Ngoài ra, luận án cũng có thể là tài liệu có giá trị phục vụ cho các ngành, các cơ quan chức năng, các tỗ chức xã hội tham khảo trong hoạt động thực tiễn về công tác tuyên truyền giáo dụ
Trang 1T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C L U Â T t ì 4 N Ộ I
L U Ẩ N AN T H A C S Y L U A T H O C/ T H Ư v i ệ n đ h l u ậ t h n \
Đ 34 (V) 411.21
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THANH MẬN
TỘI PHẠM VỂ MÃI DÂM VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG CHÔNG LOẠI TỘI PHẠM NÀY CŨNG NHƯ TỆ NẠN MÃI DÂM NÓI CHUNG Ở VIỆT NAM
phòng đ ộ : L h
ĩ l ã nội 1997
Trang 31 Tính cấp thiết cúa đề tà i:
Mãi dâm là một hiện tượng xã hội, xuất hiện r ấ t sớm trong lịch sử
xã hội loài người và không phải là một hiện tượng riêng lẻ chỉ có ỏ' đất nước này hay quốc gia khác hoặc chỉ có ở ché độ xã hội này hay ché độ
xã hội khác mà là hiện tượng phổ biến của nhiều nưổc trên th ế giổi Mặc dù vậy, mãi dâm vẫn là hiện tượng trá i với quan điểm đạo đức xã hội Con người không chấp nhận sự tồn tại của hiện tượng này và luôn tìm mọi biện pháp để loại trừ ra khỏi đời sống xã hội Trong những năm gần đây tình hình tệ nạn mãi dâm ỏ nước ta đang có chiều hưống
p h át triển ngày càng nghiêm trọng Theo số liệu điều tra của cục phòng chống tệ nạn xã hội Trung ương, thì từ năm 1993 đến nay, ỏ nước ta có hàng trăm ngàn gái mãi dâm hoạt động với hàng ngàn chủ chứa và môi giới mãi dâm
Tệ nạn mãi dâm đã và đang làm xói mòn đạo đức, th u ầ n phong
mỹ tục của dân tộc, ảnh hưỏng xấu đến đời sống văn hóa và t r ậ t tự trị
an xã hội Nghiêm trọng hơn nó còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh SIDA, chứa đựng nguy cơ hủy diệt sự sống của con người và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng khác ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển giống nòi
Điều đáng quan tâm là vối sự phát triển của tệ nạn m ãi dâm, đã
có hàng triệu trẻ em ỏ Châu Á bị bắt cóc, bị bán, bị giam nhốt trong
các nhà chứa và bị buộc phải bán dâm Mại dâm cũng đã trỏ thành một thứ kỹ nghệ kinh doanh trên thân xác phụ nữ và trẻ em Đe phục
vụ cho thứ kỹ nghệ bệnh hoạn áy đã hình thành những đường dây tội phạm quốc té, chuyên tố chức và môi gioi mãi dâm, bắt cóc trẻ em,
m ua bán phụ nữ (nhằm mục đích Iiiãi dâm)
Trang 4Trong điều kiện giao lưu quốc té rộng rãi như hiện nay, tệ nạn
m ãi dâm cũng đã xâm nhập vào nước ta qua nhiều con đường Đối tượng mua dâm là người nưốc ngoài bị p h át hiện và bị bắt ngày càng nhiều, số gái mãi dâm nước ta thông qua đường dây môi giới dẫn dắt
ra nước ngoài bán dâm cũng tăng lên, buôn bán phụ nữ nhằm kinh doanh m ãi dâm cũng diễn ra ngày một nghiêm trọng
Đứng trước thực trạng đó, Đảng và N hà nưóc đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường công tác đấu tra n h phòng chống
tệ nạn m ãi dâm Ngày 1/3/1994 Ban chấp hành T rung ương có chỉ thị
số 33/CT-TW " ưề lãnh đạo phòng, chống các tệ nạn xã hội" và Chính
p h ủ cũng đã có Nghị quyết 05/CP ngày 29/1/1993 " về ngăn chặn và chống tệ nạn mãi dâm".
Triển khai thực hiện các chủ trương này, Chính phủ đã có nhiều chính sách xã hội như hỗ trợ kinh tế, giải quyết việc làm, tập trung giáo dục, thành lập các trung tâm phục hồi nhân phẩm đối vói gái bán dâm Các cơ quan bảo vệ pháp luật tăng cường công tác kiểm tra, triệ t phá các ổ nhóm chứa mãi dâm, môi giới m ãi dâm để xử lý nghiêm
m inh những hành vi phạm tội về mãi dâm theo quy định của Bộ luật
h ìn h sự Tuy nhiên két quả đó vẫn còn th áp và còn nhiều h ạn chế Thực té nạn m ãi dâm vẫn chưa được đẩy lùi, hoạt động tội phạm về
m ãi dâm đang còn là ván đề thách thức rá t lốn
Trưốc thực té đó, ván đề đặt ra là phải n h ận thức lại một cách toàn diện về nội dung, biện pháp, chủ trương, chính sách, đường lối, quan điểm về công tác đáu tranh phòng chống tệ nạn m ãi dâm và tội phạm mãi dâm Trong đó có vấn đề phải sửa đỗi, bổ sung BLHS để nội dung phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tra n h chống tội phạm mãi dâm
Trang 5Bỏi những lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài : "Tội p h ạ m m ã i d â m và
đ ấ u tr a n h p h ò n g chống lo ạ i tội n ày củ n g n h ư tệ n ạn m ã i d â m
n ó i c h u n g ở V iệ t N a m " là một vấn đề có tính cấp bách của công tác
đấu tra n h phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn cúa đề tà i:
Với những kiến nghị và giải pháp nêu ra, sẽ góp phần th iết thực giúp các cơ quan chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tra n h phòng chống tệ nạn mãi dâm nói chung và tội phạm về m ãi dâm nói riêng.Trưổc h ết luận án có thể là tài liệu để cơ quan soạn thảo L uật tham khảo khi hoàn thiện BLHS
Ngoài ra, luận án cũng có thể là tài liệu có giá trị phục vụ cho các ngành, các cơ quan chức năng, các tỗ chức xã hội tham khảo trong hoạt động thực tiễn về công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, cũng như đáu tra n h phòng chống tội phạm liên quan đến tệ nạn mãi dâm
và tội phạm mãi dâm
3 Mục đích, nhiệm vụ cúa luận án.
- Mục đ ích c ủ a lu ận á n : Trên cơ số phân tích thực trạn g tình
hình tệ n ạn mãi dâm đang diễn ra ỏ nưốc ta, có so sánh ỏ chừng mực
n h át định vổi các nước trong khu vực đễ xác định các điều kiện, nguyên n hân tác động đến sự tồn tại và p h á t triển của tệ nạn m ãi dâm Đồng thời đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả cao n h ất hiện tượng này Trong đó có vấn đề làm rõ một số điểm h ạn chế của BLHS trong lĩnh vực này, quá đó đề xuất quan điểm về sửa đổi, bỗ sang hoàn thiện BLHS
- N h iệm vụ của lu ận án : Đánh giá khái q u át tình hình tệ nạn
mãi dâm trong thời gian qua ỏ nước ta và liên hệ với một số nước trong khu vực Từ đó dự báo tình hình phát triển của tội phạm mãi dâm
Trang 6Luận án cũng phân tích một số ván đề về qui định tội phạm m ãi dâm trong lu ật hình sư Việt Nam Nghiên cứu, so sánh các qui định về tội phạm m ãi dâm qua các giai đoạn lịch sử, nhằm khẳng định những bước p h át triển đáng kể của pháp luật hình sự nước ta Luận án còn có nhiệm vụ đề ra nhứng biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm mãi dâm phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra.
4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và điểm mới của luận án:
Có thể nói việc nghiên cứu về tệ nạn mãi dâm cũng như tội phạm
m ãi dâm từ trước đến nay chưa được chú ý
Chỉ sau khi có Nghị quyết 05/CP ngày 29/01/1993 của Chính phủ
về "ngăn ngừa và chống tệ nạn mãi dâm" mối có m ột số nhà khoa học
và các tỗ chức chuyên ngành quan tâm nghiên cứu ván đề này Tuy nhiên, việc nghiên cứu đó cũng chỉ thực hiện dưới góc độ khái quát về thực trạn g của tình hình và nêu lên một số quan điểm yêu cầu đấu tra n h ngăn ngừa, mà chưa đi sâu nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện của thực trạn g tệ nạn mãi dâm
về công trìn h nghiên cứu cá nhân trước hết phải kể đến công trìn h của PTS Nguyễn Xuân Yêm Tác giả đã nghiên cứu một cách khái quát Yấn đề bản chất xã hội của tệ nạn m ãi dâm, lịch sử p h át triển pháp lu ật của một số nước trên thế giổi về chống m ãi dâm, nêu một số quan điểm về yêu cầu sửa đổi bỗ sung Bộ lu ậ t hình sự và một
số ý kiến khắc phục về tệ nạn này (tạp chí VKSND th án g 3/1993) Một
số bài viết khác nêu lên thực trạng tệ nạn mãi dâm ồ các địa phương
đã được đăng tải trong các tạp chí chuyên ngành như : Tạp chí tòa án nhân dân, tạp chí dân chủ pháp luật và tạp chí phòng chống tệ nạn xã Nghiên cứu về tình trạn g lạm dụnẹ tình dục trẻ em ồ các nưóc Châu
Á, tác giả RON O' GRADY tuy đi sâu nghiên cứu chung quanh vắn đề lạm dụng tình dục trẻ em, nhưng củng đã nêu lên được những n ét rấ t
Trang 7k h u vực Châu Á (lạm dụng tình dục trẻ em - N hà xuất bản phụ nữ
th án g 12/1995)
Nhìn chung, các bài viết đã nêu chưa đi sâu phân tích một cách đầy đủ, có hệ thống, bản chát của hiện tượng m ãi dâm N hững giải pháp đề ra còn chung chung, thiếu cụ thể
Trong khi đó nghị quyết 05/CP của Chính phủ đã xác định ngăn
chặn phòng chống tệ nạn mãi dâm phải được giải quyết đồng bộ ở các
m ặ t : Tuyên truyền giáo dục pháp luật và tác hại của tệ nạn m ãi dâm
Xử lý nghiêm m inh theo pháp lu ật các hành vi m ãi dâm, kể cả hành vi
m ua dâm, bán dâm, xây dựng chương trình phối hợp liên ngành phòng chống m ại dâm
Đẻ thực hiện được các yêu cầu này, có r ấ t nhiều việc phải giải quyết một cách đồng bộ Từ công tác nghiên cứu lý luận đến việc xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật và việc xây dựng các chính sách kinh té xã hội khác T ất cả những vấn đề trên cũng chính là cơ sở, động lực và là lý do của việc tác giả chọn đề tài đáu tra n h phòng chống
tệ nạn m ãi dâm làm luận án tốt nghiệp cao học
Tuy nhiên, trong luận án này chúng tôi không có tham vọng giải quyết một cách toàn bộ, triệt để các vấn đề đặt ra Trọng tâm của luận
án này chỉ đi sâu nghiên cứu vì sao công tác đấu tra n h chống tệ nạn
m ãi dâm trong những năm gần đây còn nhiều hạn ché Qua đó đề xuất
m ột số kiến giải nhằm khắc phục tình trạng trên, đặc biệt nêu các quan điểm tội phạm hóa một số hành vi mãi dâm chưa được lu ật hình
sự nước ta coi là tội phạm, nhằm tiến toi hoàn thiện ché định của lu ật hình về tội mãi dâm, để đáp ứng yêu cầu mà thực tiễn đang đòi hỏi hét sức cáp bách hiện nay
Trang 8Phạm vi nghiên cứu
Tệ nạn m ãi dâm được hiểu là một khái niệm rộng, bao gồm tổng thể các hành vi có liên quan đến hoạt động m ãi dâm còn tội phạm m ãi dâm chỉ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được coi là tội phạm
và quy định trong lu ậ t hình sự
Khái niệm tệ nạn mãi dâm bao gồm các h àn h vi : m ua dâm, bán dâm, chứa mãi dâm, môi giới, dẫn dắt, dụ dỗ, cưỡng bức, tổ chức m ãi dâm
Theo công ước "về loại trừ các hình thức bóc lột tình dục" (BăngKok - Thái Lan năm 1992), thì m ãi dâm là việc coi th ân thể như một đồ vật có thể mua, bán, đổi chác với mục đích không phải luôn luôn là vì tiền [23]
Còn khái niệm tội phạm mãi dâm theo lu ậ t hình sự Việt Nam hiện hành chỉ gồm có hành vi chứa mãi dâm, dụ dỗ, dẫn d ắt người mãi dâm và mới đây lu ật sửa đổi, bổ sung bộ lu ật hình sự, bỗ sung thêm hành vi mua dâm người chưa thành niên
Tóm lại, khái niệm tệ nạn mãi dâm và khái niệm tội phạm m ãi dâm là những khái niệm khác nhau Tội phạm m ãi dâm chỉ là một bộ phận cáu thành, không tách rời của tệ nạn m ãi dâm Do vậy, đấu tran h phòng trán h tệ nạn mãi dâm nói chung và đáu tra n h phòng chống tội phạm mãi dâm nói riêng có quan hệ m ật th iết không thể tách rời nhau được
Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu sẽ không tách ròi tội phạm mãi dâm vói tệ nạn mãi dâm mà luôn luôn gắn việc nghiên cứu tội phạm mãi dâm vối tệ nạn mãi dâm nói chung Trong khi nghiên cứu tội phạm mãi dâm luận án đồng thời giải quyết vấn đề tội phạm học cùng với cả vấn đề luật hình sự
Trang 96 Cơ sớ lý luận và phương pháp nghiên cứu :
Luận án này được trình bày trên cơ sỏ lý luận của Chủ nghĩa Mác -Lê Nin về tội phạm học, học thuyết về N hà nước và pháp luật; Q uan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền Việt Nam; Các quan điểm của Đảng và N hà nước về công tác đáu tra n h phòng chống TNXH
L uận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy v ật lịch sử, cũng như các phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh
Ngoài những quan điểm lý luận và phương pháp nghiên cứu nêu trên, luận văn được trình bày còn dựa trên cơ sỏ tham khảo, ké thừ a một số tư liệu về pháp luật của các giai đoạn lịch sử trước, các báo cáo tổng kết của ngành Tòa án và Cục phòng chống tệ n ạn xã hội từ năm
1993 trồ lại đây cũng như một số tư liệu nước ngoài nghiên cứu về tệ
nạn m ãi dâm ỗ cấc nước trong khu vực Châu Á.
7 Cơ cấu luận án :
Luận án có độ dày 99 trang (kể cả 9 bảng biểu và 3 đồ thị), được
chia thành 3 chương cùng phẩn mỏ đầu, phần k ết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10THỰC TRỌNG vó NGUV6N NHRN củn Tẽ NẠN MÃI • • • • d a m
VÀ TỘI PHẠM MÃI DÂM
1.1 Khái quát chung về tỉnh hình tệ nạn mãi dâm và tội phạm mãi dâm
Mỗi loại tội phạm có tình hình tội phạm riêng, có các nguyên nhân và điều kiện p hát sinh tội phạm riêng, vì thế có yêu cầu đấu tran h phòng ngừa riêng Xuất phát từ các nguyên lý trên, việc nghiên cứu tình hình, nguyên nhân của tệ nạn m ãi dâm nói chung và tội phạm m ãi dâm nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là một yêu cầu cấp thiết trong công tác nghiên cứu tình hình tội phạm hiện nay.Mặc dù tội phạm mãi dâm và tệ nạn m ãi dâm là hai khái niệm không đồng nhất, nhưng có củng chung các đặc điểm của m ột loại hiện tượng xã hội Tội phạm mãi dâm là một bộ phận không tách rời của tệ nạn m ãi dâm, giữa chứng có mói quan hệ m ật th iế t và gắn liền vổi nhau Thông qua tệ nạn mãi dâm, có thể phản ánh được tình hình tội phạm mãi dâm Ngược lại từ tình hình tội phạm m ãi dâm, có thể nhìn tháy bức tra n h chung về tệ nạn mãi dâm Với khía cạnh đó, nghiên cứu tổng thễ tình hình tệ nạn mãi dâm cũng đồng thời sẽ giúp nhận thức được diễn biến của tình hình tội phạm này.Vì vậy có thể khẳng định rằng nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tệ nạn m ãi dâm không tách tời các nguyên nhân làm gia tăng loại tội phạm này
1.1.1 Một số đặc điểm của h iện tưđng m ãi dâm• • • • o
Mãi dâm là một hiện tượng được hình th àn h từ hai nhu cầu cơ bản tình dục và kinh té giữa hai chủ thể trong quan hệ đó Đẻ khai thác lợi ích kinh tế qua quan hệ mãi dâm, trong xã hội cũng đã hình thành một bộ phận người làm các dịch vụ chứa và môi giới mãi dâm
Chính vì vậy mà tác giả Nguyễn Xuân Yêm đã viết : " Ke tử khi loài
Trang 11người coi quan hệ tình dục giữa hai giới nam và nữ như một thứ hàng hóa trao dồi thì người ta không thể loại trừ khía cạnh kinh tế ra khỏi mục dích của tệ nạn mãi dâm, thậm chí trong một thời diểm nhất dinh
uà ỗ những nơi nhất định nó còn dược coi trọng" [8]
Nghiên cứu về hiện tượng mãi dâm và các tội phạm m ãi dâm cho
th ấy m ãi dâm đã thực sự trở thành quan hệ m ua bán và dịch vụ Hiển nhiên, một khi nó đã trở thành đối tượng của " hàng hóa" thì nó cũng
có giá cả của nó Đó là một thực té không thể phủ n h ận được Có một
số quan điểm còn cho rằng : Mãi dâm đang trỏ th à n h một nghề p h át triển và có th u nhập cao Theo két quả điều tra xã hội học của viện sĩ Igokow năm 1990 thì đa só cho rằng m ãi dâm là m ột " nghề" có thu nhập cao, hơn cả giáo sư, viện sĩ và chỉ xép sau nghề giám đốc, nhà buôn, phóng viên, nhà ngoại giao [8]
Kết quả thăm dò trên cho tháy việc người phụ nữ bán dâm không phải xuất p h át từ lý do duy n h á t là nghèo đói, th á t nghiệp mà còn có
cả quan niệm nghề nghiệp và so sánh thu nhập N hư vậy, quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh điển về hiện tượng m ãi dâm trước đây cho rằng : mại dâm gắn liền vói nghèo đói, th á t nghiệp, thiếu nhà cửa, chỉ đúng trong quá khứ, nhưng hiện tại thì quan điểm đó chưa đầy đủ.Qua những quan điểm trên có thể rú t ra bản chất của vấn đề là xuất p h át từ sự giàu có và sự nghèo nàn, từ mục đích kinh tế và vì kinh tế con người ta có thể làm tấ t cả những điều m à dư luận xã hội lên án, pháp lu ật nghiêm cấm và đem m ua bán cả cái m à không thể
m ua bán được đó là nhân cách, phẩm giá của con người
Mại dâm ngày nay cũng không chỉ dừng lại là một hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội, mà là một hiện tượng tội phạm và trong những năm gần đây nó đã trỏ thành một hiện tượng chính trị, xã hội của nhiều quốc gia
Trang 121.1.2 Vài n é t về tìn h h ình tệ nạn mãi dâm ồ các rníổc tron g
Châu Âu thì : "Hàng năm trên thế giói có khoảng một triệu trẻ em hoặc
bị bắt cóc, bị m ua bấn hoặc thông qua những hình thức khác bị buộc phải gia nhập vào thị trường mãi dâm" [6]
Theo đánh giá chung, các nưổc thuộc Châu Á hiện đang là điểm nóng của tệ n ạn m ãi dâm Tình hình đó có liên quan và ảnh hưỏng rấ t lốn đến thực trạn g m ãi dâm ỏ nưổc ta Vì vậy trong phạm vi đề tà i này chúng tôi tháy cần phải đề cập đến thực trạn g tệ nạn m ãi dâm cũng như việc xử lý hiện tượng này ỏ một số nưổc trong khu vực, trước khi trìn h bày tình hình này ỏ nước ta
Theo két quả nghiên cứu củạ RON O' GRADY [6] công bố năm
1995 về tình hình gái mãi dâm ỏ các nưổc châu Á, thì Thái Lan, Trung Quốc, P akistan là những nước dẫn đầu về tệ nạn m ãi dâm trong khu vực Một số nưổc khác như Philippin, Đài Loan, Ấn Độ, Inđônêxia cũng
có số lượng rấ t lổn gái mãi dâm hoạt động thưòng xuyên Đặc biệt trong đó những nước có số gái m ãi dâm là trẻ em chiếm tỷ lệ đáng kể như Thái Lan (khoảng 800.000 em), Philippin (khoảng từ 60.000 -100.000 em), Đài Loan (khoảng từ 40.000 - 60.000 em) (xem bảng thống kê)
Trang 13Bảng 1 : Thống kê về tình hình mãi dâm ớ một số nước Châu Á
0,0160.04
Nghiên cứu một cách khái quát các đặc điểm về tình hình, nguyên
n h ân chung của tệ nạn mãi dâm ồ các nước có thể có những n h ận xét
sau :
* về đối tượng gái bán dâm :
- Một số phụ nữ đi vào con đường mại dâm do sự rắc rối về tình duyên
- Một số khác thì do nghèo khó, túng thiếu hoặc vì những lý do đặc biệt mà tự nguyện hoặc bị ép buộc trố th àn h gái m ãi dâm
- Một bộ phận khác thì lười lao động nhưng lại thích ăn chơi đua đòi và coi mãi dâm như là một "nghề nghiệp" của họ
* Giữa những nước này đều có mối liên hệ vối n h au qua hoạt động chứa m ãi dâm và môi giới mãi dâm Đe phục vụ cho loại "dịch vụ" này
đã hình th àn h các đường dây tội phạm quốc tế m ua bán phụ nữ và trẻ
em, để cung cấp gái mại dâm cho các nhà chứa Dưới những hình thức
Trang 14khác nhau như thông qua các dịch vụ du lịch, k ết hôn, làm con nuôi, hoặc lén lú t qua biên giới đường bộ, số gái m ãi dâm đã di chuyển khá phổ biến từ nước này sang nước khác để hoạt động bán dâm Vì vậy đã dẫn tói một tình trạng chung ở các nước là không thể kiểm soát và quản lý được các đối tượng mại dâm.
Ví dụ : Hàng năm có khoảng 10.000 phụ nữ và trẻ em M ianm a bị
bán cho các chủ chứa ỏ Thái Lan (Một số khác đến từ Campuchia, Lào, Việt Nam) Tình hình này ỏ Ấn Độ còn có nhiều phức tạp hơn Người
ta ước tính trong những năm gần đây có khoảng từ 5.000 đến 7.000
/
phụ nữ Nepan bị bán qua biên giói Ân Độ, rồi tá i x u ấ t sang các nước khác như Pakistan, N hật Bản và các nước T rung Đông Tương tự như vậy, tại biện giối phía Bắc nưốc ta đã có rấ t nhiều phụ nữ và trẻ em bị lừa bán hoặc trốn sang Trung Quốc để "hành nghề" m ãi dâm N hiều người trong số đó được các nhà chức trách T rung Quốc giải thoát và đưa về Việt Nam
* Sự p h á t triển của ngành Du lịch có ảnh hưỏng và tác động rá t lớn đến sự gia tăng đáng kể số gái mãi dâm, chủ chứa, môi giới ỏ các nước trong khu vực Châu Á
* Đa só các nưốc này đều thiếu hệ thống pháp lu ậ t để điều chỉnh loại quan hệ này, bên cạnh đó công tác quản lý của Chính phủ còn buông lỏng để cho mại dâm hoạt động tự do Thậm chí, Chính phủ Thái Lan còn cho phép các khu nhà chứa hoạt động để th u thuế Người
ta ước tính lợi nhuận thu được từ hoạt động m ãi dâm trong năm 1996 của Thái Lan là khoảng 500 tỉ bath, bằng 62,5% tỗng th u nhập quốc dân của Thái Lan năm 1995 (khoảng 800 tỉ bath) Chính điều này đã
làm cho Thái Lan trở thành " thị trường" mại dâm sôi động n h ấ t trong
khu vực và trên thế gioi Trưổc sức ép của dư luận yêu cầu bảo vệ tình dục trẻ em, mới đây (đầu năm 1997) Chính phủ Thái Lan đã ban h ành
Trang 15luật chống m ại dâm trẻ em Theo luật này thì chỉ tru y cứu trách nhiệm hình sự đối vối người nào có hành vi m ua dâm trẻ em dưới 18 tuổi và có thể bị xử phạt vối mức án cao n h á t đến 6 năm tù.
Tóm lại, chính sự mua bán, di chuyển gái m ại dâm giữa các nưốc
trong khu vực đã làm cho con số gái mãi dâm ồ mỗi nước luôn thay đổi
và gây khó khăn cho việc kiểm soát, quản lý và ngăn chặn Có thể nói đồng h àn h với tệ nạn mãi dâm phát triển ở các nước đã hình thành một đường dây tội phạm quốc té về mua bán phụ nữ và môi giói mãi dâm Lịch sử thế giới đang trong thời kỳ p h á t triển với xu thế quốc té hóa nhiều m ặt của đời sóng xã hội Vì vậy hoạt động tội phạm mang tính quốc té như trên cũng đã tăng lên rấ t nhanh Do đó, có thể nói rằng tệ nạn m ãi dâm nói chung và tình trạn g lạm dụng tình dục trẻ
em nói riêng, không còn là ván đề giới hạn của mỗi quốc gia m à là ván
1.1.3 - Thực trạn g tệ nạn m ãi dâm và tìn h h ìn h x é t x ử loại tội phạm n ày ỏ nước ta trong những năm gần dây
I.1.3.1 Thực tr ạ n g tệ nạn m ãi d â m qu a cá c g ia i đ o ạ n
- Từ sau năm 1954, chính quyền thực dân Pháp để lại Hà NộiII.800 gái mại dâm Trong đó có đến 6000 gái m ại dâm được chính quyền cáp thẻ mồn bài vối 45 nhà chứa, 55 điểm h á t cô đầu có chứa gái mại dâm
Trang 16- Sau năm 1975 ỏ miền Nam có tới 200.000 gái m ại dâm , riêng Sài Gòn có 100.000 người.
- Hiện nay, số gái mại dâm trong cả nước có khoảng 80.000 ngưòi Trong đó số chuyên nghiệp có tói 13.130 người H ầu h ế t số h àn h nghề
m ại dâm "mang tính chuyên nghiệp” tập trung tạ i m ột số tỉnh, th àn h phố trọng điểm như Hà Nội, TP HCM, H ải Phòng, Vũng Tàu [18].Theo báo cáo của Bộ Nội vụ thì năm 1992 ỏ nước ta có khỏang120.000 gái m ại dâm ,đến năm 1994 tăng lên khoảng 200.000 gái mại dâm Trong đó có 93% là hoạt động chuyên nghiệp ; 90% không có nghề ; tuổi đời từ 14 - 35 chiếm 85% ; 35% có tiền án tiền sự [15]
Tác giả Nguyễn Xuân Yểm thì đưa ra số liệu như sau : Cuối năm
1993 ở nước ta có khoảng 130.000 gái mại dâm chuyên nghiệp, vối khỏang 3000 chủ chứa, môi giổi [8]
Trong khi đó Cục phòng chống tệ nạn xã hội TW, cơ quan chuyên trách về tệ nạn này lại đưa ra những số liệu khác so vói các tác giả trên Qua đây cho phép chúng ta khẳng định rằn g diễn biến của tệ nạn mãi dâm là h ết sức phức tạp, khó có thể điều tra khảo sá t một cách đầy đủ và chính xác Do đó, ỏ mỗi góc độ nghiên cứu hay mỗi một
cơ quan chức năng cũng chỉ phản ảnh những con số r á t tương đối
Cũng xuất phát từ sự phản ảnh không thống n h á t nhau về số liệu của tình hình tệ nạn mãi dâm trong cùng một thời điểm như trên dẫn đến việc nghiên cứu ỏ góc độ tội phạm học của đề tài này gặp nhiều khó khăn Bỏi lẽ độ dao động của những thông số làm cứ liệu nghiên cứu còn có những sai số quá lớn, nên việc phân tích so sánh khó có thể chính xác Vì vậy tá t yếu không trán h được những điểm còn h ạn ché trong việc nghiên cứu
Trang 17Đảng và Nhà nưóc ta đã luôn luồn coi m ãi dâm là m ột tệ nạn xã hội và là tàn dư của xã hội cũ để lại cần phải th an h toán Riêng các hành vi chứa chấp và môi giới, dẫn dắt m ãi dâm được lu ậ t hình sự nước ta quy định là tội phạm và xử lý rá t nghiêm.
Tuy vậy, trên thực té nạn mãi dâm vẫn tồn tại Có những thời điểm tệ nạn này lắng xuống tưỏng chừng như đã được xóa bỏ, nhưng
có giai đoạn lại phát triển như là một nạn dịch
Sau ngày miền Nam giải phóng, thống n h á t đất nưóc, hiện tượng
m ãi dâm xảy ra không đáng kể và chủ yếu hoạt động lén lú t ỏ khu vực công cộng như công viên, nhà ga, đường vắng và vào ban đêm Vì thế chúng ta không th ấy h ét tính chất nghiêm trọng của vấn đề này nên
đã chủ quan, lơ là và không chú ý nhiều đến yêu cầu đấu tra n h phòng ngừa Chúng tôi cho rằng đây cũng chính là một nguyên n h ân làm cho
tệ nạn m ãi dâm ỏ nưốc ta gia tăng đáng kể trong những năm sau này
Kẻ từ khi thực hiện chính sách kinh té mỏ cửa, tệ n ạn m ãi dâm càng có điều kiện tăng nhanh Theo thống kê của Cục phòng chống tệ nạn xã hội Trung ương thì năm 1992 ỏ nước ta có khoảng 400.000 gái
mãi dâm chuyên nghiệp, tập trung chủ yếu ồ các th à n h phố lốn như
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, c ầ n Thơ, Đà Nằng Trong đó ồ Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng gái m ãi dâm lổn n h ấ t
và tình hình m ãi dâm cũng diễn ra nghiêm trọng nhắt
So với trước, tệ nạn mãi dâm hoạt động ngày càng có tính công khai và trắn g trỢn hơn nhiều Chủng đã thay hình đổi dạng đội lốt trá hình dưới các dịch vụ công cộng như nhà hàng, khách sạn, Massage, quán cà phê, quán bia và muôn hình vạn trạn g khác
Trang 18Có thể nói rằng năm 1992 là năm đỉnh điểm của tệ nạn m ãi dâm
ở nước ta từ trưổc tới nay Con số trên đã thực sự trỏ thành mối lo ngại sâu sắc của toàn xã hội, đặc biệt là trong điều kiện nạn dịch HIV đã xâm nhập vào nưóc ta Đứng trước tình hình báo động như vậy, ngày 29/01/1993 Chính phủ ra nghị quyết số 05/CP yêu cầu các cáp, ngành tăng cường công tác đấu tranh ngăn chặn tệ nạn m ãi dâm
Thực hiện nghị quyết trên, trong những năm qua công tác chống
tệ nạn mãi dâm ỏ nưốc ta đạt được những két quả đáng kể và có nhiều dấu hiệu khả quan Cuối năm 1993 ở nưóc ta chỉ còn khoảng 130.000 gái m ãi dâm chuyên nghiệp vổi khoảng 3.000 chủ chứa, môi giói m ãi dâm So vối năm 1992, số mãi dâm đã giảm đi gần 70% N hư vậy, ngay sau khi có nghị quyết của Chính phủ, tệ n ạn m ãi dâm được đẩy lùi một cách đáng kể Sang năm 1994 số gái m ãi dâm, chủ chứa và môi giổi tiếp tục giảm, chỉ còn 73.577 gái m ãi dâm và 2.800 chủ chứa, môi giới m ãi dâm
Nhưng đến năm 1995 cả gái mãi dâm và chủ chứa, môi giới lại tăng lên Trong đó số gái mãi dâm tăng 4,5% và chủ chứa môi giới tăng 11,6% (theo tài liệu tập huấn phòng chống TNXH tháng 6/1995 thì số gái mại dâm ỏ nưốc ta có 76.885 người và có 3.126 chủ chứa, môi giới)
Đen tháng 9 năm 1996 số gái mãi dâm lại giảm xuống còn 63.592
và 1.899 chủ chứa, môi giổi m ãi dâm Đen cuối năm 1996 số gái m ãi dâm tiếp tục giảm xuống còn 56.323 người, nhưng số chủ chứa môi giối không có dắu hiệu giảm mà còn có khả năng tăng
Trang 19Bẩng 2 : Thống kê tình hình gái mãi dâm và chủ chứa môi giới
từ năm 1992 đến nay
mãi dâm
Số chủ chứa môi giới
Trang 20Mặc dù về m ặt số lượng có giảm như trên, song về tính ch ất tệ
n ạn m ãi dâm đã phức tạp hơn Đáng chứ ý n h ắ t là việc hình th à n h các đường dây môi giới đưa gái mại dâm ra nước ngoài để bán dâm
Phân tích nguyên nhân dẫn đén tình hình tệ nạn m ãi dâm giảm trong các năm thì tháy :
- Cục phòng chống tệ nạn xã hội làm tốt công tác lập hồ sơ quản lý đối tượng mãi dâm Trong đó đã phân loại và áp dụng các biện pháp
xử lý phù hợp với từng loại đối tượng Đặc biệt là các hình thức giáo dục tập trung (trại 05) và giáo dục, tạo việc làm tại cộng đồng có hiệu quả
- Các cơ quan bảo vệ pháp luật đã cố gắng rá t lốn trong việc khám phá, điều tra và truy tố ra trước pháp lu ật để xét xử bọn chủ chứa, môi giới
- Một bộ phận rấ t lớn gái m ãi dâm bằng nhiều con đường khác
nh au đã di chuyển sang các nưóc như Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Macao và nhiều nước khác ,
- Một số khác thay đỗi hình thức hoạt động, không công khai trắng trợn như trưốc, nhằm trốn tránh sự quản lý của các cơ quan chức năng
1.1.3.2 Tình h ình x ét xử tội p h ạ m m ãi d â m ở nước ta tron g
0 chủ chứa môi giới bị triệ t phá thì đồng thời p h át sinh chủ chứa và ổ nhóm tội phạm moi
Bảng 80 sánh dưối đây cho chứng ta thấy rõ điều này :
Trang 21Báng 3 : So sánh thực trạng tình hình và kết quá xét xứ cúa ngành Tòa án
Năm Thực trạng số Két quả xét xử của ngành TAND
m ãi dâm Đường biểu diễn dưới đây sẽ chứng m inh m ột các rõ n ét kết luận trên
Trang 22Qua hai đường biểu diễn ỏ đồ thị trên, có thể rú t ra một số nhận xét như sau :
- Đưòng biểu diễn về két quả xét xử cho th ấy tình hình tội phạm tăng liên tục và việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này của các
cơ quan bảo vệ pháp luật được thể hiện ngày càng quyết liệt hơn
- Đường biểu diễn về thực trạng chủ chứa môi giới tăng giảm một cách đột biến Năm 1995 là một năm có tốc độ p h át triển nhanh n h ất trong khỏang thời gian được nghiên cứu từ năm 1992 - 1996
- Việc truy tố và xét xử không phải là nguyên nhân duy n h ấ t để đẩy lùi tệ nạn mại dâm
- Giữa hai đường biểu diễn đó khó có điểm gặp nhau, về m ặt lý
thuyết, điểm gặp nhau đó xảy ra khi và chỉ khi trong thực tế đòi sống
xã hội không còn tồn tại người chủ chứa, môi giổi, dẫn d ắt m ại dâm
T hật vậy, nếu so sánh giữa các năm 1993 đến 1996 cho th ấy :
So sánh năm 1994 vối năm 1993 thì số lượng tội phạm đưa ra xét
xử tăng 68,5% Trong khi đó, số lượng chủ chứa môi giới chỉ giảm 7% Nghịch lý hơn năm 1995 số tội phạm bị xét xử tăn g lên 47% , thì thực
té chủ chứa môi giổi cũng tăng lên 14,8% Hoặc trong năm 1996 số tội phạm m ãi dâm đưa ra xét xử chỉ tăng 3% thì ngược lại số chủ chứa môi giới giảm 41% Điều đó cũng có nghĩa là không phải việc điều tra truy tố xét xử là nguyên nhân duy n h ất đẩy lùi tệ n ạn m ãi dâm, mà củng với nó còn có nhiều cơ ché xử lý khác tác động đến
Theo báo cáo của Chánh án TANDTC tại kỳ họp 11 Quốc hội khóa
IX thì tình hình tội phạm mãi dâm đã truy tố xét xử, bình quân mỗi năm tăng 10% Tuy nhiên nghiên cứu kết quả xét xử của một số địa phương cho thấy tỉ lệ gia tăng của loại tội phạm này rấ t đáng lo ngại
Đe chứng minh sự gia tăng một cách liên tục của tội phạm về mãi dâm trong thời gian qua, chứng tôi nghiên cứu két quả xét xử của
Trang 23TAND quận Bình Thạnh thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1992 đến năm 1996, két quả cho thấy : loại tội phạm về chứa m ãi dâm, môi giới
m ãi dâm không những tăng liên tục, mà còn tăng với tỷ lệ r ấ t cao
Điều này được thể hiện ồ biểu đồ dưới đây :
Báng 4 : Diễn biến tội phạm mãi dâm đã xét xứ cúa TAND
Quận Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh từ năm 1992 -1996
BS Sổ vụ xét xử
■ Sổ bj cáo
Trang 24ĐÓi tượng chủ chứa, môi giới chủ yếu là phụ nữ và h ầu hét là ồ độ
tuổi từ 18 đến 30, một số rấ t ít là người chưa thành niên Đáng chú ý
là dân tộc ít người cũng phạm tội chứa, môi giới mãi dâm Tuy chiếm
tỷ lệ không nhiều, nhưng điều này cũng có nghĩa là tệ nạn m ãi dâm không chỉ có ỏ th àn h thị, nông thôn mà cả ỏ miền núi
Đối tượng cán bộ công n hân viên, Đảng viên phạm tội này cũng đang là ván đề cần quan tâm Tuy chưa phải là phổ biến, nhưng đó là dáu hiệu báo động tình trạn g sa sút về phẩm chất đạo đức trong đội ngũ cán bộ Đảng viên Riêng ỏ thành phố Đà N ằng năm 1996 đưa ra xét xử 17 bị cáo thì đã có 5 bị cáo là cán bộ đảng viên, chiếm tỷ lệ 29,5%
Đặc biệt đối tượng tá i phạm và tái phạm nguy hiểm ngày càng tăng
Bảng 4A : Phân tích đối tượng đã xét xứ từ năm 1992 đến năm 1996.
Năm Tổng số bị
cáo đã bị xử
CBộCNV
Đảngviên
Tphạm, Tphạm nguy hiểm
Dtộc ít người
Nữ Tuổi 18- 30
Người chưa thành niên
vũ trường ngoài Tỉnh, đồng thời chúng củng thực hiện việc bán dâm
Trang 25Nhiều trường hợp khác trong một gia đình, vợ là chú chứa, chồng
"cò mồi" dẫn khách mua dâm Hoặc ngược lại có gia đình chồng là chủ chứa, vợ "cò mồi" "môi gi<ới " dẫn khách Có trường hợp mẹ phạm tội
bị b ắt con gái thay mẹ h à n h nghề nối nghiệp
Qua những minh chứng trên cho tháy ,hoạt động tội phạm về m ãi dâm đang có khuynh hưống " gia đình hóa " và " chuyên nghiệp hóa "Ngoài những vấn đề đã được nghiên cứu trên, qua công tác xét xử của Tòa án và công tác đ ấu tran h chống tệ nạn m ãi dâm nói chung đã
p h át hiện nhiều đường dây chuyên lừa gạt, dẫn dắt gái m ại dâm và các em gái từ 10 - 15 tuổi để tổ chức bán dâm cho nước ngoài, ỏ các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Hà Bắc, Quảng Ninh, Lạng Sơn, TP Hồ Chí Minh Một số kẻ phạm tội còn ngụy tran g việc đưa gái m ại dâm hoặc em gái chưa thành niên ra nưốc ngoài bằng con đường du lịch, két hôn, làm con nuôi, nhưng thực chát là bán cho các hộp đêm để buộc họ bán dâm, bán trin h ở nước ngoài Điển hình n h á t trong năm
1994 các cơ quan bảo vệ pháp lu ật Thành Phố Hồ Chí Minh p h á t hiện
6 đường dây sextour dẫn gái ra nước ngoài Đường dây dẫn dắt gái mại dâm đi Campuchia, Macao (Trung Quốc), Singapore, bọn phạm tội đã
đưa tró t lọt 5 chuyến, mỗi chuyến từ 5 đến 7 cô gái qua biên giói sang
nưốc ngoài làm gái mại dâm trong các ổ chứa [ 18 ]
Tại biên giới phía Bắc, có hơn 5.000 phụ nữ bị lừa bán sang Trung Quốc để làm gái mãi dâm [17 ] Mối đây lực lượng cảnh sát T hành phố
Hồ Chí Minh đã bắt một đường dây buôn bán, môi giói gái m ãi dâm
quốc té từ Việt Nam sang các nước Singapore và Macao Đường dây này hoạt động từ đầu năm 1996, dưới sự điều khiển trực tiếp của Tay Wie Chung, quốc tịch Singapore [19 ]
Những minh họa trên cho thấy : Tệ nạn m ãi dâm có tác động trực tiếp đến sự phát triển tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em Theo số
Trang 26liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thỉ từ năm 1994 đến năm
1996, 17 Tòa án địa phương đã xét xử 421 vụ - 683 bị cáo phạm các tội m ua bán phụ nữ và trẻ em vào mục đích m ại dâm Riêng đối với tội
b ắt trộm, m ua bán,đánh tráo trẻ em trong 3 năm các Tòa án đã xét xử
104 vụ vối 164 bị cáo Trong đó có vụ Lê Thị Kinh ở Quảng Bình đã lừa, 7 em gái đưa sang Trung Quốc bán được 30.200 nhân dân tệ
Trước thực trạn g nghiêm trọng về tình hình tệ nạn m ãi dâm cũng như tội phạm về m ãi dâm và các hình thức bóc lột tình dục khác đang diễn ra khắp mọi nđi trên thế giới, từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 12 năm
1992 tạ i Băng cốc - Thái Lan LHQ đã tổ chức hội nghị về "kế hoạch cho loài người ỏ thế kỷ 21" và đã thông qua công ưổc về loại trừ các hình thức bóc lột tình dục
Nội dung của công ước này là yêu cầu các tổ chức nhà nưốc cần thống n h ấ t quan điểm về chống bóc lột tình dục phụ nữ Công ưổc này cũng đã khuyến nghị cần phải có hình phạt đối với người mua dâm ,coi
họ như những tội phạm cần phải được xét xử, không chấp nhận tư tưỏng coi m ại dâm như một nghề Phản đối các chính sách phát triên kinh té m à dẫn dắt người phụ nữ tới chỗ bị bóc lột tình dục
Có thể nói đây là một công ước thể hiện ý chí chung của nhân loại nhằm chống lại hiện tượng bóc lột tình dục nói chung và tệ nạn mãi dâm nói riêng Đó cũng là một trong những vấn đề có tính cách toàn cầu mà ồộng đồng loài người đang quan tâm hiện nay
1.2 NGUYÊN NHÂN, ĐlỀU KIỆN PHÁT SINH TỆ NẠN MÃI DÂM :
Bất kỳ một hiện tượng xã hội nào cũng đều có nguồn gốc và nguyên nhân sinh ra nó v ấ n đề đặt ra cho những người làm công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn là phải xem xét những nguyên nhân, điêu kiện nào phát sinh ra hiện tửợng mãi dâm và bằng cách nào đê khắc phục hoặc làm thay đổị nguyên nhân, điều kiện sinh ra chúng
Trang 27Chỉ khi xác định được nguyên nhân của tệ nạn mãi dâm, chúng ta mới có thể tìm được biện pháp phù hợp, tác động trực tiếp làm thay đổi nguyên n hân và điều kiện đó, để qua đó ngăn chặn được sự phát sinh
và tồn tạ i của tệ nạn này
Nghiên cứu tệ nạn m ãi dâm cho thấy nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tệ nạn này là rá t đa dạng, phong phú Nó có thể là những nguyên nhân bên trong, cũng có thể là những nguyên nhân bên ngoài, hoặc là sự kết hợp cả bên trong lẫn bên ngoài, hoặc từ những điều kiện kinh té xã hội mà nó đang tồn tại Tất cả những điều đó, ở mỗi một khía cạnh khác nhau đều có thể trở thành nguyên nhân và điều kiện của tình hình tệ nạn mãi dâm
1.2.1- Những n gu yên nhân về k ỉnh tế xã hội
Đề cập đến mãi dâm, tức là xét đến quan hệ m ua dâm, bán dâm
và các " dịch vụ" hỗ trợ cho việc mua bán đó ứ n g vối mỗi loại chủ thể tham gia vào các quan hệ này là những nhu cầu và lợi ích khác nhau
- Ngưòi mua dâm chỉ nhằm thỏa mãn sinh lý, tình dục hoặc những ham muốn khác bắt nguồn từ tình dục Họ thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, từ người lao động bình thường cho đến những kẻ giàu sang trong đó có cả một số cán bộ thoái hóa biến chất và người nước ngoài
- Người bán dâm, tuy xuất phát từ những hoàn cảnh khác nhau nhưng đều có chung mục đích là kinh té T ất nhiên trong đó cũng có người vì cuộc sống hàng ngày, nhưng cũng có người vi lười lao động, nhưng lại thích ăn chơi và làm giàu bằng cách bán đi nhân phẩm của mình; có ngưòi bị xô đẩy, ép buộc hành nghề mãi dâm và cũng có người hoàn toàn tự nguyện
Trang 28- Chủ chứa, kẻ môi giới, d ẫn d ắt mãi dâm đều có chung mục đích
là lợi nhuận X uất phát từ lợi ích cá nhân ích kỷ đó, họ bất chấp tấ t cả những điều cám của pháp lu ật và những h ậu quả có thể gây ra cho xã hội
Thực hiện chính sách đôi mới về kinh té - xã hội, cùng vối sự mỏ rộng giao lưu vổi các nước trê n thế giới, Việt Nam trong những năm gần đây là điểm th u h ú t nhiều nhà đầu tư và khách tham quan, du lịch Vì thế, các loại dịch vụ n h ư khách sạn, nhà hàng, vũ trường, massage p h át triên ào ạt và kéo theo tệ nạn m ại dâm có điều kiện sinh sôi, phát triên Dưó'i tác dộng của nền kinh té thị trường, nhiều người đã chuyển sang hình thức kinh doanh m ãi dâm, th u h ú t gái mãi dâm Vì vậy, tình hình chứa gái mãi dâm và môi giới m ãi dâm càng trỏ nên phức tạp và nghiêm trọng hơn bao giờ hét
Trong những năm qua, những m ặt tích cực của kinh té thị trường
đã trỏ thành động lực thúc đẩy nền kinh té nưốc ta p h át triển r ấ t khỏi sắc Nhưng bên cạnh đó, những m ặt tiêu cực của nó ngày càng bộc lộ
rõ rệt và có tác động rấ t xấu đến đời sống xã hội Điểm đặc trưng của
m ặt tiêu cực, là : xu thế phân hóa giàu nghèo quá mức, tạo nên tâm lý sùng bái đồng tiền và vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm Con người đã thực sự bị cuốn h ú t bởi tư tưỏng chạy theo đồng tiền và ma lực của đồng tiền trang nền kinh té thị trường đã tác động làm " méo mó", " dị dạng" những chuẩn mực đạo đức và pháp lu ật trong nhận thức của họ Nghiên cứu nguyên nhân kinh té của tệ nạn mại dâm, có thể thấy rõ những tác động đó thể hiện ỏ các khía cạnh dưới đây :
- Kinh té thị trường đã mồ ra khả năng tự do lựa chọn các hình thức kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh Vì thế nhiều người đã vì lợi ích kinh té của mình đã không cần quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội, khi lựa chọn nhung hình thức kinh doanh có lợi nhuận cao, cho dù hình thức đó là pháp luật nghiêm cấm Chúng ta cung dễ
Trang 29dàng nhận thấy kinh doanh m ại dâm là loại hình kinh doanh có lợi nhuận kinh té cao Bởi vì vốn đầu tư thấp nhưng lợi n h u ận th u được
rá t lổn, không có khả năng rủi ro thua lỗ, không đòi hỏi trìn h độ nghiệp vụ, kỹ thuật Tất cả những khả năng này đã làm cho số loại dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, massage, bia ôm, vũ trường, karaoke ngày càng phát triển Cũng từ đây số chủ chứa, môi giới tăng đáng kể trong những năm vừa qua Điều đáng quan tâm là ngay
cả các chủ thể doanh nghiệp nhà nước (khách sạn, n h à trọ, nhà hàng,
vũ trường của N hà nưổc) cũng chuyển sang hình thức kinh doanh chứa m ãi dâm Nhiều người trong số đó khi bị đưa ra xét xử đều cho rằng : kinh té thị trường buộc họ phải tự vận động để tồn tại, vì nếu không chấp nhận sự tồn tại của mãi dâm trong khách sạn, n h à trọ, nhà hàng của mình thì việc kinh doanh không có hiệu quả và th u a lỗ
- Néu như trước đây phần đông gái mại dâm phải bán đi nhân phẩm của mình để nuôi sống bản thân, thì ỏ thời điểm hiện nay không phải hoàn toàn như vậy Ngược lại có rấ t nhiều ngưòi bán dâm để nuôi sống gia đinh và làm giàu Bằng con đường mại dâm họ tạo được một cuộc sống khá giả và đầy đủ tiện nghi và ngay trong đối tượng gái bán dâm cũng đã có sự tự phân hóa và cạnh tran h để giành giật " thị trường" hoạt động
Vì thế trong thực tế đời thường người ta tự p hân loại gái m ãi dâm thành ba loại : Loại gái mãi dâm bình thưòng, hạng " sang" và loại cao cấp ứ n g với mỗi loại, giá cả của việc bán dâm cũng khác nhau Như vậy chính qui lu ật của kinh tế thị trường đã tạo ra m ột " th ị trường" ngầm về mại dâm trong lòng xã hội Đã có không ít gia đình vì đồng tiền, vì hám lợi nên đã lao vào con đường hoạt động m ại dâm ơ một số nơi, p h át hiện có trường hợp trong cùng một gia đình có hai thế hệ hoạt động mãi dâm Mẹ thì làm chủ chứa, còn con th ì vừa môi giới vừa trực tiếp bán dâm
Trang 30- Một yếu tố khác tham gia tạo điều kiện cho tệ nạn m ãi dâm tồn tại đó là hiện tượng " bảo kê" Trong trường hợp này đồng tiền đã th ậ t
sự m ua chuộc được một số cán bộ có chức trách Đồng tiền đã biến họ
th àn h kẻ " nô lệ" cho các chủ chứa Họ đã bán cả lương tâm và trách nhiệm của mình, làm ngơ cho các ổ mãi dâm hoạt động Thậm chí khi các chủ chứa bị p h át hiện, họ còn tìm cách bảo vệ, bao che và can thiệp Có thể nói rằng m ặt tiêu cực của cơ ché kinh té thị trường đang
h ú t dần những phẩm chất chính trị tốt đẹp ỏ một số bộ phận cán bộ
n h à nước ta
Phân tích ba khía cạnh chủ yếu trên đây cho phép k ét luận : Nền
kinh té thị trưòng có tác động sâu sắc và chi phối đến toàn bộ sự hình
thành, tồn tại và hoạt động của nạn mãi dâm
Nền kinh té p h át triển, nạn th ất nghiệp được khắc phục, đời sống
văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, nhưng tệ n ạn m ãi dâm và các
tội phạm về mãi dâm vẫn tiếp tục gia tăng Điều này có nghĩa là m ặt
trá i của cơ chế kinh té thị trường đang là nguyên n hân p h á t sinh, p hát
triển của hiện tượng mãi dâm
Nhìn một cách khái quát thì chính chủ nghĩa v ật chất và chủ
nghĩa tiêu dùng là con đẻ của nền kinh tế thị trường H ai th ứ đó tác
động đến đời sống tư tưỏng và nhân cách con ngưòi và nghiêm trọng
hơn chúng còn phá hoại những giá trị tinh th ầ n đạo đức của xã hội
Đây cũng là một quan điểm chung của nhiều n h à nghiên cứu về tình
trạn g mại dâm Tại Hội nghị quốc tế về "Trẻ em làm nghề m ại dâm" tổ
chức tại Trường Đại học mỏ rộng Sukhothai T ham m ath irat - Bangkok
đã đưa ra một kết luận chung như sau : " Chính chủ nghĩa vật chất và
chủ nghĩa tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ngày nay dã phá hoại
mọi giá trị cộng dồng trên khắp thế giói, đã tạo nên môi trường lấy
thỏa mãn tinh dạc và làm giàu, làm mục đích của nhiều người và là
biểu tượng hạnh phúc của họ" [6].
Trang 31Suy cho cùng dù dưới dạrag nào thì kinh té vẫn là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp, có sức quyến rũí mọi hành vi có liên quan đến hoạt động
m ãi dâm và phạm tội mãi dâm Vì vậy, nếu chỉ nhận thức rằng : Mại dâm là điều cần th iết duy n h ấ t để giải quyết kinh té cho các gia đình nghèo thì không bao giờ có thể thanh toán được tệ nạn mãi dâm
v ề phương diện xã hội, k h i chuyển sang nền kinh té thị trường chúng ta chưa lường hết n h ữ n g tiêu cực của xã hội có thể phát sinh Vì
th ế chưa chuẩn bị lập và đầy đủ những chính sách, biện pháp nhằm ngăn chặn những hiện tượng tiiêu cực đó Thực té điều này đã diễn ra ồ nước ta trong những năm vừa q u a là rá t rõ Khi đã nhận diện được, thì chúng đã trỏ thành ung nhọt, khó chữa
Từ việc nghiên cứu về nguiyên nhân kinh tế xã hội với tự cách là
m ột nguyên nhân chủ yéu của tệ nạn mãi dâm có thể rú t ra két luận : Mỗi khi thay đổi chính sách về kinh té thì chính sách xã hội cũng phải được thay đổi cho phù hợp và chứ ý đến những vấn đề tiêu cực có thể nảy sinh
1.2.2- N gu yên n hân về ciông tác quản lý n h à rniổc
Công tác quản lý nhà nưổc các hoạt động có liên quan đến mãi dâm, được nghiên cứu trên ba m ặ t chủ yếu sau :
- Công tác quản lý các loại (dịch vụ có thể có liên quan đến hoạt động m ãi dâm
- Công tác quản lý đối tượạg hành nghề bán dâm
- Công tác quản lý khách diu lịch
Trước h ế t xem xét các loại dịch vụ có thể có liên quan đến hoạt động mãi dâm Trong những nă.m qua các loại dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, quán trọ, vũ trường, massage, quán bia ôm, tụ điểm karaoke, cafe đèn mồ phát triể n ào ạt và đã trỏ th àn h hiện tượng
Trang 32quá tả i đối vói công tác quản lý nhà nưổc Thực tiễn cho thấy đây là " môi trường" th u ận lợi cho tệ n ạ n xã hội phát triển Từ các hình thức trá hình bia ôm, vũ trường, karaoke đi đến các hoạt động m ãi dâm là một con đường rấ t ngắn và có th ể là điểm khỏi đầu cho quá trình mua bán dâm tiếp theo.
Khảo sá t tình hình " môi trường" về mãi dâm tại địa bàn thành phố Đà N ắng đối vối 74 điểm cố hiện tượng mãi dâm đã được phát hiện trong năm 1995, cho két quả n h ư sau :
Báng 5 : Kháo sát các loại dịch vụ có hiện tượng chứa mãi dâm :
Tên loại dịch vụ có hiện tượng
chứa mãi dâm
SỐlượng
từ năm 1994 - 1996 dưới đây :
Trang 33Báng 6 : Sự biến động cúa các loại dịch vụ có ánh hướng đến sự tăng
giám cúa tệ nạn mãi dâm
Mãi dâm là một hiện tượng xã hội tồn tạ i khách quan Nó có nguyên n hân và điều kiện phát sinh n h á t định Nguyên nhân và điều kiện đó cũng chính là " môi trường" để cho m ãi dâm tồn tại và phát triển Thực tiễn đã chứng minh rằng : điều kiện " môi trường" có thể
dễ dàng p h á t sinh mại dâm là các quán bia ôm, vũ trường, khách sạn, nhà hàng Mồi trường càng phức tạp bao nhiêu th ì tệ nạn m ại dâm càng phức tạp bấy nhiêu
Theo nghiên cứu của Cục phòng chống tệ n ạn xã hội Trung ương
về phạm vi và môi trường hoạt động của gái m ãi dâm, thì năm 1995 nước ta có 76.885 gái mại dâm, trong đó có 72% gái bán dâm tại các nhà hàng, khách sạn, vũ trường tập t.rung ở các th àn h phố lón còn các nơi khác chiếm 28%
Trang 34Khi nghiên cứu về nguyên nhân môi trường xã hội cũng đã làm cho chúng ta thay đổi về quan điểm đánh giá tính chất hoạt động cũng như phạm vi diễn ra quan hệ m ua bán dâm N ếu như trước đày gái
m ại dâm chủ yéu là gái đứng đưồng, phạm vi hoạt động bán dâm ở các công viên, đường phố vắng và có tính riêng lẻ, độc lập thì ngày nay theo chiều p h át triển của nền kinh té, m ại dâm trỏ th àn h ván đề có tính công nghệ cao cấp, với một mối liên két chặt chẽ giữa chủ chứa và người môi giới
Thế nhưng trong thời gian qua công tác, quản lý nhà nước của chúng ta đối với các loại dịch yụ có khả năng sinh ra m ại dâm, còn h ạn ché trên cả hai m ặ t :
Thứ nhất, là hệ thống các văn bản về quản lý nhà nước trong lĩnh
vực này, không những ban h ành còn chậm so với diễn biến tình hình
m à còn th iếu đồng bộ, chưa chặt chẽ, thậm chí còn nhiều quy định không phù hợp với thực tế
Thứ hai, ồ các cơ quan chức năng thực hiện công tác này, lực
lượng còn quá mỏng, trong khi đó yêu cầu công tác quản lý là phải theo dõi, kiểm tra, giám sát thường xuyên để ngăn chặn kịp thòi mọi biểu hiện tiêu cực trong hoạt động của các loại dịch vụ trên
Neu như chính sách quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh té là quản lý ở tầm vĩ mô, thì đối với công tác quản lý xã hội phải đi từ vi
mô đến vĩ mô Giai đoạn vừa qua chúng ta đã xem nhẹ quản lý hoặc quản lý còn lỏng lẻo nên làm cho tình hình m ãi dâm p h á t triển r ấ t nhanh
Quản lý đối tượng gái mãi dâm cũng là ván đề hét sức quan trọng Ngoài những biện pháp ngăn chặn về sự p h át triển của gái mãi dâm, các biện pháp làm giảm và đi đến xóa bỏ tệ nạn m ãi dâm cũng phải được tiến hành đồng thời Trong đó việc quản lý đối tượng mãi dâm cần được thực hiện tốt
Trang 35v ề công tác quản lý nhà nước đối với TNMD là inột hình thức quản lý có tính đặc biệt, nó phải được thực hiện trực tiếp từ cấp cơ sỏ thông qua hoạt động khaỏ sá t điều tra nắm tình hình thường xuyên của chính quyền địa phương cấp xã phường Thế nhưng trong thòi gian qua chứng ta chưa thực sự chú trọng tăng cường vai trò quán lý
nhà nước của cấp cơ sỗ, nên ở cấp này không p h át huy được trách
nhiệm của mình Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến sự buông lõng quản lý các đối tượng mãi dâm ở địa phương
Quản lý tốt đối tượng mãi dâm sẽ giúp chúng ta phân loại đễ có các biện pháp giáo dục, xử lý phù hợp, tạo điều kiện cho họ có công ăn việc làm, cuối cùng là đưa họ ra khỏi môi trường m ãi dâm
Song một điều nhận tháy là từ năm 1993 về trước, công tác quản
lý đối tượng gái m ãi dâm không được chú trọng, còn buông lỏng, th ả nổi, mặc dù từ năm 1989 Hội đồng Bộ trưỏng (nay là Chính phủ) có chỉ thị số 135/CT-HĐBT yêu cầu các địa phương quản lý tốt đối tượng m ãi dâm
Bên cạnh đó chúng ta chưa hình th àn h được bộ máy chuyên trách thực hiện công tác quản lý nhà nước về các tệ nạn xã hội nói chung Năm 1994 trên toàn quốc mới thành lập cơ quan phòng chống tệ nạn
xã hội, từ đó công tác quản ]ý các đối tượng tệ nạn xã hội mới được chú trọng và bưổc đầu đem lại hiệu quả Nếu năm 1992 ưốc tính cả nưốc có khoảng 400.000 gái m ại dâm thì đến cuối năm 1996 con số đó giảm xuống chỉ còn hơn 56.000 gái mãi dâm Như vậy trong vòng 4 năm, số gái mãi dâm ở nước ta đã giảm đi khoảng trên 85%
Thực té cho thấy, nơi nào thực hiện tốt công tác quản lý gái mãi dâm thì ở nơi đó tình hình tệ nạn mãi dâm có nhiều chiều huống giảm.Khảo sát một số thành phố lốn cho thấy : ơ Hà Nội năm 1996 có khoảng 1.200 gái mãi dâm hoạt động, nhưng Chi cục phòng chống tệ
Trang 36n ạ n xã hội thành phố Hà Nội chỉ mổi lập hồ sơ quản lý được 182 đối tư<Ợng, chiếm tỷ lệ gần 16% Tại Thành phố Hồ Chí Minh người ta ưốc
t i n h số gái mãi dâm gáp từ 8 - 10 lần Hà Nội, nhưng công tác quản lý còn nhiều nan giải và ỏ đây cũng hình thành một thị trưòng m ại dâm
"iS Ô i động" n h át trong toàn quốc
Riêng ỏ Thành phố Đà Nang năm 1995 Chi cục Phòng chống tệ
n ạ n xã hội khảo sát và thống kê có khoảng 340 gái mại dâm hoạt động
v à đã lập hồ sơ quản lý được 267 đối tượng đạt tỷ lệ 78,8% Do thực
h iệ n tốt công tác khảo sát điều tra, phân loại và lập hồ sơ quản lý nên
sa n g năm 1996 số lượng gái mãi dâm ở th àn h phố Đà Nẵng không
n h ữ n g không tăng mà còn giảm đáng kể (từ 339 xuống còn 290), giảm 15% Trong số đó có 208 đối tượng được Chi cục lập hồ sơ quản lý và theo dõi
Một khía cạnh khác trong công tác quản lý đối tượng mại dâm cần phải được giải quyết triệt để đó là : Khả năng trồ lại con đường
m ại dâm của người được áp dụng các biện pháp giáo dục
Nghiên cứu 267 đối tượng gái mãi dâm được lập hồ sơ quản lý tro n g năm 1995 (267/339) ỗ Thành phó Đà Nắng cho th áy sau khi đã
áp dụng các biện pháp giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm thì chỉ có 95 ngưồi trong số họ có việc làm ỗn định và hoàn lương, còn lại 91 ngưòi chưa có việc làm thường xuyên, và 81 người chưa có việc làm Két quả trê n cho tháy hiệu quả của công tác giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm cho các đối tượng này của các cơ quan quản lý chưa cao và chưa triệt
để Bỏi vì tỉ lệ số người có khả năng quay về với con đưòng cũ còn cao Thực tế đã có rấ t nhiều người trong số 81 ngiíời chưa tạo được việc làm trỏ lại hành nghề bán dâm
Đối với đối tượng là người mua dâm cũng đang là vấn đề rấ t phức tạp Tính phức tạp của nó được thể hiện ngay trong các thành phần
Trang 37m ua dâm Ngoài đôi tượng là ngưồi Việt Nam, phần lổn người mua dâm là khách du lịch, thương gia nước ngoài vào Việt Nam Chính đối tượng nay đa thu h u t va la nguyên nhân đây tốc độ gia tăng đáng kê gai m ại dâm ơ nươc ta trong thời gian qua Điều này cũng rấ t dễ hiêu, bơi ban dam cho ngươi nưổc ngoài sẽ được trả tiền cao hơn, nên đa số gai bị cuôn h u t theo đôi tượng này Trong khi đó chúng ta chưa có chính sách riêng về quản lý và xử lý khách du lịch có hành vi mại dâm.
Đoi tượng mua dâm la người Việt Nam, bây giờ không chỉ đơn
th u an la nhưng thanh niên ngoài xã hội, mà còn một bộ phận cán bộ, Đang vien co loi sông sa đọa, trác tán, biến chất Họ bất chấp sự qui đinh cua phap luật va đánh m ât bản chât của mình để tham gia vào quan hẹ mua ban dâm Nghiêm trọng hơn có người tổ chức chứa và môi giới mãi dâm nhằm thu lợi bất chính Thực té này cho tháy công tac quan ly va giao dục cán bộ công chức nhà nưốc của chúng ta quả
Giao dục la sự tấc dộng có hệ thống tói tâm lý người dược giáo dục nhăm trau dôi cho họ những phâm chất, những thuộc tính tâm lỷ nhan cach cụ thê, phân biệt dược cái thiện và cái ác và cuối cùng là hưóng hành vi của họ vào những hoạt dộng có ích cho xã hội" [11 Do
đó yêu câu đặt ra là phái không ngừng giáo dục đạo đức xã hội, ý thức phap luạt, nang cao trinh độ hiêu biêt pháp lu ật cho mỗi ngưòi Bởi vi :
Qua tĩin h hình t/ianh nhân cách trong xã hội, một m ặt là do ảnh
Trang 38hương cua hoan canh thực tại xã hội và môi trường xã hội (môi trường chung quanh, môi trường địa phương vả môi trường gia dinh) và mặt khac la do tac dộng huổĩig dích của các thiết chế xã hội dảm nhận thực hiện nhiệm vụ tác dộng ấy" [l]ị
Sự vạn động va phát triêrn của nên kinh tế xã hội đã và đang chi phối r ấ t lớn đến sự vận động của các hiện tượng xã hội khác Con ngươi ta khi thoa mãn vê nhu (câu kinh tê, lập tức họ tìm đến các nhu cầu khác về văn hóa và đời sống tinh thần
Cung VƠI sự hình thanh cá«c nhu cầu về tiến bộ xã hội, các nhu cầu tra i VƠI đạo đức xã hội đang có khuynh hướng ngày càng bộc lộ Trong
đó không ít người cho rằng tìn h dục là một thứ nhu cầu tinh th ần cần được thoa man, va thực tê trong xã hội ta đã hình th àn h một bộ phận ngươi co nhu cau vê tm h dục ((ngưòi m ua dâm) và một bộ phận đáp ứng nhu cầu đó (bán dâm)
Trong đieu kiện giao lưu quôc tê đa phương như hiện nay, sẽ khong tran h khoi nhưng tư tưởng văn hóa phản động xâm nhập vào nươc ta Mọt trong những tư tưởng làm nảy sinh tệ nạn mãi dâm đó là chu nghía ve tinh dục cua các học giả tư sản Học thuyết của Frốt mơi cho răng : Cái ban tính của con người" là những ham thích sinh vạt, ma trươc hêt la những ham thích tình dục N hiều người đã dựa vao học thuyet nay đê tim cách thỏa mãn nhu cầu tháp hèn về tình dục bang cach mua dâm Tư đó đã sinh ra lắm người bán dâm, chủ chưa va moi giơi, hình thanh m ột tệ nạn gây lo lắng và b át bình trong
xã hội
Trong khi đó Đang và N hà nưốc đã có nhiều chủ trương, chính sach nham đinh hương cho con người ngày càng tiến gần đến giá trị hoàn hảo của đời sống văn hóa và tinh thần Đe đạt được mục đích
yeu cau viẹc giao dục cho môi người nhận thức đầy đủ cấc giá trị
Trang 39tin h than, loại bo cac nhu câu trái với đạo đức xã hội và pháp lu ật là đieu ra t quan trọng va cân thiêt Nêu không thực hiện được những yêu cau tren thi kho co thê xây dựng được một xã hội có nếp sống văn hóa lành m ạnh và văn minh.
Do nh ạn thưc luận cua chủng ta về yêu cầu giáo dục còn hạn ché, nen cong tac giao dục đạo đức và pháp lu ật trong thời gian qua chưa có hiệu qua, thiêu tập trung, không thường xuyên, thậm chí còn xem nhẹ
H ay noi cach khac các thiêt chê xã hội đảm nhận thực hiện nhiệm vụ giao dục va tac đọng đên hanh vi của con người còn nhiều yếu kém.Như vậy sự yêu kém trong công tác giáo dục đã dẫn đến tình trạn g đạo đức xã hội trong thời gian qua bị xói mòn, " xuống cấp" Tình trạn g đo dan đên cac hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội p h át sinh va p h at tn ên , trong đó có tệ nạn m ãi dâm Vì thế đây cũng là cội nguồn dẫn đến sự p h át triển của tệ nạn mãi dâm
Mục đích giao dục đạo đức, phâm chát con người trong xã hội là nhằm biến những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực pháp
lu ạt th an h chinh kiên bên trong của mỗi cá nhân con người, th àn h nhưng tạp tục, tinh cam va những phâm chát tâm lý đạo đức tốt cho
họ Nhửng phẩm chát đó không phải là những th ứ bẩm sinh, mà nó được hình th an h trong môi con người thông qua m ột cơ chế tác động tong hợp cua thực tại xã hội Do vậy, vân đề cơ bản trong công tác tuyen truyên giao dục pháp luật và đạo đức là phải n h ận thức đúng thực tại xa họi, đe tư đo co nội dung và hình thức giáo dục phủ hợp, nham tac đọng co hiệu qua đên yêu câu đấu tranh phòng ngừa tệ nạn mãi dâm
Trang 401.2.4- N hữ ng n gu yên n h â n về pháp lu ậ t :
Nghiên cứu vê pháp lu ật với tư cách là nguyên nhân tác động đến
thực trạ n g tẹ nạn m ai dâm, được tiên hành ở hai m ặt chủ yếu sau đây:
- Mức độ hoàn thiện của pháp lu ật và chính sách xử lý tệ nạn mãidâm
- Tinh trạn g thực thi pháp lu ật và áp dụng pháp lu ật để xử lý các
h àn h vi vi phạm liên quan đến tệ nạn mãi dâm
Xa họi luon vạn động không ngừng và sự biến đổi của xã hội có thể quan sá t được từng ngày Còn pháp lu ật thì thay đổi theo từng giai đoạn H ay noi cach khac pháp lu ật luôn luôn có khuynh hướng lạc hậu hơn so với tồn tạ i xã hội Vì vậy tình trạn g pháp lu ậ t không đuổi kịp ton tạ i xa họi la mọt tâ t yêu, khách quan Đây là cơ sỏ lý giải cho sự chưa hoan thiẹn cua hệ thông pháp luật Hiện nay pháp lu ậ t của Nhà nước chưa điêu chỉnh kịp thời các hành vi xâm phạm đến đạo đức và nép sống xã hội đã và đang xảy ra, đặc biệt là các h ành vi liên quan đên các tệ nạn m ãi dâm
Sự khiêm khuyêt này cũng coi là một nguyên nhân để cho bọn tộiphạm m ai dam lợi dụng vao nhừng kẽ hở đó của pháp lu ậ t đê hoạt động
M ặt khac, ban thân hệ thông các biện pháp xử lý cũng như các chê tài đôi với các hành vi mãi dâm chưa đủ m ạnh, thiếu tác dụng răn
đe, phong ngứa va con hạn chê về yêu cầu trừ ng trị Do đó các quy đinh hiẹn hanh cua phap luật không đáp ứng được yêu cầu đấu tran h phong chông tệ nạn mãi dâm Trong khi đó thực tiễn tệ nạn m ãi dâm đang đ ạt ra nhiệm vụ câp bách và đòi hỏi phải khản trương' hoàn thiện
hẹ thong' phap lu ạ t 1101 chung va pháp lu ật vê m ãi dâm nói riêng