1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tiểu luận QHLĐ

14 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 537,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và nguyên nhân vấn đề đối thoại về an toàn, sức khỏe người lao động hiện nay .... Nguyên nhân của những tồn tại trong vấn đề đối thoại về an toàn và sức khỏe cho người lao độn

Trang 1

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Thực trạng và nguyên nhân vấn đề đối thoại về an toàn, sức khỏe người lao động hiện nay 2

1.1 Thực trạng vấn đề an toàn và sức khỏe người lao động hiện nay 2

1.2 Thực trạng vấn đề đối thoại về an toàn và bệnh nghề nghiệp tại Việt Nam 8

1.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong vấn đề đối thoại về an toàn và sức khỏe cho người lao động 9

2 Một số giải pháp nâng cao công tác đối thoại và làm giảm tai nạn-sức khỏe người lao động 10

3 Kết luận, kiến nghị 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

TÓM TẮT

Trong nền kinh tế vận động và phát triển không ngừng, kéo theo đó là việc đòi hỏi về nhu cầu chất lượng cuộc sống cho mọi người nói chung và người lao động nói riêng ngày càng cao Nhưng thực tế tình trạng an toang và sức khỏe của lao động nước ta đang đứng trước tình trạng đáng báo động, mặc cho các chính sách và chủ trương Nhà nước đã có tác động đáng kể Cho thấy, công tác đối thoại về vấn đề này tại các doanh nghiệp đã chưa thực sựu hiệu quả trong vấn đề này Thế thì, để hạn chế tai nạn lao động vầ bệnh nghề nghiệp đang gia tăng, cùng với đó là việc cải thiện chất lượng đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động, cần có những giải hợp lý nhằm giảm bớt phần nào tai nạn lao động cho mọi lao động, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng lao động

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, tại Việt Nam việc tìm cho mình một công việc đảm bảo cuộc sống

là nhu cầu thiết yếu của toàn bộ người lao động Mặc dù việc đấu tranh cũng như việc thực hiện an toàn và sức khỏe cho người lao đông diễn ra khá sôi nổi diễn ra

ở cả ba bên trong mối quan hệ xã hội; thế nhưng trên thực tế thì việc chứng kiến người lao động làm việc trong một môi trường không những thiếu an toàn mà đi cùng với nó là việc họ phải tiếp xúc với các chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe chính bản thân họ là việc mà mỗi người chúng ta chứng kiến hằng ngày, hàng giờ và ở mọi lĩnh vực ngành nghề

Tình trạng an toàn và lao động hiện nay hiện là vấn đề cấp bách của toàn xã hội vì thế nó đã được chọn làm chủ đề cho nhiều bài viết Về nội dung truyền tải, các bài viết đã đi xâu phân tích thực trạng an toàn và sức khỏe người lao động từ

đó đề ra các giải pháp Thế nhưng việc đưa ra các giải pháp thì các đề tài chỉ dừng lại ở việc cần làm thế nào, chưa khoáy xâu vào việc đảm bảo công tác đối thoại cũng như các thỏa thuận cảu người lao động và người sử dụng lao động

Ở đề tài này, tác giả sẽ nêu lên thực trạng của vấn đề an toàn và sức khỏe người lao động và thực trạng đối thoại của vấn đề trên Từ đó, làm cơ sở cho việc

đề ra các giải pháp cụ thể

Trong đề tài này, tác giả nghiêm cứu tình hình đối thoại về an toàn và sức khỏe người lao động trong những năm 2000 đến năm 2016 Tiến hành thực hiện thông qua việc sử dụng các phương pháp: phương pháp kế thừa; phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp số liệu; phương pháp chuyên gia Từ đó làm công cụ cho mục đích làm rõ hơn thực trạng vấn đề an toàn và vệ sinh lao động, cũng như

Trang 3

công tác đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc

về vấn đề trên, làm sơ sỏ cho việc đề ra các giải pháp phù hợp để cải thiện tình hình vấn đề

Kết cấu đề tài gồm 3 phần:

 Thực trạng và nguyên nhân vấn đề đối thoại về an toàn và sức khỏe người lao động hiện nay

 Một số giải pháp nâng cao công tác đối thoại và làm giảm tai nạn-sức khỏe người lao động

 Kết luận, kiến nghị

1 Thực trạng và nguyên nhân vấn đề đối thoại về an toàn, sức khỏe

người lao động hiện nay 1.1 Thực trạng vấn đề an toàn và sức khỏe người lao động hiện nay

Tại các cơ sở sản suất, việc vượt mức các yếu tố về môi trường lao động có biểu hiện giảm, cho thấy việc can thiệp của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

đã có hiệu quả tích cực Theo báo cáo của tổ chức lao động thế giới ILO cho thấy, tổng số mẫu xét nghiệm kiểm tra môi trường trung bình 3 năm 2006-2010 là 300.000 mẫu/năm (tăng 42% so với 210.000 mẫu giai đoạn 2001-2005); trong đó

số mẫu không đạt tiêu chuẩn cho phép chiếm 13,3% (tỷ lệ này giai đoạn

2001-2005 là 19,6%)

Hiện nay, các ngành, các cấp, các doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý vệ sinh, sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp, do đó, công tác này đã thu được nhiều kết quả tích cực, góp phần kiểm soát bệnh nghề nghiệp và nâng cao sức khỏe cho người lao động

Trong những năm vừa qua, Quốc hội đã thông qua bộ luật mới về an toàn vệ sinh lao động, mở rộng độ bao phủ tới khoảng 37 triệu lao động trong khu vực phi chính thức và trên toàn quốc Đưa ra hệ thông quản trị về an toàn vệ sinh lao động phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu của Công ước ILO số 155 và 187, cùng với đó các cấp lãnh đạo, chỉ đạo các cấp Đảng ủy và chính quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động như: Chỉ thị

số 20/2004/CT-TTg ngày 8/6/2004 về việc tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện an toàn- vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp; Nghị Quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công trác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Nghị Quyết Đại hội Đảng

IX (năm 2001) về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010: “chú trọng đảm bảo an toàn lao động; ngày 06/6/2011 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 19/2011/TT-BYT hướng dẫn quản lý ATVSLĐ, phòng chống bệnh nghề nghiệp

Trang 4

thay thế Thông tư số 13/BYT-TT ngày 21/10/1996 hướng dẫn thực hiện quản lý

vệ sinh lao động, quản lý sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp; hệ thống văn bản quy định các chế độ chính sách như chế độ phụ cấp độc hại nguy hiểm, chế độ bồi dưỡng độc hại nguy hiểm bằng hiện vật, chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân,…

Theo giám định đến cuối năm 2010 số ca mắc bệnh nghề nghiệp là 26.928 trường hợp, trong đó bệnh bụi phổi silic chiếm 75,1%, điếc nghề nghiệp chiếm 15,6% Tuy nhiên đây chỉ là số liệu thống kê, do tình hình khám chữa bệnh của các trung tâm y tế tại Việt Nam còn hạn chế nên việc xác định các bệnh còn chưa thống kê đầy đủ, trên thực tế số người mắc bệnh nghề nghiệp có thể cao hơn gấp nhiều lần Qua báo cáo khám sức khỏe người lao động định kỳ hằng năm cho thấy, tỷ lệ người lao động có sức khỏe yếu (loại 4) và rất yếu (loại 5) đang ở mức cao, năm 2010 là 8,8%; tỷ lệ nghỉ ốm trong công nhân ở mức cao, năm 2010 là 24,7% tổng số người lao động của các doanh nghiệp có báo cáo Theo số liệu báo cáo năm 2011, tỷ lệ số lao động nghỉ do ốm giảm 5,5% so với năm 2010; các bệnh về đường hô hấp giảm 1,1%; bệnh về cơ xương giảm 1,3% Số công nhân được khám sức khỏe về bệnh nghề nghiệp là 67.418 người, trong đó số công nhân được giám định bệnh nghề nghiệp là 708 trường hợp Tích lũy bệnh nghề nghiệp đến tháng 6/2012 là 27.296 trường hợp (giảm 20% so với cùng kỳ năm 2011) Chúng ta nhận thấy vấn đề sức khỏe người lao động đang được cải thiện rõ rệt, đạt được những kết quả đáng mừng

Theo báo cáo chưa đầy đủ của 63 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2015 trong khu vực có quan hệ lao động trên toàn quốc đã xảy ra 7.620 vụ TNLĐ làm 7.785 người bị nạn trong đó:

- Số vụ TNLĐ chết người: 629 vụ

- Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 79 vụ

- Số người chết: 666 người

- Số người bị thương nặng: 1.704 người

- Nạn nhân là lao động nữ: 2.432 người Qua số liệu thống kê tình hình tai nạn lao động năm 2015 so với năm 2014, cho thấy về số vụ tai nạn lao động tăng 911 vụ( tăng 13,6%), số người chết tăng

36 người (tăng 5,7%), đặc biệt số tai nạn lao động xảy ra ở nữ tăng khá mạnh 295 người (tăng 13,9%)

Trang 5

Bảng 1: So sánh tình hình tai nạn lao động năm 2014 và năm 2015

TT Chỉ tiêu thống kê Năm 2014 Năm 2015 Tăng/giảm

Cũng theo báo cáo trên vào năm 2015 số vụ tai nạn lao động xảy ra tập trung chủ yếu ở các tỉnh thành lớn, đang phát triển mạnh như: TP Hồ Chí Minh:

có tổng số vụ là 1.525 vụ làm chết 108 người; Đông Nai: có tổng số 2230 vụ làm chết 29 người, Bình Dương: 474 vụ là chết 32 người; Quảng Ninh: 441 vụ làm chết 33 người Thống kê trên 10 tỉnh thành xảy ra tai nạn nhiều nhất thì tổng số

vụ tai nạn chiếm 51,6% tổng số người chết vì tai nạn lao động trên toàn quốc

Bảng 2: 10 địa phương có số người chết vì tai nạn lao động nhiều trong năm

2015

TT Địa phương Số người

chết

Số vụ chết người

Số vụ Số người

bị nạn

Số người bị thương nặng

1 TP Hồ Chí

Trang 6

3 Bình Dương 32 31 474 483 20

Bảng 3: So sánh tình hình TNLĐ năm 2015 với năm 2014 của 10 địa

phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người nhất

TT Địa

phương

Số vụ Số vụ chết người Số người chết

2015 2014 Tăng/

giảm 2015 2014

Tăng/

giảm 2015 2014

Tăng/ giảm

1 TP Hồ

Chí Minh 1.525 1171 +354 105 100 +5 108 101 +7

2 Quảng

Trang 7

3 Bình Dương 474 428 +46 31 31 0 32 33 -1

4 TP Hà

9 Thái

10 Thanh

Qua số liệu nhận thấy, tình hình tai nạn lao động hầu như tăng khá mạnh ở các địa phương có tập trung các khu công nghiệp lớn của cả nước Ở các địa phương có số vụ tai nạn, số người chết giảm có thể do thực hiện tốt các chính sách, tuy nhiên tỷ lệ giảm chỉ chiếm một tỷ lệ quá nhỏ Đặc biệt hơn ở các tỉnh như Hà Tĩnh, Thái Nguyên thì tỷ lệ số vụ giảm nhưng số người chết lại tăng cho thấy việc các trường hợp xảy ra tai nạn lao động mang tính chất ngày càng nghiêm trọng

Theo khảo sát của sở Lao Động – Thương Binh và xã hội đến ngày 15 tháng

2 năm 2016, phân tích từ 238 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người:

Theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh:

- Lĩnh vực xây dựng chiếm 35,2% tổng số vụ tai nạn chết người và 37,9% tổng số người chết;

- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 8,8 % tổng số vụ chết người và 8,1% tổng

số người chết;

- Lĩnh vực dịch vụ chiếm 7,1% tổng số vụ chết người và 6,8% tổng số người chết;

- Lĩnh vực dịch vụ vận tải và bốc xếp hàng hóa chiếm 5,9% tổng số vụ chết người và 6,1% tổng số người chết;

Trang 8

- Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 6,9% tổng số người chết;

- Lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 5% tổng

số người chết

Theo loại hình cơ sở sản xuất:

- Loại hình công ty cổ phần chiếm 40,2% số vụ tai nạn chết người và 40,1%

số người chết;

- Loại hình công ty TNHH chiếm 31,5% số vụ tai nạn chết người và 34,1%

số người chết;

- Loại hình doanh nghiệp nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp chiếm 10,1% số vụ tai nạn chết người và 9,6% số người chết;

- Loại hình doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể chiếm 8,8 % số vụ tai nạn chết người và 8,0% số người chết;

- Loại hình công ty liên doanh có vốn đầu tư của nước ngoài chiếm 1,3% số

vụ tai nạn chết người và 1,2% số người chết

Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất:

- Ngã từ trên cao chiếm 28,1% tổng số vụ chết người và 26,4% tổng số người chết;

- Điện giật chiếm 18,9% tổng số vụ chết người và 17,2% tổng số người chết;

- Vật rơi, đổ sập chiếm 16,8% tổng số vụ chết người và 22,6% tổng số người chết;

- Tai nạn giao thông chiếm 13% tổng số vụ chết người và 12% tổng số người chết;

- Máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 5,95% tổng số vụ chết người và 5% tổng số người chết;

- Vật văng bắn chiếm 7,1% tổng số vụ chết người và 6,5% tổng số người chết;

Nguyên nhân chủ yếu xảy ra tai nạn lao động chết người:

Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 52,8%, cụ thể:

- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 25,2% tổng số vụ;

- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 14,3% tổng số vụ;

- Người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động cho người lao động chiếm 9,7% tổng số vụ;

- Do tổ chức lao động và điều kiện lao động chiếm 2,6% tổng số vụ;

Trang 9

- Do người sử dụng lao động không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động chiếm 1%

Nguyên nhân người lao động chiếm 18,9%, cụ thể:

- Người lao động bị nạn vi phạm quy trình quy chuẩn an toàn lao động chiếm 17,2% tổng số vụ;

- Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 1,7% tổng số vụ;

Còn lại 28,3% là những vụ tai nạn lao động xảy ra do các nguyên nhân khác

Thực trạng xã hội cho thấy, tai nạn lao động thường tập trung vào các ngành

có tính chất nặng nhọc, đòi hỏi sức, sự dẻo dai của người lao động, thế nhưng tỷ

lệ này càng cao thì cho chúng ta nhận định là ý thức của mọi cá nhân, tổ chức chưa thực sự cao trong an toàn lao động Thêm vào đó, các chỉ số cho thấy ở nước ta thì tai nạn lao động tập trung chủ yếu vào các loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn Thực tế khảo sát trên cho thấy nguyên nhân gây ra tai nạn lao động người sử dụng lao động đã chiếm hơn một nửa các nguyên nhân gay tai nạn lao động và trong đó thì nguyên nhân chủ yếu là do không xây dựng quy trình biện pháp an toàn lại là nguyên nhân hàng đầu

1.2 Thực trạng vấn đề đối thoại về an toàn và bệnh nghề nghiệp tại

Việt Nam

Đối thoại là việc các bên thực hiện tiếp xúc, chia sẻ thông tin, tư vấn, thương lượng, trực tiếp giữa cá nhân với doanh nghiệp hoặc thông qua các đại diện chính thức của mình Hiện nay, tại Việt Nam có một số doanh nghiệp đã chú trọng đến việc tập trung vào việc đối thoại với người lao động, thông qua các bộ phận tiếp nhận các thông tin phản hồi từ phía người lao động nhằm có các biện pháp khắc phục kịp thời

Các doanh nghiệp đã dần ý thức được tầm quan trọng của vấn đề đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, thế nhưng tỷ lệ này chỉ tập trung

ở các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp có đàu tư nước ngoài, tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỷ lệ xảy ra tai nạn lao động vẫn khá cao, theo báo cáo cục An toàn lao động - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cả nước mới có khoảng 35-36,7% DN đảm bảo các quy định về ATVSLĐ, chiếm một tỷ lệ khá thấp; một phần do ý thức của lãnh đạo doanh nghiệp chưa được nâng cao, do kinh phí của doanh nghiệp còn hạn chế, nghiêm trọng hơn là việc ý thức của người lao động trong việc tự bảo vệ bản thân chưa cao Thống kê cho thấy, năm 2014, cả nước xảy ra hơn 6.700 vụ tai nạn lao động, làm gần 7.000 người gặp nạn, trong đó có

592 vụ tai nạn chết người, khiến 630 lao động thiệt mạng Nguyên nhân dẫn đến

Trang 10

các vụ tai nạn lao động chủ yếu do thiết bị máy móc chưa đảm bảo chiếm khoảng 20% số vụ tai nạn lao động, không huấn luyện cho người lao động về ATVSLĐ

chiếm khoảng 11,4%, 11,9% là do người lao động vi phạm quy trình, quy chuẩn

ATVSLĐ

Ngày 22/1/2016, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) đã công bố Báo cáo khảo sát tình hình thực hiện đối thoại tại nơi làm việc Kết quả được thực hiện tại 120 doanh nghiệp (DN) tại 9 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Nguyên, TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Long An Doanh nghiệp khảo sát thuộc 8 nhóm ngành nghề (điện, điện

tử, điện gia dụng; dệt may, da giày; vận tải, kho bãi; cơ khí chế tạo máy, sơn, hóa chất ) có sử dụng từ 300 lao động trở lên, thành lập trước ngày 01/01/2014 và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005

Khảo sát cho thấy hầu hết DN đều đã triển khai đối thoại tại nơi làm việc, trong đó có 36 DN tổ chức đối thoại định kỳ 1 tháng/lần (chiếm 30%), 62 DN tổ chức đối thoại định kỳ 3 tháng/lần (chiếm 52%), 5 DN tổ chức 6 tháng/lần (chiếm 4%) và 17 DN tổ chức 1 năm/lần (chiếm 14%) Số DN tổ chức định kỳ 1 tháng/lần chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia chương trình Betterwork

Về phía người lao động, mặc dù người lao động đã có những phản ánh chưa tập trung nhiều vào việc nâng cao năng xuất, chất lượng sản phẩm mà tập trung vào lợi ích mình nhiều hơn, nhưng cũng phản ánh sự thay đổi trong ý thức của người lao động về quyền lợi của mình, trong đó có các vấn đề về an toàn và bệnh nghề nghiệp Nhưng cũng tồn tại hiện trạng rất lớn hiện nay là việc người đại diện của người lao động chưa thực sự là đại diện chính thức và chưa dám đứng ra đấu tranh vì lợi ích người lao động

Từ thực trạng trên cho ta thấy việc đối thoại tại các doanh nghệp về an toàn lao động đã có những chuyển biến tích cực Thế nhưng song song với đó vẫn còn một bộ phận lớn các doanh nghiệp vẫn xem nhẹ việc đảm bảo an toàn lao động và sức khỏe của người lao động, các cuộc đối thoại chỉ thực hiện dưới hình thức làm cho có nhằm đối phó với sự phản ứng của người lao động cũng như các cơ quan,

tổ chức

1.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong vấn đề đối thoại về an toàn

và sức khỏe cho người lao động

Về phía người sử dụng lao động: theo kết quả báo cáo trên, nguyên nhân

xảy ra tai nạn lao động tập trung chủ yếu về phía người sử dụng lao động, cho thấy một thực trạng tồn tại là các doanh nghiệp hiện nay còn chưa chú trọng vào vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động mà thay vào đó là

Ngày đăng: 22/10/2016, 21:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: 10 địa phương có số người chết vì tai nạn lao động nhiều trong năm - tiểu luận QHLĐ
Bảng 2 10 địa phương có số người chết vì tai nạn lao động nhiều trong năm (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w