Giải thích nội dung của đoạn văn: + Lời độc thoại của nhân vật “Ông giáo”- thông qua nhân vật này- tác giả Nam Cao thể hiện cáchnhìn, đánh giá đầy sự cảm thông, trân trọng con người: -
Trang 1PHÒNG GD & ĐT SÔNG LÔ
TRƯỜNG T.H.C.S HOÀNG HOA
THÁM
ĐỀ THI CHỌN H.S.G LỚP 8(VÒNG 1)NĂM HỌC : 2012-2013
MÔN : NGỮ VĂN
Thời gian : 120 phút(Không kể thời gian giao đề)
ĐỀ BÀI
Câu 1 : (3 điểm)
Đọc câu chuyện sau và nêu suy nghĩ của em bằng một đoạn văn khoảng 10 câu:
Có người cha mắc bệnh rất nặng Ông gọi hai người con trai đến bên giường và ân cần nhắc nhở: “Sau khi cha qua đời,hai con cần phân chia tài sản một cách thỏa đáng, đừng vì chuyện đó mà cãi nhau nhé!”
Hai anh em hứa sẽ làm theo lời cha Khi cha qua đời họ phân chia tài sản làm đôi
Nhưng sau đó người anh cho rằng người em chia không công bằng và cuộc tranh cãi nổ ra Một ông già thông thái
đã dạy cho họ cách chia công bằng nhất: Đem tất cả đồ đạc ra
cưa đôi thành hai phần bằng nhau tuyệt đối Hai anh em đã đồng ý
Kết cục tài sản đã được chia công bằng tuyệt đối nhưng đó chỉ là đống đồ bỏ đi
Câu 2 : (2 điểm) Có ý kiến cho rằng : "Bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ ( Ngữ văn 8, tập 2 )tràn đầy cảm xúc lãng
mạn".Em hãy cho biết cảm xúc lãng mạn được thể hiện trong bài thơ như thế nào ?
Câu 3: (5 điểm)
Trong tác phẩm “Lão Hạc”, Nam Cao viết:
“…Chao ôi ! Đối với những người sống quanh ta , nếu ta không cố mà tìm hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn
dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng
, buồn đau, ích kỉ che lấp mất…”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào ? Từ các nhân vật: Lão Hạc,ông giáo, vợ ông giáo ,Binh Tư trong tác phẩm
“Lão Hạc” ,em hãy làm sáng tỏ nhận định trên
-Hết -Giám thị coi thi không giải thích gì thêm
PHÒNG GD & ĐT SÔNG LÔ
TRƯỜNG T.H.C.S HOÀNG HOA
THÁM
HƯỚNG DẪN CHẤM – BIỂU ĐIỂM
KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 8 (VÒNG 1)NĂM HỌC : 2012 - 2013
MÔN : NGỮ VĂN
Thời gian : 120 phút (Không kể thời gian giao đề)
.HƯỚNG DẪN CHẤM – BIỂU ĐIỂM
(2 điểm) Nêu được nội dung cơ bản sau: - Bài thơ “Nhớ rừng” là bài thơ hay của Thế Lữ, nhưng cũng là bài thơ hay của phong trào Thơ
Mới Điểm nổi bật của tâm hồn lãng mạn là giàu mộng tưởng, khát vọng và cảm xúc Người nghệ
Trang 2sỹ lãng mạn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám-1945 cảm thấy cô đơn, tù túng trong xã hội bấy giờ nhưng bất lực, họ chỉ còn biết tìm cách thoát li thực tại ấy bằng chìm đắm vào trong đời sống nội tâm tràn đầy cảm xúc Tâm hồn lãng mạn ưa thích sự độc đáo, phi thường, ghét khuôn khổ, gò bó và sự tầm thường Nó có hứng thú giãi bầy những cảm xúc thiết tha mãnh liệt, nhất là nỗi buồn đau.
- Cảm xúc lãng mạn trong bài thơ nhớ rừng được thể hiện khá rõ ở những khía cạnh sau: (1điểm).+ Hướng về thế giới mộng tưởng lớn lao, phi thường tráng lệ bằng một cảm giác trào dâng mãnh liệt Thế giới ấy hoàn toàn đối lập với thực tại tầm thường, giả dối Trong baì thơ, thế giới mộng tưởng chính là cảnh đại ngàn hùng vĩ và kèm theo đó là cảnh oai hùng của chúa sơn lâm
+ Diễn tả thấm thía nỗi đau trong tinh thần bi tráng, tức là nỗi uất ức xót xa của hòm thiêng khi
sa cơ lỡ vận
Câu 3:
(5điểm)
A.Yêu cầu chung:
Thể loại: Giải thích kết hợp chứng minh.
Nội dung:Cách nhìn, đánh giá con người cần có sự cảm thông, trân trọng con người.
Yêu cầu cụ thể 1.Mở bài:
-Dẫn dắt vấn đề:Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội nên việc đánh giá con người phải có sự tìm hiểu cụ thể
-Đặt vấn đề:Cách nhìn, đánh giá con người qua câu nói trên
2.Thân bài(4 điểm)
a Giải thích nội dung của đoạn văn:
+ Lời độc thoại của nhân vật “Ông giáo”- thông qua nhân vật này- tác giả Nam Cao thể hiện cáchnhìn, đánh giá đầy sự cảm thông, trân trọng con người:
- Phải đem hết tấm lòng của mình, đặt mình vào hoàn cảnh của họ để cố mà tìm hiểu, xem xét con người ở mọi bình diện thì mới có được cái nhìn đầy đủ, chắt gạn được những nét phẩm chất đáng quý của họ, nếu chỉ nhìn phiến diện thì sẽ có ác cảm hoặc những kết luận sai lầm về bản chất của con người
b Chứng minh ý kiến trên qua các nhân vật:
+ Lão Hạc: Thông qua cái nhìn của các nhân vật (trước hết là ông giáo), lão Hạc hiện lên với những việc làm, hành động bề ngoài có vẻ gàn dở, lẩm cẩm
- Bán một con chó mà cứ đắn đo, suy nghĩ mãi Lão Hạc sang nhà ông giáo nói chuyện nhiều lần
về điều này làm cho ông giáo có lúc cảm thấy “nhàm rồi”.
- Bán chó rồi thì đau đớn, xãt xa, dằn vặt như mình vừa phạm tội ác gì lớn lắm
- Gửi tiền, giao vườn cho ông giáo giữ hộ, chấp nhận sống cùng cực, đói khổ: ăn sung, rau má, khoai, củ chuối…
- Từ chối gần như hách dịch mọi sự gióp đỡ
- Xin bả chó
+ Vợ ông giáo: nhìn thấy ở lão Hạc một tính cách gàn dở “Cho lão chết ! Ai bảo lão có tiền mà
chịu khổ ! Lão làm lão khổ chứ ai…”, vô cùng bực tức khi nhìn thấy sự rỗi hơi của ông giáo khi
ông đề nghị giúp đỡ lão Hạc “Thị gạt phắt đi”.
+ Binh Tư: Từ bản tính của mình, khi nghe lão Hạc xin bả chó, hắn vội kết luận ngay “Lão…
cũng ra phết chứ chả vừa đâu”
+ Ông giáo có những lúc không hiểu lão Hạc: “Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế ?”, thậm chí ông cũng chua chát thốt lên khi nghe Binh Tư kể chuyện lão Hạc xin bả chó
về để “cho nó xơi một bữa…lão với tôi uống rượu”: “Cuộc đời cứ mỗi ngày càng thêm đáng
buồn…” Nhưng ông giáo là người cã tri thức, có kinh nghiệm sống, có cái nhìn đầy cảm thông
với con người, lại chịu quan sát, tìm hiểu, suy ngẫm nên phát hiện ra được chiều sâu của con người qua những biểu hiện bề ngoài:
- Ông cảm thông và hiểu vì sao lão Hạc lại không muốn bán chó: Nó là một người bạn của lão, một kỉ vật của con trai lão; ông hiểu và an ủi, sẻ chia với nỗi đau đớn, dằn vặt của lão Hạc khi lão
Trang 3khóc thương con chó và tự xỉ vả mình Quan trọng hơn, ông phát hiện ra nguyên nhân sâu xa của việc gửi tiền, gửi vườn, xin bả chã, cái chết tức tưởi của lão Hạc: Tất cả là vì con, vì lòng tự trọngcao quý ông giáo nhìn thấy vẻ đẹp tâm hồn của lão Hạc ẩn giấu đằng sau những biểu hiện bề ngoài có vẻ gàn dở, lập dị
- Ông hiểu và cảm thông được với thái độ, hành động của vợ mình: Vì quá khổ mà trở nên lạnh
lùng, vô cảm trước nỗi đau đồng loại “…Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi Một ngưêi
đau chân cã lóc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu ? cái bản tính tốt của ngưêi ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất…” ông biết vậy
nên “Chỉ buồn chứ không nì giận”.
→ Ông giáo là nhân vật trung tâm dẫn dắt câu chuyện, từ việc miêu tả các nhân vật mà quan sát, suy ngẫm để rồi rót ra những kết luận cã tính chiêm nghiệm hết sức đóng đắn và nhân bản về conngười Có thể nói tác giả đã hóa thân vào nhân vật này để đưa ra những nhận xét, đánh giá chứa chan tinh thần nhân đạo về cuộc đời , con người Đây là một quan niệm hết sức tiến bộđịnh hướng cho những sáng tác của nhà văn sau này
3.Kết bài:
-Khẳng định tính triết lí của câu nói trên Đó cùng là quan niệm sống,tình cảm của tác giả
-Suy nghĩ của bản thân em
ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN LỚP 8
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề)
A VĂN – TIẾNG VIỆT (6 điểm):
Câu 1: (2,0 điểm)
Qua ba văn bản truyện ký Việt Nam: “Trong lòng mẹ”, “Tức nước vỡ bờ” và “Lão Hạc”, em thấy có những
đặc điểm gì giống và khác nhau ? Hãy phân tích để làm sáng tỏ.
Câu 2: (2,0 điểm)
Cho đoạn văn:
“Mặt lão đột nhiên co rúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc ”.
(Trích Lão Hạc, Nam Cao)
a Tìm câu ghép trong đoạn văn trên Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu đó.
b Chỉ rõ từ tượng hình, từ tượng thanh và phân tích giá trị biểu hiện (tác dụng) của các từ tượng hình, tượng thanh trong đoạn văn đó.
Câu 3: (2,0 điểm)
Tóm tắt phần trích Lão Hạc bằng một đoạn văn khoảng từ 8 đến 10 dòng
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN LỚP 8
A VĂN – TIẾNG VIỆT (6 điểm):
Câu 1: (2,0 điểm)
a Giống nhau: (1,0 điểm)
- Thời gian sáng tác: Cùng giai đoạn 1930 – 1945 - Phương thức biểu đạt: tự sự
- Nội dung: Cả 3 văn bản đều phản ánh cuộc sống khổ cực của con người trong xã hội đương thời chứa chantinh thần nhân đạo - Nghệ thuật: Đều có lối viết chân thực, gần gũi, sinh động
Trang 4Câu 2: (2,0 điểm)
a/ - Câu ghép: Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít (0,5 điểm)
- Quan hệ ý nghĩa giữa 2 vế câu: quan hệ bổ sung hoặc đồng thời (0,5 điểm)
b/ - Từ tượng hình: móm mém (0,25 điểm)
- Từ tượng thanh: hu hu (0,25 điểm)
- Giá trị biểu hiện (tác dụng): Gợi tả hình ảnh, âm thanh cụ thể, sinh động có giá trị biểu cảm cao (0,5 điểm) Câu 3: (2,0 điểm)
Đoạn văn tham khảo:
Lão Hạc có một người con trai, một mảnh vườn và một con chó vàng Con trai lão phải đi phu đồn điền cao su, lão chỉ còn lại con chó vàng làm bạn tâm tình Vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con, lão đã gạt nước mắt bán cậu vàng Tất cả số tiền dành dụm được lão gửi ông giáo và nhờ ông giáo trông coi mảnh vườn Cuộc sống ngày một khó khăn, lão kiếm được gì ăn nấy và khéo léo từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo Một hôm, lão xin Binh Tư ít bã chó, nói là sẽ đánh bả một con chó và ngỏ ý rủ Binh Tư uống rượu Ông giáo rất ngạc nhiên và rất buồn khi nghe Binh Tư kể lại Nhưng khi tận mắt chứng kiến cái chết đau đớn, quằn quại của lão Hạc thì ông giáo mới hiểu Cả làng đều bất ngờ trước cái chết đó Chỉ có Binh Tư và ông giáo hiểu vì sao lão Hạc chết tức tưởi như vậy!
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 8
Câu 1: (4 điểm)
Nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết:
“… Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu ”
(Ông đồ)
a Phương thức biểu đạt của đoạn thơ ?
b Xác định các trường từ vựng có trong đoạn thơ ?
c Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn thơ Phân tích giá trị biểu đạt của chúng ?
c Các biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn thơ: Điệp ngữ (mỗi); câu hỏi tu từ (Người thuê viết nay đâu?); nhân hoá (giấy-buồn, mực-sầu). (1 điểm)
- Sự sửng sốt trước sự thay đổi quá bất ngờ mỗi năm mỗi vắng.
- Hình ảnh ông đồ già tiều tụy, lặng lẽ bên góc phố, người trên phố vẫn đông nhưng chỗ ông ngồi thì vắng vẻ, thưa thớt người thuê viết
- Một câu hỏi nghi vấn có từ nghi vấn nhưng không một lời giải đáp, hồi âm tan loãng vào không gian hun hút - tâm trạng xót xa ngao ngán
Trang 5- Cái buồn, cái sầu như ngấm vào cảnh vật (giấy, nghiên), những vật vô tri vô giác ấy cũng buồn cùng ông, như có
linh hồn cảm thấy cô đơn lạc lõng…
Câu 2: (4 điểm)
- Giới thiệu khái quát đoạn trích “Chiếc lá cuối cùng” (1 điểm)
- Lòng yêu nghề đã gắn kết cuộc sống của ba họa sĩ nghèo: Cụ Bơ-men, Xiu và Giôn-xi Tuy không cùng tuổi tác nhưng họ có trách nhiệm với nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống hằng ngày (cụ Bơ- men tuy già yếu nhưng vẫn ngồi làm mẫu vẽ cho hai hoạ sĩ trẻ; Xiu lo lắng chăm sóc Giôn-xi khi cô đau ốm) (1,5 điểm)
- Cụ Bơ men: Nhà hội hoạ không thành đạt trong nghề nghiệp, tuổi già vẫn kiên trì làm người mẫu Vì tình cảm cũng như trách nhiệm cứu đồng nghiệp cụ đã vẽ “Chiếc lá cuối cùng” giữa mưa gió, rét buốt (1 điểm)
- “Chiếc lá cuối cùng” trở thành kiệt tác vì nó như liều thần dược đã cứu được Giôn xi
(0,5 điểm)
Câu 3: (12 điểm)
* Yêu cầu chung:
a Thể loại: Sử dụng thao tác lập luận chứng minh HS cần thực hiện tốt các kĩ năng làm văn nghị luận đã
được học ở lớp 7 và lớp 8: dựng đoạn, nêu và phân tích dẫn chứng, vận dụng kết hợp đưa các yếu tố miêu tả, tự sự
và biểu cảm vào bài văn nghị luận
b Nội dung: Văn học của dân tộc ta luôn đề cao tình yêu thương giữa người với người.
- HS cần nắm vững nội dung ý nghĩa và tìm dẫn chứng phù hợp với nội dung vấn đề cần giải quyết
- Hệ thống các dẫn chứng tìm được sắp xếp theo từng phạm vi nội dung, tránh lan man, trùng lặp
- Dẫn chứng lấy trong các văn bản truyện đã học ở chương trình Ngữ văn 8, chủ yếu là phần văn học hiện thực
c Về hình thức: Bài viết có bố cục chặt chẽ, đủ ba phần; dẫn chứng chính xác; văn viết trong sáng, có cảm
xúc; không mắc lỗi chính tả và lỗi diễn đạt; trình bày sạch sẽ, chữ viết rõ ràng
* Yêu cầu cụ thể:
- Có thể nêu mục đích của văn chương (văn chương hướng người đọc đến với sự hiểu biết và tình yêu thương)
- Giới thiệu vấn đề cần giải quyết
Tình yêu thương giữa người với người thể hiện qua nhiều mối quan hệ xã hội
- Tình cảm xóm giềng:
+ Bà lão láng giềng với vợ chồng chị Dậu (Tức nước vỡ bờ - Ngô Tất Tố)
+ Ông giáo với lão Hạc (Lão Hạc - Nam Cao)
- Tình cảm gia đình:
+ Tình cảm vợ chồng: Chị Dậu ân cần chăm sóc chồng chu đáo, quên mình bảo vệ chồng (Tức nước vỡ bờ - Ngô Tất Tố)
+ Tình cảm cha mẹ và con cái:
• Người mẹ âu yếm đưa con đến trường (Tôi đi học - Thanh Tịnh); Lão Hạc thương con (Lão Hạc - Nam Cao)
• Con trai lão Hạc thương cha (Lão Hạc - Nam Cao); bé Hồng thông cảm, bênh vực, bảo vệ mẹ (Trong lòng mẹ - Nguyên Hồng)
Nêu tác dụng của văn chương (khơi dậy tình cảm nhân ái cho con người để con người sống tốt đẹp hơn)
* Hình thức: (1 điểm) Có đủ bố cục 3 phần, kết cấu chặt chẽ, liên hệ hợp lí, dẫn chứng chính xác; văn viết trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả, chữ viết đẹp
ĐỀ KHẢO SÁT HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
Bảo vệ môi trường thiên nhiên (bầu không khí, nguồn nước, cây xanh ) chính là bảo vệ nguồn sống của chúng ta Em hãy chứng minh Yêu cầu:
Biết làm bài văn nghị luận, bố cục rõ ràng, mạch lạc, kết cấu hợp lý;
Trang 6Văn phong trong sáng không dùng từ sai, câu đúng ngữ pháp
Biểu điểm:
a Đặt vấn đề: (1.0 đ)
Giới thiệu về môi trường thiên nhiên (nguồn sống ) và sự cần thiết phải bảo vệ nó
b Giải quyết vấn đề: (4.0 đ)
Bảo vệ bầu không khí trong lành trước tác hại của khói, bụi, khí thải (làm thủng tầng ô-zôn)
Bảo vệ nguồn nước sạch trước sự tác hại của rác sinh hoạt, chất thải công nghiệp (làm bẩn nguồn nước)
Bảo vệ cây xanh trước sự tàn phá của con người, thiên tai (làm thay đổi hệ sinh thái: chim thú bị huỷ diệt, sông ngòi sẽ khô cạn, trái đất sẽ nóng lên, lụt lội, hạn hán )
Viết đoạn văn có độ dài từ 20 đến 25 dòng trình bày ý kiến của em về câu hỏi sau:
Có thật cần đến đoạn kết truyện như của tác giả An-đéc-xen (đoạn trích “Cô bé bán diêm”) không? Nếu kết thúc ở câu “Họ đã về chầu thượng đế” thì có làm giảm cái hay của truyện không? Vì sao?
1.Yêu cầu về kĩ năng:
Hiểu đề bài, trình bày bằng một đoạn văn chặt chẽ rõ ràng, lập luận chắc chắn, có sức thuyết phục Diễn đạt lưu loát, có cảm xúc
2.Yêu cầu về nội dung:
Học sinh có thể trình bày bằng những trình tự khác nhau, nhưng phải thể hiện được sự suy ngẫm cơ bản sau đây:-Với tấm lòng nhân ái của nhà văn, thì đoạn kết truyện được coi là rất cần thiết Nếu kết thúc ở câu “Họ đã về chầuthượng đế” thì ý nghĩa của truyện sẽ bị giảm đi (0,25 điểm)
- Người đọc không thấy được sự đối lập giữa một bên là hình ảnh cô bé bán diêm ngây thơ, hồn nhiên đẹp đẽ như tiên đồng ngọc nữ với một bên gió lạnh của ngày đầu năm Và người đọc cũng không thấy được sự đối lập giữa một bên là thái độ lạnh lùng thờ ơ của mọi người khi chứng kiến cảnh thương tâm này (cô bé rất cô đơn: mồ côi bố nghiệt ngã, vô tình) (0,5 điểm)
- Đoạn kết của truyện đã phơi bày cả một xã hội vô tình, lạnh lùng trước cái chết của một đứa trẻ nghèo mô côi (0,25 điểm)
-Đoạn kết truyện còn cho thấy cái nhìn đầy cảm thông cùng tấm lòng nhân hậu và lãng mạn của tác giả viết lại câu chuyện thương tâm này khiến người đọc bớt đi cảm giác bi thương để đưa tiễn cô bé lên trời với niềm vui, hy vọngchợt bùng, lóe sáng sau những lần đánh diêm (0,5 điểm)
- Cái hay của đoạn kết: người đọc chứng kiến cả xã hội Đan Mạch đương thời tàn nhẫn thiếu tính thương từ đó lên
án, cho thấy tấm lòng nhân ái của nhà văn (0,5 điểm
Câu 4 (4 điểm)
1 Yêu cầu về kĩ năng:
- Hiểu đúng yêu cầu của đề bài, biết cách làm bài văn nghị luận văn học, bố cục chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, dẫn chứng chọn lọc, không mắc các lỗi chính tả dùng từ đặt câu Biết vận dụng các thao tác nghị luận
2 Yêu cầu về nội dung:
Học sinh có thể sắp xếp theo nhiều cách khác nhau, nhưng cơ bản đáp ứng được các ý sau:
-Ở làng Đông Xá, cai lệ được coi là tên tay sai đắc lực của quan phủ, giúp bọn lý dịch tróc nã những người chưa nộp đủ tiền sưu Cai lệ như một hung thần tha hồ trói, tha hồ bắt bớ, tha hồ tác oai tác quái, làm mưa làm bão trong mùa sưu thuế đối với những người dân cùng (0,5 điểm)
Trang 7-Cai lệ là tên tay sai chuyên nghiệp mạt hạng của quan huyện, quan phủ, nhưng về đến làng Đông Xá nhờ bóng chủ, hắn tha hồ đánh trói, hung dữ, độc ác, tàn nhẫn, táng tận lương tâm, chỉ như một cái máy làm theo lệnh quan thầy Đánh, trói, bắt người là nghề của hắn (0,5 điểm)
- Ngôn ngữ cửa miệng của cai lệ là quát, thét, chửi, mắng, hầm hè Cử chỉ, hành động thô bạo vũ phu: ví dụnhư “Sầm sập tiến vào, trợn ngược hai mắt, giật phắt cái thừng sầm sập chạy tới, bịch mấy bịch, tát đánh bốp, sấn đến, nhảy vào…” (0,5 điểm)
- Cai lệ bỏ ngoài tai những lời van xin thảm thiết, tiếng kêu khóc của trẻ, chẳng làm hắn mảy may động lòng Tình cảnh lê bê lệt bệt đến ngất xỉu của anh Dậu, hắn cũng chẳng coi vào đâu Hắn như một công cụ bằng sắt
vô tri vô giác, chỉ có một mục đích duy nhất phải thực hiện bằng được là trói bắt anh Dậu ra đình theo lệnh của quan (0,5 điểm)
- Thế nhưng hắn không thể ngờ lại bị thảm bại nhanh chóng và bấ
ngờ đến thế trước người đàn bà lực điền Chỉ biết cai lệ chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợchồng kẻ thiếu sưu Đây là chi tiết được chuẩn bị từ đoạn trước: Tiếng thét khàn khàn của người hút sái cũ Cũng làchi tiết gây nhiều khoái cảm cho người đọc, hả hê sau bao đau thương tê tái của chị Dậu Tiếng thét của cai lệ còn chứng tỏ một điều cà cuống chết đến đít vẫn còn cay của tên đại diện cho chính quyền thực dân phong kiến mạt hạng chỉ quen bắt nạt, đe dọa, áp bức những người nhút nhát, cam chịu, còn thực lực thì rất yếu ớt, hèn kém và đáng cười (1 điểm)
- Có thể nói, tuy chỉ xuất hiện trong một vài đoạn văn ngắn, nhưng hình ảnh tên cai lệ cùng với tên người nhà lý trưởng đã hiện lên rất sinh động, sắc nét, đậm chất hài dưới ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố (0,5 điểm)
§ÒTHI HäC SINH GiáI
Câu 1:( 2đ) Vận dụng các kiến thức đã học về trường từ vựng để phân tích cái
hay trong cách dùng từ ở bài thơ sau:
Áo đỏ em đi giữa phố đông
Cây xanh như cũng ánh theo hồng
Em đi lửa cháy trong bao mắt
Anh đứng thành tro,em biết không?
(Vũ Quần Phương – Áo đỏ)
ĐÁP ÁN ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI
Câu 1: (2đ)
Tác giả sử dụng 2 trường từ vựng:
+Trường từ vựng về màu sắc : đỏ - hồng – ánh }
+Trường từ vựng chỉ về lửa : lửa cháy to }(0,5đ)
Các từ trong hai trường từ vựng có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên vẻ đẹp của đoạn thơ Màu áo đỏ của cô gái thắp lên trong mắt chàng trai ( nhiều người khác) ngọn lửa Ngọn lửa đó lan tỏa tronh người anh, làm anh say đắm,ngất ngây, và lan tỏa cả không gian, làm không gian cũng biến sắc (cây xanh cũng ánh hồng) (1đ)
Xây dựng hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc Nó miêu tả một tình yêu mãnh liệt, cháy bỏng,đắm say…( ngoài ra bài thơ còn sử dụng một số phép đối (0,5đ)
Câu 2: (2đ)
- Kiệt tác nghệ thuật là một sản phẩm nghệ thuật (ở đây là lĩnh vực hội họa) có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, đem lại niềm vui, khoái cảm thẩm mỹ cho người xem, người đọc, người nghe.“Chiếc lá cuối cùng” hội tụ đủ các tiêu chí khái quát đó nên bức tranh này của cụ Bơ- men xứng đáng là một kiệt tác (0,5đ)
Trang 8- Vì: + bức tranh rất đẹp, rất giống với con mắt chuyên môn của hai họa sĩ trẻ (Giôn- xi và Xiu) cũng không nhận
ra Nó có giá trị nhân sinh cao Tác phẩm chứa đựng sự sống, toát ra sự lay động tâm hồn, tình cảm của người xem
và thức tỉnh họ… Góp phần cứu sống một người ( Giôn- xi) hoàn thành trong điều kiện sáng tác khó khăn (mưa tuyết, ánh sáng yếu,đứng trên thang cao…) (0,5đ)
+ Cứu được một người nhưng cướp đi một người –người đã sinh ra nó Cụ Bơ - men đã hiến dâng sự sống của mình để giành được sự sống,tuổi trẻ cho Giôn –xi Nó không chỉ vẽ bằng bút lông,màu sắc mà còn bằng cả tình yêuthương, đức hi sinh thầm lặng cao quí của cụ Bơ-men Nó cho thấy một qui luật nghiệt ngã của nghệ thuật Kiệt tác
là hiếm hoi, ngoài ý muốn, có giá trị nhân sinh và nhệ thuật cao Nên kiệt tác hướng tới phục vụ cuộc sống con người… ( 1 đ)
Câu 3 ( 6 đ)
Yêu cầu: - Đúng thể loại tự sự tưởng ,có yếu tố miêu tả, biểu cảm
Có bố cục 3 phần chặt chẽ
Xác lập các tình tiết câu chuyện,các doạn thoại hợp lí ( giữa con trai lão Hạc và ông giáo)
Chuyện kể hấp dẫn có những tình tiết bất ngờ nhưng có lý làm cho người đọc tin…
Nội dung cần đạt : ( một số gợi ý)
Mở truyện: - Ngày trở về sau thời gian bao lâu ở dồn điền?
-Cảm xúc trên đường về ( không biết bố thế nào,mong muốn mau về làng )
-Mãi suy nghĩ ,ngỡ ngàng khi bước về làng cũ, cảm xúc ban đầu như thế nào? ( 1đ)
* Phát triển truyện: - Hồi ức những kỷ niệm về những ngày tháng ở nhà: cảnh sống kham khổ với rau chuối vẫn
ấm áp hương vị quê hương…( 0,5đ)
-Ngôi nhà hiện ra với những gì quen thuộc, bờ rào, mái nhà tranh ,cây rơm…
- Tình huống bất ngờ: cỏ vườn quá tốt; căn nhà heo vắng; không thấy bóng dáng của thầy? Cậu vàng đâu không chạy ra đón? Ngạc nhiên như thế nào trước cảnh tượng đó? Tâm trạng bồn chồn lo lắng ra sao?
- Đẩy cửa bước vào… nhà cột chặt cửa…gọi mãi không ai mở cửa…(1,5 đ)
- Chạy sang nhà ông giáo( bạn thân của thầy ngày trước) bao lo lắng suy nghĩ;bao câu hỏi đặt ra trong đầu… (0,5 đ)
- Hốt hoảng gọi … Chạy thẳng vào nhà gặp ông giáo… hỏi han ( phần này là trọng tâm cần xây dựng được cuộc đối thoại giữa hai người, qua lời ông giáo kể và sự hỏi han của con trai lão Hạc) để làm rõ cuộc sống và tâm
nguyện của lão Hạc trước khi chết Tình cảm lão dành cho con như thế nào?
Sự trông mong ,chờ đợi và hy vọng của lão đối với con như thế nào
- Ông giáo trao lại cho con trai lão Hạc những gì mà lão gửi lại…( 2,0 đ)
* Kết truyện:- Cảm xúc của con trai lão Hạc bộc lộ :xót xa, đau đớn, thẫn thờ Trở về nhà…
-Thắp lên bàn thờ cha nén hương… nhìn ra mãnh vườn … Nước mắt nhạt nhòa…bóng hình cha hiện về mờ ảo… chạy ra vườn trong bóng hoàng hôn.( 1 đ)
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
Câu 1: (6 điểm)
a Tìm ba động từ cùng thuộc một phạm vi nghĩa, trong đó một từ có nghĩa rộng và hai từ có nghĩa hẹp hơn trong đoạn trích sau:
“Xe chạy, chầm chậm… Mẹ tôi cầm nón vẫy tôi, vài giây sau, tôi đuổi kịp Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ
hôi, và khi trèo lên xe, tôi ríu cả chân lại Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi, thì tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở Mẹ tôi cũng sụt sùi theo […].”
(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)
b Trong đoạn thơ sau, tác giả đã chuyển các từ in đậm từ trường từ vựng nào sang trường từ vựng nào?
“Ruộng rẫy là chiến trường,
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ,
Hậu phương thi đua với tiền phương.”
(Hồ Chí Minh)
Trang 9c Phõn biệt biện phỏp tu từ núi quỏ với núi khoỏc.
Cõu 2: (14 điểm)
Cú ý kiến cho rằng: “Đọc một tỏc phẩm văn chương, sau mỗi trang sỏch, ta đọc được cả nỗi niềm băn
khoăn, trăn trở của tỏc giả về số phận con người.”
Dựa vào hai văn bản: Lóo Hạc (Nam Cao) và Cụ bộ bỏn diờm (An – độc – xen), em hóy làm sỏng tỏ nỗi
- Ruộng rẫy (nụng nghiệp) Chiến trường (quõn sự) (0,5 đ)
- Cuốc cày (nụng nghiệp) Vũ khớ (quõn sự) (0,5 đ)
- Nhà nụng (nụng nghiệp) Chiến sĩ (quõn sự) (0,5 đ)
Tỏc giả chuyển từ trường “quõn sự” sang trường “nụng nghiệp” (0,5 đ)
c Phõn biệt biện phỏp tu từ núi quỏ với núi khoỏc: (2,5 đ)
*Giống nhau: (1,0 đ)
-Núi quỏ và núi khoỏc đều là phúng đại mức độ, quy mụ, tớnh chất của sự vật, hiện tượng
*Khỏc nhau: (1,5 đ)
-Núi quỏ: Là biện phỏp tu từ nhằm mục đớch nhấn mạnh, gõy ấn tượng, tăng sức biểu cảm (0,75 đ)
-Núi khoỏc: Nhằm làm cho người nghe tin vào những điều khụng cú thực Núi khoỏc là hành động cú tỏc động tiờu cực (0,75 đ)
Cõu 2: (14 điểm)
A.Yêu cầu chung :
- Kiểu bài : Nghị luận chứng minh
- Vấn đề cần chứng minh : Nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của tác giả về số phận con ngời
- Phạm vi dẫn chứng : Hai văn bản: Lão Hạc (Nam Cao) và Cô bé bán diêm ( An-đéc-xen)
B.Yêu cầu cụ thể :
I Mở bài: (2,0 điểm)
- Dẫn dắt vấn đề : Vai trò, nhiệm vụ của văn chơng : Phản ánh cuộc sống thông qua cách nhìn,cách cảm của mỗi nhà văn về cuộc đời, con ngời
- Nêu vấn đề : trích ý kiến
- Giới hạn phạm vi dẫn chứng : Hai văn bản Lão Hạc (Nam Cao) và Cô bé bán diêm (An-đéc-xen)
II Thân bài : (10 điểm)
Thí sinh lần lợt chứng minh các luận điểm sau:
1 Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phận những ngời nông dân qua truyện ngắn Lão Hạc: (4,0
- Triết lí của ông giáo : Cuộc đời cha hẳn theo một nghĩa khác
b Nhân vật con trai lão Hạc : Điển hình cho số phận không lối thoát của tầng lớp thanh niên nông thôn D/C
2 Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phận của những trí thức nghèo trong xã hội: (2,0 điểm)
- Ông giáo là ngời có nhiều chữ nghĩa, có nhân cách đáng trọng nhng phải sống trong cảnh nghèo túng : bán những cuốn sách
3 Những băn khoăn cuae An-đéc-xen về số phận của những trẻ em nghèo trong xã hội: (2,0 điểm)
- Cô bé bán diêm khổ về vật chất : D/C
- Cô bé bán diêm khổ về tinh thần, thiếu tình thơng, sự quan tâm của gia đình và xã hội : D/C
4 Đánh giá chung : (2,0 điểm)
Trang 10- Khắc họa những số phận bi kịch giá trị hiện thực sâu sắc
- Đồng cảm, chia sẻ, cất lên tiếng nói đòi quyền sống cho con ngời tinh thần nhân đạo cao cả
III Kết bài : ( 2,0 điểm)
CÂU 2 : (1 điểm) Phõn tớch giỏ trị biểu đạt của cỏc từ : già, xưa, cũ trong những cõu thơ sau :
– Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ụng đồ già
– Năm nay đào lại nở,
Khụng thấy ụng đồ xưa.
Những người muụn năm cũ
Hồn ở đõu bõy giờ ?
(Trớch ễng đồ - Vũ Đỡnh Liờn)
PHẦN II: Bài làm văn (7 điểm)
Bằng những hiểu biết về cỏc văn bản truyện đó học ở chương trỡnh Ngữ văn lớp 8, em hóy chứng minh rằng văn học của dõn tộc ta luụn ca ngợi tỡnh yờu thương giữa người với người.
Cõu 2 : 1 điểm
_ Cỏc từ già, xưa,cũ trong cỏc cõu thơ đó cho cựng một trường từ vựng,cựng chỉ một đối tượng : ụng đồ
(0,25điểm).
_ Già – cao tuổi , vẫn sống – đang tồn tại.
Xưa- đó khuất - thời quỏ khứ trỏi nghĩa với nay.
Cũ - gần nghĩa với xưa, đối lập vối mới- hiện tại (0,25điểm)
_ í nghĩa của cỏc cỏch biểu đạt đú : Qua những từ này khiến cho người đọc cảm nhận được sự vụ thường, biến
đổi, nỗi ngậm ngựi đầy thương cảm trước một lớp người đang tàn tạ : ụng đồ ( 0,5 điểm)
1.Yờu cầu cần đạt :
a Thể loại : Sử dụng thao tỏc lập luận chứng minh.HS cần thực hiện tốt cỏc kĩ năng làm văn nghị luận đó được học ở lớp 7 và lớp 8 : dựng đoạn, nờu và phõn tớch dẫn chứng,vận dụng kết hợp đưa cỏc yếu tố miờu tả, tự sự
và biểu cảm vào bài văn nghị luận
b Nội dung : Văn học của dõn tộc ta luụn đề cao tỡnh yờu thương giữa người với người
_ HS cần nắm vững nội dung ý nghĩa và tỡm dẫn chứng phự hợp với nội dung vấn đề cần giải quyết
_ Hệ thống cỏc dẫn chứng tỡm được sắp xếp theo từng phạm vi nội dung, trỏnh lan man, trựng lặp
_ Dẫn chứng lấy trong cỏc văn bản truyện đó học ở chương trỡnh Ngữ văn 8,chủ yếu là phần văn học hiện thực
c Về hỡnh thức : Bài viết cú bố cục chặt chẽ, đủ ba phần ; dẫn chứng chớnh xỏc ; văn viết trong sỏng, cú cảm xỳc ; khụng mắc lỗi chớnh tả và lỗi diễn đạt ; trỡnh bày sạch sẽ, chữ viết rừ ràng
*Dàn ý tham khảo :
Trang 11+ Bà lóo lỏng giềng với vợ chồng chị Dậu ( Tức nước vỡ bờ- Ngụ Tất Tố).
+ ễng giỏo với lóo Hạc( Lóo Hạc – Nam Cao)
_ Tỡnh cảm gia đỡnh :
+ Tỡnh cảm vợ chồng : Chị Dậu õn cần chăm súc chồng chu đỏo, quờn mỡnh bảo vệ chồng (Tức nước vỡ bờ - Ngụ Tất Tố)
+ Tỡnh cảm cha mẹ và con cỏi :
• Người mẹ õu yếm đưa con đến trường ( Tụi đi học- Thanh Tịnh) ; Lóo Hạc thương con (Lóo Hạc- Nam Cao)
• Con trai lóo Hạc thương cha ( Lóo Hạc- Nam Cao) ; bộ Hồng thụng cảm, bờnh vực, bảo vệ mẹ (Trong lũng mẹ- Nguyờn Hồng)
c)Kết bài : Nờu tỏc dụng của văn chương ( khơi dậy tỡnh cảm nhõn ỏi cho con người để con người sống tốt đẹp hơn)
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
Câu 2: (1,5điểm) Ngoài việc dùng để hỏi, câu nghi vấn còn có thể đợc dùng với những mục đích gì? Cho ví
dụ minh hoạ.
Câu 3: (2điểm) Có ý kiến cho rằng bài thơ Nhớ rừng - Ngữ văn 8, tập 2- tràn đầy cảm xúc lãng mạn Em
hiểu thế nào là lãng mạn? Cảm xúc lãng mạn đợc thể hiện trong bài thơ Nhớ rừng nh thế nào?
Câu 4: (4điểm) Ngời ấy (bạn, thầy, ngời thân…) sỗng mãi trong lòng tôi.
Cõu 2: (1,5điểm)
- Trong nhiều trường hợp, cõu nghi vấn khụng dựng để hỏi mà dựng để cầu khiến, khẳng định, phủ định, đe doạ, bộc lộ tỡnh cảm, cảm xỳc….và khụng yờu cầu người đối thoại trả lời (0,25đ).
- VD: (1,25đ).
+ Dựng với mục đớch cầu khiến: Bạn cú thể kể cho tụi nghe bộ phim vừa chiếu trờn VTT1 được khụng?
+ Dựng với mục đớch khẳng định: Một người hằng ngày chỉ cặm cụi lo lắng vỡ mỡnh thế mà khi xem truyện hay ngõm thơ cú thể vui, buồn, mừng, giận cựng những người ở đõu đõu, vỡ những chuyện ở đõu đõu, hỏ chẳng phải là chứng cớ cho cỏi mónh lực lạ lựng của văn chương hay sao?
+ Dựng với mục đớch phủ định: Võng, thử tưởng tượng một quả bong búng khụng bao giờ vỡ, khụng thể bay mất,
nú cứ cũn mói một vật lỡ lợm… ễi, nếu thế cũn đõu là quả búng bay?
+ Dựng với mục đớch đe doạ: Cai lệ khụng để cho chị Dậu núi hết cõu, trợn hai mắt, hắn quỏt: - Mày định núi cho cha mày nghe đấy à? Sưu thuế của nhà nước mà dỏm mở mồm xin khất!.
+ Dựng với mục đớch bộc lộ tỡnh cảm cảm xỳc: Những người muụn năm cũ Hồn ở đõu bõy giờ?
Cõu 3: (2điểm) Nờu được nội dung cơ bản sau:
- Bài thơ “Nhớ rừng” là bài thơ hay của Thế Lữ, nhưng cũng là bài thơ hay của phong trào Thơ Mới Điểm nổi bật của tõm hồn lóng mạn là giàu mộng tưởng, khỏt vọng và cảm xỳc Người nghệ sỹ lóng mạn Việt Nam trước cỏch mạng thỏng Tỏm-1945 cảm thấy cụ đơn, tự tỳng trong xó hội bấy giờ nhưng bất lực, họ chỉ cũn biết tỡm cỏch thoỏt
li thực tại ấy bằng chỡm đắm vào trong đời sống nội tõm tràn đầy cảm xỳc Tõm hồn lóng mạn ưa thớch sự độc đỏo, phi thường, ghột khuụn khổ, gũ bú và sự tầm thường Nú cú hứng thỳ giói bầy những cảm xỳc thiết tha mónh liệt, nhất là nỗi buồn đau
- Cảm xỳc lóng mạn trong bài thơ nhớ rừng được thể hiện khỏ rừ ở những khớa cạnh sau: (1điểm)
+ Hướng về thế giới mộng tưởng lớn lao, phi thường trỏng lệ bằng một cảm giỏc trào dõng mónh liệt Thế giới ấy hoàn toàn đối lập với thực tại tầm thường, giả dối Trong baỡ thơ, thế giới mộng tưởng chớnh là cảnh đại ngàn hựng
vĩ và kốm theo đú là cảnh oai hựng của chỳa sơn lõm
+ Diễn tả thấm thớa nỗi đau trong tinh thần bi trỏng, tức là nỗi uất ức xút xa của hũm thiờng khi sa cơ lỡ vận
Trang 12Cõu 4: (4điểm) Dạng đề bài đặt ra yờu cầu:
- Đề tài được đề cập đến trong bài văn trong bài tự sự là khỏ phong phỳ, đa dạng, khụng gũ bú, ỏp đặt thoe những khuụn mẫu đó thành truyền thống, dễ gõy nhàm chỏn
- Cần tỡm hiểu kĩ đầ bài để hiểu rừ yếu tố của từng vấn đề
+ Hai chữ “người ấy” rất mơ hồ trong đề bài cần được xỏc định cụ thể khi viết: người ấy là ai, cú quan hệ thế nào
với người kể chuyện?
+ Tuy nhiờn “người ấy” khụng nhất thiết phải là một con người cụ thể bằng xương bằng thịt mà cú thể là một nhõn
vật văn học đó để lại ấn tượng sõu sắc cho người kể
Mặc dự đề bài mở ra cho người viết nhiều khả năng lựa chon nhưng cũng nờn hướng vào những người gần gũi thõn thiết, cú ảnh hưởng tớch cực tới cuộc sống, tõm hồn tỡnh cảm người kể chuyện
+ “Sống mói” cần đựơc hiểu: Khụng nhất thiết
người được kể khụng cũn sống hay đó đi xa Thực chất đõy là cỏch núi chỉ mức độ sõu sắc mà nhõn vật đó để lại dấu ấn khú quờn trong lũn, khụng kể là ở xa hay gần, cũn sống hay đó qua đời Đú là những nhõn vật cú thể làm thay đổi nhận thức của người kể theo chiều hướng tốt đẹp Đú là những nhõn vật cú phẩm chất đỏng quý khiến mọi người yờu quý trõn trọng
I Yờu cầu về hỡnh thức (1đ)
- Bài làm cú bố cục 3 phần rừ ràng, trỡnh bày sạch đẹp (0,25đ)
- Văn viết trụi chảy, cú cảm xỳc, hấp dẫn: Lỗi chớnh tả, ngữ phỏp khụng đỏng kể (0,75đ)
II Yờu cầu về nội dung (3đ)
A Mở bài: (0,25đ)
- Mối quan hệ xó hội của mỗi người theo nhiều hướng khỏc nhau
- Giới thiệu nhõn vật với ấn tượng sõu sắc của mỡnh
B Thõn bài: (2,5đ)
- Giới thiệu cõu chuyện, trong đú cú nhõn vật với vai trũ cảu họ với cõu chuyện, với người kể
- Tả sơ bộ vài nột phỏc hoạ chõn dung ngoại hỡnh, tớnh tỡnh nhõn vật
- Diễn biến cõu chuyện, trỡnh tự cỏc chi tiết trong hành động của nhõn vật để cõu chuyện phỏt triển (Xõydựng tỡnh huống đặc sắc để cõu chuyện cú sự hấp dẫn, thỳ vị và cú ý nghĩa)
- Kết thỳc cõu chuyện
- Dư õm về nhõn vật trong cảm nghĩ của người kể
C Kết bài (0,2đ) ấn tượng sõu sắc của nhõn vật đối với người kể chuyện mặc thời gian và khoảng cỏch khụng gian
DE THI học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 8
Câu 2( 6 điểm )
Nhận xét về một trong những cảm hứng của thơ ca lãng mạn Việt Nam có ý kiến cho rằng: … Văn học
lãng mạn Việt Nam đầu thế kỷ XX ( 1930 – 1945) thờng ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên… Qua các bài thơ đã học hoặc em biết , em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Câu 2 (6điểm)
1 Yêu cầu về kỹ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận chứng minh một khía cạnh vấn đề trong một trào lu văn học lãng mạn giai
đoạn 1930 - 1945 Bài làm có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt lu loát không mắc lỗi chính tả, dùng từ ngữ pháp, chữ viết cẩn thận rõ ràng
2 Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh biết khái quát tổng hợp vận dụng các dẫn chứng về thơ ca lãng mạn đã học hoặc đợc biết để làm sáng
tỏ một nhận định Học sinh có thể trình bằng những cách khác nhau song cần đạt đợc những yêu câu sau đây:
- Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca lãng mạn là những hình ảnh bình dị, thân thơng gắn bó với cuộc sống lao động của con ngời ( Quê hơng – Tế Hanh)
- Đó là bức tranh thiên hùng vĩ, tráng lệ, bí ẩn của núi rừng ( Nhớ rừng – Thế Lữ)
- Thơ ca lãng mạn còn ca ngợi về mùa xuân Việt Nam rực rỡ, tuyệt đẹp làm say đắm lòng ngời ( Mùa xuân chín- Hàn Mặc Tử; Chợ tết - Đoàn văn Cừ…)
Câu 2( 6 điểm )
… Một số tác phẩm thơ văn cách mạng đã khắc hoạ hình tợng ngời chí sĩ yêu nớc đầu thế kỷ XX, dù
trong hoàn cảnh tù đầy gian khổ, hiểm nguy vẫn luôn có t thế hiên ngang, khí phách hào hùng và ý chí kiên
định– Dựa vào các tác phẩm …Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông… của Phan Bội Châu và tác phẩm – Đập
đá ở Côn Lôn– của Phan Châu Trinh , em hãy làm sáng tỏ điều đó.
Trang 13Câu 2 (6điểm)
1 Yêu cầu về kỹ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận chứng minh văn học Bài làm có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt luloát không mắc lỗi chính tả, dùng từ ngữ pháp, chữ viết cẩn thận rõ ràng
2 Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh biết khái quát tổng hợp vận dụng các dẫn chứng từ hai bài thơ của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh
để làm sáng tỏ một nhận định về hình tợng ngời chí sĩ yêu nớc đầu thế kỷ XX, dù trong hoàn cảnh tù đầy gian khổ, hiểm nguy vẫn luôn có t thế hiên ngang, khí phách hào hùng và ý chí kiên định Học sinh có thể trình bằng những cách khác nhau song cần đạt đợc những yêu câu sau đây:
- Đó là những con ngời thân bị tù đầy mà t thế vẫn hiên ngang, lẫm liệt, khí phách thật hào hùng
+ Với Phan Bội Châu thì nhà tù chỉ là chốn nghỉ chân của bậc phong lu, hoà kiệt trên đờng sự nghiệp Vào tù mà vẫn phong tháI đờng hoàng, ung dung nh chủ động nghỉ chân Vào tù mà vẫn hào kiêt, phong lu , hoàn cảnh ngục tùkhông làm thay đổi chất hào kiệt, phong lu vốn là bản chất của con ngời họ
+ Với Phan Châu Trinh thì ngời tù nh biến thành vị thần vũ trụ, còn lao dịch khổ sai thì biến thành cuộc chinh phục dũng mãnh
- Họ coi thờng hiểm nguy
- Đó là những con ngời trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn kiên định ý chí
a Mở bài:
Giới thiệu nhõn bộ Hồng trong đoạn trớch Trong lũng mẹ với hai đặc điểm:
- Những cay đắng, tủi cực thời thơ ấu;
- Tỡnh yờu thương chỏy bỏng đối với người mẹ bất hạnh
b Thõn bài:
Lần lượt làm sỏng tỏ từng luận điểm
1 Những cay đắng, tủi cực của bộ Hồng
- Bố mất, mẹ vỡ “cựng tỳng quỏ, phải bỏ con cỏi đi tha hương cầu thực”, bộ Hồng sống bơ vơ giữa sự
ghẻ lạnh, cay nghiệt của họ hàng
- Bị bà cụ độc ỏc gieo rắc vào đầu úc những hoài nghi, những ý nghĩ xấu xa, về người mẹ;
- Bị người cụ nhục mạ, hành hạ, bộ Hồng đau đớn, cổ họng nghẹn ứ khúc khụng ra tiếng, cười dài
trong tiếng khúc…
2 Tỡnh yờu thương mónh liệt của bộ Hồng với người mẹ bất hạnh
- Những ý nghĩ, cảm xỳc của chỳ bộ khi trả lời người cụ
+ Nhận ra ý nghĩa cay độc trong giọng núi và trờn nột mặt của người cụ; khụng muốn tỡnh thương yờu
và lũng kớnh mến mẹ bị những rắp tõm tanh bẩn xõm phạm đến
+ Đau đớn, uất ức đến cực điểm vỡ cổ tục đó hành hạ, đầy đọa mẹ: “Giỏ những cổ tục đó đầy đọa mẹ tụi
là một vật như hũn đỏ hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tụi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỡ nỏt vụn mới thụi”.
- Cảm giỏc sung sướng cực điểm khi ở trong lũng mẹ
+ Chạy đuổi theo chiếc xe Vừa được ngồi lờn xe cựng mẹ đó ũa lờn khúc nức nở
+ Cảm giỏc sung sướng đến cực điểm của bộ Hồng khi ở trong lũng mẹ là hỡnh ảnh về một thế giới đangbừng nở, đang hồi sinh của tỡnh mẫu tử Vỡ thế, những lời cay độc của người cụ cũng bị chỡm ngay đi,
bộ Hồng khụng mảy may nghĩ ngợi gỡ nữa…
+ Đoạn trích Trong lòng mẹ, đặc biệt là phần cuối là bài ca chân thành và cảm động về tình mẫu tử
thiêng liêng, bất diệt
L u ý: Học sinh có thể có những cách chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề khác nhau nhng vẫn đầy đủ, hợp
lí thì vẫn cho điểm tối đa.
c Kết bài:
- Khẳng định vấn đề đó chứng minh:
Đoạn trớch Trong lũng mẹ đó kể lại một cỏch chõn thực và cảm động những cay đắng, tủi cực cựng tỡnh
yờu thương mónh liệt của nhà văn thời thơ ấu đối với người mẹ bất hạnh
- Nờu thỏi độ, tỡnh cảm của người viết:
Hồi kớ thấm đẫm chất trữ tỡnh Cỏch nhỡn nhận, đỏnh giỏ con người và sự việc và đặc biệt là tỡnh cảm của nhà văn thời ấu thơ dành cho người mẹ thật đỏng trõn trọng
Nhớ rừng và ngũi bỳt tạo hỡnh lóng mạn của Thế Lữ
Trang 14Ai đã từng xem bức chân dung Hoàng Lập Ngôn vẽ Thế Lữ theo lối tinh tướng họa, mới thấy họa sĩ này sao mà tinh quái và thâm thuý Ông đã thể hiện gương mặt tác giả Nhớ rừng trong bộ mặt chúa sơn lâm! Nghĩa là mặt một con hổ chính cống Mà cũng phải! Không có cái con - hổ - nhớ - rừng hồi ấy thì làm gì có Thế Lữ! Vả, cái gãthi sĩ có công “dựng thành nền Thơ mới ở xứ này” cũng đáng được xem là một chúa sơn lâm chứ sao! Ngang cơ quá còn gì! Tất nhiên, họ không giao đấu, mà chỉ giao nhau Giao trong từng nét một để cùng làm nên một chân dung kép Thế Lữ - Hổ hay là Hổ - Thế Lữ thì cũng vậy! “Thực” đến thế thì đạt mức “siêu” còn gì! Quái lạ thay
là lòng tri kỷ! Quái lạ thay là nghệ thuật tạo hình!
Tôi vừa nói đến nghệ thuật tạo hình - cái ngành nghệ thuật mà trước khi thành thi sĩ, Thế Lữ đã từng dấn thân vào, tuy nửa vời Dầu vậy, cái máu hội họa, cái vốn hội họa vẫn đủ cho ông có được một “gu” tạo hình khi cầm ngọn bút thi nhân Thế Lữ đã làm thơ bằng hồn thơ đậm tính hội họa Nhớ rừng là thi phẩm rất tiêu biểu Có thể sánh thế này: nếu Hoàng Lập Ngôn vẽ con Hổ - Thế Lữ bằng hội họa đơn thuần, thì Thế Lữ đã vẽ con Hổ - nhớ rừng bằng hội họa của thơ Trong nét bút Thế Lữ, người ta không chỉ thấy họa pháp của một họa sĩ từng theo học Mỹ thuật Đông Dương, mà trùm lên tất cả là một thi pháp nghiêng về tạo hình của thi phái Lãng mạn Vì thế
mà, Nhớ rừng vừa là một “khúc trường ca dữ dội” thể hiện tâm trạng vĩ đại của chúa sơn lâm, vừa là một họa phẩm hoành tráng từng bước làm nổi hằn lên trên mặt bằng của câu chữ hình tượng vị “chúa tể cả muôn loài”.Nhiều người đã nói đến nội dung xã hội của bài thơ Thậm chí đã có lúc người ta cho rằng nội dung yêu nước mới là đích thực và đáng kể nhất của Nhớ rừng Hướng lĩnh hội ấy càng ngày càng bộc lộ sự ấu trĩ của nó Nội dung kia, nếu có, phải ẩn chìm ở bề sau Tâm trạng của chúa sơn lâm là một bi kịch Không chỉ của một con hổ Không chỉ của riêng Thơ mới Mà trước hết và trên hết là bi kịch của cái tôi lãng mạn Bởi nó bắt nguồn từ một trạng thái tâm lý rất đặc trưng của những cái tôi lãng mạn: do bất hòa với thực tại mà thoát ly vào thế giới bên trong của chính mình, cố tìm kiếm một thực tại khác để thay thế thực tại bên ngoài Mộng tưởng là đời sống của những cái tôi lãng mạn Cái tôi này tìm vào thực tại hồi tưởng, cái tôi kia tìm vào thực tại huyễn tưởng, cái tôi khác lại tìm vào thực tại viễn tưởng Kẻ tìm vào hồi tưởng, thực chất, đã đối lập hiện tại với quá khứ Với nó, quá khứ mới vàng son, mới là thời hoàng kim, thời oanh liệt Chỉ trong quá khứ ấy, nó mới thấy hạnh phúc, thấy hài hòa Mà thời đó thì vĩnh viễn mất rồi, chìm vào dĩ vãng rồi Chỉ có thể sống lại trong hồi tưởng thôi Vì thế,
nó dùng hồi tưởng để hồi hiện quá khứ, phục chế quá khứ và tô điểm thêm cho quá khứ Hoài cổ (có thời người
ta coi là thoát ly vào quá khứ) là một đời sống tinh thần của cái tôi lãng mạn ấy, về sau trở thành một cảm hứng phổ biến của văn học lãng mạn, cũng là vì thế
Riêng ở Việt Nam, lại có thêm một lý do nữa khiến mối bất hòa cố hữu kia trầm trọng và gay gắt hơn: tình trạng thuộc địa của thực tại Do thế, bất hòa với thực tại trước tiên là phản ứng thẩm mỹ của cái tôi lãng mạn, sau nữa
là phản ứng chính trị của lòng yêu nước Lớp nghĩa thứ hai đến sau và ở bề sau, là như vậy Thế Lữ đã ký thác những điều đó vào vị chúa sơn lâm này Con hổ bị cầm tù trong cũi sắt giữa vườn bách thú vẫn ôm trong lòng
“niềm uất hận ngàn thu”, vẫn “đương theo giấc mộng ngàn to lớn” chính là hiện thân của bi kịch ấy Đối với nó, thực tại là cũi sắt, là vườn bách thú nhỏ mọn, tầm thường, giả dối, vô vị, vô tích sự Còn rừng là thời vàng son, thuở hoàng kim trong hồi tưởng Nhớ rừng là nhớ một thế giới cao cả, nhớ chốn thiêng liêng, nhớ cõi tự do Rừng
là thời oanh liệt, thời làm chủ nhân ông của đại ngàn Toàn bộ ý nghĩa cuộc đời mình là ở nơi rừng Đánh mất rừng cũng là đánh mất mình Hằng ngày cứ thấy mình bị tầm thường hóa đi mà bất lực! Khao khát rừng là khao khát được là mình! Đó chẳng phải cũng là khao khát của một cái tôi đòi giải phóng đó ư? Bởi đây là chúa sơn lâm, nên logic là nhất nhất mọi cái phải ở tầm “chúa tể cả muôn loài” Nghĩa là đều phải siêu phàm, kỳ vĩ, chế ngự, bao trùm Nhưng đằng sau những cái riêng thuộc về tập tính loài hùm thiêng, ta đều thấy cái chung với con người Cái lý của việc tìm đến hình tượng con hổ này của Thế Lữ là ở đó
Nhưng cảm xúc mà cái tôi - hổ này đang mang nặng, thực chất, là gì vậy ? Tôi đã có lần viết : Thơ mới là một điệu sầu mênh mông, mà nếu đem phân chất ra thì sẽ thấy trong đó ba mối sầu đậm nhất : sầu nhân thế, sầu thời thế, sầu thân thế Ba mối sầu này đan quyện, chuyển hóa sang nhau cất lên mà thành Thơ mới Nhớ rừng nghiêng
về mối sầu thứ ba Tâm trạng chúa sơn lâm chính là tâm trạng “hùm thiêng khi đã sa cơ”, tâm trạng bi tráng của
Trang 15một anh hùng thất thế đang phẫn uất về thân thế mình Vì vậy lời than đầy hùng tâm tráng chí này không chỉ rungchuyển rừng già, mà còn làm rung chuyển muôn vạn con tim của thời bấy giờ:
Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Song ngẫm ra, ai chẳng có thời oanh liệt của riêng mình? Ai chẳng có cái quãng huy hoàng chói lọi, cái đoạn ý nghĩa nhất của đời mình? Bất cứ người nào trong cuộc đời này, nếu là người luôn khát sống thì rồi sẽ có lúc
ngấm nỗi hận sầu thất thế, để rồi cất lên cái tiếng than u uất kia của chúa sơn lâm thôi Trong mỗi cuộc đời, mỗi kiếp người đều tiềm ẩn cái tiếng than đầy nhân bản ấy của con hổ này Vậy là sầu thân thế cũng tiềm tàng cả sầu nhân thế Nói con hổ nhớ rừng mang trong nó một tâm trạng vĩ đại còn vì ý nghĩa tiêu biểu lớn lao đó
Tính tạo hình trong bút pháp Thế Lữ chủ yếu thể hiện ở việc khắc họa cái Phi thường Và để nó sắc nét, thi sĩ đã duy trì một nguyên tắc tương phản khá nhất quán và nhuần nhuyễn giữa cái Phi thường và cái Tầm thường Chúa sơn lâm được đặt ở trung tâm bức tranh, còn tất cả thì được nhìn qua con mắt của loài mãnh thú này, do đó mà tất
cả đều trở nên tầm thường Đối diện với hổ, ngay con người cũng chỉ là “lũ người ngạo mạn ngẩn ngơ”, với “mắt bé” dám “diễu oai linh rừng thẳm” Còn bọn gấu thì “dở hơi”, cặp báo chỉ là loài ươn hèn nô lệ, hời hợt “vô tư lự” Cái thế giới rừng già kề bên chúa sơn lâm thảm hại đã đành Mà ngay cả bao tạo vật, cảnh trí lớn lao trong vũtrụ này dưới mắt nó cũng tầm thường vô nghĩa Bằng cách tương phản thế, hình ảnh chúa sơn lâm trở nên kỳ vĩ !Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi / Với khi thét khúc trường ca dữ dội, rồi Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng / lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng , con mãnh thú mới là chúa tể muôn loài trong xứ
sở của mình, giữa chốn rừng núi Nhưng đến đoạn này, thì con hổ kia đã dần trở thành chúa tể cả vũ trụ :
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?
Dễ thấy đây là đoạn tuyệt bút của Nhớ rừng Nhưng tôi chỉ muốn nói đến một khía cạnh của đoạn tuyệt bút kia,
ấy lối tạo hình bằng thơ Và cũng chỉ một khía cạnh tạo hình thôi, ấy là vẽ tranh tứ bình Thực ra, tứ bình là một lối tạo hình quen thuộc từ cổ điển Người xưa thường khái quát một hiện thực toàn vẹn nào đó vào bộ tranh gồm bốn bức Cho nên tự thân tứ bình là một cấu trúc, một chỉnh thể, một thế giới Thời gian thì Xuân Hạ Thu Đông, thảo mộc thì Tùng Trúc Cúc Mai, hay Mai Lan Cúc Trúc, nghề nghiệp thì Ngư Tiều Canh Mục, tầng lớp thì Sĩ Nông Công Thương, nghệ thú thì Cầm Kỳ Thi Họa.v.v Nảy sinh từ hội họa, về sau tứ bình xâm nhập vào nhiềunghệ thuật khác Người đọc thơ có thể đơn cử ở Chinh phụ ngâm, những đoạn như nỗi nhớ chồng của nàng chinhphụ diễn ra trọn vẹn khi “trông bốn bề”, mỗi bề là một phía, một cung bậc, một nông nỗi của nhung nhớ Tâm trạng buồn nản, hãi hùng của Thuý Kiều trước lầu Ngưng Bích cũng diễn thành tứ bình với điệp khúc “buồn
trông” Rồi ngay Tố Hữu cũng dùng đến tứ bình khi viết bài Việt Bắc ở đoạn “Ta về ta nhớ những hoa cùng
người” Vậy, dùng tứ bình thì chưa phải là gì thật đáng nói Đáng nói là: cả bốn bức tứ bình ở đây đều là những chân dung tự họa khác nhau của cùng một con hổ Nó đã khái quát trọn vẹn về cái “thời oanh liệt” của chúa sơn lâm
Bốn bức là bốn nỗi hoài niệm đầy tiếc nuối, uất hận
Đồng thời, là bốn câu hỏi mà giọng điệu càng lúc càng dữ dằn
Mỗi bức một khung cảnh, một gam màu, một dáng điệu của vị “chúa tể cả muôn loài”
Bức thứ nhất thật thi vị :
Trang 16Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Gam màu vàng lóng lánh của ánh trăng in trên suối vắng Đối với con hổ giờ đang bị giam cầm trong cũi sắt, đó không chỉ là những kỷ niệm lấp lóa trăng vàng, mà thực sự là những “đêm vàng” - những kỷ niệm được đúc bằngvàng ròng - không bao giờ còn có lại Chúa sơn lâm hiện ra như nhà thi sĩ của chốn lâm tuyền, với cử chỉ uống ánh trăng tan đầy thơ mộng Chữ “say mồi” có thể làm người đọc lạc hướng, bởi tưởng rằng “mồi” đây hẳn là một con thú đáng thương nào đó Không phải Con mồi chính là con trăng vàng in bóng trong lòng suối Con mồi
- cái đẹp, cái đẹp - con mồi một thân phận kép, đó là cảm nhận độc đáo của con hổ - thi sĩ này Thế Lữ đã tỏ ra là người nhập được vào hổ, khi gửi vào mãnh thú một mảnh hồn thi sĩ
Bức thứ hai, chúa sơn lâm hiện ra như một minh đế trước giang sơn của mình :
Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đêm trăng đã nhường chỗ cho chiều mưa Gam vàng đã chuyển qua gam xám bạc điểm ánh tươi xanh Đấng
vương chủ của chốn rừng già đang phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh vương quốc đương thay da đổi thịt dưới sự trị vì của mình Trang nghiêm, ưu tư, và đầy kiêu hãnh
Bức thứ ba, chiều mưa đã chuyển sang rạng đông, nền tranh đã rạng rỡ cái gam màu thắm nắng bình minh Chúa sơn lâm hiện trong dáng điệu một lãnh chúa cứ nghiễm nhiên ườn mình trong giấc ngủ trễ tràng khi ngày đã lên
mà thụ hưởng cái lạc thú cung - đình - rừng - xanh của mình:
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Hoàn toàn có thể hình dung cây xanh nắng gội là màn trướng, còn chim chóc như những bầy cung nữ đang hân hoan ca múa quanh giấc nồng của hổ vương chứ sao!
Bộ tứ bình khép lại bằng bức cuối cùng, cũng là bức ấn tượng hơn cả :
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Giọng điệu không còn là thở than, mà đã thành chất vấn đầy giận dữ và oai linh đối với quá khứ mà cũng là đối với hiện tại Tương ứng với giọng điệu, chúa sơn lâm hiện ra cũng với một tư thế hoàn toàn khác: tư thế kiêu
hùng của một bạo chúa Nền cảnh thuộc gam màu máu Mấy chữ “lênh láng máu” thật dễ sợ Nó gợi ra cảnh
tượng chiến trường sau một cuộc vật lộn tàn bạo Là máu của con thú rừng xấu số nào đó chăng? Không! Đó là máu của mặt trời Ánh tà dương lúc mặt trời hấp hối, dưới cái nhìn kiêu bạc của con mãnh thú chính là sắc máu lênh láng đỏ “Những chiều lênh láng máu” là máu mặt trời đã nhuộm cả thời gian Máu đã trở thành màu kỷ
niệm Chữ “sau rừng” gợi được cái không gian đỏ máu của địch thủ mặt trời, vừa gợi được vẻ bí hiểm của chốn diễn ra cuộc tranh chấp đẫm máu Chữ “chết” đã biến mặt trời từ vật thể thành sinh thể Không còn là khối cầu lửa vô tri vô giác giữa không trung, mặt trời đã thành một con thú Thậm chí, một con thú thảm hại - chữ “mảnh”
là hình ảnh mặt trời trong con mắt ngạo mạn và khinh miệt của con hổ này Vẻ “gay gắt” trong giờ phút hấp hối của con thú tử thương dường như càng làm cho nó bị khinh bỉ Thì ra, đối thủ của con hổ này không phải là loài gấu, loài báo vô tư lự dở hơi, đã đành Mà ngay cả con người cũng không xứng là đối thủ của nó Trong vũ trụ này chỉ có một kẻ duy nhất được chúa sơn lâm này xem là địch thủ mà thôi, ấy là vầng thái dương Nhưng, cái đáng nói là: trong cuộc kịch chiến kia, phần thắng vẫn thuộc về nó, vị “chúa tể của muôn loài” ấy Ba chữ “mảnh
Trang 17mặt trời” đã hoàn toàn hạ bệ, hạ gục đối thủ, khiến mặt trời cũng trở nên tầm thường Bằng cuộc thư hùng bạo liệt với mặt trời để “chiếm lấy riêng phần bí mật”, Thế Lữ đã nâng con mãnh thú này lên tầm vóc vũ trụ Nó kỳ vĩhơn cả những gì vốn kỳ vĩ nhất trong hoàn vũ Đến câu “Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”, bức tứ bình cuối cùng dường như đã thể hiện được bàn chân ngạo nghễ siêu phàm của con thú như dẫm đạp lên bầu trời, cái bóng của nó cơ hồ đã trùm kín cả vũ trụ Còn tham vọng “Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật”, thì đã tỏ rõ cái oai linh của kẻ muốn thống trị cả vũ trụ này!
Ghê gớm thật! Ngay đến mặt trời cũng trở nên tầm thường, thì xem ra sự phi thường đã tới vô biên rồi vậy!
Hồi tưởng phóng chiếu đã xong : thời oanh liệt của cái tôi - hùm thiêng đạt cực điểm !
Một thi sĩ rình trăng chốn lâm tuyền Một vương chủ say ngắm giang sơn Một lãnh chúa rừng xanh giữa bầy ca điểu Một bạo chúa ngạo mạn với mặt trời Bốn kỷ niệm kiêu hùng, bốn khoảnh khắc hoành tráng!
Bộ tứ bình hoàn tất!
Song, cả giọng điệu tráng ca hào hùng, cả bút pháp cường điệu khoa trương đặc thù của chủ nghĩa lãng mạn, cả lối tạo hình hoành tráng của hội họa sẽ trở nên chơi vơi, sáo rỗng nếu như đây không phải là chúa sơn lâm Sự ăn nhập tuyệt vời giữa đối tượng và thi pháp đã chắp cánh cho thơ Thế Lữ bay lên, dõng dạc, đường hoàng như một khúc trường ca dữ dội!
Bấy giờ, Thơ mới đang hối hả, đang ráo riết đi tìm cái tiết điệu của mình Thì đến Nhớ rừng, tiết điệu cần tìm đã được Thế Lữ đem về Công lớn ấy chẳng hổ danh là chúa sơn lâm! Chả thế mà Vũ Đình Liên chỉ cần trích hai câu trong bài này đã dám cả quyết: chỉ hai câu Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối / Ta say mồi đứng uống ánhtrăng tan cũng có sức mạnh như một tuyên ngôn bênh vực cho Thơ mới
NHỚ RỪNG (Thế Lữ)
Ngay từ đầu khi mới xuất hiện trên thi đàn văn học, phong trào Thơ Mơi đã đánh dấu cho sự đổi thay lớn lao của nền thi ca dân tộc Để có được những sự thay đổi lớn lao ấy , đó là sự đóng góp miệt mài và say mê của hàng loạtcây bút với hồn thơ lãng mạn và giàu cảm xúc Một trong những cây bút xuất sắc có mặt ngay từ lúc ban đầu là Thế Lữ Rất nhiều tác phẩm của ông đã góp phần to lớn cho sự phát triển của Thơ Mới mà tiêu biểu nhất là tác
phẩm Nhớ Rừng Ở trongNhớ Rừng , Thế Lữ đã thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do cháy
bỏng tha thiết qua lời mượn của con hổ trong vườn bách thú Đó cũng là tâm sự chung của những người Việt
Nam yêu nước trong hoàn cảnh mất nước
Trong những ngày đầu mới ra đời, phong trào Thơ Mới đã có những sự phát triển trong cả phong cách và nội dung Trên các chặng đường phát triển, Thơ Mới đã dần giải phóng khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước
lệ có tính “phi ngã” của thi ca cổ điển Các nhà thơ đã khám phá thế giới bằng chính những giác quan, những cảm xúc rất thực của mình Đó cũng là lúc xuất hiện cái tôi rõ nét trong thơ Ở đó là sự vươn lên của những cảm xúc mãnh liệt của con người vượt thoát khỏi thực tế khách quan Chính vì vậy Thơ Mới có khuynh hướng thoát
ly thực tại, thể hiện tâm trạng bất hoà, bất lực trước thực trạng xã hội Qua đó, Thơ Mới cũng đã bộc lộ sự phản kháng gay gắt trước thực tại tầm thường giả dối, tù túng giam hãm ước mơ con người
Cùng chung thái độ phản kháng ấy, Thế Lữ đã viết nên những dòng thơ đầy tâm trạng trong bài Nhớ
Rừng Mượn lời con hổ ở vườn bách thú để nói lên tâm trạng chính mình Thế Lữ đã dựng lên một khung cảnh
vừa rất thực vừa ẩn chứa những điều thầm kín sâu xa Tất cả hình ảnh đuợc nhắc đến trong bài đều là không gian xoay quanh cuộc sống của con hổ Thực tế là con hổ đang bị giam hãm trong một cũi sắt và nó cảm nhận cuộc sống của mình chứa đựng những u uất ngao ngán trong cảnh giam hãm tù túng, những cảnh “tầm thường giả dối”
ở vườn bách thú Chính vì thế, nó cảm thấy tiếc nhớ về quá khứ oanh liệt nơi núi rừng hùng vĩ Đó là hai cảnh tượng hoàn toàn trái ngược nhau giữa thực tại và dĩ vãng
Hổ vốn là loài vật được xem là chúa tể của muôn loài, nhưng nay vì sa cơ mà phải chịu sống cảnh “nhục nhằn” trong cũi sắt Không gian cuộc sống của vị chúa tể rừng xanh đã bị thu hẹp và từ nay bị biến thành một “trò lạ mắt”, một “thứ đồ chơi” trong con mắt mọi người Đối với nó, cuộc sống bây giờ đã trở nên vô vị nhạt nhẽo bởi đang phải sống nơi không tương xứng với tư cách của một vị chúa sơn lâm
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Trang 18Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua
Hổ đã cảm thấy bất lực bởi chẳng có cách nào thoát khỏi cuộc sống tù túng nên cũng đành ngao ngán nhìn thời gian trôi qua một cách vô ích Nhưng cho dù phải ở trong hoàn cảnh nào thì kẻ thuộc “giống hùm thiêng” cũng luôn biết thân phận thực sự của mình là một vị chúa Ông ba – mươi đã tỏ thái độ khinh mạn, coi thường trước những sự thiếu hiểu biết về sức mạnh thật sự của thiên nhiên của những con người “ngạo mạn ngẩn ngơ” chỉ biết
“giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm” Chán nản làm sao cảnh phải chịu sống ngang bầy cùng với “bọn gấu dởhơi”, với “cặp báo chuồng bên vô tư lự”! Làm sao chịu được cảnh sống cam chịu chấp nhận số phận của những
“người bạn” đồng cảnh ngộ Đó là nỗi buồn, nỗi uất hận dồn nén để làm nên những hờn căm chất chứa trong
lòng Mệt mỏi, ngao ngán, bất lực! Trong hoàn cảnh đáng thương ấy, hổ đã nghĩ về cuộc sống quá khứ huy hoàngcủa mình:
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội…
Con hổ đã tiếc nhớ về thuở “hống hách” nơi “bóng cả cây già” Đó là nỗi nhớ đau đáu về nơi rừng thẳm Nhớ rừng là tiếc nhớ tự do, nhớ về “thời oanh liệt”, là nhớ về cái cao cả, chân thực, tự nhiên Ở chốn nước non hùng
vĩ ấy, con hổ đang ngự trị một sức mạnh giữa cuộc đời Bản lĩnh của một vị chúa sơn lâm luôn thể hiện xứng
đáng quyền lực tối cao của mình với sức mạnh phi thường dữ dội Những gì nó cần phải làm là khiến mọi vật đềuphải nể sợ thuần phục Ở đó, con hổ đã hiện lên với tư thế hiên ngang ngạo nghễ nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp oai phong lẫm liệt giữa núi rừng hùng vĩ:
Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng
Lượn tấmthân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc
Trong bóng tối mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật phải im hơi
Ta biết ta chúa tể của muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi
Vẻ đẹp thật sự của hổ là đây! Từng bước chân, từng tấm thân ,từng ánh mắt đã khơi gợi lên một vẻ vừa dũng
mãnh uy nghi vừa nhẹ nhàng uyển chuyển Trong từng hành động, loài mãnh thú kia đã cho mọi vật thấy được sức mạnh tuyệt đỉnh khiến cho tất cả phải “im hơi” Cuộc sống tự do giữa chốn rừng thẳm mãi mãi là một điều rất cao quý Ở đó hổ thực sự được hưởng một cuộc sống tươi đẹp mà thiên nhiên đã dành cho Đó là những thời khắc mãnh hổ đang “say mồi”, đang ngắm sự đổi thay của “giang sơn”, đang say giấc và đang muốn chiếm lấy riêng “phần bí mật” Nó đã được thoải mái trong chính giang sơn của mình và khẳng định giá trị thật sự của
cuộc sống với những khung cảnh lộng lẫy tươi đẹp nên thơ và cũng đầy sức quyến rũ Nhưng bây giờ , tất cả
cũng chỉ còn là những hoài niệm thuộc về quá khứ Hổù chẳng bao giờ còn được chứng kiến những cảnh “đêm vàng bên bờ suối”, được nhìn thấy cảnh “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, được nghe thấy tiếng chim
ca, được đắm mình trong cảnh “bình minh cây xanh nắng gội”, được đợi chờ “chết mảnh mặt trời” của những buồi chiều “lênh láng máu sau rừng” Những cảnh ấy chỉ để lại trong con hổ những cảm giác tiếc nuối, ngậm
ngùi trong sự xúc động mạnh mẽ, dồn dập của những câu hỏi đau đớn xót xa Nỗi nhớ miên man tuôn trào với cảm xúc về quá khứ tươi đẹp đã khép lại giấc mơ huy hoàng rong một tiếng than thảm thiết:
Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu
Được sống lại với những ký ức tươi đẹp ở chốn núi rừng hùng vĩ, hổ chợt nhận ra sự tầm thừơng giả dối của
những khung cảnh nơi nó đang sống Trong cái nhìn ngạo nghễ của hổ là những cảnh “không đời nào thay đổi”, những cảnh đơn điệu nhàm chán do con ngưới sửa sang và cố đòi “bắt chước” Chúa tể rừng xanh đã tỏ thái độ khinh miệt, chán chường trước những cảnh vật nhỏ bé thấp kém của những sự giả dối nhân tạo Đó không phải lànơi xứng đáng để sống của một đấng thống lĩnh Dẫu có cố gắng sửa sang thì đó cũng chỉ là những “dải nước đen giả suối chẳng thông dòng” len dưới những “mô gò thấp kém” , là những “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” không có gì là “bí hiểm” “hoang vu” Những cảnh sống ngụy tạo ấy khiến cho hổ càng tiếc nhớ chốn
“ngàn năm cao cả âm u”
Trang 19Chán ghét cuộc sống thực tại, ôm niềm uất hận không nguôi, hổ khát khao một cuộc sống tự do mãnh liệt Tất cả tâm tư tình cảm của hổ đều thuộc về nơi rừng thẳm ngàn năm âm u Cũng qua đó, chúa sơn lâm đã gởi một lời nhắn tha thiết của mình về núi rừng Dẫu là đang bị sa cơ nhưng hổ đã không giấu được niềm tự hào khi nói đến chốn “nước non hùng vĩ” Giang sơn ấy là nơi hổ đã có những ngày tháng tươi đẹp, thoả chí vùng vẫy trong
không gian riêng biệt thênh thang Cho dù bây giờ sẽ chẳng bao giờ được sống lại ở những nơi xưa ấy nhưng hổ vẫn không bao giờ thôi nghĩ về “giấc mộng ngàn to lớn” Vị chúa mất ngôi đã khẩn cầu để được mãi sống trong những ký ức, những hoài niệm của những vẻ đẹp một đi không trở lại:
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi
Nỗi lòng của hổ là tâm sự của chàng thanh niên Thế Lữ : mơ về cuộc sống tươi đẹp đã qua trong quá khứ Đó cũng là tinh thần chung của hầu hết các bài thơ của Thế Lữ cũng như trong phong trào Thơ Mới, mang theo khát khao của con người muốn được sống chính là mình
Nhớ Rừng không thể thoát ra khỏi nỗi buồn, “tâm bệnh của thời đại” bấy giờ Nhưng bài thơ đặc sắc chính bởi vì tạo nên điểm gặp gỡ giữa sự u uất của người dân mất nước và tâm trạng bất hoà bất lực trước thực tại của thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản Qua đó khơi lên niềm khát khao tự do chính đáng
Giàu cảm hứng lãng mạn và cảm xúc mãnh liệt, Nhớ Rừng đã lan toả một hồn thơ hối thúc và nhiều hình ảnh thơ đầy ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Thành công của Thế Lữ là đã thể hiện một trí tuởng tượng phong phú khi mượn hình ảnh con hổ trong vườn bách thú để nói hộ cho những tâm sự kín đáo sâu sắc của mình Qua đó diễn tả nỗi chán ghét cảnh sống tù túng, đồng thời khơi lên tình cảm yêu nước của người dân thuở ấy
Bài "Nhớ rừng" của Thế Lữ thực chất là một tuyên ngôn của chủ nghĩa lãng mạn, không chấp nhận cái tầm thường
Sự đa tầng, đa nghĩa thường làm cho thơ giàu sức khái quát và cũng là thuộc tính tất yếu làm cho thơ có thể thành thi
phẩm bất hủ Sụ lay động và lấp lánh của thơ thường loé lên, toả sáng từ nhiều tầng cảm xúc Phải chăng chính những cảm xúc hợp lý vẫn cứ mở rộng thơ ra về kích cỡ để tạo nên từng nét thơ, hoặc cả dung mạo một bài thơ bất tử? Đọc
"Nhớ rừng" của Thế Lữ chừng như nhiều thế hệ đã nhận định như vậy
Xưa nay, sự bí mật và kỳ vĩ của thơ ca thường khởi nguyên từ bút pháp rất dung dị mà đậm chất hàm súc Chỉ một "lốt" hổ trong "Nhớ rừng", Thế lữ cũng đã tạo ra biết bao tầng nghĩa rất khác nhau, biến con hổ trong thơ hoá thân thành muôn hình vạn trạng của muôn điều suy tưởng từ những "gốc rễ" nhận thức rất riêng của từng người đọc
Với Thơ Mới, Thế Lữ không luận chiến mà ông ung hoành dùng ngọn bút của chủ nghĩa lãng mạn để lột tả cái khí phách của vị chúa sơn lâm khi bị hãm mình trong "cũi sắt"
Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Thơ cũ giam mình trong lốt hổ, nhà thơ tả hổ sa cơ bằng bút pháp và kích cỡ vung ngang, chém dọc rất tự nhiên, ngẫu hứng, sắc bén bằng tố chất mới lạ của Thơ Mới?
Nếu trước đó, nhà thơ miền Nam Đông Hồ đã ví thơ cũ như "Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi", cũ về màu sắc đặt định, cũ cả
về kích thước của cảm xúc thì giờ đây Thế Lữ không muốn chỉ ra hết tất thảy nhược điểm của thơ cũ Trái lại, chừng như ông nhìn thấy hồn thơ cũ vẫn còn âm vang trong Thơ Mới, có điều nó được diễn đạt thoải mái hơn, tự do hơn Con hổ bị giam nhưng vẫn cố ánh lên thứ khí phách phi thường bằng đặc chất của chủ nghĩa lãng mạn qua những ngôn từ cực
mạnh của của "gió rừng", của "giọng nguồn hét núi", của những động từ dữ dội: "thét, dõng dạc, cuộn, quắc ":
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Trang 20Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi
"Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi" phải chăng là câu thơ làm cho mãnh lực phi thường của chúa sơn lâm trước muôn loài vụt tan biến mọi oai linh? Bởi quyền uy đó chẳng có gì để đối chứng, để xác tín chăng? Cái siêu phàm chợt đồng nghĩa với nỗi cô đơn? Trong bài thơ "Hi Mã Lạp Sơn" Xuân Diệu chừng như cũng chỉ ra điều đó:
Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta
( )
Ta bỏ đời, mà đời cũng bỏ ta
Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thế tuyệt!
Phải chăng hình ảnh hổ bị giam là một ẩn dụ về sự độc đáo trong khuôn khổ của thơ cũ, cũng chính là một thứ độc đoán
tự giam mình? Khuôn khổ thơ hay là chiếc "cũi sắt" giam hổ trong thơ:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
"Đâu đâu đâu ?" điệp động liên hồi về một quyền năng chỉ còn trong hoài niệm của hổ Sự khuôn định, niêm luật khắt khe chưa hẳn là thế mạnh của thơ cũ, ngược lại nó gò bó thơ cũ Nhưng tính súc tích, cô đọng về ngôn từ của thơ cũ vẫn
có thể vận dụng để làm giàu đẹp cho Thơ Mới Yêu tự do, muốn vượt mọi khuôn định, nhưng sự dài dòng, khuynh hướng viết "thoải mái", "tràng giang" nhất địng không thể là thế mạnh của Thơ Mới, mà nó đã vấp phải trong giai đoạn sơ khai Phải chăng ngoài sự thắng lợi của Thơ Mới, vị chủ tướng Thế Lữ vẫn còn rất trân trọng với thơ cũ về năng lực đậm đặc và súc tích của nó? Nếu như vậy, "Nhớ rừng" của Thế Lữ đã mở ra triển vọng cho Thơ Mới về cả hai cực: tiến tới sự phóng khoáng của ngày mai trong sự kế thừa, chắt lọc bao tinh túy của cái hôm qua?
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế LỮ:"đọc đôi bài, nhất là baid nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi 1 sức mạnh phi thường Thế Lữ như một viên tướng điều
khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh k thể cưỡng đc Em hiểu thế nào về ý kiến đó? qua bài thơ nhớ rừng, hãy chứng minh.
Thơ cũ giam mình trong lốt hổ, nhà thơ tả hổ sa cơ bằng bút pháp và kích cỡ vung ngang, chém dọc rất tự nhiên, ngẫu hứng, sắc bén bằng tố chất mới lạ của Thơ Mới?
Nếu trước đó, nhà thơ miền Nam Đông Hồ đã ví thơ cũ như "Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi", cũ về màu sắc đặt
định, cũ cả về kích thước của cảm xúc thì giờ đây Thế Lữ không muốn chỉ ra hết tất thảy nhược điểm của thơ
cũ Trái lại, chừng như ông nhìn thấy hồn thơ cũ vẫn còn âm vang trong Thơ Mới, có điều nó được diễn đạt thoải mái hơn, tự do hơn Con hổ bị giam nhưng vẫn cố ánh lên thứ khí phách phi thường bằng đặc chất của chủ nghĩa lãng mạn qua những ngôn từ cực mạnh của của "gió rừng", của "giọng nguồn hét núi", của những động từ dữ dội:
"thét, dõng dạc, cuộn, quắc ":
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi
Trang 21"Đâu đâu đâu ?" điệp động liên hồi về một quyền năng chỉ còn trong hoài niệm của hổ Sự khuôn định, niêmluật khắt khe chưa hẳn là thế mạnh của thơ cũ, ngược lại nó gò bó thơ cũ Nhưng tính súc tích, cô đọng về ngôn
từ của thơ cũ vẫn có thể vận dụng để làm giàu đẹp cho Thơ Mới Yêu tự do, muốn vượt mọi khuôn định, nhưng
sự dài dòng, khuynh hướng viết "thoải mái", "tràng giang" nhất địng không thể là thế mạnh của Thơ Mới, mà nó
đã vấp phải trong giai đoạn sơ khai
Phải chăng ngoài sự thắng lợi của Thơ Mới, vị chủ tướng Thế Lữ vẫn còn rất trân trọng với thơ cũ về năng lực đậm đặc và súc tích của nó? Nếu như vậy, "Nhớ rừng" của Thế Lữ đã mở ra triển vọng cho Thơ Mới về cả hai cực: tiến tới sự phóng khoáng của ngày mai trong sự kế thừa, chắt lọc bao tinh túy của cái hôm qua?
với đề này em nên đi sâu vào cách thể hiện sáng tạo độc đáo tạo phong cách riêng của thế lữ
đặt tác phẩm trong nhịp chân của thơ mới đều là những tiếng lặng trầm buồn hết sức trữ tình tha thiết nhưng với thế lữ lại không như vậy
ngôn ngữ và hình ảnh trong nhớ rừng lại rực rỡ táo bạo 1 cách lạ thường
nào đâu những đêm vàg bên bờ suối
ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
từng câu thơ vang lên như mang nặng nỗi niềm như kiếm tìm 1 chút gì đó của ngày xưa,của quá khứ huy hoàng.1 tiếng kêu quằn quại cháy lòng
==>tâm trạng con hổ đk thể hiện sâu sắc hơn:khao khát tự do mãnh liệt/
==>góp phần làm cuộc cách mạng về thơ mang lại chiến thắng cho thơ mới
MỘT GÓC NHÌN VỀ BÀI THƠ “NHỚ RỪNG” của Thế Lữ
Mở đầu bài thơ “Nhớ rừng”, tác giả viết lời đề dẫn “Lời con hổ ở vườn bách thú” để tránh đi sự suy diễn, hiểu lầm, mà ngày nay chúng ta quen gọi là “chụp mũ”
Hình tượng con hổ cho dù đó là sự hóa thân của thi sĩ, nó vẫn là một chủ thể trữ tình, nhất quán và toàn vẹn
Phần nổi của bài thơ có ý nghĩa gợi liên tưởng đến ý thức giải phóng cái tôi cá nhân; có cả tâm trạng nhớ tiếc, u hoài của một dân tộc đang bị xiềng xích, khát khao tự do; phủ nhận thực tại hướng về quá khứ oanh liệt
Bi kịch của con hổ được nhìn nhận ở góc độ:
- Hoàn cảnh đổi thay nhưng con hổ không đổi thay Bởi nó không chịu hạ mình, không chấp nhận hoàn cảnh
- Con hổ ý thức mình là “chúa” nên nó không chấp nhận hoàn cảnh thay đổi mà thay đổi theo hoàn cảnh
Cả hai góc độ ấy tạo nên niềm u uất chạy suốt bài thơ, đi vào từng câu thơ để từ đó tạo nên sự xung đột, giằng xé
dữ dội
Trong cái xung đột ngột ngạt ấy có nỗi đau của kẻ bất đắc chí về những tháng ngày: “Thuở tung hoành hống
hách những ngày xưa” Thế mà giờ đây con hổ đang trải qua những tháng ngày ngao ngán:
“Nay sa cơ chịu nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi “
Con hổ phải chấp nhận một nghịch lí không thể nào chấp nhận được là nó phải chung sống với những thứ giả tạo,
tầm thường Xem ra có vẻ như hiện thực đầy đủ cả mọi thứ để làm vui lòng “kẻ nô lệ”, làm cho họ quên đi thân phận tôi đòi nhưng thật ra đó là những thứ sắp đặt vô hồn đầy vẻ “mị dân” nhằm thủ tiêu sức mạnh
và ý chí của hổ, biến con hổ thành vật trang trí cho cuộc sống màu mè của con người :
“Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém … ”
Và chua chát hơn nữa là nó bị “tầm thường hóa” khi chung sống với những kẻ “dở hơi”, yên phận, cơ hội làm tôi mọi cho kẻ mạnh mà tàn ác Giữa con hổ với những con thú khác giờ đây đã có sự thay bậc đổi ngôi Từ vị thế của kẻ nhận thức được giá trị của mình là “ chúa tể muôn loài”, lúc này con hổ đã thực sự đau buồn, uất hận khi phải chấp nhận nghịch cảnh :
Trang 22“Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.”
Nói theo ngôn ngữ hiện đại là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội thay đổi đã tạo nên những xung đột nôi tâm của chủ thể trữ tình
Nhưng có lẽ đối với những con vật khác, con hổ chỉ chán ngán “nằm dài, trông ngày tháng dần qua”, trong tâm trạng chờ đợi một cách vô vọng Còn“khối căm hờn” thực sự có lẽ nó hướng về con người Những kẻ dùng sức
mạnh để cướp đi quyền tự do của nó; gán ghép vào đời sống của nó một thứ “bình đẳng” giả hiệu
Nhưng thật đáng trân trọng là dù môi trường, thân phận, quan hệ … tất cả đã thay đổi , quyền lực, sức mạnh đã bị tước đoạt nhưng con hổ vẫn không cúi mình
Vì vậy, người đọc mới cảm nhận được cái không khí kìm nén nhưng sẵn sàng bùng phát làm nên xung lực trong toàn bài thơ Dù trong từng đoạn thơ có nhiều sắc thái tâm trạng khác nhau: có lúc con hổ mang tâm trạng chán chường trước hiện tại:
“Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua”
Lúc thì tâm trí của hổ mở theo dòng hồi tưởng về một thời quá khứ vàng son oanh liệt:
“Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây gìà
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi hát khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc
Trong hang tối mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi …”
Lúc thì uất hận, tiếc nuối quá khứ huy hoàng, rực rỡ, tưng bừng đến quặn lòng mà thốt lên thành lời :
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới
Đâu những buổi bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca - giấc ngủ ta tưng bừng
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm riêng phần vùng bí mật
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu! ”
Chính vì vậy, khi đọc toàn bài thơ người đọc không hề thấy cái bi lụy của kẻ sa cơ mà cảm nhận được cái bi tráng của bậc anh hùng bất đắc chí vì thất thế :
“Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ
Là nơi giống Hùm thiêng ta ngự trị
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ !
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi ”
Quá khứ và hiện tại, tự do và nô lệ, cái mất và cái còn, tầm thường và trác việt, chán chường tẻ nhạt và rực rỡ huy hoàng … luôn đan xen nhau, hỗ trợ cho nhau tạo nên những vẻ đẹp lấp lánh nhiều sắc màu, nhiều cung bậc tình cảm, nhiều giọng điệu trong toàn bài thơ
Tuy nhiên, tinh thần cơ bản của bài thơ là một hoài niệm
Quá khứ chính là yếu tố tạo nên chủ đề tư tưởng của tác phẩm Mạch cảm xúc thông thường trong tác phẩm thơ
là từ hiện tại mà hướng đến tương lai, còn ở đây tác giả lại để cho cảm xúc vận động theo chiều ngược lại : từ hiện tại mà quay về quá khứ
Trang 23Quá khứ dầu sao cũng đã đóng lại, đồng thời chủ thể trữ tình cũng không còn tương lai Nói cách khác tương lai của nó đã bị đóng lại kể từ khi con người tròng ách nô lệ vào cổ của hổ.
Nhưng điều đáng quí là dù là kẻ bị tước mất tự do, chịu bất lực, sống bế tắc, vô vọng nhưng con hổ vẫn giữ được niềm tin, vẫn giữ được mình Nó không vì hoàn cảnh mà vong thân, cúi đầu
Chuyện con hổ sống trong vườn bách thú với tâm trạng “nhớ rừng” mang theo nhiều thông điệp đáng để cho
chúng ta phải suy ngẫm !
“Nhớ rừng” của Thế Lữ là một bài thơ hay Những ai có chí khí, có khát vọng thoát ra khỏi cuộc sống chật hẹp,
tù túng, quẩn quanh, gò bó, tầm thường đều thấy phấn khích khi đọc hay khi nghe ngâm bài thơ “Nhớ rừng” Bài thơ được tác giả đề tặng nhà văn lớn Nhất Linh và có một chú thích rất rõ ràng, cụ thể: “Lời con hổ ở vườn Bách thú” Đúng vậy Bài thơ là “lời con hổ” nhưng lại mang tâm trạng của con người Và, đó không chỉ là tâm trạng của một người, của riêng Thế Lữ mà còn là tâm trạng của cả một tầng lớp, một thế hệ Đáng tiếc thay, đó lại là tâm trạng gần như bất lực và bế tắc!
“Nhớ rừng” mở đầu bằng một nỗi căm hờn, một niềm bi phẫn cao độ:
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự
Con hổ xót xa khi mình không còn là mình mà chỉ còn là “thứ đồ chơi” và phải “chịu ngang bầy cùng bọn gấu dởhơi, với cặp báo chuồng bên vô tư lự”
Đúng Chẳng có nỗi bất hạnh nào lớn hơn khi mình không còn là mình, khi ta không còn là ta, khi đã đánh mất bản ngã, đánh mất cái tôi độc đáo để chỉ còn là một “cái tôi” giả tạo, nhợt nhạt, khốn khổ
Và, con hổ chỉ còn biết sống với quá khứ, sống với “thủa (thuở) tung hoành” ngày xưa Cũng may cho con hổ là hắn còn có một quá khứ hào hùng để mà thương nhớ Nhờ thế, con hổ may ra quên đi được, dù là trong chốc lát, cái hiện tại “nhục nhằn, tù hãm”:
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể cả muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi
Con hổ nhớ mãnh liệt nhất, nhớ quay quắt nhất, nhớ cụ thể nhất là “những đêm vàng bên bờ suối”, “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, “những bình minh cây xanh nắng gội” và “những chiều lênh láng máu sau
rừng”:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Trang 24Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Nhưng, đấy cũng chỉ là quá khứ Quá khứ dù hào hùng, tươi đẹp bao nhiêu cũng không thể thay thế cho hiện tại Cũng như con người, con hổ vẫn phải sống với cái hiện tại của nó và con hổ đã không hề mơ hồ, không hề ảo tưởng khi cất lời than vãn:
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Và, con hổ chỉ còn biết “ôm niềm uất hận ngàn thâu (thu)”, một niềm uất hận lớn, niềm uất hận vĩnh cửu và chỉ còn biết ghét, ghét cay ghét đắng, sự trì trệ, sự tầm thường, sự giả dối, sự học đòi, sự bắt chước, …
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, thâm u
Cuối cùng, con hổ chỉ còn biết sống trong mộng, một “giấc mộng ngàn to lớn”, để quên đi thực tại, để được tự
do, dù chỉ là trong mộng
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Như đã nói ở trên, tuy là “lời của con hổ ở vườn Bách thú” nhưng rõ ràng bài thơ là tâm trạng của cả một tầng lớp, một thế hệ thanh niên Việt Nam cảm thấy bất lực và bế tắc Ta muốn thấy một con hổ biết phá cũi sổ lồng, một con hổ biết tung người lên, bay qua các hàng rào để tự giải phóng cho mình hay tiêu cực hơn, tự đập đầu vàotường, để tự sát, quyết không chịu sống cảnh “nhục nhằn tù hãm” nhưng con hổ của chúng ta, con hổ của Thế Lữ,không được như thế Con hổ của chúng ta, con hổ của Thế Lữ, chỉ biết dừng lại ở chỗ : bất bình với hiện tại, xót
xa với cái hôm nay, nhớ tiếc quá khứ, mơ mộng đến những ngày tháng đã qua!
Nhưng, dù sao đi nữa, dù bất lực và bế tắc thì sự bất lực và bế tắc của một con hổ vẫn kì vĩ hơn nhiều, hào hùng hơn nhiều so với sự bất lực và bế tắc của một con sâu hay sự bất lực và bế tắc của một con dòi Bởi một lẽ đơn giản là con hổ được người ta tôn trọng: người ta gọi con hổ là ông Hổ, ông Hùm, ông Cọp, ông Ba mươi Ở Phan Rang (Ninh Thuận) có Cầu ông Cọp, ở Hội An (Quảng Nam) có Miếu ông Cọp, v.v…
Có lẽ, chính vì thế, bài thơ “Nhớ rừng” đã, đang và sẽ còn làm phấn khích nhiều thế hệ người đọc.húng ta cảm ơnnhà thơ đã để lại cho đời một bài thơ độc đáo, bi tráng
Chúng ta tin rằng, nhà thơ của chúng ta, con hổ của Thế Lữ, đã về với khu rừng vĩnh cửu của mình, đã chẳng cònphải sống cảnh “nhục nhằn tù hãm” nữa
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 25-
-Đề thi gồm có 2
trang-Thời gian làm bài: 180 phút
(không kể thời gian phát đề)
Câu 1: (3 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
“[…] Một người đã khóc vì trót lừa một con chó! … Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng… Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn…
Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác […]” (trích “Lão Hạc” – Nam Cao)
a) Nam Cao cho rằng “phải có đôi mắt của tình thương mới thấu hiểu được bản chất tốt đẹp của nhân dân lao động” Em hãy chỉ rõ bản chất tốt đẹp của lão Hạc qua đôi mắt của tình thương của nhân vật ông Giáo trong đoạn
trích trên (1 điểm)
b) Vì sao cái chết đau thương của lão Hạc mang tính chất bi kịch? (0,5 điểm) Nếu gọi tên bi kịch của lão Hạc thì
em sẽ chọn cách gọi nào dưới đây:
- Đó là bi kịch của sự đói nghèo
- Đó là bi kịch của tình phụ tử
- Đó là bi kịch của phẩm giá làm người
Tại sao em chọn cách gọi đó? (0,5 điểm)
Theo em, bi kịch của lão Hạc tác động như thế nào đến người đọc? (1 điểm)
Câu 2: (2 điểm)
Đọc đoạn trích bài thơ “Mẹ và quả” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, viết năm 1982 (in trong tập Ngôi nhà có
ngọn lửa ấm, Hội Nhà văn Việt Nam, 1986):
Và chúng tôi – một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.
a) Phân tích các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên (1 điểm)
b) Viết một đoạn văn ngắn (từ 6 đến 8 câu) phát biểu cảm nghĩ của bản thân về ý nghĩa của hai câu thơ cuối trong bài thơ trên (1 điểm)
Câu 3: (5 điểm)
CHIẾC LÁ VÀNG
“Một chiếc lá vàng tự bứt khỏi cành rơi xuống gốc Cái gốc tròn mắt ngạc nhiên hỏi:
- Sao sớm thế?
Lá vàng giơ tay lên chào, cười và chỉ vào những lộc non.”
(Những câu chuyện ngụ ngôn chọn lọc – NXB Thanh niên, 2003)
Suy nghĩ của em về bức thông điệp mà em được nhận từ câu chuyện trên? (Bài viết không quá 2 trang giấy thi)
Câu 4: (10 điểm)Nỗi đau đớn và vẻ đẹp của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám qua hình tượng nhân vật
lão Hạc (“Lão Hạc” – Nam Cao) và Chị Dậu (“Tắt đèn” – Ngô Tất Tố).
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC 2012 - 2013
MÔN: NGỮ VĂN- LỚP 8
(Thời gian làm bài 120 phút không kể giao đề)
(Đề thi gồm 01 trang) Câu 1 (2,0 điểm):
Người xưa nói " Thi trung hữu họa".
Trang 26Em hãy viết đoạn văn quy nạp làm sáng tỏ điều ấy qua bộ tranh tứ bình trong bài "Nhớ rừng" của Thế Lữ.
Câu 2 (3,0 điểm):
Ngạn ngữ Hi Lạp có câu: "Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào".
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy nói rõ quan niệm của em về vấn đề này
Câu 3 (5,0 điểm):
" Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình".
(Hoàng Trung Thông)
Em hiểu thế nào về chất thép, chất tình trong đoạn thơ trên? Bằng hai bài thơ "Ngắm trăng", "Đi đường" trong tập "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh em hãy làm sáng tỏ vấn đề đó.
*Yêu cầu về kĩ năng: học sinh trình bày thành đoạn văn quy nạp.
* Yêu cầu về kiến thức:
- "Thi trung hữu họa" - Trong thơ có tranh Thế Lữ bằng chất liệu ngôn ngữ đã vẽ nên
bộ tranh tứ bình về "chúa sơn lâm" khá hoàn hảo
+ " Nào đâu trăng tan" : Cảnh đêm trăng trên dòng suối đại ngàn Hổ no mồi say sưa ngắm cảnh đẹp huyền ảo
+ " Đâu những ngày đổi mới": Cảnh mưa rung chuyển đại ngàn Hổ lặng ngắm giangsơn đổi mới
+" Đâu những bình minh tưng bừng" : bình minh tinh khôi, mới mẻ Hổ vẫn ngủ
"tưng bừng" khi mọi vật đã thức dậy
+ " Đâu những chiều gay gắt": Hổ là mãnh thú uy nghi đợi màn đêm buông xuống,
nó sẽ là chúa tể của muôn loài
- Nghệ thuật: phối cảnh hài hòa, bố cục thẩm mĩ, đường nét thanh tao, gam màu chuẩn xác, kết hợp với các phép tu từ: điệp ngữ, ẩn dụ, nhân hóa, câu hỏi tu từ tạo nên bộ tranh bằng ngôn ngữ độc đáo, đặc sắc
* Lưu ý: Trong trường hợp học sinh không viết thành đoạn văn quy nạp thì giám khảo trừ 0,5 điểm.
0,5 đ
0.25đ0.25 đ0.25 đ0.25 đ0.5 đ
Câu 2
(3 điểm)
*Yêu cầu về kĩ năng: học sinh trình bày thành bài văn nghị luận giải thích kết hợp trình
bày quan điểm của bản thân
* Yêu cầu về kiến thức:
Trang 27- Con đường đi tới học vấn đầy khó khăn, gian khổ (những chùm rễ đắng cay).
- Học vấn mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người (hoa quả ngọt ngào)
- Phải nhìn thấy cả hai mặt của vấn đề và cần xác định rõ chỉ có không ngại khó, chúng
ta mới có thể thành công trong học tập
b Khẳng định chân lí trong câu ngạn ngữ:
- Có học vấn thì con người mới có đủ khả năng làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, nhất là làm chủ vận mệnh của mình Trên cơ sở ấy, đời sống vật chất và tinh thần mới được nâng cao
- Muốn có học vấn cao phải nỗ lực không ngừng Lao động trí óc vất vả, phải lao tâm khổ trí
- Cần có thái độ khó khăn mấy cũng không lùi bước Thắng không kiêu, bại không nản
- Tấm gương tiêu biểu vượt khó trong học tập: Bác Hồ nghiêm túc trong học tập nên đãđạt tới trình độ học vấn cao, giáo sư Ngô Bảo Châu đạt giải toán học lừng danh trên thếgiới, các thủ khoa trong các đợt thi vào đại học hàng năm Lấy dẫn chứng trong học tập và rèn luyện của bản thân, của những người mà mình biết để làm sáng tỏ thêm chân
lí trong câu ngạn ngữ trên
c Mở rộng và nâng cao (bày tỏ quan điểm):
- Học vấn không chỉ là tri thức mà còn bao gồm cả việc rèn luyện tư tưởng, tình cảm, đạo đức, nhân cách cao quý Để đạt được những điều đó, chúng ta cần cố gắng rất nhiều Từ bỏ một thói xấu, làm một việc tốt cũng cần phải đấu tranh với bản thân, vượt qua khó khăn, thử thách
- Không phải khi nào trong quá trình học tập cay đắng cũng đến trước, ngọt ngào đến sau Trong học tập nhiều lúc vừa có nỗi khổ vừa có niềm vui Khi đã ham học, chăm học thì sự say mê sẽ làm ta quên cả mệt nhọc Những lúc đó, kết quả học tập đạt được
sẽ rất cao
* Tiêu chuẩn cho điểm câu 2:
- Điểm 3: Bài viết đảm bảo đầy đủ yêu cầu về kiến thức và kĩ năng Lập luận chặt chẽ,
lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng hợp lí, tiêu biểu
- Điểm 2: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, diễn đạt mạch lạc, luận điểm rõ
ràng
- Điểm 1: Bài viết còn sơ sài, mắc một số lỗi về câu, từ, chính tả.
- Điểm 0: Không làm bài hoặc làm sai lạc hoàn toàn với yêu cầu của đề bài.
Giám khảo cho điểm linh hoạt các điểm lẻ còn lại.
Câu 3
(5 điểm)
a Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận giải thích vấn đề gợi
ra từ một câu tục ngữ; kết hợp bày tỏ quan điểm của bản thân
- Lí lẽ, dẫn chứng tiêu biểu, bố cục hợp lí; diễn đạt rõ ràng, mạch lạc
b Yêu cầu về kiến thức: Học sinh nêu được những ý sau:
+ Thép là cuộc vượt ngục về mặt tinh thần, lạc quan yêu đời
+ Tình: yêu trăng, băn khoăn, bối rối không biết lấy gì để thưởng trăng, cho xứng với
vẻ đẹp có trăng; trăng và thi nhân có cuộc giao cảm độc đáo
- Bài "Đi đường"
Trang 28+ Thép: vượt lên trên hoàn cảnh gian khó của quãng đường đèo núi khi bị giải từ nhà lao này đến nhà lao khác.
+ Tình: mãn nguyện với cảnh đẹp thiên nhiên mở ra khi lên đến đỉnh cao nhất
+ Lớp nghĩa ẩn dụ bộc lộ chất thép: tin tưởng vào thắng lợi to lớn của cách mạng sau khi trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách
* Đánh giá:
- Chất thép chất tình hòa quyện trong thơ Bác, có mối quan hệ độc đáo Đó cũng là vẻ đẹp "chiến sĩ" và "thi sĩ" trong thơ Bác
(Đan xen phân tích giá trị nghệ thuật của hai bài thơ)
* Tiêu chuẩn cho điểm câu 3:
- Điểm 5: Bài viết đảm bảo đầy đủ yêu cầu về kiến thức và kĩ năng, sử dụng lí lẽ, dẫn chứng hợp lí, tiêu biểu Xây
dựng hệ thống luận điểm rõ ràng, văn viết có cảm xúc
- Điểm 4: Đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về kiến thức, còn một số lỗi sai về dùng từ, câu, chính tả.
- Điểm 3: Làm đúng bài văn nghị luận song chưa sử dụng được nhiều lí lẽ, dẫn chứng sắc sảo, diễn đạt khá.
- Điểm 2: Bài văn nghị luận còn sơ sài, còn mắc một số lỗi về câu, từ, chính tả.
- Điểm 1: Trình bày sơ sài, chưa biết phân tích, nhận xét, đánh giá…
- Điểm 0: Không làm bài hoặc làm sai lạc hoàn toàn với yêu cầu của đề bài.
Giám khảo cho điểm linh hoạt các điểm lẻ còn lại.
Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) ( Đề thi có 1 trang)
Câu 1 (4 điểm):
Phân tích biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong hai câu thơ sau:
“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”
(Quê hương, Tế Hanh)
Câu 2 (4 điểm):
Hãy viết một đoạn văn nêu suy nghĩ của em từ nội dung câu văn sau:
“Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, có những loài cây vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp.”
Câu 3 (12 điểm):
Nhận định về nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao, tác giả Hoàng Thị Thương
trong Vẻ đẹp con người có viết:
Tinh thần của lão Hạc mới kiên định làm sao! Như thành trì kiên cố xây bằng LÒNG TỰ TRỌNG và TÌNH
THƯƠNG Đói khổ, đớn đau không khuất phục nổi
Bằng hiểu biết về truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên
Trang 29PHÒNG GD&ĐT HẠ HÒA HƯỚNG DẪN CHẤM KÌ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 8
+ Cũng như người dân chài, con thuyền lao động ấy cũng thấm đậm vị muối mặn của biển khơi, đó là sự vất vả nhưng tràn đầy hạnh phúc
+ Câu thơ thể hiện sự tinh tế tài hoa và một tấm lòng gắn bó sâu nặng với con người, cuộc sống lao động của quê hương
* Về hình thức: trình bày thành đoạn văn, diễn đạt lưu loát, văn viết có hình ảnh
và cảm xúc
0,5
1,01,0
0,51,0
- Bàn luận: Nhiều khi sự gian khổ, khắc nghiệt của hoàn cảnh lại chính là môi trường để giúp con người tôi luyện, vững vàng hơn trong cuộc sống Thành công
mà con người đạt được thật có giá trị, thật rực rỡ vì nó là kết quả những cố gắng phi thường
- Liên hệ, rút ra bài học…
* Về kĩ năng: Viết đúng thể thức 1 đoạn văn, văn phong lưu loát giàu cảm xúc, trình bày sách đẹp; ít lỗi câu từ, chính tả
0,51,51,00,5
II Về kiến thức:
Trang 301 Giới thiệu vấn đề (có thể dẫn từ tác giả, tác phẩm, nhân vật hoặc một nội dung
có liên quan) và dẫn nhận định
2 Giải thích nhận định của tác giả Hoàng Thị Thương: khẳng định phẩm chất của nhân vật lão Hạc: giàu lòng tự trọng và tình yêu thương.
3 Khái quát hoàn cảnh nhân vật lão Hạc: là một người nông dân nghèo: sống cô
đơn, cùng quẫn, chết một cách đau đớn, số phận của lão thê thảm
4 Phẩm chất của nhân vật:
a Lão Hạc là một người cha giàu lòng yêu thương con.
- Khi con trai không lấy được vợ phẫn chí bỏ đi, lão rất thương con; ngày đêm mong ngóng tin tức của con, lão day dứt vì chưa làm tròn bổn phận của người cha
- Lão chăm sóc, yêu thương con Vàng vì một phần đó là kỉ vật con lão để lại, lão
hi vọng ngày con trở về
- Tình yêu thương con của lão Hạc được thể hiện rõ nhất qua việc: Lão tìm mọi cách để giữ lại mảnh vườn cho con trai, lão thà chết chứ nhất định không bán đi một sào.Tình cha con của lão Hạc là một tình cảm thiêng liêng và cảm động, lão đãchết để trọn đạo làm cha
b Lão Hạc là một người nông dân giàu lòng tự trọng:
- Lão không muốn phiền luỵ hàng xóm, đã nhịn đói để dành tiền nhờ hàng lo ma chay cho mình
- Khi bị đẩy vào hoàn cảnh túng quẫn, lão không chấp nhận sự thương hại của mọi người Lão đã từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo
- Lão lựa chọn cái chết một phần cũng vì lão không muốn sống cuộc sống bất lương như Binh Tư
- Cái chết của lão xuất phát từ lòng tự trọng đáng kính
- So sánh, đối chiếu, mở rộng các nhân vật khác
=>Nhân vật đã góp phần thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
0,50,50,53,5
Cho đoạn trích sau:
Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh liều quẹt một que Diêm bén lửa thật là nhạy Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt.
Trang 31(Cô bé bán diêm – An-đéc-xen, Ngữ văn 8, T1)
a) Việc sử dụng các câu hỏi trong đoạn trích trên có ý nghĩa gì?
b) Tìm các từ cùng thuộc một trường từ vựng trong đoạn trích trên? Tác dụng của trường từ vựng đó
Câu 2 ( 2,5 điểm):
Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không
(Khi con tu hú - Tố Hữu)
Đoạn thơ là cảnh đất trời vào hè trong tâm tưởng người tù cách mạng Nêu cảm nhận của em
-Hết -Lưu ý: Giám thị coi thi không giải thích gì thêm
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC SINH GIỎI
1 a. Ý nghĩa của việc sử dụng các câu hỏi trong đoạn trích tác phẩm Cô bé bán diêm
- Các câu hỏi được sử dụng: Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?;
Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ?
Trang 322 Để có được những cảm nhận, học sinh phải:
- Chỉ ra được hoàn cảnh của nhân vật trừ tình (người tù cách mạng) để thấy khát vọng tự
do được thể hiện qua những hình ảnh thơ rộng lớn, khoáng đãng; tiếng chim tu hú đã làm thức dậy trong tâm hồn người tù một khung cảnh mùa hè
- Nêu cảm nhận của mình về cảnh đất trời vào hè trong tâm tưởng người tù Đó là nhữnghình ảnh tiêu biểu của mùa hè: tiếng ve râm ran trong vườn, lúa chiêm chín vàng trên cánh đồng, bầu trời cao rộng với cánh diều chao lượn, trái cây đượm ngọt Một mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị, bầu trời khoáng đạt tự do trong cảm nhận của người tù
- Bày tỏ thái độ, bộc lộ cảm xúc trước một tâm hồn trẻ trung yêu đời nhưng đang mất tự
do và khao khát tự do đến cháy ruột, cháy lòng
- Diễn đạt tốt
0,5
1,0
0,50,5
- Bài làm phải được tổ chức thành bài làm văn hoàn chỉnh
- Biết vận dụng kiểu bài nghị luận để trình bày suy nghĩ của mình
- Biết sử dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm phù hợp giúp làm rõ luận điểm trong bài nghị luận;
- Bài viết có kết cấu chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, luận chứng tiêu biểu, lập luận thuyết phục, diễn đạt trôi chảy, văn viết trong sáng
b) Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở vốn hiểu biết và những kiến thức đã được học về kiểu văn nghị luận kết hợp với các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm học sinh nêu suy nghĩ của mình về ý kiến đã cho
Học sinh có thể tổ chức bài làm theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đáp ứng được những ý cơ bản sau:
- Dẫn dắt & nêu vấn đề: khen chê có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống; để lòng vị tha, tình đoàn kết càng được nhân lên, mỗi người không chỉ biết ca ngợi mặt tốt đẹp, tích cực mà còn phải biết phê phán mặt xấu, tiêu cực như ý kiến đã nêu
1,0
- Giải thích và chứng minh:
+ Thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh là biểu hiện cách sống tiêu cực, thấp hèn, ích kỉ, vô cảm cần được phê phán; lòng vị tha, tình đoàn kết là biểu hiện của cách sống tích cực, cao thượng, giàu lòng yêu thương cần được ngợi ca
+ Thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh và lòng vị tha tình đoàn kết là hai mặt trái ngược của đạo đức
xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của con người, cộng đồng
- Khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết của việc phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh (không thua kém việc nêu gương, ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết)
- Mở rộng vấn đề:
+Trong cuộc sống, có những con người sống nhân ái, giàu lòng vị tha nhưng cũng có những con người sống vô trách nhiệm, chỉ lo hưởng thụ, thờ ơ, lạnh nhạt
+ Cần phải có thái độ khen chê rõ ràng, đúng mức, đúng lúc, đúng nơi và phải xuất phát
từ thiện tâm, thiện ý của mình
3,5
- Khẳng định tính đúng đắn và ý nghĩa của vấn đề; Nêu ý thức trách nhiệm của mình
* HS có thể xây dựng hệ thống luận điểm và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau miễn sao đáp ứng được yêu cầu của đề theo những định hướng trên.
Trang 33Viết đoạn văn có độ dài từ 20 đến 25 dòng trình bày ý kiến của em về câu hỏi sau:
Có thật cần đến đoạn kết truyện như của tác giả An-đéc-xen (đoạn trích “Cô bé bán diêm”) không? Nếu kết thúc ở câu “Họ đã về chầu thượng đế” thì có làm giảm cái hay của truyện không? Vì sao?
Câu 2: (1 điểm)
Suy nghĩ của em về khái niệm nhân nghĩa trong bài “Nước Đại Việt ta” trích Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (Ngữ văn 8, tập hai- NXBGD-2011) Hãy trình bày suy nghĩ của em bằng một đoạn văn khoảng từ 8 đến 10 dòng của tờ giấy thi
1.Yêu cầu về kĩ năng:
Hiểu đề bài, trình bày bằng một đoạn văn chặt chẽ rõ ràng, lập luận chắc chắn, có sức thuyết phục Diễn đạt lưu loát, có cảm xúc
2.Yêu cầu về nội dung:
Học sinh có thể trình bày bằng những trình tự khác nhau, nhưng phải thể hiện được sự suy ngẫm cơ bản sau đây:-Với tấm lòng nhân ái của nhà văn, thì đoạn kết truyện được coi là rất cần thiết Nếu kết thúc ở câu “Họ đã về chầuthượng đế” thì ý nghĩa của truyện sẽ bị giảm đi (0,25 điểm)
- Người đọc không thấy được sự đối lập giữa một bên là hình ảnh cô bé bán diêm ngây thơ, hồn nhiên đẹp đẽ như tiên đồng ngọc nữ với một bên gió lạnh của ngày đầu năm Và người đọc cũng không thấy được sự đối lập giữa một bên là thái độ lạnh lùng thờ ơ của mọi người khi chứng kiến cảnh thương tâm này (cô bé rất cô đơn: mồ côi bố nghiệt ngã, vô tình) (0,5 điểm)
- Đoạn kết của truyện đã phơi bày cả một xã hội vô tình, lạnh lùng trước cái chết của một đứa trẻ nghèo mô côi (0,25 điểm)
-Đoạn kết truyện còn cho thấy cái nhìn đầy cảm thông cùng tấm lòng nhân hậu và lãng mạn của tác giả viết lại câu chuyện thương tâm này khiến người đọc bớt đi cảm giác bi thương để đưa tiễn cô bé lên trời với niềm vui, hy vọngchợt bùng, lóe sáng sau những lần đánh diêm (0,5 điểm)
ĐỀ CHÍNH THỨC
Trang 34- Cái hay của đoạn kết: người đọc chứng kiến cả xã hội Đan Mạch đương thời tàn nhẫn thiếu tính thương từ đó lên
án, cho thấy tấm lòng nhân ái của nhà văn (0,5 điểm)
Câu 2 (1 điểm)
Đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Về hình thức: Vỉết đúng quy ước đoạn văn, diễn đạt chặt chẽ lưu loát, lời văn trong sáng, không sai các lỗidùng từ, đặt câu, diễn đạt
Câu 3 (3 điểm)
Yêu cầu: học sinh bỉết viết bài văn thuyết minh có bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài Biết vận dụng phương pháp thuyết minh vào bài viết, diễn đạt lưu loát, sinh động, không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, ngữ pháp
Cụ thể như sau:
a.Mở bài (0,25 điểm)
- Giới thiệu đối tượng thuyết minh
- Chỉ ra đặc điểm, công dụng của đối tượng
b Thân bài (2,5 điểm)
Giới thiệu bố cục sách Ngữ văn lớp 8 tập một
- Sách Ngữ văn 8 tập một có 17 bài: (1 điểm)
+ Mỗi bài có 3 phần:
+ Văn bản văn học
+ Tiếng việt
+ Tập làm văn
Nội dung của mỗi phần (1 điểm):
+ Phần văn bản văn học: Giới thiệu các tác phẩm văn học được quy định trong chương trình
+ Phần tiếng việt: Trình bày, hướng dẫn học tập về từ ngữ và ngữ pháp tiếng việt
+ Phần tập làm văn: hướng dẫn nói và viết các bài văn về văn tự sự, biểu cảm, thuyết minh…
-Ngoài ra, cuốn sách còn có các trang mục lục tra cứu Và mỗi bài đều có phần ghi nhớ (đóng khung) để giúp học sinh dễ nhớ (0,5 điểm)
c, Kết bài (0,25 điểm))
-Nhận xét về sách Ngữ văn lớp 8 tập một
- Nêu cảm nhận riêng về cuốn sách trên
Câu 4 (4 điểm)
1 Yêu cầu về kĩ năng:
- Hiểu đúng yêu cầu của đề bài, biết cách làm bài văn nghị luận văn học, bố cục chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, dẫn chứng chọn lọc, không mắc các lỗi chính tả dùng từ đặt câu Biết vận dụng các thao tác nghị luận
2 Yêu cầu về nội dung:
Học sinh có thể sắp xếp theo nhiều cách khác nhau, nhưng cơ bản đáp ứng được các ý sau:
-Ở làng Đông Xá, cai lệ được coi là tên tay sai đắc lực của quan phủ, giúp bọn lý dịch tróc nã những người chưa nộp đủ tiền sưu Cai lệ như một hung thần tha hồ trói, tha hồ bắt bớ, tha hồ tác oai tác quái, làm mưa làm bão trong mùa sưu thuế đối với những người dân cùng (0,5 điểm)
-Cai lệ là tên tay sai chuyên nghiệp mạt hạng của quan huyện, quan phủ, nhưng về đến làng Đông Xá nhờ bóng chủ, hắn tha hồ đánh trói, hung dữ, độc ác, tàn nhẫn, táng tận lương tâm, chỉ như một cái máy làm theo lệnh quan thầy Đánh, trói, bắt người là nghề của hắn (0,5 điểm)
Trang 35- Ngôn ngữ cửa miệng của cai lệ là quát, thét, chửi, mắng, hầm hè Cử chỉ, hành động thô bạo vũ phu: ví dụnhư “Sầm sập tiến vào, trợn ngược hai mắt, giật phắt cái thừng sầm sập chạy tới, bịch mấy bịch, tát đánh bốp, sấn đến, nhảy vào…” (0,5 điểm)
- Cai lệ bỏ ngoài tai những lời van xin thảm thiết, tiếng kêu khóc của trẻ, chẳng làm hắn mảy may động lòng Tình cảnh lê bê lệt bệt đến ngất xỉu của anh Dậu, hắn cũng chẳng coi vào đâu Hắn như một công cụ bằng sắt
vô tri vô giác, chỉ có một mục đích duy nhất phải thực hiện bằng được là trói bắt anh Dậu ra đình theo lệnh của quan (0,5 điểm)
- Thế nhưng hắn không thể ngờ lại bị thảm bại nhanh chóng và bất ngờ đến thế trước người đàn bà lực điền.Chỉ biết cai lệ chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu Đây là chi tiết được chuẩn bị từ đoạn trước: Tiếng thét khàn khàn của người hút sái cũ Cũng là chi tiết gây nhiều khoái cảm cho người đọc, hả hê sau bao đau thương tê tái của chị Dậu Tiếng thét của cai lệ còn chứng tỏ một điều cà cuống chết đến đít vẫn còn cay của tên đại diện cho chính quyền thực dân phong kiến mạt hạng chỉ quen bắt nạt, đe dọa, áp bức những người nhút nhát, cam chịu, còn thực lực thì rất yếu ớt, hèn kém và đáng cười (1 điểm)
- Có thể nói, tuy chỉ xuất hiện trong một vài đoạn văn ngắn, nhưng hình ảnh tên cai lệ cùng với tên người nhà lý trưởng đã hiện lên rất sinh động, sắc nét, đậm chất hài dưới ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố (0,5 điểm)
* Thang điểm câu 4:
- Mở bài tốt cho 0,25 điểm
- Kết bài tốt cho 0,25 điểm
- Thân bài cho 3,5 điểm
* Lưu ý chung: Trên đây là gợi ý cơ bản và thang điểm chấm, các giám khảo cần cân nhắc và chú ý việc hiểu đề, khả năng cảm thụ riêng và diễn đạt sáng tạo của học sinh Điểm của bài thi là điểm của từng câu cộng lại, tính lẻ đến 0,25 điểm
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HUYỆN YÊN MÔ
Với câu chủ đề sau:
Thơ Bác là sự kết hợp hài hoà giữa chất cổ điển và nét hiện đại.
Em hãy viết một đoạn văn có từ 7 đến 10 câu (theo kiểu diễn dịch, có một câu nghi vấn) để triển khai chủ đề trên
Câu 2: (15,0 điểm)
Trong tác phẩm “lão Hạc” Nam Cao viết:
“…Chao ôi ﺇ Đối với những người sống quanh ta , nếu ta không cố mà tìm hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất…”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào ? Từ các nhân vật: Lão Hạc, ông giáo, vợ ông giáo, Binh Tư, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Năm học: 2008-2009Môn: Ngữ văn 8
Trang 36Câu 1: (5,0 điểm)
Học sinh viết đúng kiểu đoạn văn diễn dịch với câu chủ đề cho trước, về số câu có thể co giãn nhưng tối thiểu phải
là 7 câu:
+ Phát hiện được chất cổ điển: Toát lên từ thể thơ, đề tài, tư thế, bút pháp nghệ thuật, phong thái thi nhân…tất cả
đều mang đậm phong cách cổ điển (2 điểm)
+ Chỉ ra nét hiện đại: Tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai; chất “thép” trong tâm hồn người chiến sĩ Cộng
sản, ngôn ngữ diễn đạt, sự vận động của cảnh…(2 điểm).
+ Dùng câu nghi vấn hợp lí: (0,5 điểm); văn viết giàu hình ảnh, có cảm xúc, liên kết chặt chẽ, triển khai hợp lí: (0,
a Giải thích nội dung của đoạn văn:
+ Lời độc thoại của nhân vật “Ông giáo”- thông qua nhân vật này- tác giả Nam Cao thể hiện cách nhìn, đánh giá đầy sự cảm thông, trân trọng con người:
- Phải đem hết tấm lòng của mình, đặt mình vào hoàn cảnh của họ để cố mà tìm hiểu, xem xét con người ở mọi bình diện thì mới có được cái nhìn đầy đủ, chắt gạn được những nét phẩm chất đáng quý của họ, nếu chỉ nhìn phiếndiện thì sẽ có ác cảm hoặc những kết luận sai lầm về bản chất của con người
b Chứng minh ý kiến trên qua các nhân vật:
+ Lão Hạc: Thông qua cái nhìn của các nhân vật (trước hết là ông giáo), lão Hạc hiện lên với những việc làm, hành động bề ngoài có vẻ gàn dở, lẩm cẩm
- Bán một con chó mà cứ đắn đo, suy nghĩ mãi Lão Hạc sang nhà ông giáo nói chuyện nhiều lần về điều này làm
cho ông giáo có lúc cảm thấy “nhàm rồi”.
- Bán chó rồi thì đau đớn, xót xa, dằn vặt như mình vừa phạm tội ác gì lớn lắm
- Gửi tiền, giao vườn cho ông giáo giữ hộ, chấp nhận sống cùng cực, đói khổ: ăn sung, rau má, khoai, củ chuối…
- Từ chối gần như hách dịch mọi sự giúp đỡ
- Xin bả chó
+ Vợ ông giáo: nhìn thấy ở lão Hạc một tính cách gàn dở “Cho lão chết ! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ ! Lão làm lão khổ chứ ai…”, vô cùng bực tức khi nhìn thấy sự rỗi hơi của ông giáo khi ông đề nghị giúp đỡ lão Hạc “Thị gạt phắt đi”.
+ Binh Tư: Từ bản tính của mình, khi nghe lão Hạc xin bả chó, hắn vội kết luận ngay “Lão…cũng ra phết chứ chả vừa đâu”
+ Ông giáo có những lúc không hiểu lão Hạc: “Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế ?”, thậm
chí ông còn chua chát thốt lên khi nghe Binh Tư kể chuyện lão Hạc xin bả chó về để “cho nó xơi một bữa…lão với tôi uống rượu”: “Cuộc đời cứ mỗi ngày càng thêm đáng buồn…” Nhưng ông giáo là người có tri thức, có kinh
nghiệm sống, có cái nhìn đầy cảm thông với con người, lại chịu quan sát, tìm hiểu, suy ngẫm nên phát hiện ra được chiều sâu của con người qua những biểu hiện bề ngoài:
- Ông cảm thông và hiểu vì sao lão Hạc lại không muốn bán chó: Nó là một người bạn của lão, một kỉ vật của con trai lão; ông hiểu và an ủi, sẻ chia với nỗi đau đớn, dằn vặt của lão Hạc khi lão khóc thương con chó và tự xỉ vả mình Quan trọng hơn, ông phát hiện ra nguyên nhân sâu xa của việc gửi tiền, gửi vườn, xin bả chó, cái chết tức tưởi của lão Hạc: Tất cả là vì con, vì lòng tự trọng cao quý Ông giáo nhìn thấy vẻ đẹp tâm hồn của lão Hạc ẩn giấu đằng sau những biểu hiện bề ngoài có vẻ gàn dở, lập dị
- Ông hiểu và cảm thông được với thái độ, hành động của vợ mình: Vì quá khổ mà trở nên lạnh lùng, vô cảm trước
nỗi đau đồng loại “…Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu ? cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất…” Ông biết vậy nên “Chỉ buồn chứ không nỡ giận”.
→ Ông giáo là nhân vật trung tâm dẫn dắt câu chuyện, từ việc miêu tả các nhân vật mà quan sát, suy ngẫm để rồi rút ra những kết luận có tính chiêm nghiệm hết sức đúng đắn và nhân bản về con người Có thể nói tác giả Nam
Trang 37Cao đã hoá thân vào nhân vật này để đưa ra những nhận xét, đánh giá chứa chan tinh thần nhân đạo về cuộc đời, con người Đây là một quan niệm hết sức tiến bộ, định hướng cho những sáng tác của nhà văn sau này.
+ Điểm 10: Không phân tích được nhân vật vợ ông giáo và cái nhìn của ông với vợ mình, diễn đạt tương đối tốt,
không sai lỗi chính tả, bố cục hợp lí
+ Điểm 8: Giải thích nội dung đoạn văn chưa cụ thể, phần chứng minh còn sơ lược (chủ yếu hướng vào lão Hạc và
ông giáo), không đưa ra được các dẫn chứng cần thiết, khả năng khái quát hạn chế, diễn đạt bình thường, bố cục rõ,kết cấu mạch lạc
+ Điểm 6: Chỉ phân tích nhân vật lão Hạc qua cái nhìn của ông giáo, không giải thích được nội dung đoạn văn,
diễn đạt lủng củng, bố cục rõ, kết cấu chưa hợp lí
+ Điểm 4: Bài làm yếu, lan man, không tập trung vào trọng tâm cần làm rõ.
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC SINH GIỎI
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Dưới gốc tre, tua tủa những mầm măng Măng trồi lên nhọn hoắt như mũi gai khổng lồ xuyên qua đất lũy mà trỗi dậy, bẹ măng bọc kín thân cây non, ủ kĩ như áo mẹ trùm lần trong lần ngoài cho đứa con non nớt Ai dám bảo thảo mộc tự nhiên không có tình mẫu tử?”
(Lũy làng - Ngô Văn Phú)
a Tìm những từ thuộc trường từ vựng “cây tre” có trong đoạn văn trên
b Xác định câu nghi vấn trong đoạn văn và nêu rõ chức năng của câu nghi vấn đó
c Trong đoạn văn trên tác giả sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Phân tích tác dụng của các biện pháp nghệthuật đó
Trang 38a Những từ thuộc trường từ vựng “cây tre”: gốc(tre), mầm măng, măng, lũy, bẹ măng, thân cây.
- Điểm 0,5: trả lời đúng như trên
- Điểm 0,25: Tìm thiếu 1,2 từ
- Điểm 0: thiếu 3 từ trở lên
b - Câu nghi vấn: Ai dám bảo thảo mộc tự nhiên không có tình mẫu tử?
- Chức năng: Khẳng định
-Điểm 0,5: trả lời đúng 2 ý
- Điểm 0,25: Trả lời đúng 1 trong 2 ý
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
c - Trong đoạn văn tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ: đảo ngữ, so sánh kết hợp nhân hóa
- Nghệ thuật đảo ngữ: “tua tủa những mầm măng” nhấn mạnh số lượng nhiều và sự vươn lên đầy sức sống của những mầm măng
- Nghệ thuật so sánh: “Măng trồi lên nhọn hoắt như mũi gai khổng lồ xuyên qua đất lũy mà trỗi dậy” kết hợp nghệ thuật nhân hóa “măng trồi lên” “mũi gai…trỗi dậy” nhấn mạnh sự vươn lên, trỗi dậy đầy sinh lực của những măng tre
- Nghệ thuật so sánh: “Bẹ măng bọc kín thân cây non, ủ kĩ như áo mẹ trùm lần trong lần ngoài cho đứa con non nớt” làm nổi bật đặc điểm của măng tre, gợi sự bao bọc tình nghĩa để vươn lên mạnh mẽ
- Sự kết hợp các biện pháp nghệ thuật làm cho lời văn sinh động, gợi cảm khiến sự vật hiện lên như con người mạnh mẽ, tình nghĩa
- Qua đó ta thấy được sự quan sát tinh tế và tài năng nghệ thuật của tác giả
Mỗi ý trên 0,5 điểm Cả phần 3,0 điểm
Câu 2 (6 điểm)
Yêu cầu chung:
-Về nội dung: hiểu được vấn đề nghị luận, có kĩ năng vận dụng các thao tác lập luận, diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc
-Về hình thức: Biết trình bày một đoạn văn nghị luận phù hợp với yêu cầu của đề bài
Lưu ý: Đề bài không hạn định số câu Song, vì là một đoạn, thí sinh phải biết cân đối cho phù hợp với yêu cầu đề
bài Nếu đủ ý nhưng chỉ có tính chất điểm ý, không có dẫn chứng, quá ngắn, diễn đạt không hay, không cho điểm tối đa Không đếm ý cho điểm Ngược lại thí sinh viết quá dài dòng, lan man trừ 0,5đ kĩ năng
Chấp nhận các cách triển khai khác nhau, song cần chú ý bám sát và làm rõ định hướng bàn luận
- Biểu hiện của lòng tự trọng: (1,0 điểm)
+ Có suy nghĩ, hành động và cách ứng xử đúng với lương tâm và đạo lí
+ Nói đi đôi với làm
+ Khi có khuyết điểm chân thành sửa sai và nhận lỗi Nhìn thẳng vào hạn chế của mình khi không đủ khả năng đảmđương một công việc Luôn có ý thức tự giác vươn lên để khẳng định mình ngay cả khi gặp khó khăn, trắc trở
Trang 39+ Chú ý cả đên lời nói khi giao tiếp.
- Vai trò của lòng tự trọng: (1,5 điểm)
+ Luôn giúp ta tự tin vào việc mình làm, luôn chủ động vững vàng trong mọi công việc, sẵn sang đối mặt với những khó khăn thử thách
+ Luôn giúp ta lạc quan, yêu đời
+ Luôn giúp ta được mọi người tôn trọng
+ Góp phần xây dựng xã hội văn minh
- Cần phân biệt tự trọng với tự cao, tự đại (0,5 điểm)
- Phê phán những con người thiếu lòng tự trọng: lười lao động, học tập, sống lợi dụng, dựa dẫm, gặp khó khăn thì nản chí, nản lòng…đánh mất nhân cách của bản thân (0,5 điểm)
4 Bài học nhận thức và hành động (1,5 điểm)
+ Để xây dựng lòng tự trọng bản thân mỗi con người phải luôn có ý thức học tập và rèn luyện, nói phải đi đôi với làm
+ Rèn luyện lòng tự trọng là đấu tranh với chính bản thân mình để có suy nghĩ và hành động đúng đắn
+ Gia đình, nhà trường cần giáo dục cho con em mình lòng tự trọng để có thái độ sống tốt
Lưu ý: Học sinh không viết thành đoạn văn hoàn chỉnh chỉ cho tối đa 3 điểm Nếu học sinh viết thành bài văn hoàn
chỉnh thì trừ ít nhất 2 điểm
Câu 3 (10 điểm)
I Yêu cầu chung
- Về nội dung: Hiểu yêu cầu đề bài, nắm vững tác phẩm, biết phân tích theo định hướng, văn viết
mạch lạc, có cảm xúc
- Về hình thức: Trình bày ý rõ ràng, biết cân đối với hai câu trên
II Yêu cầu cụ thể
Chấp nhận trình tự, cách thức khai triển khác nhau, miễn là thí sinh có ý thức bám sát và làm sáng
rõ định hướng sau:
1 Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn và giới hạn vấn đề (0,5đ)
2 Thân bài
2.1 Giải thích ý kiến
* Học sinh cần giải thích được ý của nhận định
- Tinh thần nhân văn nhân đạo: là nói đến mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người,
những gì vì con người cho con người cho những điều tốt đẹp của bản thân mỗi người Thường thể
hiện ở tiếng nói yêu thương, trân trọng con người, ca ngợi vẻ đẹp của tình người và sự cảm thông
với những số phận khổ đau bất hạnh đồng thời lên án phê phán tố cáo cái xấu, cái ác, ngọn nguồn
của những đau khổ bất hạnh
- Ý kiến muốn khẳng định: Trong sáng tác văn học các trào lưu lãng mạn và hiện thực chủ nghĩa
có cách thức và nội dung phản ánh hiện thực khác nhau nhưng trên những trang viết các nhà văn
tài năng đều thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc
2 2 Chứng minh:
a Giới thiệu ngắn gọn chung về Nam Cao và Ngô Tất Tố cùng hai văn bản để thấy đây là hai
nhà văn tài năng và tâm huyết và khẳng định với những cách khác nhau hai văn bản đều tỏa
sáng tinh thần nhân văn nhân đạo
- Nam Cao và Ngô Tất Tố đều là những nhà văn tài năng và tâm huyết của văn học hiện thực của
văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945
+ Nam Cao được bạn đọc yêu mến bởi những trang viết chân thực và sâu sắc về người nông dân
nghèo đói bị vùi dập và người trí thức cùng phẫn phải sống mòn, bế tắc trong xã hội cũ Truyện
ngắn “Lão Hạc” là truyện tiêu biểu
+ Ngô Tất Tố được coi là “nhà văn của nông dân” là một nhà văn am tường trên nhiều lĩnh vực
nghiên cứu, học thuật sáng tác Văn bản “ Tức nước vỡ bờ” là trang viết sinh động trong Tiểu
Trang 40thuyết “Tắt đèn” nổi tiếng của ông
- Bằng hai cách viết khác nhau nhưng cùng theo trào lưu hiện thực văn bản “Lão hạc” của Nam
Cao và “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố đều là những trang viết thấm đẫm tinh thần nhân đạo
của những nhà văn tài năng và tâm huyết: Đó là tiếng nói đồng cảm với nỗi khổ đau của người
nông dân trong xã hội cũ, trân trọng ngợi ca vẻ đẹp của người nông dân và lên án tố cáo các thế
lực tàn ác đẩy người nông dân vào bần cùng, khổ đau bất hạnh
b Phân tích, chứng minh tinh thần nhân đạo trong hai văn bản “Lão Hạc” và “Tức nước vỡ
bờ”.
b.1 Thứ nhất tinh thần nhân đạo thể hiện tiếng nói cảm thông với những khổ đau bất hạnh của
con người:
* Truyện “ Lão Hạc”
+ Nam Cao cảm thương cho Lão Hạc một lão nông dân nghèo khổ bất hạnh, đáng thương sống
trong thời kì thực dân phong kiến (HS đưa dẫn dẫn chứng về nỗi khổ vật chất, tinh thần của Lão
Hạc)
+ Cảm thông với tấm lòng của người cha rất mực yêu thương con luôn vun đắp dành dụm những
gì có thể có để con có cuộc sống hạnh phúc
* Văn bản“ Tức nước vỡ bờ”
- Ngô Tất Tố đã thấu hiểu, cảm thông sâu sắc về tình cảnh cơ cực, bế tắc của người nông dân qua
tình cảnh thê thảm đáng thương của gia đình chị Dậu trong buổi sáng lúc bọn tay sai ập đến ( HS
đưa dẫn chứng về tình thế, hoàn cảnh của gia đình chị Dậu)
b.2 Tinh thần nhân đạo ấy còn được thể hiện qua lời ngợi ca trân trọng, tin tưởng những phẩm
chất tốt đẹp của con người
+ Với “Lão Hạc” Nam Cao đã trân trọng ngợi ca lão Hạc lão nông dân nghèo khổ nhưng có phẩm
chất vô cùng cao đẹp: tấm lòng đôn hậu, trái tìm giàu tình yêu thương, lối sống tự trọng (HS đưa
dẫn chứng phân tích làm rõ lời ngợi ca của tác giả với Lão Hạc)
+ Trong “Tức nước vỡ bờ” Ngô Tất Tố với tinh thần nhân đạo của nhà văn đầy tâm huyết đã phát
hiện và ngợi ca tâm hồn cao đẹp của chị Dậu người phụ nữ nông dân Việt Nam hiền lành chất
phác nhưng giàu tình yêu thương chồng con với tinh thần phản kháng mãnh liệt (HS đưa dẫn dẫn
chứng về sự ngợi ca về tình yêu thương chồng con của chị Dậu và sự phản kháng của chị Dậu )
b.3 Tinh thần nhân đạo ấy thể hiện qua tiếng nói lên án phê phán cái xấu cái ác, sự bất công
ngọn nguồn của những khổ đau bất hạnh đối với con người.
- Văn bản “Lão Hạc” gián tiếp tố cáo xã hôi phong kiến với hủ tục, với chính sách thuế khóa nặng
nề khiến con trai Lão Hạc vì nhà nghèo mà không lấy được vợ phải phẫn chí bỏ đi làm đồn điền
cao su để Lão Hạc phải sống trong cảnh tuổi già cô đơn không người chăm sóc.(HS đưa dẫn
chứng)
- Với “Tức nước vỡ bờ” Ngô Tất Tố đã lên án bộ mặt tàn ác bất nhân của xã hội thực dân nửa
phong kiến đương thời qua việc miêu tả lối hành xử của các nhân vật thuộc bộ máy chính quyền
thực dân nửa phong kiến, đại diện cho giai cấp thống trị ( HS đưa dẫn về sự lên án tố cáo thái độ
hống hách, táng tận lương tâm của nhà văn với tên cai lệ và người nhà lí trưởng)
c Nghệ thuật thể hiện tinh thần nhân văn nhân đạo trong hai tác phẩm.
- Với Nam Cao qua văn bản “Lão Hạc” bằng nghệ thuật kể chuyện đặc sắc: kết hợp tự sự, trữ tình
lập luận thể hiện nhân vật qua chiều sâu tâm lí với diễn biến tâm trạng phức tạp cùng việc lựa chọn
ngôi kể hợp lí, sử dụng ngôn ngữ hiệu quả, lối kể chuyện khách quan
- Còn Ngô Tất Tố qua đoạn tiểu thuyết “Tức nước vỡ bờ” đầy kịch tính, lối kể chuyện, miêu tả
nhân vật chân thực sinh động (từ ngoại hình ngôn ngữ, hành động tâm lí )
Hai nhà văn tài năng, tâm huyết Nam Cao và Ngô Tất Tố đã thể hiện tinh thần nhân đạo theo
cách của riêng mình như để khẳng định trong xã hội thực dân phong kiến dù bị đẩy đến bần cùng
những người nông dân luôn giữ cho mình phẩm giá cao đẹp không thể bị hoen ố dù phải sống