Biết: trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trọng tài như sau: “mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật V
Trang 1ĐỀ BÀI
Tháng 01/2014, giám đốc Công ty cổ phần Bách hóa Hà Thiêm ký hợp đồng mua 1000 tấn đường (giá: 12.000 đồng/ kg) với giám đốc công ty cổ phần Thiên Sơn Đến thời hạn giao hàng, công ty Thiên Sơn không giao được hàng cho công
ty Hà Thiêm Do không có hàng hóa, công ty Hà Thiêm không thực hiện được hợp đồng với đối tác và bị đối tác phạt vi phạm 150 triệu đồng Công ty Hà Thiêm gửi thông báo yêu cầu công ty Thiên Sơn bồi thường thiệt hại 400 triệu đồng và chịu phạt 8% giá trị hợp đồng nhưng công ty Thiên Sơn không chấp thuận Công ty Hà Thiêm quyết định khởi kiện ra Tòa án
1 Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực
2 Biết: trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trọng tài như sau: “mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.” Hãy nhận xét
về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
3 Tòa án có thể thự lý đơn khởi kiện của công ty Hà Thiêm không? Vì sao?
4 Phân tích các căn cứ pháp lí để xác định tính hợp pháp của yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm của công ty Hà Thiêm
Nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm của công ty Hà Thiêm la hợp pháp, hãy xác định giá trị bồi thường thiệt hại và hạt vi phạm mà công
ty Thiên Sơn phải chịu?
Trang 2GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1 Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực.
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ Theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở dữu hàng hoá theo thoả thuận Tuy nhiên, không phải bất kỳ mọi thỏa thuận của các bên đều được pháp luật thừa nhận
mà chỉ có những thỏa thuận tuân theo quy định của pháp luật mới có hiệu lực Luật thương mại 2005 (LTM) không có quy định cụ thể về điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực, vì vậy khi xem xét hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa cần phải dựa trên những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của Luật dân sự 2005 (BLDS).Điều 122 Bộ Luật dân sự quy định:
“ 1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người than gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.
Căn cứ vào quy định của BLDS 2005 và các quy định có liên quan, có thể xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, chủ thể giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện.
“ Tự nguyện” được hiểu là sự phù hợp, thống nhất giữa mong muốn bên trong với
sự bày tỏ mong muốn đó ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Ý chí của chủ thể phải là ý chí đích thực, tức là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong
Trang 3của chủ thể không bị tác động bởi bất cứ yếu tố chủ quan hay khách quan nào khác dẫn tới việc chủ thể đó không nhận thức hoặc kiểm soát được ý chí của mình.Giữa
ý chí đích thực của chủ thể(bên trong) với sự biểu hiện ý chí(sự biểu hiện ra bên ngoài) phải có sự thống nhất.Nếu không có sự thống nhất ý chí thì chủ thể không
có sự tự nguyện
Thứ hai,đại diện của các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải hợp
pháp
Pháp luật quy định hai trường hợp: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Người có thẩm quyền đại diện theo pháp luật quy định tại Điều 141 BLDS
2005 Tại điều 145 BLDS 2005 quy định về hậu quả giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện thì khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên hợp đồng được đại diện trừ trường hợp được người đại diện ủy quyền hoặc được người được đại diện đồng ý
Thứ ba, các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa có năng lực chủ
thể(năng lực pháp luật và năng lực hành vi đối với cá nhân), năng lực pháp luật đối pháp nhân
Điều 14 BLDS 2005 quy định: “ năng lực pháp luật dân sự của cá nhân” là khả
năng cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như
nhau Điều 86 BLDS 2005 quy định “ năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân”
là khả năng pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích của mình, phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chầm dứt pháp nhân Trong pháp luật thương mại năng lực chủ thể của các bên chủ thể thể hiện ở chỗ, trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì một bên chủ thể phải là
Trang 4thương nhân, chủ thể còn lại có thể không phải là thương nhân Trong một số ngành nghề pháp luật thương mại, đòi hỏi các chủ thể phải đáp ứng them những yếu tố cần thiết như: mua bán hàng hóa dịch vụ thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện thì các chủ thể phải có giấy phép kinh doanh Như vậy nếu chủ thể của hợp đồng là cá nhân tham gia hợp đồng với mục đích lợi lợi nhuận thì phải đáp ứng điều kiện có kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán
Thứ tư, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội
Nhìn chung, đạo đức xã hội là những hành vi được số đông trong xã hội ứng
xử và chấp nhận Hành vi trái với những hành vi đó có thể coi là trái với đạo đức
xã hội để bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ các giá trị đạo đức xã hội, bảo vệ quyền
tự do và lợi ích của người khác, hệ thống pháp luật nào cũng có những quy định cấm một số hành vi nhất định không được làm, ví dụ cấm kinh doanh một số hành hóa, (ví dụ như pháo nổ)
Nội dung hợp đồng phải hợp pháp nghĩa là hợp đồng đó phải có các điều khoản chủ yếu của hợp đồng Điều khoản chủ yếu của hợp đồng, hay còn gọi là điều khoản cơ bản, điều khoản luật định của hợp đồng, là những điều khoản bắt buộc phải có trong hợp đồng, nếu thiếu một trong các điều khoản đó thì hợp đồng không
có giá trị pháp lý
Thứ năm, hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong
trường hợp pháp luật có quy định
Khoản 2 Điều 24 LTM 2005 quy định: “ đối với các loại hợp đồng mua bán hành hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”
Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một bên hoặc các
Trang 5bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn; qúa thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu Một số trường hợp pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản như: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế-phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu
Như vậy, để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực thì phải đáp ứng đủ các điều kiện trên
2 Biết: trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trọng tài như sau: “mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.” Hãy nhận xét
về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Theo khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì “Thỏa thuận thương mại là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” Để thỏa thuận trọng tài thương mại phát
sinh hiệu lực thì cần phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, điều kiện về chủ thể của thỏa thuận trọng tài thương mại:
Người xác lập thỏa thuận trọng tài thương mại có thẩm quyền theoquy định của pháp luật
Người tham gia xác lập thỏa thuận trọng tài phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cụ thể:
Trang 6Đối với chủ thể ký kết là cá nhân: Phải có NLHVDS đầy đủ, không bị mất hay hạn chế NLHVDS;
Đối với chủ thể ký kết là pháp nhân: Do đặc trưng việc tham gia vào quan hệ pháp luật của chủ thể này phải thông qua người đại diện hợp pháp nên khi xem xét NLHVDS của chủ thể này căn cứ vào cả năng lực chủ thể của cả pháp nhân và cá nhân là người đại diện hợp pháp của pháp nhân Đối với công ty Cổ phần Thiên Sơn là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Cửa hàng bách hóa Hà Thiên thì chủ
sở hữu phải đăng ký kinh doanh nên đáp ứng yêu cầu về chủ thể
Về ý chí của các bên: Thỏa thuận về trọng tài thương mại cần phải xuất phát
từ ý chí của các bên mới làm phát sinh hiệu lực của điều khoản này Chỉ cần một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu
Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài:
Theo điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 thì những trường hợp sau: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài mới phát sinh giải quyết tranh chấp trọng tài.Thẩm quyền của trọng tài thương mại trước hết được xác định bởi thỏa thuận giữa các bên Theo như khoản1 điều 5 của LTTM
2010: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.” Như vậy, để một việc thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương
mại, điều kiện trước hết phải là giữa các bên có tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài Ở đây, ta có thể thấy sự tôn trọng thỏa thuận của các bên: trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền giải quyết nếu như được các bên có “vụ việc” lựa chọn, không
Trang 7có sự ép buộc, tất cả đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện Thêm vào đó, thời điểm thỏa thuận về giải quyết trọng tài như vậy, theo đánh giá chung là rất thoáng và linh hoạt cho các bên khi lựa chọn, không nhất thiết phải thỏa thuận trước mà có thể sau khi xảy ra tranh chấp, các bên chỉ cần quan tâm vấn đề làm như thế nào cho đúng quy định, không làm vô hiệu thỏa thuận trọng tài thì việc giải quyết sẽ đượcthực hiện theo hình thức trọng tài thương mại tuyên bố thoả thuận trọng tài đó
là vô hiệu (khoản 5 Điều 18)
Thứ ba,điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài thương mại.
Điều 16 luật TTTM 2010 đã quy định: “thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng” Theo đó, hình thức của thỏa thuận trọng tài được tồn tại dưới một
trong hai hình thức: là điều khoản trong hợp đồng hoặc thỏa thuận riêng
Đối với trường hợp này giữa công ty cổ phần bách hóa Hà Thiên và công ty
cổ phần Thiên Sơn có ký hợp đồng và trong hợp đồng có thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là một điều khoản trong hợp đồng Như vậy, hình thức của thỏa thuận trọng tài thương mại bắt buộc phải được thể hiện dưới hình thức văn bản
Ngoài ra theo điều 3 và điều 4 của Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP1 về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 nghĩa là hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại chỉ được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trọng tài thương mại và thỏa thuận này phải có hiệu lực Thỏa thuận trọng tài chỉ được xem là có hiệu lực khi thỏa thuận này không vô hiệu(Điều
6 và Điều 18 LTTM) đồng thời không thuộc trường hợp không thể thực hiện được (Điều 6 LTTM)
Trang 8Thứ tư,hiệu lực của thỏa thuận trọng tài độc lập với hiệu lực của hợp đồng
chính:
Điều 19 LTTTM 2010 quy định về tính độc lập của thỏa thuận trọng tài:
“Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy
bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài” “Việc quy định thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc
lập với hợp đồng bởi đây là hai loại thỏa thuận có đối tượng pháp lý hoàn toàn khác nhau, điều khoản trọng tài xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp phát sinh giữa các bên, còn hợp đồng chính quy định quyền và nghĩa vụ của các bên Nói cách khác, việc vô hiệu của hợp đồng chính không thể ảnh hưởng đến tiền trình tố tụng bằng trọng tài Vì vậy, việc xác định điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng chính có ý nghĩa quan trọng, bởi đây là
cơ sở duy nhất để thành lập Hội đồng trọng tài thể hiện đúng ý chí của các bên về việc lựa chọn trọng tài giải quyết vụ tranh chấp
Tuy nhiên nội dung của thỏa thuận trọng tài được ghi trong hợp đồng giữa 2
công ty như sau: “ Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” Theo Điều 6 LTTTM: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”
Khi đã có thỏa thuận thì việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của TTTM, nếu một trong các bên khởi kiện ra Tòa thì Tòa án phải từ chối thụ lý, chỉ khi thỏa thuận này không có hiệu lựcthì mới thuộc thẩm quyên của Tòa án Theo quy định trên, Tòa án chỉ thụ lý đơn khởi kiện trong trường hợp đã có thỏa thuận
Trang 9trọng tài nhưng thỏa thuận này vô hiệu hoặc không thể thực hiện được Như vậy, ngoài trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật TTTM
2010 thì thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được cũng được xem là một trường hợp thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực Vấn đề này được quy định tại Khoản 3,4,5 Điều 43 Luật TTTM 2010, đặc biệt Điều 4 Nghị quyết 01/2014 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quy định cụ thể, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong 5 trường hợp:
+ Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài
cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp;
+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lực chọn Trọng tài viên trọng tài
vụ việc nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác thay thế;
+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài
vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;
+ Các bên có thỏa thuận giải quyết tại một trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của
Trang 10Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế;
+ Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17Luật TTTM 2010 nhưng khi phát sinh tranh chấp người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp
Như vậy, từ những phân tích ở trên thì chúng tôi cho rằng thỏa thuận trọng tài thương mại trong trường này có hiệu lực vì đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu khi ký kết và phù hợp với quy định của pháp luật
Bình luận các quy định về hiệu lực của thỏa thuận thương mại trong Luật trọng tài thương mại hiện nay:
Quy định về thẩm quyền của trọng tài cũng là một trong các yếu tố quyết định đến hiệu lực của thỏa thuận thương mại So với quy định trước đây, chỉ có tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh mới có quyền lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp, nhưng với quy định tại Điều 2 Luật TTTM, phạm vi thẩm quyền trọng tài đã được mở rộng, mà theo đó, bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào cũng có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, miễn
là lĩnh vực đó phát sinh theo quy định của Luật Tuy nhiên, với quy định mở như vậy, nhưng thiếu hướng dẫn chi tiết các loại tranh chấp được giải quyết thông qua hình thức TTTM lại là hạn chế khi áp dụng quy định của Luật TTTM vào thực tiễn Điều 1 Nghị định 63/2011/NĐ-CP 2 có quy định nhưng Nghị định này vẫn chưa đưa ra hướng dẫn cụ thể những loại tranh chấp nào thuộc thẩm quyền của trọng tài để hạn chế xung đột về thẩm quyền giữa trọng tài với Tòa án