến việc vận hành và lợi ích của tổ chức, thậm chí nếu ở mức độ nghiêm trọng, nó còn có thể dựng nên hay phá hủy công ty

Đối xử với nhân viên như với khách hàng

Để mang đến chất lượng, dịch vụ, tiện ích và giá trị thực sự tốt tới khách hàng bên ngoài, trước nhất bạn phải phục vụ tốt “khách hàng bên trong”

Lý do là gì? Nếu đối xử với cấp dưới của mình theo cách muốn họ đối xử với khách hàng, thì chất lượng dịch vụ sẽ tăng cao, và do đó công việc kinh doanh cũng tiến triển

Thăm dò nhu cầu của “khách hàng nội bộ”

Trang 9

Chúng ta vẫn biết rằng nếu thăm dò mong muốn và nhu cầu của khách hàng, tìm hiểu xem họ cần gì rồi đáp ứng nhu cầu của họ trên một cơ sở nhất quán, chúng ta sẽ giữ được khách hàng lâu dài và trung thành Tương tự với “khách hàng nội bộ”, chúng ta cũng sẽ có được đội ngũ nhân viên trung thành gắn bó

Đa số mọi người không thể tự tạo động lực cho bản thân bởi họ không biết động

cơ làm việc của chính mình Không có mục tiêu hay kế hoạch rõ ràng cho cuộc đời và sự nghiệp của mình, họ chỉ làm việc để mang thành công đến cho công ty – chứ không phải cho bản thân họ Và đó lại chính là nhân tố “hạ động lực”

Các lãnh đạo doanh nghiệp thường hay nói với tôi: “Giá mà tôi tìm được đúng nút bật công tắc tự chủ của nhân viên này.” Vấn đề là bạn không thể tìm thấy nút bật ở những người vốn dĩ không có công tắc tự chủ nào

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người làm lãnh đạo là giúp nhân viên “tìm ra nút bật” của mình Hãy ngồi nói chuyện với từng nhân viên một, giúp họ sắp xếp lại tất các mục tiêu, kế hoạch và làm rõ xem họ muốn đạt được điều gì trong cuộc đời

và sự nghiệp của mình, giống như việc bạn vẫn thường làm với công ty hay khách hàng

Sau đó hãy cho họ biết cách sử dụng công việc họ đang làm như một phương tiện

để hướng tới mục tiêu đó Họ sẽ làm việc chăm chỉ hơn, và đến công ty hàng ngày với thái độ tích cực hơn, bởi họ hiểu rằng mỗi ngày đến công ty và hoàn thành tốt công việc của mình, là mỗi ngày họ bước gần hơn tới mục tiêu của họ

“Trả nhiều tiền hơn sẽ thúc đẩy nhân viên làm việc”

Bản thân tiền không phải là yếu tố thúc đẩy! Chẳng có ai thức dậy vào mỗi sáng và

tự nói với mình “Ôi tôi háo hức muốn làm việc quá, vì công ty trả tôi rất hậu.” Tiền không phải là thứ khiến bạn yêu công việc của mình, nó chỉ có thể khiến bạn không ghét công việc đó mà thôi Tiền là phương tiện cho phép bạn sống theo cách mà bạn muốn

Điều bạn thực sự cần là giúp nhân viên tự trả lời câu hỏi: “Tôi muốn sống cuộc sống như thế nào?” Một khi họ đã có câu trả lời, họ có thể biết được mình cần bao nhiêu tiền cho cuộc sống đó Và đến lượt bạn – trong vai trò lãnh đạo – nói cho họ biết họ cần phải làm gì để kiếm được số tiền đó Lúc này, họ làm việc không phải vì tiền, mà vì cuộc sống mà số tiền đó sẽ mang lại, còn bạn thì đã có được một nhân viên năng động, tự chủ

và có động lực làm việc

Trên đây chỉ là 3 trong số nhiều bí quyết, ý tưởng và các bước đi mà bạn có thể tìm hiểu trong cuốn “The Best Damn Management Book Ever: 9 Keys To Creating

Trang 10

Self-Motivated High Achievers.” Mục tiêu của tôi là giúp bạn có được đội ngũ nhân viên năng

nổ, tự chủ đến mức bạn có thể thức dậy mỗi ngày và nói: “Tôi không hiểu vì sao mình lại phải đến công ty làm việc hàng ngày Nhân viên của tôi làm việc quá hiệu quả bất kể tôi

có ở đó hay không.”

4 Câu 4

Trước hết, phải khẳng định lại một “nguyên lý” rằng, nếu khả năng kinh doanh khá, song khâu quản trị, điều hành yếu kém, doanh nghiệp cũng sẽ không thể phát triển nhanh và bền vững, đặc biệt là trong nền kinh tế hội nhập nhiều thách thức Trong phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, nhà điều hành phải làm quá nhiều việc nhưng hầu hết lại không phải việc của mình Một điều kiện mang tính đặc thù là đại đa số doanh nghiệp Việt Nam đang ở quy mô vừa và nhỏ, chưa có sự tách biệt rõ ràng về quyền sở hữu và quyền quản lý nên chủ doanh nghiệp vừa là người sở hữu vừa là người quản trị, điều hành Vì vậy, ngoài kiêm nhiệm nhiều chức năng và phải ôm đồm quá nhiều việc, họ cũng chưa có điều kiện, thời gian để trang bị kiến thức đầy đủ về lĩnh vực này Mặt khác,

để trở thành một nhà quản trị, điều hành giỏi, ngoài chuyện được học hành, đào tạo bài bản, còn có những yêu cầu thuộc về tố chất bẩm sinh Do đó, không phải bất kỳ ai cũng

có thể trở nên chuyên nghiệp được trong vai trò của một CEO

Công việc chính của một CEO là gì?

 Là người định hướng CHIẾN LƯỢC và chỉ đạo triển khai thực hiện các chiến lược của công ty trung hạn và dài hạn

 Là người CHỊU TRÁCH NHIỆM trước Hội Đồng Quản Trị của công ty và chịu trách nhiệm với pháp luật, nhân viên, khách hàng và xã hội

 Là người THIẾT LẬP HỆ THỐNG quản lý, điều hành cho toàn bộ hoạt động của công ty

 Là người đứng đầu XÂY DỰNG VĂN HÓA của công ty

 Là người quản lý và phát triển ĐỘI NGŨ NHÂN SỰ của công ty

 Là người chịu trách nhiệm cuối cùng về sự sống còn của công ty thông qua quản lý TÀI CHÍNH (tiền bao gồm quỹ tiền mặt, thu, chi, lợi nhuận, đầu tư và thuế nhà nước)

 Là người nghiên cứu và phát triển SẢN PHẨM, DỊCH VỤ của công ty

 Và nhiều công việc khác

Ngày đăng: 28/10/2016, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w