1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận về tệ nạn mại dâm đường phố

29 620 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 374,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Đánh giá về vấn đề này, trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã nêu: ”Ở trong nước, sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng… gây nguy cơ dẫn đến sự thiếu bình đẳng t

Trang 1

CHỦ ĐỀ :

Người Khuyết Tật, Chính Sách

Và Thực Tiễn trong Giáo Dục

Trang 2

1.Giới thiệu

2 Cơ sở lý luận

3 Cơ sở lý thuyết

4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

5 Kết quả nghiên cứu

6 Kết luận

Trang 3

1.GIỚI THIỆU

 Người khuyết tật cũng được quan tâm hơn qua các dịch vụ xã hội cùng với các chính sách dành riêng cho người khuyết tật Sự quan tâm của nhà nước qua các chính sách đã và đang làm vơi đi phần nào sự khó khăn đối với người khuyết tật

và người thân của họ trên quê hương Việt Nam

và ở nhiều nơi khác trên thế giới

 Tuy nhiên, trong thực tế nước ta thì chính sách dành cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện vẫn chưa mang tính đồng bộ

Trang 4

 Đánh giá về vấn đề này, trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã nêu: ”Ở trong nước, sự phân hóa trong

xã hội có chiều hướng gia tăng… gây nguy cơ dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, gia tăng khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền và cho

các đối tượng người học”

 Cụ thể, chỉ có 40% cán bộ giáo dục hiểu biết đầy đủ về các chính sách giáo dục, 20% cán bộ giáo dục có hiểu biết đầy đủ về Luật người khuyết tật; phần lớn NKT và gia đình có NKT (chiếm 59-77.5%) không biết về các chính sách miễn giảm học phí, cấp học bổng, ưu tiên trong thi tuyển và hỗ trợ tài liệu và phương tiện giảng dạy

Trang 5

2.1 Hệ thống khái niệm.

2.1.1 Khái niệm “Người khuyết tật”.

 Theo đạo luật của người Hoa Kỳ thì người khuyết tật là người

có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng

kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống (Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 , 1990)

 Còn theo như từ điển tiếng Việt của Việt Nam thì Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày (Từ điển bách khoa nguồn mở Wikipedia, 2015)

Trang 6

2.1.2 Khái niệm : “Chính sách”

Theo từ điển tiếng Việt thì Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động

về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường (Từ điển bách khoa nguồn mở Wikipedia, 2015)

 Bên cạnh đó, trong cuốn: “Một số vấn đề cơ bản về Chính Sách Xã Hội Ở Việt Nam” do nhà xuất bản chính trị quốc gia – sự thật xuất bản thì nói rằng: Chính sách xã hội là tổng thể các hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp được thể chế hóa bằng pháp luật của nhà nước để giải quyết những vấn

đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất định, nhằm tăng cừơng phúc lợi, bảo đảm công bằng xã hội và tạo cơ hội cho người dân hòa nhập vào sự phát triển xã hội

Trang 7

2.1.3 Khái niệm chính sách giáo dục cho người khuyết tật.

 Chính sách giáo duc cho người khuyết tật là những khoản luật và điều luật được nhà nước quy định trong ngành giáo dục với người khuyết tật, bao gồm: ưu tiên nhập học và

tuyển sinh; miễn, giảm một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục; đánh giá kết quả giáo dục; chính sách về học phí; chính sách về học bổng và hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập (Hệ

thống văn bản pháp luật Việt Nam, 2015)

 Chúng ta Căn cứ vào Luật Người khuyết tật ngày 17 tháng

6 năm 2010; Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm

2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

Trang 8

 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

Thông tư liên tịch quy định chính sách về giáo dục đối với

người khuyết tật Có 12 điều quy định về người khuyết tật trong tiếp cận giáo dục, trong số đó thì có những điều luật sau đây

trực tiếp tác động tới quyền của người khuyết tật:

Điều 2 Ưu tiên nhập học và tuyển sinh

Điều 3 Miễn, giảm một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục

Điều 4 Đánh giá kết quả giáo dục

Điều 5 Xét lên lớp và cấp bằng tốt nghiệp

Điều 6 Chính sách về học phí

Điều 7 Chính sách học bổng và hỗ trợ phương tiện, đồ

dùng học tập

Trang 9

3.Cơ sở lý thuyết

3.1.1 Lý thuyết sinh thái

Theo thuyết sinh thái của Lewinian (1936) chỉ ra rằng từng

cá nhân có thể tạo nên sự ảnh hưởng đối với nhóm, tập thể

mà họ đang chung sống với Trong lý thuyết này, tất cả con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ nhìn nhận tác động một chiều hay đơn lẻ mọi người trong hoàn cảnh sống đều có những hoạt động và phản ứng ảnh hưởng đến nhau và một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ với một người sẽ có ảnh hưởng đến những yếu tố xung quanh.

Trang 10

3.1.2 Lý thuyết hệ thống.

 Theo từ điển tiếng Việt “ Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối

với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên quan với nhau chặt chẽ làm thành một hệ thống nhất” hay theo định nghĩa của lý thuyết công tác xã hội hiện đại thì “ Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên kết với nhau để hoạt động thống nhất.”

 Lý thuyết này được nhà sinh vật học nổi tiếng Ludwig von

Bertalanffy đề xướng và sau đó được nhiều nhà khoa học nghiên cứu thêm Ông cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn.

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp.

4.2 Tổng quan tài liệu

 Người khuyết tật là những đối tượng được xã hội quan tâm bởi họ là những phần tử yếu thế trong xã hội vì thế nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách, điều luật liên quan đến người khuyết tật Trong giới hạn của nhóm thực hiện bài viết này, chúng tôi nghiên cứu và trình bày về các chính sách đối với người khuyết tật trong ngành giáo dục và thực tiễn thực hiện chính sách qua một số bài báo nghiên cứu khoa học của những người đi trước.

Trang 12

 Đầu tiên là công trình nghiên cứu của ông Nguyễn Đức Minh với tựa đề “Chính sách giáo dục hòa nhập trẻ

khuyết tật Việt Nam” Ông chỉ rõ về những quy định của nhà nước đối với người khuyết tật trong quyền bình đẳng tiếp cận Bảo đảm điều kiện học tập, phổ cập giáo dục tiểu học cho mọi trẻ em, Việt Nam đã xem xét

chính sách hỗ trợ đặc biệt cho người khuyết tật học tập

 Bên cạnh đó bài nghiên cứu về : “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục học sinh khuyết tật” của Trần Thị Văng nêu lên được những chính sách, hỗ trợ dành riêng cho người khuyết tật để giúp họ rút ngắn khoảng cách về cơ hội tiếp cận thông tin truyền thông và kiến thức xã hội

Trang 13

 Tại điều 4, luật người khuyết tật (2010) quy định rõ:

“Người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện

giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật”.

 Trong đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 –

2020 được phê duyệt bởi Thủ tướng chính phủ (2012)

đã đặt ra mục tiêu đến năm 2015 là 30% và 2020 là

50% người khuyết tật được trợ giúp tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 14

 Bài nghiên cứu tại trường mầm non thực hành Hoa sen của Nguyễn Thị Thanh và các cộng sự cũng đưa ra bằng chứng

về những công tác của trường nhằm hỗ trợ trẻ khuyết tật

phát triển trong những năm đầu đời.Trong nhiều năm qua, công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật của Trường đã thu được những kết quả đáng trân trọng, góp phần phá vỡ rào cản, tạo điều kiện cho một bộ phận trẻ khuyết tật trên địa bàn được học hòa nhập để đảm bảo sự phát triển.

 Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Yến với tựa đề “Giáo dục hòa nhập Việt Nam - Đánh giá từ chính sách” đã có cái nhìn khách quan, sâu rộng trong việc giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đã đưa ra nhận định về chính sách giáo dục cho trẻ khuyết tật Việt Nam theo khung Công ước Liên Hợp quốc

về quyền của trẻ.

Trang 15

 Bài “Hoạt động hỗ trợ giáo dục hòa nhập của Trung tâm

hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật thành phố Đà Nẵng” của tác giả Đặng Thanh Tùng đề cập tới những thành quả và những khó khăn của việc giáo dục hòa nhập đối với các trẻ khuyết tật tại thành phố Đà

Nẵng

Trong điều kiện cho phép về thời gian và nguồn lực của nhóm nghiên cứu, chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp nhằm phân tích, đánh giá những chính sách hiện thời về giáo dục cho trẻ em khuyết tật và thực tế thực hiện nhằm đưa ra cái nhìn khách quan và rõ nét hơn về sự quan tâm của nhà nước

và tập thể tới những trẻ yếu thế hơn

Trang 16

5 Kết quả nghiên cứu

5.1 Thực tiễn trẻ khuyết tật tham gia học tập

5.2 Thực tiễn số lượng trẻ khuyết tật tiếp cận giáo dục

 Trong tổng số 32 triệu trẻ em ở Việt Nam, trẻ khuyết tật có khoảng 1,1 triệu em, chiếm khoảng 3,4% so với trẻ em cùng độ tuổi Hiện nay mới chỉ có khoảng gần 269 nghìn em, chiếm 24,22% số trẻ khuyết tật được đi học ở các loại hình trường lớp.

 Trẻ khuyết tật là đối tượng thiệt thòi nhất trong số những trẻ em thiệt thòi Trẻ khuyết tật thường được phân thành các nhóm sau: trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị, trẻ khó khăn về học, trẻ khó khăn về vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác.

Trang 17

 Dưới góc độ giáo dục, trẻ khuyết tật được hiểu là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, suy giảm về chức năng cơ thể dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, tập thể, xã hội và học tập theo chương trình giáo dục phổ thông (chưa được một nửa chỉ số 50% mà Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 đề ra cho năm 2005) Như vậy, hiện nay vẫn có hơn 800 nghìn trẻ khuyết tật chưa được đến trường.

 Trong số trẻ khuyết tật đã đi học có tới 32,99% số trẻ bỏ học Trong cả nước còn khoảng 2,57% số trẻ em chưa có cơ hội đến trường vì lý do khuyết tật Nếu tình trạng này kéo dài thì chỉ 99%

số trẻ em trong độ tuổi đến trường vào năm 2010 (Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010) khó có thể đạt được.

Trang 18

5.2.2 Những thành tựu đạt được trong công tác giáo

dục trẻ khuyết tật

Trong những năm gần đây, công tác giáo dục trẻ khuyết tật (TKT) ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định Việc giáo dục TKT nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng sống để trẻ hòa nhập cộng đồng, có khả năng sống tự lập và đóng góp cho sự phát triển chung của cả cộng đồng Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều TKT chưa được tiếp cận giáo dục do điều kiện kinh tế còn khó khăn, cơ sở vật chất chưa đầy đủ…

Tăng nhanh số TKT đến trường

Trang 19

Theo PGS, TS Phạm Minh Mục, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giáo dục đặc biệt (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam), năm 1996 cả nước có 42 nghìn TKT được đi học thì năm 2015 có hơn 500 nghìn TKT được đến trường (tăng hơn 10 lần) Số TKT đi học không chỉ tập trung ở cấp mầm non và tiểu học, trung học, mà một

số còn đang học ở trình độ đào tạo như dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học (CĐ, ĐH) Mạng lưới các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên cho giáo dục TKT được hình thành và phát triển Hiện nay trên cả nước đã có một số trường ĐH, CĐ sư phạm mở mã ngành đào tạo Sư phạm Giáo dục đặc biệt

Trang 20

Từ năm 2005 đến nay đã có hơn 10 trung tâm và hơn

70 phòng hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập TKT được thành lập mới và được nâng cấp từ cơ sở giáo dục chuyên biệt Các trung tâm, phòng nêu trên đã hoạt động

có hiệu quả trong hỗ trợ trực tiếp cho TKT, chuyển giao kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục TKT Theo thống

kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT), đã có 71.873 trẻ mẫu giáo, 52.606 học sinh tiểu học, 14.073 học sinh THCS, hơn 2.300 học sinh THPT là TKT được đến trường Nhiều học sinh khuyết tật tốt nghiệp CĐ,

ĐH Nhiều hình thức tổ chức lớp học linh hoạt với các đối tượng TKT khác nhau

Trang 21

 TS Nguyễn Thị Thanh (Trường mầm non thực hành Hoa Sen, thuộc Trường CĐ Sư phạm T.Ư, Hà Nội) cho biết: Trong nhiều năm qua, công tác giáo dục hòa nhập của trường đã tạo điều kiện cho một bộ phận TKT trên địa bàn được đến trường thuận lợi Số TKT vào học của trường là 317 em Trong quá trình triển khai công tác giáo dục hòa nhập cho TKT, trường luôn

tổ chức môi trường học tập thân thiện để các em đều được học hòa nhập trong tất cả các hoạt động, tạo niềm tin cho phụ huynh và xã hội về chất lượng chuyên môn giáo dục hòa nhập tại trường Đối với TKT, ngoài trách nhiệm của một giáo viên, những thầy giáo, cô giáo còn phải

có tình yêu thương trẻ vì các em cần nhiều hơn nữa sự quan tâm chăm sóc đặc biệt Trong khi

đó, phụ huynh Trương Hữu có con bị khuyết tật đang học tại Trường mầm non thực hành Hoa Sen chia sẻ: “Động lực lớn nhất đối với các bậc cha mẹ là khi thấy các cháu được đến trường hòa nhập, tự tin bước vào trường tiểu học, theo kịp các bạn Chủ trương giáo dục hòa nhập là hoàn toàn đúng đắn, từ khi học với các bạn bình thường, con trai tôi tiến bộ hẳn lên, các bạn giúp đỡ cháu rất nhiều.

Trang 22

5.2.3 Những khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả và thành tích đã đạt được, công tác giáo dục TKT còn đối diện với nhiều khó khăn và thách thức Trưởng phòng GD và ĐT quận Ngô Quyền (Hải Phòng) Lương Văn Thuấn cho biết: Khó

khăn lớn nhất là đội ngũ cán bộ giáo viên để dạy và can thiệp sớm cho trẻ vì các cháu còn nhỏ lại ở các dạng tật khác nhau… Để giải quyết vấn đề này, Phòng GD và ĐT

mở rất nhiều cuộc tập huấn, các lớp bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên giảng dạy Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học Trần Quốc Toản (quận Ngô Quyền, Hải Phòng) Bùi Thị Lệ Hằng chia sẻ, khi dạy học sinh khuyết tật, đội

ngũ giáo viên trong trường gặp rất nhiều khó khăn

Trang 23

 Bên cạnh đó, nhiều chính quyền địa phương, nhà

trường, cán bộ, giáo viên chưa thấy trách nhiệm mà còn coi việc chăm sóc, giáo dục TKT chỉ như việc làm thêm,

từ thiện và các em chỉ có thể học tập tại các cơ sở giáo dục trẻ chuyên biệt Bộ GD và ĐT cho biết dù đã chỉ

đạo triển khai giáo dục TKT trên toàn quốc, song chỉ

những trường ở những vùng thuận lợi, được sự hỗ trợ của các tổ chức khác nhau triển khai thực hiện và chủ yếu tiếp nhận TKT nhẹ và trung bình

 Bộ GD và ĐT đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cả nước có 75% người khuyết tật được học hòa nhập Để thực hiện, theo các chuyên gia giáo dục cần có một số giải pháp cơ bản như đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng về chất lượng

Trang 24

Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong việc giáo dục trẻ khuyết tật và

về khả năng phát triển của trẻ khuyết tật khi được giáo dục, trong đó có cả cha mẹ, cán bộ giáo dục và giáo viên của các trường

Cơ sở vật chất cho giáo dục trẻ khuyết tật còn kém

về chất lượng và thiếu về số lượng, chủng loại Các cơ

sở giáo dục trẻ khuyết tật chưa có những trang thiết bị tối thiểu cần thiết để dạy trẻ khuyết tật như sách giáo khoa và đồ dùng dạy học đặc thù cho từng loại trẻ khuyết tật

Ngày đăng: 17/10/2016, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w