Nhận thức cảm tính gồm cáchình thức sau: • Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào cácgiác
Trang 1Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện ở những mức độphản ánh về hiện thực khác nhau (cảm giác , tri giác) và mang lại những sản phẩmkhác nhau (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm)
Hoạt động nhận thức bao gồm hai giai đoạn : nhận thức cảm tính và nhận thức lítính
a. Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu
tiên của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan
để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy Nhận thức cảm tính gồm cáchình thức sau:
• Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính
riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào cácgiác quan của con người Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, làkết quả của sự chuyển hoá những năng lượng kích thích từ bên ngoàithành yếu tố ý thức Lê Nin viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan" Nếu dừng lại ở cảm giác thì con người mới hiểu đượcthuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật Điều đó chưa đủ; bởi vì, muốn hiểubiết bản chất của sự vật phải nắm được một cách tương đối trọn vẹn sựvật Vì vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn
• Tri giác: hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn
sự vật khi sự vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người.Tri giác là sự tổng hợp các cảm giác So với cảm giác thì tri giác là hìnhthức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn Trong tri giác chứa đựng cảnhững thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có tính trực quan của sựvật Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải phân biệt được đâu là thuộc
Trang 2tính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc trưng và phải nhận thức sựvật ngay cả khi nó không còn trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giáccon người Do vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn
• Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn
chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tácđộng trực tiếp vào các giác quan Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu
tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp Bởi vì, nó được hình thànhnhờ có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sựtham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp Cho nên biểu tượng phản ánhđược những thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật
Giai đoạn này có các đặc điểm:
• Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhậnthức
• Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bảnchất và không bản chất Giai đoạn này có thể có trong tâm lý độngvật
• Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên
hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật Để khắc phục, nhận thứcphải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính
b. Nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh
gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức nhưkhái niệm, phán đoán, suy luận
• Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh
những đặc tính bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quảcủa sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sựvật hay lớp sự vật Vì vậy, các khái niệm vừa có tính khách quan vừa cótính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thườngxuyên vận động và phát triển Khái niệm có vai trò rất quan trọng trongnhận thức bởi vì, nó là cơ sở để hình thành các phán đoán và tư duy khoahọc[2]
• Phán đoán: là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với
nhau để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối
Trang 3tượng Thí dụ: "Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng" là một phánđoán vì có sự liên kết khái niệm "dân tộc Việt Nam" với khái niệm "anhhùng" Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được phân chialàm ba loại là phán đoán đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặcthù (ví dụ: đồng là kim loại) và phán đoán phổ biến (ví dụ: mọi kim loạiđều dẫn điện) Ở đây phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sự phảnánh bao quát rộng lớn nhất về đối Nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhậnthức chỉ mới biết được mối liên hệ giữa cái đơn nhất với cái phổ biến,chưa biết được giữa cái đơn nhất trong phán đoán này với cái đơn nhấttrong phán đoán kia và chưa biết được mối quan hệ giữa cái đặc thù vớicái đơn nhất và cái phổ biến Chẳng hạn qua các phán đoán thí dụ nêutrên ta chưa thể biết ngoài đặc tính dẫn điện giống nhau thì giữa đồngvới các kim loại khác còn có các thuộc tính giống nhau nào khác nữa Đểkhắc phục hạn chế đó, nhận thức lý tính phải vươn lên hình thức nhậnthức suy luận.
• Suy luận: là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại
với nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thứcmới Thí dụ, nếu liên kết phán đoán "đồng dẫn điện" với phán đoán
"đồng là kim loại" ta rút ra được tri thức mới "mọi kim loại đều dẫnđiện" Tùy theo sự kết hợp phán đoán theo trật tự nào giữa phán đoánđơn nhất, đặc thù với phổ biến mà người ta có được hình thức suy luận
Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thứcmới một cách nhanh chóng và đúng đắn
Giai đoạn này cũng có hai đặc điểm:
• Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng
• Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng
Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệchặt chẽ với nhau Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lýtính Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sựcủa sự vật
II CẢM GIÁC
a. Khái niệm: Tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới bộc lộ hàng loạt
cá thuộc tính bề ngoài như: Kích thước, trọng lượng, màu sắc… nhữngthuộc tính này được con người nhận thức qua từng cấp độ nhận thức cả
Trang 4một quá trình nhận thức, trong đó cảm giác là cung đoạn đầu tiên, tầngbậc thấp nhất của hoạt động nhận thức mà khi khám phá bất kỳ một sựvật hiện tượng nào trong thế giới khách quan con người phải trải qua, nó
là hình thức đầu tiên thể hiện mối liên hệ giữa con người với môi trườngxung quanh
Ví dụ: gọi một hoặc vài sinh viên làm thực nghiệm với một vật bất kỳ thì
mô tả lại quá trình tiếp xúc, nhận biết vật bất kỳ đó, với điều kiện không được nhìnthấy trước, không được nắm tay lại để sờ mó vật
b. Đặc điểm của cảm giác
- Là một quá trình tâm lý, có nảy sinh, diễn biến và kết thúc, chính các sự vậthiện tượng trong thế giới khách quan kích thích vào sự hưng phấn của cơ thểgây ra cảm giác, nhận biết sự vật hiện tượng đó
- Cảm giác chỉ phản ánh tựng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng, chứkhông phản ánh được trọn vẹn các thuộc tính của sự vật hiện tượng
Nội dung phản ánh: : phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ bề ngoài của sự vật,hiệntượng cụ thể do hoạt động của từng giác quan
- Phương thức phản ánh: trực tiếp bằng hoạt động của từng giác quan riêng lẻ
Ví dụ: Mắt nhìn, tai nghe…
- Cảm giác của con người mang bản chất xã hội lịch sử
- Sản phẩm phản ánh: cảm giác thành phần về sự vật, hình ảnh riêng lẻ vềtừng thuộc tính của sự vật
- Đối tượng phản ánh: SVHT trong tự nhiên và cả sản phẩm lao động do conngười sáng tạo ra Điều này nói lên cảm giác ở con người khác xa về chất sovới cảm giác của con vật
Vd: mùi hương của hoa, quả thì cả người và vật đều biết nhưng hương hoathì chỉ có con người cảm nhận
- Cơ chế cảm giác của con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ 1
mà cả hệ thống tín hiệu thứ 2
Vd: 1 người thợ dệt giỏ có thể phân biệt được 60 màu đen khác nhau
- Từ những đặc điểm này cho chúng ta thấy mức độ phản ánh của cảm giác làrất sơ đẳng, mới chỉ dừng lại ở những thuộc tính bề ngoài và chỉ phản ánhđược khi có sự tiếp xúc trực tiếp với sự vật, nhưng trong thực tế nhiều khi
Trang 5đòi hỏi chúng ta phải phản ánh những vật không trực tiếp tác động đến cácgiác quan.
III. BẢN CHẤT CỦA CẢM GIÁC
Tuy cảm giác là hình thức phản ánh sơ đẳng nhất, thấp nhất ở con người
và ngoài ra hiện tượng phản ánh này cũng có ở các loài đông vật khácnhưng ở người là hiện tượng phản ánh sự vật mang tính xã hội cao, đượcthể hiện qua các điểm sau:
- Về đối tượng phản ánh
- Cơ chế sinh lý của cảm giác để phản ánh ở người
- Mức độ định hướng đầu tiên, sơ đẳng nhất
- Ảnh hưởng của các hoạt động giáo dục,các hoạt động xã hội khác
IV. PHÂN LOẠI CẢM GIÁC
a. Cảm giác bên ngoài
- Cảm giác nhìn( thị giác): nảy sinh do tác động của song ánh sángphát ra từ sác sự vật
• Cảm giác nhìn cho chúng ta biết được hình thù, khối lượng , màusắc độ xa của sự vật, hiện tượng, thông tin mà cảm giác đem lại từ thế giớibên ngoài chiếm 90% lượng thông tin mà con người nhận được
• Cảm giác nhìn có đặc điểm không mất ngay sau khi có kích thíchmạnh ngừng tác động
- Cảm giác nghe( thính giác ): do song ân thanh, tức là do những daođộng của không khí gây nên
• Cảm giác nghe phản ánh những thuộc tính của âm thanh, tiếng nói,tần số dao động, cường độ giao động và hình thức dao động
• Cảm giác nghe không thể thiếu được trong đời sống con người, đặcbiệt là trong giao lưu ngôn ngữ và cảm nhân một số loại hình nghệ thuật
- Cảm giác ngửi(khứu giác): do phân tử của các chất bay hơi tác độnglên màng ngoài của khoan mũi cùng không khí gây nên
• khứu giác cho chúng ta biết được tính chất của mùi
- cảm giác nếm( vị giác ): được tạo nên do tác động của thuộc tính hóahọc của các chất hòa tantrong nước lên cơ quan thụ cảm của vị giác
• các loại cảm giac nếm: mặn, ngọt, chua, cay,…
• sự đa dạng của cảm giác nếm phụ thuộc vào sư đa dạng của mùithức ăn, đò uống kết hợp với cảm giác ngửi
Trang 6- cảm giác da( mạc giác ): do những kích thích cơ học và nhiệt độ tácđộng lên da tạo nên.
- các loại cảm giác da: cảm giác dụng chạm, nén, nóng , lạnh, đau,… độnhạy của các phần khác nhau của da đối với mỗi loại cảm giác này là khácnhau
b. Cảm giác bên trong
- cảm giác vận động và sờ mó
• Cảm giác vận động phản ánh những biến đổi xảy ra trong các cơquan vận động, báo hiều độ co của cơ và vị trí các phần trong cơ thể dogân, khớp bị kích thích
• Sự phối hợp giữa cảm giác vận động và cảm giác đụng chạm tạothành cảm giác sờ mó
• Bàn tay của con người là cơ quan sờ mó, nó được phát triển manh
mẻ, trở thành công cụ lao động và nhận thức quan trọng
- Cảm giác thăng bằng: phản ánh vị trí và những chuyển đông của đầu, cơquan cảm giác thăng bằng ở trong tai, cơ quan này bị kích thích manh sẽ gây
ra chong mặt, nôn mửa
- Cảm giác rung: do dao động của không khí tác động lên mặt bằng thânthể tạo nên, nó phản ánh sự rung động của các sự vật, cảm giác này pháttriển ở những người điếc, nhất là người câm
- Cảm giác cơ thể: phản ánh tình trạng hoạt động của cơ quan nội tạng baogồm cảm giác đói, no, bồn chồn, đau các cơ quan bên trong và những cảmgiác liên quan đến quá trình hô hấp và tuần hoàn của con người
V. Các quy luật của cảm giác
a. Quy luật ngưỡng của cảm giác
- Ngưỡng là mức độ tối thiểu hoặc tối đa dùng để đo một đại lượng nhấtđịnh
- Ngưỡng cảm giác là giới hạn mà ở đó các kích thích gây ra được cảm giác
- Muốn gây ra được cảm giác thì phải có kích thích tác động vào các giácquan và các kích đó phải đạt tới một giới hạn nhất định; kích thích quá yếukhông đủ gây nên cảm giác, kích thích quá mạnh có thể sẽ làm mất cảmgiác
b Quy luật thích ứng của cảm giác
Trang 7Tất cả các sự vật hiện tượng xung quanh chúng ta luôn luôn vận động vàphát triển buộc con người muốn tồn tại phải thích nghi với chúng Để đảm bảocho sự phản ánh tốt và bảo vệ cho sự thay đổi của hệ thần kinh, cảm giác củacon người có khả năng thích ứng với các kích thích từ ngoài môi trường.
Sự thích ứng của cảm giác là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giáckhi gặp kích thích mạnh và lâu, phát triển độ nhạy cảm khi gặp kích thích yếu
Ví dụ: Khi ta đeo vòng tay thì lâu ngày ta không còn cảm nhận được sức
nặng của nó như khi mới đeo nữa
- Không phải tất cả các cảm giác đều có khả năng thích ứng như nhau, cónhững cảm giác thích ứng nhanh: cảm giác ngửi, cảm giác nhiệt độ; cónhững cảm giác thích ứng chậm: cảm giác nghe, cảm giác đau và cảm giácthăng bằng
- Khả năng thích ứng của cảm giác có thể thay đổi và phát triển do hoạtđộng, rèn luyện và tính chất nghề nghiệp và nó có thể phát triển cao nếu biếtrèn luyện kiên trì và đúng phương pháp
Ví dụ: Từ chỗ tối bước qua chỗ sáng, phải qua một thời gian đợi cho tính nhạy cảm của khí quan phân tích giảm xuống ta mới phân biết được các vật xung quanh.
- Độ nhạy cảm của cảm giác thay đổi do tính chất và cường độ của kích thích
và cũng có thể thay đổi do sự tác động qua lại giữa các cảm giác
Tuỳ thuộc vào tính chất hoặc cường độ của vật kích thích tác động vào cácgiác quan cũng có thể thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác
Ví dụ: Hai bàn tay, một ngâm vào nước nóng, một ngâm vào nước lạnh sau đó nhúng cả hai tay vào chậu nước bình thường thì bàn tay ngâm ở chậu nước nóng cảm thấy nước ở chậu lạnh hơn so với bàn tay kia
c Quy luật về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các cảm giác
Con người tồn tại là một thực thể thống nhất, vì vậy tát cả các cơ quan phântích, các cảm giác của con người đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mặtkhác thế giới khách quan luôn tác động đến con người bằng nhiều thuộc tính,tính chất khác nhau của vật chất, do đó gây nên nhiều cảm giác khác nhau ở conngười, các cảm giác này không tồn tại biệt lập mà có mối liên hệ mật thiết, tácđộngqua lại lẫn nhau, kết quả của sự tác động ấy là làm thay đổi độ nhạy cảmcủa một cảm giác này dưới tác động của các cảm giác khác
Quy luật chung của sự tác động này là: Sự kích thích yếu lên một cơ quan phântích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ quan phân tích khác, sự kích thíchmạnh lên một cơ quan phân tích này sẽ làm giảm đọ nhạy cảm của một cơ quanphân tích kia
Ví dụ: Những âm thanh nhẹ làm tăng thêm tính nhạy cảm nhìn.
Trang 8Khi bị bệnh thì lúc ăn sẽ không có cảm giác ngon miệng.
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể làm tăng cảm giác hoặc làmgiảm cảm giác Sự tác động này có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp trênnhững cảm giác cùng loại hoặc khác loại
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác cùng loại gọi là hiện tượng tương phảntrong cảm giác
Sự tương phản là sự thay đổi cường độ hay chất lượng của cảm giác do ảnhhưởng của kích thích cùng loại diễn ra trước đó hay đồng thời
Có hai loại tương phản:
- Tương phản đồng thời: khi đặt hai tờ giấy trắng cùng loại, một trên nềngiấy đen, một trên nền xám thì tờ giấy trắng trên nền giấy đen ta có cảmgiác như nó trắng hơn so với tờ giấy trên nền xám kia Đây là hiện tượngtương phản đồng thời
- Tương phản nối tiếp: Khi ngâm tay vào chậu nước đá thì khi bỏ tay ra
và ngay sau đó ngâm vào một chậu nước ấm ta sẽ cảm giác chậu nướcthật âm nóng hoặc khi ăn một cái kẹo ngọt sau đó ăn một quả chuối thì ta
sẽ thấy quả chuối đó không ngọt như trước nữa Đó chính là hiện tượngtương phản nối tiếp
Đôi khi do sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các cảm giác mà chúng ta có thểgặp hiện tượng loạn cảm giác, khi gây ra cảm giác này lại xuất hiện cảm giáckhác
Ví dụ: khi lấy hai viên sỏi cọ sát vào nhau, thực hiện trong bóng tối nhằm tạo
ra ánh sáng, nhưng âm thanh của nó phát ra khiến ta nghe inh tai Qua hiện tượng này ta thấy rằng ta muốn tạo ra cảm giác nhìn (thị giác) nhưng cảm giác nghe (thính giác) lại xuất hiện.
VI. VAI TRÒ CỦA CẢM GIÁC
Trong cuộc sống nói chung và hoạt động nhận thức nói riêng của con người, cảmgiác có những vai trò quan trong sau đây:
- Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người và con vật tronghiên thực khách quan tạo nên mối liên hệ trực tiếp trong cơ thể và môitrường xung quanh Cảm giác chỉ phản ánh riêng lẻ từng thuộc tính bênngoài sự vật, hiện tượng, nó tác động trực tiếp vào cơ quan cảm giác củachúng ta tức là sự vật đang hiện diện ở đây và bây giờ trong mối quan hệ với
con người VI.Lênin đã chỉ rõ: “Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa ý
thức và thế giới bên ngoài, là sự chuyển hoá của năng lượng kích thích bên ngoài thành hiện tượng ý thức”
Trang 9Ví dụ: khi thời tiết nắng nóng nhờ có cảm giác mà ta nhận thấy được cơ thể ta đang
nóng lên và cơ thể sẽ tự điều tiết toát ra mồ hôi để giảm nhiệt độ của cơ thể
- Cảm giác chính là kênh thu nhận các loại tư tưởng phong phú và sinh động
từ thế giới bên ngoài ảnh hưởng quan trọng đến nhận thức cao hơn sau này.Không có nguyên vật liệu quan trọng với cảm giác thì không thể có nhận
thức cao hơn VI.Lênin cho rằng: “Cảm giác là nguồn gốc duy nhất của
hiểu biết” Ngày nay các nhà triết học còn chỉ ra vai trò của từng loại cảm
giác trong vật chất thu nhận tư tưởng từ phía khách quan: vị giác 1%; xúcgiác 1.5%; khứu giác 3.5%; thính giác 11%; thị giác 83%
- Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của võnão, nhờ đó đảm bảo hoạt động thần kinh của con người được bình thường.Nếu con người trong trạng thái “đói cảm giác” các chức năng tâm sinh lí sẽ
bị rối loạn
VD: Những người không tiếp xúc với thế giới bên ngoài thì sẽ có tâm trạng không
bình thường như: sợ ánh sáng, lo âu, buồn chán,
- Cảm giác là nguồn cung cấp những nguyên vật liệu cho chính các hình thứcnhận thức cao hơn “Cảm giác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận
thức” V.L.Lênin đã nói: “Ngoài thông qua cảm giác, chúng ta không thể
nào nhận thức được bất cứ một hình thức nào của vật chất, cũng như bất cứ hình thức nào của vận động”, “tiền đề đầu tiên của lí luận về nhận thức chắc chắn nói rằng cảm giác là nguồn gốc duy nhất của hiểu biết” và “Tất
cả hiểu biết đều bắt nguồn từ kinh nghiệm, từ cảm giác, tri giác” Nếu
không có cảm giác thì chúng ta không hiểu biết gì về hình thức vật chất
VD: khi ta đang đi trên đường mà vấp phải một hòn đá thì ta sẽ bị ngã và lần sau
nếu đi qua đoạn đường đó ta sẽ chú ý hơn sẽ không bị té lần nữa
- Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọngđối với người bị khuyết tật Những người mù, câm, điếc nhận ra đồ vật,người thân nhờ xúc giác
VD: người bị câm thì giao tiếp với người khác bằng ánh mắt, hành động chân tay
và những cử chỉ cụ thể…
- Cảm giác giúp con người có cơ hội làm giàu tâm hồn, thưởng thức thế giớixung quanh chúng ta Cảm giác giữ cho não ở trạng thái hoạt hoá đảm bảohoạt động của xung thần kinh, giúp cho con người làm giàu tâm hồn, thưởngthức thế giới diệu kì xung quanh
- Vai trò của tri giác và hoạt động nhận thức của con người :
Trang 10Tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính, đặc biệt là ở người trưởngthành.Nò là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động củacon người trong môi trường xung quanh Hình ảnh của tri giácgiúp con người điềuchỉnh hành động cho phù hợp với sự vật hiện tượng khách quan Đặc biệt hình thứctri giác cao nhất: quan sát, do những điều kiện xã hội chủ yếu là lao động xã hộitrờ thành một mặt tương hỗ trợ độc lập của hoạt động và trở thành một phươngpháp nghiên cứu quan trọng của khoa học, cũng như của nhận thức thực tiễn.
Ví dụ: Ta có thể nhận dạng một vật mà không cần dùng mắt mà có thể dùng tay để
sờ hoặc bóp ta cũng có thể nhận ra đó là vật gì
VII. TRI GIÁC
Khác với cảm giác, tri giác là một cấp độ nhận thức mới trong nhận thức cảm tính,cao hơn cảm giác, nó không nhận thức tổng số các thuộc tính riêng lẻ mà nó phảnánh sự vật hiện tượng nói chung trong tổng hoà các thuộc tính của nó ( làm lạithực nghiệm trước nhưng mô tả lại các hình thức phản ánh theo kiểu của tri giác)
- Cũng chỉ phản ánh được những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng
- Chỉ phản ánh sự vật hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào cácgiác quan
Nhưng ở mức độ nhận thức mới hơn, tri giác coàn có các đặc điểm nổi bật sau:
- Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn: Nếu ở cảm giác chỉphản ánh được từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng khi chúng đang trựctiếp tác động vào các giác quan thì tri giác đã có khả năng phản ánh tổng hợp các