1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Mô hình khái niệm – mô hình đối tượng

2 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 75,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức hơn, một khái niệm có thể được suy nghĩ thấu đáo về các phương diện: • Ký hiệu: những từ hay hình ảnh biểu diễn cho một khái niệm • Định nghĩa về một khái niệm và • Sự mở rộng

Trang 1

Mô hình khái niệm – mô

hình đối tượng

Bởi:

Đoàn Văn Ban

Các khái niệm cơ bản

Một cách không hình thức, một khái niệm là một ý tưởng, sự vật, hoặc một đối tượng Hình thức hơn, một khái niệm có thể được suy nghĩ thấu đáo về các phương diện:

• Ký hiệu: những từ hay hình ảnh biểu diễn cho một khái niệm

• Định nghĩa về một khái niệm và

• Sự mở rộng bao gồm tập các ví dụ hoặc các thể hiện của một khái niệm

Sự khác biệt chính giữa phân tích hướng đối tượng và phân tích có cấu trúc là sự phân

rã hệ thống thành các khái niệm (đối tượng ) thay vì phân rã thành các chức năng Điểm

mấu chốt trong cách phân rã này là phải tìm những thực thể (cái gì -what?) hoạt động

trong hệ thống để sau đó quyết định thiết kế và cài đặt chúng nhằm thực hiện các chức năng (yêu cầu) của bài toán Do vậy, nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn phân tích hướng đối tượng là tìm cách xác định các lớp đối tượng và các mối quan hệ của chúng trong hệ thống

Nhắc lại định nghĩa lớp trong UML, lớp là một mô tả về tập các đối tượng có cùng chung các thuộc tính, các phương thức hành động, các mối quan hệ và giống nhau về ngữ nghĩa Chúng ta nhận thấy những khái niệm về thuộc tính, phương thức, thao tác và các mối quan hệ thì dần từng bước sẽ được làm sáng tỏ trong các bước thực hiện của quá trình phát triển hệ thống

Các đối tượng trong hệ thống cần phải được phân biệt với nhau Hai đối tượng có cùng

tập các tính chất, ví dụ hai sinh viên của lớp SinhVien có cùng tên, tuổi và thậm chí

cùng điểm thi, học cùng năm, v.v nhưng vẫn phải có tính chất nào đó để phân biệt được

họ Thuộc tính để phân biệt các đối tượng trong hệ thống chính là định danh (Identity).

Như vậy, những đặc trưng quan trọng của đối tượng là:

Mô hình khái niệm – mô hình đối tượng

1/2

Trang 2

• Định danh đối tượng: dùng để phân biệt với những đối tượng khác, ngay cả khi

chúng có các tính chất giống nhau Mỗi đối tượng đều có một định danh và nó được thiết lập khi đối tượng được tạo ra trong hệ thống

• Tính bền vững của đối tượng: mỗi đối tượng đều có một thời gian sống (tồn tại

trong hệ thống) và điều này dẫn tới bản chất tĩnh của hệ thống Những đối tượng bền vững là những đối tượng được lưu trữ vào trong các CSDL ĐT

• Mỗi đối tượng phải hoặc có thể tương tác với các đối tượng khác, điều này dẫn đến bản chất động của hệ thống

Khi xây dựng mô hình cho một hệ thống phần mềm thì những khái niệm được sử dụng

để tạo ra mô hình phải đơn giản, dễ hiểu, và làm cơ sở để trao đổi với nhau trong quá trình phát triển hệ thống Những khái niệm về nghiệp vụ phải được thiết kế lại sao cho phù hợp với qui trình xử lý công việc hiện thời đồng có thể thích ứng được với xu thế phát triển trong tương lai

Trong UML, mô hình khái niệm của một hệ thống được mô tả bởi biểu đồ lớp Vậy, vấn

đề quan trọng của giai đoạn này là xác định đầy đủ và chính xác các lớp đối tượng và mối quan hệ của chúng trong hệ thống cần phát triển

Như đã khẳng định ở chương III, quá trình phát triển phần mềm hướng đối tượng với UML là được hướng dẫn bởi các ca sử dụng, nên các lớp đối tượng chủ yếu cũng sẽ được xác định dựa trên cơ sở phân tích các ca sử dụng của hệ thống

Mô hình khái niệm – mô hình đối tượng

2/2

Ngày đăng: 19/10/2016, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w