ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHỆ: Búp sợi hay ống sợi sau khi đánh ống được đưa sang gian mắc để quấn sợi lên thùng mắc trục mắc với số sợi nhất định và có chiều dài nhất định tuỳ thuộc vào khổ rộng
Trang 1BÀI TẬP LỚN MÔN: TRANG BỊ ĐIỆN
ĐỀ TÀI: TRANG BỊ ĐIỆN CHO NHÓM MÁY DỆT
Trang 2về cấu tạo, nguyên lý sự hoạt động của những máy móc đó Vì vậy chúng ta cần phải có những kiến thức cơ bản cũng như phải cập nhật thường xuyên những kiến thức mới về trang bị điện để có thể hiểu được chúng, vận hành và sửa chữa chúng theo yêu cầu công nghệ
Như chúng ta đã biết, dệt may là một trong những hoạt động có từ xưa nhất của con người Sau thời kỳ ăn lông ở lỗ, lấy da thú che thân, từ khi biết canh tác, loài người đã bắt chước thiên nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm thành nguyên liệu từ
đó đã đặt nền móng cho công nghệ dệt may bây giờ Trang bị điện cho nhóm máy dệt là một phần nhỏ của công nghệ dệt may Nhóm máy dệt đa dạng và phong phú,
có nhiều loại hình khác nhau dựa vào công dụng và độ phức tạp Do tài liệu tham khảo còn hạn chế, trình độ hiểu biết của em có hạn nên bài làm còn chưa được đầy
đủ và chắc chắn có nhiều thiếu sót Vì vậy rất mong được sự dóng góp giúp đỡ của thay cũng như của các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!!!
Sinh viên thực hiện!!!
Vũ Hoàng Trai
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu……….…….……… 2
Chuong 1:tổng quan về loại máy……….….……… 4
I Đặc điểm công nghệ……….………….…….4
II Đặc tính phụ tải……….….……….5
III Yêu cầu truyền động và TBĐ……….………7
IV Tính chọn công suất cho ĐC truyền động chính……….………7
Chương 2: phân tích 1 sơ đồ……….……….…….…………8
I Phân tích sơ đồ……….……….………….10
1 Mạch lực……….……….………….… …………10
2 Mạch điều khiển……….………….…… ……….10
II Phân tích các điều khiển liên động……….…… ……….10
III Thuyết minh hoạt động……….……….11
Chương 3: đánh giá phân tích ứng dụng trong công nghiệp………….………13
I Phân tích hai sơ đồ ……… 13
1 Máy dệt kim……… 13
2 Máy móc sợi len………15
II Những ứng dụng trong công nghiệp……….………18
1 Vai trò……….……… 18
2 Ưu điểm……….21
3 Nhược điểm……….………… 21
Trang 4CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ MÁY DỆT
- Sản phẩm cuối cùng của dây chuyền công nghệ sợi – dệt là vải Vải được tạo thành trên máy dệt
- Sợi con được đưa qua các giai đoạn: đánh ống, mắc sợi, hồ sợi rồi đưa vào máy dệt
- Trong dây chuyền công nghệ dệt tùy theo chức năng và đặc điểm công nghệ mà có các loại máy: máy quấn ống, máy mắc sợi, máy hồ, máy suốt, máy dệt; các máy hoàn thiện như máy văng sấy, máy in hoa
Trong phần này trình bày trang bị điện của hai loại máy máy quan trọng là máy mắc sợi, máy dệt
I ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHỆ:
Búp sợi hay ống sợi sau khi đánh ống được đưa sang gian mắc để quấn sợi lên thùng mắc ( trục mắc) với số sợi nhất định và có chiều dài nhất định tuỳ thuộc vào khổ rộng của vải yêu cầu
Quá trình mắc sợi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Không làm thay đổi tính chất cơ lý của sợi
- Sức căng của tất cả các sợi phải đều nhau và không đổi trong suốt quá trình mắc sợi
- Sợi quấn lên trục mắc phải phân phối đều theo chiều rộng của trục mắc để mặt cuộn sợi của trục là hình trụ
- Bảo đảm quấn đủ chiều dài quy định
Tuỳ theo tính chất của vải và công nghệ mà ta có các phương pháp sau:
Mắc đồng loạt:
Mỗi trục mắc được quấn một phần số sợi dọc của vải trên toàn bộ khổ rộng của trục Sau đó một số n trục mắc được ghép với nhau và quấn lên thùng dệt sao cho tổng số sợi của n trục mắc bằng số sợi yêu cầu trên thùng dệt
Phương pháp này cho năng suất cao nhưng phế phẩm nhiều, thường dùng cho sợi bong
Mắc phân băng:
Sợi được ghép lại với thành băng và quấn lên một đoạn của trục mắc Đến khi đủ chiều dài quy định thì cắt băng sợi đi và quấn tiếp vào băng khác bên cạnh băng đó, cho đến khi tổng số sơij của các băng bằng số sợi trên thùng dệt
Phương pháp này có năng suất thấp nhưng phế phẩm ít, thường dùng cho loại sợi đắt tiền, sợi tơ, sợi nhiều màu
Mắc phân đoạn:
Các trục mắc ở đây tương đối ngắn và mỗi trục được quấn một sợi nhất định, có
độ dài tương đương độ dài sợi của thùng dệt Sau đó đem n trục ghép với nhau thành hàng ngang và quấn lên thùng dệt
Trang 5Phương pháp này thường áp dụng trong ngành dệt kim đan dọc.
Dựa vào các phương pháp mắc mà có các loại: máy mắc đồng loạt, máy mắc phân băng, máy mắc phân đoạn và máy mắc đặc biệt
II ĐẶC TÍNH PHỤ TẢI:
a) Lực kéo sợi trong khi mắc sợi:
Độ căng của sợi có ý nghĩa lớn đối với quá trình công nghệ tiếp theo cuảmáy dệt Độ căng của sợi lớn quá làm cho độ giãn lớn, dẫn đến thường đứt sợi Độ căng không đều nhau của sợi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của vải
Do đó, trong quá trình mắc phải đảm bảo lực căng của sợi là không đổi
Trong quá trình mắc, sợi phải chụi các lực căng sau:
Lực căng Fk1 khi quấn sợi, được xác định theo công thức:
ρ
r f G
F k
.
.
2 2ρ
= [N]
Từ đó thấy rằng, để lực căng Fk2 không tăng nhanh và không lớn thì cần
Trang 6tăng tốc độ quấn v lên từ từ.
Lực căng khi mắc sợi
Lực căng khi mắc sợi bằng tổng lực căng sinh ra do tháo sợi từ búp, do ma sát của sợi, do sức cản không khí khi sợi chuyển động
Lực căng sợi khi mắc do ảnh hưởng của không khí được tính theo công thức:
0
2
2.Q v d l k
K =
[N]
Trong đó:
k- hệ số sức cảnQ- khối lượng riêng của không khí [kg/m3]
n – tốc độ quay của trục mắc
Mc,n,F,v
F(D)
v(D)
Mc(D)
Trang 7n(D)
D
Hình 1: Sự phụ thuộc lực căng, tốc độ dài, tốc độ quay mômen vào đường kính.
- Đường F(D): quan hệ giữa lực căng với đường kính trục mắc
- Đường v(D): quan hệ giữa tốc độ dài của sợi với đường kính trục mắc
- Đường Mc(D): quan hệ giữa mômen phụ tải với đường kính trục mắc
- Đường n(D): quan hệ giữa tốc độ quay với đường kính trục mắc
-III YÊU CẦU TRUYỀN ĐỘNG:
Hệ truyền động điện và điều khiển phải đảm bảo sao cho:
- Đồng nhất độ căng trong quá trình quấn sợi và tốc độ dài của sợi là hằng số
để đảm bảo sợi được phân bố đều trên bề mặt của trục không lồi lõm
Từ quan hệ ở hình 1 nhận thấy, để đáp ứng được yêu cầu trên thì hệ truyền động điện phải điều chỉnh tốc độ sao cho Pc = const, nghĩa là Mc tỷ lệ nghịch với tốc độ quay của trục quấn
- Khởi động phải êm và thay đổi tốc độ phải êm để tránh đứt sợi vì vậy độ tinh điều chỉnh tốc độ càng gần 1 càng tốt
- Hãm nhanh, trong các máy mắc thường dùng hãm động năng
- Phải có tín hiệu báo dừng máy khi sợi bị đứt, khi gút sợi quá to so với yêu cầu, khi sợi đứt đầu mối, khi trục đã đầy sợi
- Điều khiển máy từ xa và dãi điều chỉnh tốc độ rộng
IV TÍNH CHỌN CÔNG SUẤT CHO ĐỘNG CƠ TRUYỀN ĐỘNG CHÍNH:
Tùy thuộc từng loại máy và cơ cấu truyền động mà ta có cách lựa chọn công suất cho phù hợp Ở đây ta dùng máy mắc sợi 4142 có nhiệm vụ cung cấp sợi dọc cho các máy dệt Các sợi dọc này lấy từ 290÷
600 búp sợi Tùy theo từng mặt hàng
mà số sợi được quấn vào trục mắc nhiều hay ít
Trên máy mắc sợi 4142 có các động cơ truyền động sau:
-Động cơ Đ1 là động cơ điện một chiều có công suất P=4kw, truyền động cho trục mắc
Trang 8-Động cơ Đ2 là động cơ không đồng bộ 3 pha lồng sóc có công suất P=0,09kw, quạt mát cho động cơ cơ chính
-Động cơ Đ3 có công suất 0,37kw, truyền động cho cơ cấu nâng dàn sợi
-Động cơ Đ4 có công suất 0,18kw, dùng để kẹp sợi
-Động cơ Đ5 dùng để nâng hạ bàn sợi
Động cơ truyền động chính Đ1 được cấp nguồn từ bộ chỉnh lưu cầu điều khiển một pha không đối xứng gồm 2 thyristor và 2 điốt
Hệ ttruyền hống truyền động điện được thực hiện theo hệ thống kín với hai mạch vòng điều chỉnh tốc độ và điều chỉnh dòng điện Hệ thống tạo xung được xây dựng trên nguyên tắc thẳng đứng
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH MỘT SƠ ĐỒ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỂN HÌNH
CHO MÁY
Trong công nghệ dệt có rất nhiều công đoạn và gồm nhiều máy khác nhau Chúng em xin chọn sơ đồ truyền động của máy mắc sợi để phân tích:
Trang 9Hình 2 Sơ đồ hệ thống điều khiển truyền động điện máy mắc sợi
Trang 10- Phương pháp đảo chiều quay động cơ: Đảo chiều điện áp phần ứng
- Phương pháp điều chỉnh tốc độ: Điều chỉnh điện áp phần ứng của động cơ
I.2 Mạch điều khiển:
Trang 11III THUYẾT MINH HOẠT ĐỘNG SƠ ĐỒ:
- Bộ biến đổi BBĐ được đóng vào nguồn điện lưới nhờ công tắc tơ
Đg Động cơ Đ1 được nối với BBĐ nhờ công tắc tơ KT(1) và KT(3) nếu quay thuận hoặc KN(1) và KN(3) nếu quay ngược Điện áp chủ đạo đặt tốc độ cho động cơ được lấy trên chiết áp Rω1 ứng với tốc độ thấp hoặc Rω2 khi động cơ quay ngược trong trường hợp gỡ rối sợi hoặc Rω3 khi động cơ làm việc ở chế
độ tự động
- Trong quá trình làm việc, đường kính trục mắc tăng dần lên; để đảm bảo lực căng và tốc độ dài không đổi, tốc độ góc của trục mắc và do đó tốc độ động cơ phải giảm đi tương ứng Để thực hiện yêu cầu đó, sợi được đặt trên thanh nâng,
ở đó có đặt một công tắc từ Khi đường kính của trục mắc tăng lên làm cho sợi không vít vào thanh nâng, làm mạch từ khép được khép kín Thanh nâng được nâng lên nhờ động cơ Đ5 truyền động qua hộp tốc độ, đồng thời qua một
bộ giảm tốc cơ khí, con trượt của biến trở Rk di chuyển theo hướng tăng từ thông động cơ để tốc độ động cơ giảm xuống tương ứng với đường kính trục mắc Tốc độ của động cơ trong quá trình động đó sẽ được ổn định nhờ hệ thống truyền động điện thực hiện theo hệ thống kín
- Sơ đồ điều khiển tự động truyền động điện đảm bảo cho máy có thể làm việc
tự động ở mọi cấp tốc độ, ổn định tốc độ, tự động dừng máy khi đủ số vòng, chiều dài hoặc khi có lỗi: đứt sợi, gút sợi quá to
- Để chuẩn bị làm việc, đóng aptômat để cấp điện cho mạch động lực
và mạch điều khiển; K2(1) =1 → động cơ quạt Đ2 quạt mát cho động cơ chính đồng thời RTr3.1(15) = 1; RTr3.2(15,16) =1 → RTr3.1(4,5) =1 và RTr3.2(4,5) = 1 → cấp nguồn cho khối chiết áp đặt tốc độ Rω1, Rω2, Rω3
- Quá trình khởi động máy được diễn ra ở 2 giai đoạn: chạy tốc độ thấp đảm bảo QTQĐ êm, không đứt sợi; sau đó tăng tốc lên trong chế độ làm việc tự động
• Để khởi động máy ở chế độ tốc độ thấp, người vận hành đạp bàn đạp M2(7) hoặc M22(8) → RTr2(8) =1 → RTr2(14) =1 → RTr2.3(14) =1 → RTr2.3(5,6) =1
→ Rω1(10) được đặt một điện áp Ucđ1 nhỏ đặt vào hệ thống điều khiển HTĐK ứng với tốc độ thấp cho động cơ Đ1 Đồng thời RTr2(19) = 0 → KP1(19) = 0 → KP1(23) =1 → RTh(23) =1 → RTh(24) =1 → KP3(24) = 1; RTr2(16) =1 → KT(16) =1; RTr2(10) =1 → KP2(10) =1 → KP2(21) =1 → NC1(21) =1 → nối trục động cơ với trục mắc
• Do KT có điện nên động cơ Đ1 sẽ được nối để động cơ quay thuận tương
Trang 12ứng với chiều quấn sợi Các tiếp điểm RTr2(10) =1, KT(11) =1 → RTr4(11) = 1→ RTr4(25) =1 → KK(25) =1 → nối ngắn mạch điện trở Rk → ICKĐ1=
đm → từ thông Φ của động cơ là định mức → rơle kiểm tra từ thông RTT tác động
→ RTT(28) =1 → RKT(28) =1; KK(14) =1 + KT(15) =1→Đg(15) =1
Kết quả Đg(đl) đóng để cấp nguồn xoay chiều lên bộ biến đổi
BBĐ để động cơ Đ1 khởi động và quay với tốc độ thấp
• Sau khi sợi đã được quấn ổn định vào trục mắc, người vận hành có thể tăng tốc độ quấn sợi bằng cách ấn nút M1(2) hoặc M11(4); rơle RTr1(2) =1→RTr1(7) =0 → RTr2(8) =0 → RTr2(14) =0 → RTr2.3(14) = 0; RTr2(12) =1→ RTr2.1(12) =1 và RTr2.2(13) =1 → RTr2.1(9) =1, RTr2.2(5,6) =1 và RTr2.3(10) = 0 → điện áp Ucđ sẽ được lấy trên Rω3 có giá trị lớn Đồng thời RTr2(10) = 0 → RTr4(11) =0 → RTr4(25) = 0 → KK(25) =1 → kết quả điện trở RK được nối tiếp với cuộn CKĐ1 để giảm dòng kích từ của động cơ→ từ thông động cơ giảm → tăng tốc động cơ đến trị
số đặt ban đầu tương ứng với tốc độ dài yêu cầu khi quấn và đường kính trục mắc ban đầu Trong quá trình quấn sợi, tốc độ động cơ và tốc độ trục mắc sẽ được điều chỉnh và ổn định tương ứng với đường kính trục mắc để đảm bảo tốc độ dài của sợi không đổi
Dừng máy bằng cách ấn D1(2) → RTr1(2) =0 → RTr1(19) =1 → KP1(19)=1
→ KP1(23) =0 → RTh(23) =0 và KP1(15) =0 → Đg(15) =0 → bộ biến đổi BBĐ được cắt ra khỏi lưới điện đồng thời KP1(22) = 1 và Đg(22) =1 → KH(22) =1 → KH(1,3) =1 → động cơ Đ1 được nối với điện trở hãm Rh để thực hiện hãm động năng Sau thời gian chỉnh định của RTh → RTh(24) =0→ KP3(24) =0 → KP3(đl)
=0 → NC2 mất điện kẹp chặt trục mắc lại
Khi sợi quấn đủ vòng và chiều dài thì tiếp điểm của đattric đo số vòng và độ dài P1(25) =1 và P2(26) =1 → R3(25) =1 và R4(26) =1 → R3(2) =0 và R4(2) =0 → RTr1(2) =0 Tương đương ấn D1
Trong quá trình mắc sợi, tiếp điểm R0(23) của xenxơ báo đứt sợi sẽ kín → R1(22)
=1 → R1(2) =0 → RTr1(2) =0 Tương đương ấn D1
Trong trường hợp gút sợi quá to, tiếp điểm của xenxơ quay đo độ dày của sợi RQ(24) =1 → R2(24) =1 → R2(2) = 0 → RTr1(2)=0 Tương đương ấn D1
Khi sợi bị đứt và bị quấn vào trục mắc, để nối sợi, người vận hành phải quay ngược trục quấn, tải sợi ngược lại Thực hiện điều đó bằng cách ấn nút M3(13) → RTr3(13) =1 → RTr3(17) =1 → KN(17) =1; RTr3(26) =1 → K31(26) =1, RTr3(16) =1 → RTr3.3(16) =1; K41(14) =1; RTr3(17) =1→ KN(17) =1 → KN(1) + KN(3) =1 → động cơ được nối vào BBĐ với cực tính điện áp ngược và
Trang 13điện áp được lấy trên chiết áp Rω2 có trị số bé do RTr3.3 (16) =1 → RTr3.3(8) =1 Dàn sợi được nâng lên và sợi được kẹp, trục mắc quay ngược với tốc độ thấp sợi được tải ra.
Trong quá trình mắc sợi vào trục mắc, bàn nâng được nâng lên cùng với sự tăng của đường kính trục mắc, như vậy cứ sau mỗi lần quấn sợi, bàn nâng được nâng lên ở mức độ nhất đinh tùy theo đường kính trục quấn lớn, bé và độ dài của sợi quấn vào trục Để thực hiện mắc sợi vào một trục mới, phải hạ bàn nâng xuống vị trí thấp nhất bằng nút ấn M3(13) → K43(14) =1 → Đ4 được đóng điện để hạ bàn xuống đồng thời do có liên động cơ khí với con trượt biến trở Rk, các chiết áp Rđ1(7), Rđ2(7) cũng di chuyển về vị trí ban đầu Khi bàn được hạ xuống vị trí thấp nhất, tiếp điểm công tắc hành trình HT3(6) = 0 → K52(6) =0 →động cơ Đ5 mất điện Công tắc hành trình HT1, HT2 hạn chế giới hạn cao nhất của bàn nâng
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ PHÂN TÍCH ỨNG DỤNG CỦA MÁY
Trang 15Phân tích sơ đồ:
Điều khiển máy được thực hiện bằng 4 bộ nút ấn đặt ở 4 trụ của máy, đảm bảo người vận hành có thể điều khiển thuận tiện Mỗi bộ nút ấn gồm: Nút chạy chậm (M12 ÷ M42), nút chạy nhanh (M11 ÷ M41) và nút dừng máy D1÷ D4
Trên máy có các liên động sau: Khi cửa điện từ đã đóng, BK1(1) =1; hai tiếp điểm cửa lấy vải BK2(1) =1 và BK3(2) =1 Khi trục vải chưa nặng quá trọng lượng cho phép, tiếp điểm công tắc hành trình BK4(1) =1
Khi đã đủ các điều kiện liên đông trên, để vận hành máy, đóng aptômat AB, rơle trung gian RTr3(9) =1, RTr4(9-10) =1 → RTr3(2) =1 và RTr4(3) =1 → chuẩn bị cho máy làm việc Muốn chạy với tốc độ thấp thì ấn một trong các nút M12 ÷ M42
→ RTr1 =1 và RTr2 =1 → K1(2) =1 → bộ biến đổi được nối vào nguồn điện; điện
áp chủ đạo được được lấy trên chiết áp Rω2, được điều chỉnh tương ứng với tốc độ thấp
Khi cần dệt với tốc độ cao, ấn một trong các nút ấn M11 ÷ M41, công tắcK1(2) =1 nhưng RTr1(3) =0 → điện áp chủ đạo lấy trên biến trở Rω1 có trị
số lớn, tốc độ động cơ sẽ lớn
Dừng máy bằng cách ấn nút D1 ÷ D4 → K1(2) =0 → động cơ Đ1 được hãm
tự do Để báo đứt sợi trên, sợi dưới thì trên máy có hai hệ thống xenxơ ĐT1(5-6) và ĐT2(7-8) Mỗi xenxơ có một tiếp điểm và một đèn chỉ thị LED Khi đứt sơi, tiếp điểm ĐT1 hoặc ĐT2 kín, đèn chỉ thị LED sáng → người vận hành có thể biết vị trí sợi đứt; đồng thời rơle RTr2(5-6) = 1 → K2(4) = 1, RTr3(9) =0 và RTr4(9-10) =0 → RTr2(2) =0 → K1(2) =0 → bộ biến đổi BBĐ mất điện, động cơ thực hiện chế độ hãm động năng do K2(đl) =1 Khi lượng vải dệt đủ chiều dài, tiếp điểm RP(8) =1→ RTr2(5-6) =1 → quá trình diễn ra tương tự như báo đứt sợi NC1 là cuộn nam châm của van bơm dầu bôi trơn Trong quá trình làm việc, nếu cửa tủ điện, cửa lấy vải mở hoặc trục quấn vải tụt xuống chạm vào công tắc hành trình BK4 thì công tắc K1(2)
=0, động cơ hãm tự do như ấn các nút Các đèn tín hiệu:
- ĐH1: hãm động năng
- ĐH2: báo đứt sợi trên (đèn bên ngoài)
- ĐH3: chỉ thị đủ độ dài vải cần dệt
- ĐH4: chỉ thị nguồn điều khiển
Các đèn LED: ĐHD, ĐHT: báo đứt sợi dưới, trên
Động cơ Đ2 kéo quạt làm mát cho động cơ chính Đ1 Động cơ Đ3 kéo quạt làm mát cho bộ phận dệt vải
2 Máy kéo sợi len: