Tính cấp thiết của đề tài: Công ty TNHH MTV Hóa chất 21 trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng- Bộ Quốc Phòng là một doanh nghiệp hàng đầu chuyên về sản xuất thuốc nổ, phụ kiện nổ c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN NGỌC THỦY
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
HÓA CHẤT 21- BỘ QUỐC PHÒNG
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM CẢNH HUY
HÀ NỘI - 2013
Trang 21
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC TỪ QUY ƯỚC 5
LỜI CẢM ƠN……… 6
LỜI MỞ ĐẦU 7
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 10
1.1 Khái niệm chất lượng và quản lý chất lượng 10
1.1.1 Khái niệm về chất lượng 10
1.1.2 Khái niệm về quản lý chất lượng 13
1.2.3 Vai trò của quản lý chất lượng 16
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm 17
1.2.1 Các chỉ tiêu đặc trưng của chất lượng sản phẩm 17
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh và đánh giá chất lượng sản phẩm 198
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm 19
1.3.1 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp………19
1.3.2 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp………21
1.4 Các chức năng quản lý chất lượng sản phẩm 22
1.4.1 Chức năng hoạch định 23
1.4.2 Chức năng tổ chức………23
1.4.3 Chức năng kiểm tra, kiểm soát Error! Bookmark not defined. 1.4.4 Chức năng điều chỉnh, điều hòa, phối hợp……… 24
1.5 Nội dung phân tích tình hình chất lượng sản phẩm………25
1.5.1 Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế Error! Bookmark not defined
Trang 32
1.5.2 Quản lý chất lượng trong khâu cung ứng Error! Bookmark not defined.
1.5.3 Quản lý chất lượng trong khâu sản xuất……… 26
Kết luận phần 1……… 28
PHẦN 2: TÌNH HÌNH THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH MTV HÓA CHẤT 21 (NHÀ MÁY Z121)- BQP 29
2.1 Giới thiệu về Nhà máy Z121-BQP 29
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 29
2.1.2 Những thành tích đạt được 31
2.1.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Nhà máy Z121 32
2.1.4 Thông tin giao dịch và ngành nghề kinh doanh 36
2.1.5 Mục tiêu phấn đấu của Nhà máy Z121 36
2.1.6 Tình hình sản xuất kinh doanh của Nhà máy Z121 giai đoạn 2008- 2012 36
2.1.7 Cơ cấu lao động của Nhà máy Z121………38
2.1.8 Cơ cấu sản xuất các sản phẩm chính của Nhà máy Z121………39
2.1.9 Hình thức tổ chức của Nhà máy Z121……….40
2.1.10 Quy trình sản xuất của Nhà máy Z121……… 40
2.2 Phân tích tình chất lượng sản phẩm và công tác quản lý chất lượng sản phẩm ở Nhà máy Z121 41
2.2.1 Đánh giá chung về chất lượng sản phẩm của Nhà máy Z121 41
2.2.2 Phân tích chất lượng sản phẩm ở Nhà máy Z121 Error! Bookmark not defined 2.2.3 Phân tích quản lý chất lượng của Nhà máy Z121Error! Bookmark not defined.……… 47
2.2.3.1 Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế Error! Bookmark not defined 2.2.3.2 Quản lý chất lượng trong khâu cung ứngError! Bookmark not defined
Trang 43
2.2.3.3 Quản lý chất lượng trong khâu sản xuất 56
2.2.4 Phương pháp chấm điểm chuyên gia cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm Error! Bookmark not defined Kết luận Phần 2 69
PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH MTV HÓA CHẤT 21-BQP 70
3.1 Định hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh của Nhà máy Z121 70
3.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở Nhà máy Z121 71
3.2.1 Hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng, xác định nhiệm vụ và trách nhiệm của mọi thành viên trong công tác đảm bảo, kiểm soát chất lượng 71
3.2.2 Đào tạo nâng cao trình độ tay nghề, ý thức tổ chức cho người lao động 76
3.2.3 Tìm nguồn nguyên vật liệu và các nhà cung cấp mới có chất lượng ổn định, giá thành hạ 80
3.2.4 Cải tạo môi trường làm việc và xây dựng cơ sở hạ tầng 81
3.2.5 Tăng cường công tác điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường 82
3.3 Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng toàn diện-TQM 83
3.3.1 Hoàn thiện và duy trì hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000…….……….84
3.3.2 Chính sách đào tạo……… ………85
3.3.3 Xây dựng cơ cấu hỗ trợ………88
Kết luận phần 3……….………90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC: GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT VÀ MỘT SỐ SẢN PHẨM THUỐC NỔ CỦA NHÀ MÁY Z121 94
Trang 54
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Nhà máy Z121 34 Bảng 2.1: Kết quả sản xuất- kinh doanh của Nhà máy Z121 giai đoạn 2008- 2012
Error! Bookmark not defined.
Hình 2.2: Biểu đồ lợi nhuận 5 năm (2008- 2012) 37
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động của Nhà máy Z121 năm 2012Error! Bookmark not
defined.38
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ cơ cấu lao động của Nhà máy Z121 năm 2012 Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2.3: Tình hình cơ cấu các sản phẩm chính của Nhà máy Z121 39
Bảng 2.4: Các mặt hàng sản xuất- kinh doanh của Nhà máy Z121Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.5: Bảng thống kê đánh giá lỗi sai, số lượng, nguyên nhân của pháo hoa đại lễ tầm cao theo đơn hàng của tỉnh Phú Thọ……… ……44 Hình 2.4: Thiết bị trộn thuốc tạo màu pháo hoa 44 Bảng 2.6: Bảng thống kê đánh giá lỗi sai, số lượng, nguyên nhân của sản phẩm ống nổ
đốt số 8 theo đơn đặt hàng của Công ty Hóa chất mỏ Sơn LaError! Bookmark not
defined.
Hình 2.5: Dây chuyền sản xuất ống nổ đốt số 8 46 Bảng 2.7: Bảng thống kê đánh giá lỗi sai, số lượng, nguyên nhân của bán thành phẩm
“Cụm xương đuôi B41-M” theo đơn đặt hàng của Nhà máy Z183-BQPError!
Bookmark not defined.
Trang 65
Hình 2.6: Máy tiện công nghệ cao (CNC) sử dụng cho sản xuất hàng quốc phòng
47Error! Bookmark not defined.
Hình 2.7: Sơ đồ quy trình thiết kế sản phẩm ở Nhà máy Z121 50
Hình 2.8: Sơ đồ quá trình bảo quản và cung cấp nguyên vật liệu……… …….53
Hình 2.9: Quy trình nhập nguyên vật liệu vào sản xuất 54
Hình 2.10: Quy trình sản xuất và kiểm tra theo công đoạn………57
Hình 2.11: Quy trình các bước kiểm tra sản phẩm ở Nhà máy Z121………58
Hình 2.12: Sơ đồ quản lý chất lượng trong khâu sản xuất ở Nhà máy Z121… ………59
Hình 2.13: Biểu đồ nhân quả các nguyên nhân dẫn tới chất lượng sản phẩm (các nhân tố bên trong) ở Nhà máy Z121……… 62
Bảng 2.8: Đo lường chất lượng sản phẩm pháo hoa……… ……….…64
Bảng 2.9: Đo lường chất lượng sản phẩm thuốc nổ AD-1……….……… 65
Bảng 2.10: Đo lường chất lượng kíp nổ, dây nổ……… ……… 66
Hình 2.14: Các công nghệ sản xuất của Nhà máy Z121………94
DANH MỤC CÁC TỪ QUY ƯỚC
Z121: Công ty TNHH MTV Hóa chất 21 (Nhà máy Z121)- Bộ Quốc Phòng QLCL: Quản lý chất lượng
CLSP: Chất lượng sản phẩm
QLCLSP: Quản lý chất lượng sản phẩm
KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm
QC: Kiểm soát chất lượng
TQC: Kiểm soát chất lượng toàn diện
Trang 7Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kỹ thuật với đề tài: “Phân tích và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hóa chất 21- Bộ Quốc Phòng” Trước tiên, tôi xin chân
thành cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Công ty, các Phòng chức năng, Xí nghiệp, Phân xưởng của Công ty TNHH MTV Hóa chất 21- BQP đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi tìm hiểu, nghiên cứu và cung cấp tài liệu để viết luận văn tốt nghiệp Tôi cũng xin bày
tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo của Viện Kinh tế và Quản lý cũng như lãnh đạo Viện Đào tạo sau đại học- Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo Tiến sĩ Phạm Cảnh Huy- người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Trong quá trình thực hiện, do còn hạn chế về năng lực hiểu biết cũng như điều kiện thời gian nên không tránh khỏi được những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý đánh giá để tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 87
Học viên
Nguyễn Ngọc Thủy
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Công ty TNHH MTV Hóa chất 21 trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng- Bộ Quốc Phòng là một doanh nghiệp hàng đầu chuyên về sản xuất thuốc nổ, phụ kiện nổ công nghiệp phục vụ ngành công nghiệp khai thác, xây dựng trong cả nước, sản xuất các sản phẩm tín hiệu hàng hải, sản xuất các loại pháo hoa, hỏa thuật phục vụ các dịp lễ hội trong nước và xuất khẩu, đồng thời sản xuất các mặt hàng quốc phòng phục vụ nhu cầu của Quân đội
Trước đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng khi mà thị trường người tiêu dùng thay thế cho người sản xuất trước kia, Công ty đang gặp phải khó khăn là làm sao vừa sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, vừa đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp với giá cả cạnh tranh, bên cạnh đó đảm bảo sự cho phép hoạt động sản xuất kinh doanh của pháp luật Nhà nước
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp đã sản xuất và cung cấp được những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đồng thời tạo được hình ảnh tốt trong con mắt của khách hàng Đứng trên quan điểm của khách hàng, các yếu tố tác động đến quyết định của họ trong việc mua một sản phẩm hay dịch vụ chính là chất lượng sản phẩm, giá thành, thời hạn giao hàng và chế độ sau bán hàng
Trang 98
Trong điều kiện như vậy, việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng sẽ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm giúp Công ty đứng vững trên thị trường đồng thời thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng
Xuất phát từ nhận thức trên, bản thân tác giả có điều kiện được nghiên cứu, học tập và làm việc tại Công ty TNHH MTV Hóa chất 21- BQP, tác giả đã chọn đề tài:
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hóa chất 21- Bộ Quốc Phòng” làm
chuyên đề nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Do yêu cầu về chất lượng của khách hàng ngày càng cao, vì vậy với đề tài:
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở
Công ty TNHH MTV Hóa chất 21- BQP”, tác giả hy vọng trên cơ sở lý thuyết về
chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng đã được học, đồng thời với kinh nghiệm rút
ra sau một thời gian công tác tại Công ty của bản thân trong thực tế kết hợp với các tài liệu tham khảo từ các giáo trình, chuyên gia trong lĩnh vực Tác giả muốn đề xuất các biện pháp để nâng cao quy trình phối hợp, tham gia thực hiện và hoàn thiện hệ thống quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty TNHH MTV Hóa chất 21, quản lý
và điều hành thực hiện để đảm bảo chất lượng sản phẩm, quản lý hiệu quả góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường Từ các biện pháp được đưa ra đem áp dụng vào công tác quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quân đội này
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2013
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý chất lượng đang được áp dụng ở Công
ty TNHH MTV Hóa chất 21- BQP, trong đó tập trung chủ yếu vào các sản phẩm chính của Công ty trong những năm gần đây Qua việc phân tích chỉ ra các điểm đã đạt được
và những tồn tại của quy trình để đề xuất giải pháp khắc phục hoàn thiện phục vụ cho
Trang 109
công tác nâng cao chất lượng của Công ty TNHH MTV Hóa chất 21
- Không gian nghiên cứu: Chủ yếu ở khu vực thị xã Phú Thọ- tỉnh Phú Thọ
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Bước 1: Thu thập số liệu
- Các số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách quan sát thực tế, trao đổi trực tiếp với Ban lãnh đạo Công ty, cán bộ công nhân viên các Phòng ban, Phân xưởng, Xí nghiệp
- Các số liệu thứ cấp được tổng hợp thông qua các bản kế toán, báo cáo tài chính, tham khảo các tài liệu liên quan trên internet, sách báo, tạp chí…
Bước 2: Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: các số liệu từ các bảng báo cáo tài chính, kế toán được so sánh qua các năm, phân tích và tổng hợp để đưa ra nhận xét
- Phương pháp thống kê: thống kê các bảng biểu, số liệu từ đó rút ra các kết luận, các xu hướng để đánh giá tình hình
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của chuyên gia để tìm hướng giải quyết của vấn đề
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài lời cảm ơn, lời mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, các bảng biểu và các quy ước viết tắt, đề tài bao gồm 3 phần chính sau:
- Phần 1: Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm, quản lý và phân tích chất lượng sản phẩm
- Phần 2: Tình hình thực trạng về chất lượng sản phẩm ở Công ty TNHH MTV Hóa chất 21(Nhà máy Z121)- Bộ Quốc Phòng
- Phần 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty TNHH MTV Hóa chất 21- BQP
Trang 1110
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.1 Khái niệm về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm
1.1.1 Khái niệm về chất lượng
Vấn đề về chất lượng sản phẩm hàng hoá đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
và đã đưa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng sản phẩm là tổng thể những tính
chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác”
Theo cách định nghĩa này thì chất lượng sản phẩm được đánh giá thông qua các đặc trưng và đặc tính riêng biệt
Dựa vào những công trình nghiên cứu về tư bản và hàng hoá, C.Mac đã nêu rõ
hơn khái niệm về chất lượng sản phẩm hàng hoá Theo ông thì: “Người tiêu dùng mua
hàng không phải vì hàng có giá trị mà vì hàng hoá có giá trị sử dụng cao” Điều đó nói lên giá trị sử dụng được đánh giá cao, ví dụ một hàng hoá có giá trị cao nhưng giá trị sử dụng của nó thấp trong khi đó một hàng hoá khác cùng loại có giá trị nhỏ hơn mà giá trị sử dụng lại cao thì được mọi người tiêu dùng sử dụng nhiều hơn
Theo cách định nghĩa trên thì giá trị sử dụng và chất lượng của sản phẩm không phải là những khái niệm đồng nghĩa mà chất lượng sản phẩm là thước đo mức độ hữu ích của giá trị sản phẩm
Trang 1211
Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt và định nghĩa của C.Mác thì định nghĩa về chất lượng sản phẩm còn rất đơn giản mới chỉ ở trạng thái tĩnh không phù hợp với sự biến đổi của các cơ chế thị trường do đó đã có rất nhiều cách định nghĩa khác ra đời để phù hợp hơn với tốc độ tăng trưởng của xã hội
Ở góc độ người sản xuất: “Chất lượng là sự đạt được các yêu cầu thiết kế trong thiết kế sản phẩm” Về mặt kỹ thuật cách định nghĩa này phản ánh đúng bản chất của
các sản phẩm tuy nhiên sản phẩm lại được xem xét một cách biệt lập, tách rời thị trường làm cho chất lượng sản phẩm không thật sự gắn liền với nhu cầu và sự vận động, biến đổi của nhu cầu thị trường với hiệu quả kinh tế và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp nhưng nó lại đánh giá mức độ chất lượng sản phẩm đạt được Nhờ đó xác định rõ ràng những đặc tính hoặc chỉ tiêu nào cần phải hoàn thiện Tuy nhiên cách nhìn nhận chất lượng sản phẩm chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật ở dạng tương đối tĩnh dẫn đến nguy cơ làm cho chất lượng sản phẩm không cải tiến kịp thời, không gắn chặt với nhu cầu thị trường nên khả năng tiêu thụ kém
Từ những lý do trên, chất lượng sản phẩm được nhìn nhận một cách linh hoạt hơn gắn bó chặt chẽ với nhu cầu người tiêu dùng, với chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp đó là quan niệm chất lượng theo khách hàng, có rất nhiều chuyên gia theo quan niệm mới này như: Crosby, Deming, Juran phần lớn họ cho rằng chất lượng sản phẩm
là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng của người tiêu dùng Các đặc điểm kinh tế kỹ thuật phản ánh chất lượng sản phẩm khi chúng thoả mãn những đòi hỏi của người tiêu dùng Chất lượng sản phẩm là khả năng của sản phẩm thoả mãn được hoặc vượt những đòi hỏi, mong đợi của người tiêu dùng Mức độ đáp ứng những mong đợi của khách hàng là cơ sở để đánh giá trình độ chất lượng của sản phẩm đạt được chất lượng chính là nhận thức của khách hàng do khách hàng quyết định Khách hàng quyết định mua sản phẩm không chỉ đơn thuần là sản phẩm mà còn vì hàng loạt những yếu tố cấu thành nên sản phẩm kể cả hình thức, chất liệu làm nên sản phẩm cũng như chất lượng bên trong sản phẩm Do đó doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của
Trang 1312
khách hàng thì doanh nghiệp đó đã có một nửa của sự thành công Theo quan niệm này thì chất lượng sản phẩm không phải là cao nhất hoặc tốt nhất mà là sự phù hợp nhất với người tiêu dùng Cùng với định nghĩa này, theo Giáo sư Ishikawa cho rằng “Chất lượng là đáp ứng nhu cầu cao nhất với chi phí nhỏ nhất” Với cách nhìn nhận mới mẻ này của Giáo sư Ishikawa đã làm thay đổi những quan niệm sai lầm cho rằng muốn có một sản phẩm chất lượng cao thì chi phí phải bỏ ra nhiều Chính những cách nhìn nhận này đã giúp cho chất lượng sản phẩm ngày một gắn liền với sự tăng trưởng của nền kinh tế các nước cũng như đòi hỏi của toàn xã hội đồng thời cũng giúp các doanh nghiệp có những cách nhìn nhận chất lượng của sản phẩm đóng một vai trò rất quan trọng với sự tăng trưởng của của doanh nghiệp Với cách định nghĩa này cũng cho ta thấy được rằng sản phẩm có giá thành cao nhất chưa chắc đã là sản phẩm tốt nhất Mỗi cách định nghĩa khác nhau lại nảy sinh một nhược điểm do đó để khắc phục nhược điểm này Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đã đưa ra cách định nghĩa như sau: “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” Theo định nghĩa này thì chất lượng sản phẩm là phản ánh sự kết hợp giữa đặc tính nội tại khách quan của sản phẩm với chủ quan bên ngoài là sự phù hợp với khách hàng nên định nghĩa của
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) được chấp nhận phổ biến rộng rãi nhất Từ những cách định nghĩa trên chất lượng sản phẩm được kết luận ngắn gọn như sau:
- Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn của con người hoặc xã hội, nếu vì một lý
do nào đó mà sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu ta gọi là sản phẩm kém chất lượng
- Do nhu cầu luôn luôn biến động, biến đổi theo sự tiến hoá của khoa học kỹ thuật nên chất lượng sản phẩm cũng không ngừng được nâng cao, hoàn thiện hơn
- Nhu cầu có thể được công bố dưới dạng các quy định, các tiêu chuẩn nhưng cũng có thể có những nhu cầu không thể mô tả một cách rõ ràng được, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận được chúng khi tiếp xúc, khi sử dụng chúng
Trang 141.1.2 Khái niệm về quản lý chất lượng
Để sản phẩm đạt chất lượng như mong muốn, đạt được những yêu cầu khi thiết kế
đó là những vấn đề đang được các doanh nghiệp quan tâm, muốn đạt được những điều
đó cách tốt nhất cũng là vấn đề kinh tế, đó là quản lý chất lượng một cách toàn diện nhất và có hiệu quả nhất
Cũng như chất lượng sản phẩm, quản lý chất lượng sản phẩm cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, đứng với mỗi một góc độ khác nhau thì cách nhìn về chất lượng cũng khác nhau
Đối với Robetson: “Quản lý chất lượng sản phẩm là ứng dụng các biện pháp, thủ
tục, kiến thức khoa học kỹ thuật đảm bảo cho các sản phẩm đang và sẽ sản xuất phù
hợp với thiết kế, các yêu cầu trong hợp đồng kinh tế bằng con đường kinh tế và hiệu
quả nhất” Theo cách định nghĩa này thì quản lý chất lượng là cách ứng dụng những biện pháp nhằm đáp ứng những nhu cầu của nhà sản xuất
Theo Giáo sư Ishikawa: “Quản lý chất lượng sản phẩm có nghĩa là nghiên cứu,
thiết kế, triển khai sản xuất và bảo trì một sản phẩm có chất lượng đó là sản phẩm có ích nhất, kinh tế nhất và bao giờ cũng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng” Tiêu chuẩn Việt Nam 5814 (1994): “Quản lý chất lượng là tập hợp các hoạt động của chức năng quản lý chung, xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm
và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, điều khiển, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng”
Trang 1514
Đối với tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, họ đưa ra cách định nghĩa về quản
lý chất lượng như sau: “Quản lý chất lượng là các phương pháp hoạt động được sử
dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu về chất lượng” Theo cách định nghĩa này thì việc
quản lý có chất lượng tốt nhất là việc làm như thế nào để tạo ra sản phẩm có khả năng
đáp ứng cao nhất những mong đợi của khách hàng
Các tác giả, các tổ chức có lập luận khác nhau song đều nhìn nhận tương đồng với nhau đó là quản lý chất lượng sản phẩm là một hệ thống các biện pháp, các quy định dựa trên các thành tựu của khoa học nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực để đưa ra các sản phẩm có nguồn lực thoả mãn những yêu cầu của thị trường với chi phí và hiệu quả kinh tế nhất
* Một số định nghĩa liên quan đến quản lý chất lượng
- Chi phí chất lượng (Quality Costs): Muốn nâng cao chất lượng thì cần phải đổi
mới công nghệ do đó rất nhiều doanh nghiệp không dám đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng Chi phí chất lượng là khoản đầu tư nhằm làm cho sự không phù hợp với mục đích của người tiêu dùng
- Sản phẩm (Products): Đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khác nhau như:
kinh tế học, công nghệ học, tâm lý học, xã hội học…đó là sản phẩm Trong mỗi lĩnh vực, sản phẩm được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau theo những mục tiêu nhất định Trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý chất lượng, sản phẩm được xem xét trong mối quan hệ của nó với khả năng và mức độ thoả mãn nhu của người tiêu dùng, của xã hội với những điều kiện và chi phí nhất định Sản phẩm là kết quả của các hoạt động
hoặc các quá trình (tập hợp các nguồn lực và hoạt động có liên quan với nhau để biến
đổi đầu vào thành đầu ra) Nguồn lực ở đây được hiểu là bao gồm nhân lực, trang thiết
bị, công nghệ và phương pháp
- Chính sách chất lượng (Quality Policy): Một bộ phận của chính sách chung trong
doanh nghiệp, phản ánh phương hướng, mục đích và nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp trong lĩnh vực chất lượng là chính sách chất lượng Qua chính sách chất lượng
Trang 1615
khách hàng thấy được sự cam kết và mức độ quan tâm của doanh nghiệp đối với việc đảm bảo chất lượng sản phẩm Chính sách chất lượng là những ý đồ và định hướng chung về chất lượng của một doanh nghiệp, do lãnh đạo cấp cao nhất chính thức đề ra
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control): Trên cơ sở những dữ liệu thu được, ta có
thể theo dõi, phát hiện và phân tích nhằm loại bỏ các nguyên nhân gây sai lỗi và cải tiến chất lượng Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và kỹ thuật có tính tác nghiệp được sử dụng đáp ứng yêu cầu chất lượng
Quá trình kiểm soát chất lượng được thực hiện theo mô hình của Deming: PDCA
(Plan- Do- Check- Act)
Chu trình PDCA có thể và cần thiết áp dụng cho tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình hình thành chất lượng có thể nói đây là chức năng quan trọng của quản lý chất lượng
- Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance ): Các hoạt động đảm bảo chất lượng
bao gồm các hoạt động được thiết kế nhằm ngăn ngừa những vấn đề, yếu tố ảnh hưởng xấu đến chất lượng, đảm bảo chỉ có sản phẩm đạt chất lượng mới đến tay khách hàng Đảm bảo chất lượng là các hoạt động có kế hoạch, được thực hiện trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự thoả đáng rằng người tiêu dùng sẽ thoả mãn các yêu cầu chất lượng Các hoạt động đảm bảo chất lượng không chỉ thực hiện với khách hàng bên ngoài mà còn liên quan đến việc đảm bảo chất lượng nội bộ trong doanh nghiệp
Trang 1716
- Hệ thống chất lượng (Quality System): Hệ thống chất lượng được xem là một
phương tiện cần thiết để thực hiện chức năng quản lý chất lượng Nó gắn liền với toàn
bộ các hoạt động của quá trình và được xây dựng phù hợp với những đặc trưng riêng của các sản phẩm dịch vụ trong doanh nghiệp Hệ thống chất lượng gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, quá trình và các nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng
Hệ thống chất lượng phải có quy mô phù hợp với tính chất của các hoạt động của doanh nghiệp Các thủ tục trong hệ thống chất lượng cần được văn bản hoá trong hệ thống hồ sơ chất lượng nhằm mục đích đảm bảo sự nhất quán trong các bộ phận của quá trình
- Cải tiến chất lượng (Quality Improvement): Thực tế cho thấy không một tiêu
chuẩn chất lượng nào là hoàn hảo vì những đòi hỏi của người tiêu dùng, xã hội ngày càng cao Cải tiến chất lượng là các hoạt động thực hiện trong toàn tổ chức, để làm tăng hiệu quả của các hoạt động và quá trình dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
và tăng chất lượng cho khách hàng
1.1.3 Vai trò của quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng không chỉ là bộ phận hữu cơ của quản lý kinh tế mà quan trọng hơn nó là bộ phận hợp thành của quản trị kinh doanh Khi nền kinh tế và sản xuất- kinh doanh phát triển thì quản trị chất lượng càng đóng vai trò quan trọng và trở thành nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu được của doanh nghiệp và xã hội
Tầm quan trọng của quản trị chất lượng được quyết định bởi vị trí của công tác quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh Bởi vì, theo quan điểm hiện đại thì quản lý chất lượng chính là quản lý có chất lượng, quản lý toàn bộ qua trình sản xuất- kinh doanh
- Với nền kinh tế quốc dân, đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ tiết kiệm được lao động xã hội do sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, sức lao động, công cụ lao động, tiền vốn… Nâng cao chất lượng có ý nghĩa như tăng sản lượng nhưng tiết kiệm được lao động Trên ý nghĩa đó, tiết kiệm lao động cũng có ý nghĩa là tăng năng suất
Trang 1817
- Với người tiêu dùng, đảm bảo nâng cao chất lượng sẽ thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng, tiết kiệm cho người tiêu dùng và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Đảm bảo nâng cao chất lượng sẽ tạo lòng tin và tạo ra sự ủng hộ của khách hàng với người sản xuất, do đó sẽ góp phẩn phát triển sản xuất kinh doanh
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
1.2.1 Các chỉ tiêu đặc trưng của chất lượng sản phẩm
Trong hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định, đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá của chiến lược phát triển kinh tế thường có các nhóm chỉ tiêu sau:
a) Chỉ tiêu công dụng: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho các thuộc tính sử dụng sản
phẩm của hàng hoá như: giá trị dinh dưỡng, hệ số tiêu hóa (thực phẩm), độ bền (kim
loại, gỗ ), thời gian sử dụng (sản phẩm hàng tiêu dùng)
b) Chỉ tiêu công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu cho quy trình chế tạo sản phẩm có chất
lượng cao tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu chi phí thấp do đó hạ được giá thành sản phẩm
c) Chỉ tiêu thống nhất hoá: Đặc trưng cho tính lắp lẫn của các linh kiện, các phụ tùng,
nhờ tác dụng thống nhất hoá mà các chỉ tiêu, các bộ phận hình thành một cách ngẫu nhiên, lộn xộn trở thành một dãy thông số kích thước thống nhất, hợp lý Điều này cho phép tổ chức sản xuất hàng loạt những chi tiết trong những sản phẩm khác nhau
d) Chỉ tiêu độ tin cậy: Đặc trưng cho tính chất của sản phẩm đảm bảo các thông số kỹ
thuật làm việc trong khoảng thời gian nhất định
e) Chỉ tiêu an toàn: Đảm bảo thao tác an toàn đối với công cụ sản xuất cũng như đồ
dùng sinh hoạt gia đình
f) Chỉ tiêu kích thước: Thể hiện gọn nhẹ, thuận tiện trong sử dụng và trong vận chuyển g) Chỉ tiêu sinh thái: Đặc trưng các tính chất của sản phẩm có tạo ra những sản phẩm
không độc hại đến môi trường
h) Chỉ tiêu lao động: Đề cập đến quan hệ giữa người sử dụng với sản phẩm
Trang 1918
i) Chỉ tiêu thẩm mỹ: Đặc trưng một sản phẩm đẹp phải có tính chân thật, mang trong
mình những yếu tố hiện đại, sáng tạo đồng thời hình dáng, kiểu cách cũng như trang trí
hoạ tiết phải thể hiện tính cách dân tộc
k) Chỉ tiêu về sáng chế, phát minh: Cần phải biết tôn trọng năng lực trí tuệ, khuyến
khích các hoạt động sáng tạo, trí tuệ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh và đánh giá chất lượng sản phẩm
Tuỳ theo mục đích sử dụng, chất lượng sản phẩm hàng hoá lại được chia thành bốn nhóm sau:
- Nhóm chỉ tiêu sử dụng là nhóm chỉ tiêu chất lượng mà người tiêu dùng khi mua hàng thường quan tâm đến để đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá Nhóm này bao gồm thời gian sử dụng (tuổi thọ, độ bền ); mức độ an toàn trong sử dụng, khả năng sửa chữa, thay thế các chi tiết, hiệu quả sử dụng (sinh lợi, tiện lợi)
- Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ: đây là nhóm chỉ tiêu mà các cơ quan nghiên cứu, thiết kế, sản xuất kinh doanh thường dùng để đánh giá giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá
- Nhóm chỉ tiêu hình dáng, trang trí, thẩm mỹ: bao gồm các chỉ tiêu về hình dáng sản phẩm, tính chất các đường nét, sự phối hợp của các yếu tố tạo hình chất lượng trang trí, màu sắc, tính thời trang, tính thẩm mỹ
- Nhóm chỉ tiêu kinh tế: bao gồm chi phí sản xuất, giá cả, chi phí cho quá trình
sử dụng đây là những chỉ tiêu có tính chất tổng hợp mà trước đây quan điểm “kỹ
thuật thuần tuý” thường ít chú ý kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá
Trong sản xuất kinh doanh khi kiểm tra cần căn cứ vào đặc điểm sử dụng và nhiều yếu tố như: tình hình sản xuất, quan hệ cung cầu, điều kiện xã hội mà chọn những chỉ tiêu chủ yếu và chỉ tiêu bổ sung cho phù hợp
Theo cách phân loại trên, ta thấy mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của chất lượng sản phẩm nhưng chúng không tồn tại một cách độc lập mà quan hệ chặt chẽ với
Trang 2019
nhau Vai trò và ý nghĩa của từng chỉ tiêu đối với mỗi loại sản phẩm là khác nhau do
đó mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn và quyết định những chỉ tiêu quan trọng để sản phẩm của doanh nghiệp mình mang sắc thái riêng đối với những sản phẩm riêng biệt trên thị trường Hiện nay, chỉ tiêu an toàn và chỉ tiêu sinh thái trở thành những chỉ tiêu bắt buộc đối với các doanh nghiệp vì nó liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và cuộc sống của con người
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
1.3.1 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
a) Nhu cầu của nền kinh tế – xã hội
- Nhân tố kinh tế: Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh
nghiệp Chúng rộng lớn, đa dạng và phức tạp, các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế bao gồm các nhân tố như: lãi suất ngân hàng, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ Vì các nhân tố này rất rộng nên từng doanh nghiệp cần xuất phát từ các đặc điểm của doanh nghiệp mình mà chọn lọc các nhân tố có liên quan để phân tích các tác động cụ thể của chúng, từ đó xác định được các nhân tố có thể ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh cũng như tới hoạt động quản lý chất lượng của doanh nghiệp
- Nhân tố xã hội: Các nhân tố xã hội thường thay đổi chậm nên khó nhận ra,
chúng cũng là các nhân tố tạo cơ hội hoặc gây ra những nguy cơ đối với doanh nghiệp Đối với nước ta trong thời kỳ quá độ có thể có những thay đổi nhanh, doanh nghiệp cần chú ý phân tích kịp thời để nắm bắt cơ hội hoặc phòng tránh những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra
b) Trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ
Trong thời đại hiện nay, với sự phát triển nhanh và mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và trở thành một động lực sản xuất trực tiếp, đồng thời không có sự tiến bộ kinh tế- xã hội nào không gắn với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Bắt đầu từ cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất chủng loại chất lượng sản phẩm không ngừng thay đổi với tốc độ rất nhanh, tiến bộ khoa học kỹ thuật có tác dụng như lực đẩy tạo khả
Trang 2120
năng to lớn đưa chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên Nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật các doanh nghiệp đã tạo ra các loại sản phẩm mới, đưa vào sử dụng các công nghệ hiện đại, các máy móc thiết bị có chỉ số kỹ thuật cao hơn, thay thế nguyên liệu mới tốt hơn, đồng thời hình thành phương pháp quản lý mới trong các doanh nghiệp góp phần không nhỏ làm giảm chi phí sản xuất; Làm chủ được khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện để ứng dụng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất những thành tựu khoa học
kỹ thuật vào sản xuất là vấn đề quyết định đối việc nâng cao chất lượng sản phẩm
c) Nhu cầu của thị trường
Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng tạo lực hút, định hướng cho cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm Cơ cấu tính chất, đặc điểm và xu hướng vận động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm có thể đánh giá cao ở thị trường này nhưng lại không cao ở thị trường khác Điều đó đòi hỏi phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng trong công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích môi trường kinh tế xã hội, xác định chính xác nhận thức khách hàng, thói quen, truyền thống, phong tục tập quán, văn hoá nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của từng phân đoạn thị trường
Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm, yêu cầu người tiêu dùng chưa cao thì chưa quan tâm đến chất lượng sản phẩm Nhưng đời sống
xã hội tăng lên, đòi hỏi của khách hàng sẽ tăng lên cả về tính năng sử dụng và giá trị thẩm mỹ Khách hàng sẵn sàng mua với giá cao với điều kiện chất lượng sản phẩm phải thỏa mãn nhu cầu của họ Trên cơ sở đó việc lựa chọn mức chất lượng phải phù
hợp sẽ làm tiền đề cho sự phát triển chung của xã hội
d) Hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nước
Các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách riêng biệt mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, xã hội và cơ chế chính sách quản lý kinh tế của mỗi nước Khả năng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào cơ chế quản lý của từng nước Cơ chế quản lý vừa là môi trường vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng tốc độ
Trang 221.3.2 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
a) Lực lượng lao động trong doanh nghiệp
Nhân tố con người bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế- xã hội Người ta không chỉ chú ý đến chất lượng của nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị mà còn phải tập trung nâng cao chất lượng tay nghề của người lao động, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, tinh thần hợp tác, khả năng thích ứng với sự thay đổi nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Quan tâm đầu tư phát triển và không ngừng nâng cao nguồn nhân lực là nhiệm
vụ quan trọng trong quản lý chất lượng của các doanh nghiệp Đó cũng là con đường quan trọng nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng của mỗi nước trên thế giới
b) Máy móc thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản có tác dụng mạnh mẽ đến chất lượng sản phẩm Mức độ chất lượng sản phẩm trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu, tính đồng bộ, tình hình bảo dưỡng, duy trì khả năng làm việc theo thời gian của máy móc, thiết bị công nghệ, đặc biệt là những doanh nghiệp có trình độ tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp không thể tách rời trình
độ công nghệ trên thế giới Muốn sản phẩm có chất lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế thì mỗi doanh nghiệp phải có chính sách công nghệ phù hợp cho phép sử dụng những thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới,
Trang 2322
đồng thời khai thác tối đa nguồn khoa học công nghệ nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao với chi phí sản xuất hợp lý
c) Chất lượng nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào việc cấu thành lên sản phẩm của doanh nghiệp Những đặc tính của nguyên vật liệu sẽ được đưa vào sản xuất sản phẩm Vì vậy, chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra Không thể có chất lượng sản phẩm cao từ nguyên liệu
có chất lượng không tốt Chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ và chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm Ngoài ra, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa nhà sản xuất và nhà cung ứng đầy đủ, kịp thời, chính xác, đúng nơi, đúng thời gian quy định
d) Công tác quản lý chất lượng sản phẩm
Công tác quản lý chất lượng là sự tác động một cách chủ động có kế hoạch lên các yếu tố hình thành và ảnh hưởng tới chất lượng nhằm duy trì và tăng cường chất lượng hàng hoá dịch vụ, chất lượng được tạo ra từ nhiều bộ phận trong doanh nghiệp,
là kết quả nỗ lực của nhiều người Vì vậy, quản lý chất lượng phải là hệ thống bao trùm lên mọi hoạt động, mọi công việc, hướng mọi hoạt động tới chất lượng
- Chất lượng hàng hoá là vấn đề kỹ thuật cho nên quản lý chất lượng phải có chuyên môn nghiệp vụ, phải có trang thiết bị kỹ thuật phù hợp
- Chất lượng hàng hoá dịch vụ bao gồm cả nội dung kinh tế, cho nên quản lý chất lượng phải gắn liền với quản lý chi phí, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.4 Các chức năng quản lý chất lượng sản phẩm
Quản lý chất lượng cũng như bất kỳ loại quản lý nào đều phải thực hiện một số chức năng cơ bản như: hoạch định, tổ chức, kiểm tra, điều hòa, phối hợp Nhưng do
Trang 241.4.1 Chức năng hoạch định
Hoạch định là chức năng quan trọng hàng đầu và đi trước các chức năng khác của quản lý chất lượng Hoạch định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu và các phương tiện, nguồn lực, biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sản phẩm Nhiệm vụ của hoạch định chất lượng là:
- Nghiên cứu thị trường để xác định yêu cầu của khách hàng về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, từ đó xác định các yêu cầu về chất lượng, các thông số kỹ thuật của sản phẩm dịch vụ và thiết kế sản phẩm dịch vụ
- Xác định mục tiêu chất lượng sản phẩm cần đạt dược và chính sách chất lượng của doanh nghiệp
* Hoạch định chất lượng có tác dụng:
+ Định hướng phát triển chất lượng cho doanh nghiệp;
+ Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúp doanh nghiệp chủ động mở rộng thị trường và thâm nhập thị trường
+ Khai thác sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực và tiềm năng trong dài hạn góp phần làm giảm chi phí sản xuất
1.4.2 Chức năng tổ chức
Để làm tốt chức năng này cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổ chức hệ thống quản lý chất lượng: Hiện nay đang tồn tại nhiều hệ thống quản lý chất lượng như: TQM, ISO 9000, HACCP, giải thưởng chất lượng Việt Nam… mỗi doanh nghiệp lựa chọn cho mình hệ thống chất lượng phù hợp
Trang 2524
- Tổ chức thực hiện bao gồm: việc tiến hành các biện pháp kinh tế, tổ chức kỹ thuật, chính trị, tư tưởng, hành chính nhằm thực hiện kế hoạch đã xác định Nhiệm vụ này bao gồm:
+ Làm cho mọi người thực hiện kế hoạch biết rõ mục tiêu, sự cần thiết và nội dung công việc cần thực hiện;
+ Tổ chức chương trình đào tạo và giáo dục cần thiết đối với những người thực hiện kế hoạch;
+ Cung cấp nguồn lực cần thiết ở mọi nơi và mọi lúc
1.4.3 Chức năng kiểm tra, kiểm soát
Kiểm tra, kiểm soát chất lượng là quá trình điều khiển, đánh giá các hoạt động tác nghiệp thông qua những phương tiện, phương pháp hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu đặt ra Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát chất lượng là:
- Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng như yêu cầu;
- Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của doanh nghiệp;
- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện những sai lệch;
- Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch, đảm bảo thực hiện đúng những yêu cầu
Khi thực hiện kiểm tra, kiểm soát các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh giá một cách độc lập các vấn đề sau:
+ Liệu kế hoạch có được tuân thủ một cách trung thành không?
+ Liệu bản thân kế hoạch đã đủ chưa?
Nếu mục tiêu không đạt được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều trên đều không thỏa mãn
1.4.4 Chức năng điều chỉnh, điều hòa, phối hợp
Đó là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra sự phối hợp đồng bộ, khắc phục các tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mức cao hơn trước nhằm giảm dần khoảng cách giữa mong muốn của khách hàng và thực tế chất lượng đạt được Hoạt động điều
Trang 2625
chỉnh, điều hòa, phối hợp đối với quản lý chất lượng được hiểu rõ ở nhiệm vụ cải tiến
và hoàn thiện chất lượng Cải tiến và hoàn thiện chất lượng được tiến hành theo các hướng:
- Phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm;
- Đổi mới công nghệ;
- Thay đổi, hoàn thiện quá trình nhằm giảm các sản phẩm khuyết tật
Khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần phải phân biệt rõ giữa việc loại trừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân của hậu quả Cần tìm hiểu nguyên nhân xảy ra sản phẩm khuyết tật và có biện pháp khắc phục ngay từ đầu Nếu nguyên nhân là sự trục trặc của thiết bị thì phải xem xét lại phương pháp bảo dưỡng thiết bị Nếu không đạt mục tiêu do kế hoạch tồi thì điều sống còn là phát hiện tại sao các kế hoạch không đầy
đủ đã được thiết lập ngay từ đầu và tiến hành cải tiến chất lượng và hoạt động hoạch định cũng như hoàn thiện bản thân các kế hoạch
1.5 Nội dung phân tích tình hình chất lượng sản phẩm
1.5.1 Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế
Công tác thiết kế có tầm quan trọng rất lớn, thể hiện ý đồ mang tính chất quyết định trong chiến lược sản phẩm, chính sách chất lượng của một doanh nghiệp Nếu trong quá trình thiết kế đúng đắn, phù hợp với nhu cầu thị trường sẽ góp phần lớn vào thành quả hoạt động và khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh vị trí của sản phẩm trên thị trường Công tác thiết kế được hiểu như một quá trình gồm: nghiên cứu, thiết kế của Phòng Kỹ thuật; Phòng Nghiên cứu- phát triển sản xuất và sự điều hành sản xuất của Phòng Kế hoạch, nó xem như cầu nối giữa bộ phận nghiên cứu, thiết kế và bộ phận tác nghiệp Giai đoạn này cần thực hiện các công việc như sau:
- Tập hợp, tổ chức phối hợp giữa nhà thiết kế, cán bộ quản lý, tài chính, tác nghiệp, cung ứng Chuyển hóa những đặc điểm nhu cầu của khách hàng thành đặc điểm của sản phẩm Kết quả của thiết kế là các quá trình, đặc điểm sản phẩm, các bản
sơ đồ thiết kế và lợi ích của những đặc điểm đó;
Trang 2726
- Đưa ra các phương án khác nhau về các đặc điểm sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng;
- Thử nghiệm và kiểm tra các phương án nhằm chọn ra phương án tối ưu;
- Quyết định những đặc điểm sản phẩm được lựa chọn, đáp ứng nhu cầu khách hàng, thích hợp với khả năng, đảm bảo tính cạnh tranh , tối thiểu hóa chi phí sản xuất;
- Phân tích về kinh tế: đó là quá trình đánh giá mối quan hệ giữa lợi ích mà các đặc điểm sản phẩm đưa lại với chi phí cần thiết để tạo ra chúng Phân chia từng chức năng thành các đặc điểm cụ thể và ước tính chi phí cho từng đặc điểm đó, ở đây phương pháp đồ thị thường được áp dụng rộng rãi nhất
1.5.2 Quản lý chất lượng trong khâu cung ứng
Mục tiêu của giai đoạn này là nhằm đáp ứng đúng chủng loại, số lượng, thời gian, địa điểm và các đặc tính kinh tế kỹ thuật cần thiết của nguyên vật liệu, đảm bảo cho quá trình sản xuất duy trì thường xuyên, liên tục với chi phí tối thiểu Quản lý chất lượng trong khâu cung ứng bao gồm những nội dung sau:
- Lựa chọn nhà cung ứng có khả năng đáp ứng những đòi hỏi về chất và lượng vật tư nguyên liệu đầu vào;
- Tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ, thường xuyên cập nhật;
- Thỏa thuận về việc đảm bảo chất lượng vật tư cung ứng;
- Thỏa thuận về phương pháp kiểm tra, xác minh;
- Xác định các phương án giao nhận;
- Xác định rõ ràng đầy đủ, thống nhất các điều khoản trong giải quyết những trục trặc, khiếm khuyết
1.5.3 Quản lý chất lượng trong khâu sản xuất
Quản lý chất lượng phải được thực hiện từ ngay khâu đầu tiên của quá trình sản xuất, phải phát hiện ngay những sai sót càng sớm càng tốt, nhất là khâu đầu- xử lý nguyên liệu, tạo hình, gia công sản phẩm… Ngoài ra cần có nhận thức đúng đắn rằng nâng cao chất lượng sản phẩm, quản lý quá trình sản xuất không chỉ là trách nhiệm của nhà quản lý mà là trách nhiệm của mọi thành viên trong doanh nghiệp Tất cả các thành
Trang 2827
viên từ Ban lãnh đạo đến người công nhân, tất cả các cán bộ nghiên cứu- thiết kế- cung ứng vật tư- sản xuất- kiểm tra chất lượng… đến lưu thông kinh doanh đều phải tham gia vào quản lý chất lượng sản phẩm, trong đó quản lý quá trình sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt, giai đoạn quyết định sự hình thành các đặc tính, các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Quản lý chất lượng trong khâu sản xuất nhằm mục đích:
- Đảm bảo quản lý chất lượng được hình thành ở mức cao nhất, thỏa mãn yêu cầu thị trường ở mức độ thích hợp nhất;
- Đảm bảo chi phí ở mức tối thiểu,
- Đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất đúng thời gian quy định;
- Đảm bảo duy trì chất lượng sản phẩm trong quá trình lưu thông
Để thực hiện những mục tiêu trên, quản lý chất lượng trong giai đoạn này cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Cung ứng nguyên vật liệu đúng số lượng, chất lượng, chủng loại, thời gian, địa điểm;
- Kiểm tra chất lượng vật tư, nguyên liệu đầu vào sản xuất;
- Tổ chức lao động hợp lý để các thành viên là người sáng tạo ra chất lượng tự mình kiểm tra, kịp thời khắc phục những sai sót;
- Thiết lập và thực hiện các tiêu chuẩn quy trình thủ tục, thao tác từng công việc;
- Kiểm tra chất lượng các chi tiết bộ phận, bán thành phẩm sau từng công đoạn Phát hiện sai sót, tìm nguyên nhân sai sót để loại bỏ;
- Kiểm tra chất lượng sản phẩm hoàn chỉnh;
- Kiểm tra, hiệu chỉnh thường kỳ các dụng cụ kiểm tra đo lường chất lượng;
- Kiểm tra thường xuyên máy móc, thiết bị sản xuất, duy trì vào bảo dưỡng
kịp thời
Trang 2928
KẾT LUẬN PHẦN 1
Phần 1 trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm, phân tích chất lượng sản phẩm và nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý chất lượng ở doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quy trình quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm một cách chặt chẽ Trên cơ sở đó chất lượng sản phẩm và quy trình quản lý chất lượng được kiểm soát chặt chẽ sẽ sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Qua phần trình bày ở trên cho thấy, chất lượng sản phẩm chịu rất nhiều nhân tố tác động lên việc ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hàng hoá, do vậy tất cả các doanh nghiệp phải có sự kết hợp đồng bộ các khâu trong dây chuyền sản xuất để sản phẩm tạo ra có chất lượng cao nhất với chi phí nhỏ nhất có thể Muốn vậy, mỗi thành viên trong doanh nghiệp phải coi trọng việc nâng cao chất lượng sản phẩm là trách nhiệm và vinh dự của bản thân, là sự sống còn, khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 3029
PHẦN 2: TÌNH HÌNH THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
Ở CÔNG TY TNHH MTV HÓA CHẤT 21 (NHÀ MÁY Z121)- BỘ QUỐC PHÒNG
2.1 Giới thiệu về Nhà máy Z121- BQP
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Năm 1965, Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc nước ta, cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam đang bước vào giai đoạn cam go, quyết liệt Việc sản xuất vũ khí ngày càng đòi hỏi yêu cầu tăng về số lượng và khẩn trương về thời gian Ngày 13/07/1965, Trung Quốc đã ký viện trợ cho Việt Nam các công trình mở rộng Nhà máy Z1, Z2 Trong đó có công trình 6504 là Nhà máy chế tạo hỏa công (ống nổ, hạt lửa), việc có công trình viện trợ 6504 vào năm 1965 và việc thành lập Phân xưởng
Bộ lửa Z4 ngày 07/09/1966 theo quyết định số : 740/QĐ5 của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đã đánh dấu một bước ngoặt rất lớn của việc sản xuất hỏa cụ ở Việt Nam
Trang 3130
Ban đầu, Phân Xưởng Bộ lửa Z4 đóng quân tại xã Minh Tiến- huyện Đoan Hùng
- tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) Năm 1970, Phân xưởng Z4 (lúc đó là Nhà máy
V121) được di chuyển về doanh trại Lữ đoàn 378 thuộc xã Phú Hộ- huyện Phù Ninh
(nay là Thị xã Phú Thọ)- tỉnh Phú Thọ tiền thân của Nhà máy Z121
Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, Nhà máy thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho đó là: tiếp tục sản xuất các loại vũ khí phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đồng thời tham gia sản xuất các sản phẩm phục vụ nền kinh tế quốc dân, với các mặt hàng chính là Kíp nổ đốt, Kíp nổ điện phục vụ công nghiệp khai thác mỏ, xây dựng, giao thông vận tải
Năm 1987, Nhà máy chuyển từ cơ chế quản lý hành chính bao cấp sang chế độ hạch toán kinh doanh Bước chuyển đổi đã tạo đà cho Nhà máy thúc đẩy phát triển sản xuất với việc đầu tư hàng loạt các dây chuyền mới, các dây chuyền sản xuất dây cháy chậm công nghiệp, sản xuất thuốc nổ Amonit, sản xuất dây nổ lần lượt ra đời đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm của Nhà máy, tạo thêm nhiều công ăn việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động
Từ năm 1993, Nhà máy Z121 có tên giao dịch kinh doanh là Công ty Hóa chất 21, với quyền chủ động hạch toán kinh doanh, Công ty đã vạch ra hướng mới, tập trung sắp xếp lại bộ máy quản lý, các phòng ban, phân xưởng, sắp xếp bố trí lại lực lượng lao động, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất phù hợp với điều kiện sản xuất, vừa phát triển sản xuất các mặt hàng kinh tế đảm bảo đời sống cho người lao động, vừa giữ vững năng lực sản xuất quốc phòng
Năm 1996, với chủ trương mở rộng dây chuyền sản xuất, tạo ra các sản phẩm có tính năng vượt trội, Công ty đã đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất Kíp nổ vi sai điện
và Kíp nổ vi sai phi điện Tận dụng năng lực sẵn có của dây chuyền sản xuất kíp nổ,
với tinh thần "phát huy nội lực", qua nghiên cứu sản phẩm cùng loại của nước ngoài,
đến năm 2001, Công ty đã sản xuất và cung cấp cho thị trường sản phẩm Kíp nổ vi sai
Trang 3231
an toàn với chất lượng đạt mức cao của thế giới Việc sản xuất và đưa vào tiêu thụ các loại kíp nổ vi sai đã đáp ứng kịp thời nhu cầu của công nghiệp khai thác mỏ, vật liệu xây dựng hàng năm tiết kiệm cho Nhà nước hàng triệu USD do không phải nhập ngoại Công trình nghiên cứu sản xuất kíp nổ vi sai an toàn đã được trao tặng giải thưởng sáng tạo khoa học VIFOTEC năm 2004, công trình nghiên cứu sản xuất kíp nổ vi sai phi điện được tặng giải thưởng sáng tạo khoa học VIFOTEC năm 2006 Đó là sự ghi nhận kết quả lao động sáng tạo trong hoạt động khoa học công nghệ của Công ty Hóa chất
21, trở thành nguồn động lực thúc đẩy Công ty trong quá trình hoạt động khoa học công nghệ sau này
Năm 1997, Công ty đã nghiên cứu, đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất pháo hoa quy mô lớn, sản phẩm pháo hoa của Công ty đã nhanh chóng thâm nhập được vào thị trường các nước: Nhật bản, Hoa kỳ…, đồng thời phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật pháo hoa của nhân dân cả nước trong các dịp lễ tết, lễ hội và được đánh giá cao Năm 2001, Nhà máy đã nghiên cứu và sản xuất thành công pháo hoa tầm thấp, với những đặc điểm ưu thế riêng, sản phẩm đã được Chính phủ cho sử dụng trong dịp tết
cổ truyền và lễ hội trong phạm vi cả nước
Từ năm 2002, Công ty đã triển khai áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty Hệ thống đã được Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn của Việt Nam (Quacert) cấp chứng chỉ công nhận từ tháng 08 năm 2002 Hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo dựng nề nếp quản lý khoa học, tăng cường hiệu quả trong kinh doanh Phòng thí nghiệm của Công ty Hóa chất 21 được chứng nhận phù hợp với các yêu cầu của VILAS 231 trong lĩnh vực hóa học, được công nhận
đủ năng lực kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo và thử nghiệm chất lượng các loại hỏa cụ trong Quân đội
Từ tháng 10 năm 2010, Công ty Hóa chất 21 đổi tên thành Công ty TNHH một thành viên Hóa chất 21
Trang 3332
Hiện nay, Công ty TNHH một thành viên Hóa chất 21 là một trong những cánh chim đầu đàn về chuyên sản xuất thuốc nổ, phụ kiện nổ công nghiệp phục vụ ngành công nghiệp khai thác, xây dựng trong cả nước, sản xuất các sản phẩm tín hiệu và an toàn hàng hải, sản xuất các loại pháo hoa, hỏa thuật phục vụ các dịp lễ hội và xuất khẩu, đồng thời sản xuất các mặt hàng quốc phòng phục vụ Quân đội
2.1.2 Những thành tích đạt được
Với những thành tích xuất sắc trong sản xuất kinh doanh và phục vụ quốc phòng, Nhà máy Z121 đã được Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng 12 năm 1989
Với thành tích nổi bật trong sản xuất, kinh doanh, xây dựng đơn vị phát triển ổn định, vững mạnh, đảm bảo việc làm và nâng cao thu nhập của người lao động, Công ty TNHH MTV Hóa chất 21 đã được Nhà nước tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới vào tháng 09 năm 2004
Trong suốt chặng đường 47 năm xây dựng và phát triển, Công ty đã được Nhà nước, Bộ Quốc Phòng, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý các loại Những năm gần đây, Công ty luôn là đơn vị dẫn đầu ngành Công nghiệp quốc phòng trong cả nước và là một trong số các doanh nghiệp hàng đầu đóng quân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Các giải thưởng khác bao gồm :
- Giải thưởng Nhà nước về Khoa học công nghệ trong lĩnh vực nghiên cứu, chế tạo vật liệu nổ năm 2004;
- Giải thưởng sáng tạo khoa học VIFOTEC về công trình nghiên cứu kíp nổ vi sai an toàn năm 2005;
- Giải thưởng sáng tạo khoa học VIFOTEC về công trình nghiên cứu sản xuất kíp nổ vi sai phi điện năm 2006;
- Giải thưởng Quả cầu vàng năm 2007;
- Cúp vàng ISO năm 2006, 2007;
Trang 3433
- Giải thưởng chất lượng Việt Nam từ các năm 2006- 2011;
- Huân chương Lao động hạng nhì năm 2011;
- Giải thưởng cúp vàng Topten Thương hiệu Việt ứng dụng KHCN năm 2011;
- Giải thưởng Top 500 sản phẩm dịch vụ hàng đầu Việt Nam năm 2011
2.1.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Nhà máy Z121:
- Ban Giám đốc: Phụ trách chung toàn bộ các hoạt động quản lý sản xuất kinh
doanh, chịu trách nhiệm toàn bộ về các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Nhà máy
- Phòng Kế hoạch: Có chức năng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh như: tháng,
năm, quý, dài hạn; điều độ sản xuất và thực hiện kế hoạch, cung ứng vật tư sản xuất, cân đối kế hoạch, ký hợp đồng, mua vật tư, thiết bị, theo dõi việc thực hiện hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
- Phòng Vật tư: Cung cấp các loại vật tư, bán thành phẩm đầu vào cho quá trình
sản xuất và vận chuyển sản phẩm của Nhà máy tới khách hàng
- Phòng Cơ điện: Có chức năng quản lý, cung cấp điện, nhiệt, nước cho sản
xuất và sinh hoạt trong nội bộ Nhà máy, đồng thời quản lý các loại máy móc, thiết bị của Nhà máy
- Phòng Kỹ thuật và Công nghệ: Có chức năng theo dõi việc thực hiện các quá
trình công nghệ, chu trình sản xuất để đảm bảo chất lượng sản phẩm của Nhà máy
- Phòng An toàn: Có chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động an toàn trong sản
xuất, vệ sinh công nghiệp, an toàn nguồn nước và không khí trên địa bàn đóng quân của đơn vị
- Phòng Nghiên cứu- phát triển sản xuất: Có chức năng nghiên cứu, chế thử
các loại sản phẩm mới cho Nhà máy
- Phòng Tài chính- kế toán: Có chức năng huy động vốn phục vụ cho sản xuất,
tính giá thành, lỗ, lãi, thanh toán (nội bộ, vay bên ngoài), thống kê tổng hợp mọi diễn
biến trong quá trình sản xuất kinh doanh của Nhà máy đồng thời xác nhận, kiểm tra,
Trang 3534
tính toán kết quả cuối cùng của hạch toán kế toán nội bộ các Phân xưởng, Xí nghiệp
trong Nhà máy
- Phòng Tổ chức- Lao động: Có chức năng lập định mức, thời gian cho các loại
sản phẩm, tính lương, thưởng, tuyển dụng lao động, phụ trách vấn đề bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho người lao động của Nhà máy
- Phòng Chính trị: Có chức năng ra Nghị quyết, đường lối, phương hướng, nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh trong tháng, quý, năm của Nhà máy, đồng thời quản lý hồ sơ cán bộ, đảng viên và kết nạp đảng viên mới trong Nhà máy
- Phòng Kiểm tra chất lượng sản phẩm: Thực hiện đầy đủ quy định, quy trình
kiểm tra chất lượng sản phẩm, bán thành phẩm, vật tư phụ tùng trong quá trình sản
xuất, lưu kho, lưu hành trên thị trường
Trang 3635
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Nhà máy Z121
Ban Giám đốc Nhà máy Z121
Phòng Vật tư
Phòng Tài chính-
kế toán
Phòng
An toàn
Phòng nghiên cứu- phát triển sản xuất
Phòng
Kỹ thuật
và công nghệ
Phòng
Cơ điện
Phòng Kiểm tra chất lượng sản phẩm
Phòng Chính trị
Phòng Hành chính
- Hậu cần
Phòng Tiêu thụ sản phẩm
Xí nghiệp Bộ
lửa- liều phóng
Phân xưởng Vật liệu xây dựng
Phân xưởng Xây dựng
Trang 3736
- Phòng Tiêu thụ sản phẩm: Có chức năng nghiên cứu mở rộng thị trường, áp tải, vận chuyển hàng hóa tới khách
hàng và thanh toán công nợ cho Nhà máy
- Phòng Hành chính- Hậu cần: Có chức năng kiểm tra, bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật của Nhà máy, chăm sóc
sức khỏe, bảo đảm bữa ăn cho cán bộ công nhân viên trong Nhà máy, duy trì thực hiện nội quy, quy chế của đơn vị, chế
độ kỷ luật lao động, quản lý công tác dân quân tự vệ, quân sự, phòng cháy, chữa cháy, phòng chống bão lụt và phục vụ tiếp đón các đoàn khách của Nhà máy
- Các Xí nghiệp, Phân xưởng: Trực tiếp tiến hành các nghiệp vụ sản xuất của Nhà máy theo nhiệm vụ của từng bộ
phận, chủ động trong hoạt động sản xuất theo phân cấp quản lý và chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc Nhà máy
Cách thức tổ chức bộ máy của Nhà máy Z121 giúp cho Nhà máy phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng
Phòng ban, Xí nghiệp, Phân xưởng đồng thời tổ chức được sự phối kết hợp giữa các bộ phận với nhau, tạo cơ hội cho các
bộ phận phát huy hết năng lực của mình, thống nhất được quyết định của các bộ phận, nâng cao chất lượng quản lý và giảm gánh nặng cho người quản lý cấp trên Hơn nữa, nó còn giúp cho các sản phẩm sản xuất ra được kiểm soát chặt chẽ
về chất lượng và độ an toàn trong quá trình sản xuất
Trang 3837
2.1.4 Thông tin giao dịch và ngành nghề kinh doanh
- Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH MTV Hóa chất 21- Bộ Quốc phòng
- Tên giao dịch nước ngoài: 21 Chemical one member limited liability company
- Tên viết tắt: Công ty Hóa chất 21(Nhà máy Z121)
- Ngày thành lập: 07/09/1966
- Trụ sở chính: Xã Phú Hộ- thị xã Phú Thọ- tỉnh Phú Thọ
- Điện thoại: 0210.3865.055 – 0210.3865.193 ; Fax: 0210.3865.054
- E-mail: vinapyrotechz21@gmail.com; Website: vinapyrotechz21.thv.vn
- Loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nhà nước
- Ngành nghề kinh doanh :
+ Sản xuất thuốc nổ công nghiệp, phụ kiện nổ, kíp nổ các loại;
+ Sản xuất pháo hoa, đạn thể thao 5,6 mm, đạn tín hiệu, đạn thể thao C12;
+ Sản xuất hàng cơ khí chính xác;
+ Nhập nguyên vật liệu sản xuất pháo hoa, xuất khẩu pháo hoa, hỏa thuật…
2.1.5 Mục tiêu phấn đấu của Nhà máy Z121
- Hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị do Nhà nước và Quân đội giao cho;
- Phát triển các sản phẩm kinh tế có chất lượng và uy tín trên thị trường;
- Xây dựng Nhà máy là đơn vị có thương hiệu mạnh trên thị trường trong nước
2.1.6 Tình hình sản xuất- kinh doanh của Nhà máy Z121 trong 5 năm (2008- 2012)
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất- kinh doanh của Nhà máy giai đoạn 2008-2012
(ĐVT: tỷ đồng)
Trang 4039
Trong giai đoạn 5 năm (2008-2012), Nhà máy Z121 luôn giữ được sự phát triển
ổn định, điều này được thể hiện thông qua chỉ tiêu lợi nhuận giai đoạn 5 năm, đỉnh cao
là năm 2009, lợi nhuận của Nhà máy đạt 90,18 tỷ đồng đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị Các năm tiếp theo từ 2010-
2012, mặc dù lợi nhuận có giảm so với năm 2009 nhưng năm sau lợi nhuận đạt cao hơn năm trước tăng trên 1%/năm, từ 73,27 tỷ đồng năm 2010 lên 80 tỷ đồng năm 2012 và còn hứa hẹn tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo
2.1.7 Cơ cấu lao động của Nhà máy Z121
Tổng số lao động của Nhà máy Z121 tính đến hết năm 2012 là 3.471 người, có
độ tuổi bình quân là 35,8 Với chính sách tuyển dụng lao động của mình, Nhà máy đã tập hợp được đông đảo tập thể lao động:
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động của Nhà máy Z121 năm 2012
4 Công nhân có tay nghề cao 1.428 41,15%