1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN: TRIẾT HỌC

28 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 87,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: mặt đối lập, mâu thuẫn biện chứng, sự thống nhất của các mặt đối lập, đấu tranh của các mặt đối lập để diễn đạt mối quan hệ gi

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN: TRIẾT HỌC Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, triết

học nhị nguyên, các hình thức chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử

triết học.

1. Vấn đề cơ bản của triết học.

- Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân

con người và vị trí của con ngừoi trong thế giới đó

- Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức,

giữa con người và thế giới tự nhiên

- VĐCB có 2 mặt: giữa vật chất và ý thức cái nào có trước? Con người có khả năng nhận

thức được thế giới hay không?

+ Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức đã chia triết học thành 2 trường phái lớn: Chủ

nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

+Mối quan hệ giữa con người và thế giới cũng chia triết học thành 2 phái: Khả tri luận –

bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng tri thức của con người và bất khả tri luận

– phủ nhận tất cả khả năng đó

2. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

Nguồn gốc

- Có nguồn gốc từ nhận thức và nguồn gốc xã hội

- Xem xét phiến diện và

tuyệt đối hóa thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức

- Có mỗi liên hệ mật thiết với tôn giáo

- Có nguồn gốc từ thực tiễn và sự phát triển của khoa học

- Qua thực tiễn và khái quát hóa tri thức của nhân loại trong nhiều lĩnh vực

- Là hệ thống tri thức lý luận chung nhất

Hình thức cơ

bản - CNDT chủ quan và CNDT khách quan:

+ CNDT chủ quan: phủ

nhận sự tồn tại khách quan của hiện thưc, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng là

“phức hợp những cảm giác”

của cá nhân+ CNDT chủ quan: thừa nhận tinh thần khách quan, ý

thức khách quan có trươc và

tồn tại độc lập với thế giới tự

nhiên, con người

- CNDV chất phác, CNDV siêu hình và CNDV biện chứng:

+ CNDV chất phác: hình thức sơ khai của CNDV,lý giải toàn bộ sự sinh thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính, coi đó là bản nguyên của thế giới; lấy bản thân vật chất của giới tự nhiên để giải thích về thế giới

+ CNDV siêu hình: hình thức cơ bản thứ 2 của CNDV, là phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức về thế giới, chưa p.ánh đúng về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển

+ CNDV biện chứng: hình thức cơ bản thứ 3, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập; CNDVBC phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ

Trang 2

biến và sự phát triển, cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Hệ thống quan điểm của CNDVBC đc xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.

CNDT cho rằng ý thức có trước vật chất còn CNDV cho rằng vật chất có trước ý

thức.

3. Triết học nhị nguyên.

- Là một thuyết triết học thừa nhận sự tồn tại của hai thực thể

Câu 2: Quan niệm của triết học Mác-Lênin về vật chất, các phương thức, hình thức

tồn tại của vật chất Ý nghĩa phương pháp luận của những vấn đề trên.

Quan niệm của triết học Mác-Lênin Ý nghĩa phương pháp luậnVật chất - “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để

chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác,đc cảm giác của chúng

ta chép lại, chụp lại , phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

+ “VC là một phạm trù triết học”: khái quát thuộc tính cơ bản nhất,phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất

+ VC tồn tại khách quan: tồn tại độc lập và

ko phụ thuộc vào ý thức của con người

+ ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, vật chất là cái đc ý thức phản ánh

- Chống lại tất cả các quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất

- Đấu tranh, khắc phục triệt để tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vất chất của các nhà triết học tư sản,

- Giải quyết đc sự khủng hoảng trong quan điểm về

vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm chủ nghĩa duy vật siêu hình

- Khẳng định thế giới khách vật chất khách quna là vô cùng, vô tận

- Làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại

Phương

thức tồn tại

của vật chất

- Vật chất luôn gắn liền với vận động

- Thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất mới biểu hiện đc sự tồn tại

- sự phân loại hình thức và

phương thức vận động có

bản đã đặt cơ sở cho sự

phân loại các khoa học tương ứng đối với đối

tượng nghiên cứu của chúng

Trang 3

- Vận động tồn tại khách quan

- VĐ đc chia thành 5 hình thức cơ bản: vận động cơ học, vđ vật lý, vđ hóa học, vđ sinh học, vđ xã hội

- Mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau và đc đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có

- Chỉ ra cơ sở của khuynh hướng phân nhành và hợp thành của khoa học

- Là cơ sở để chống lại khuynh hướng sai lầm trong nhận thức là quy hình thức vận động cao vào hình thức vận động thấp và ngược lại

- không gian: mọi dạng cụ thể của vật chất

đều tồn tại ở một vị trí nhất định, tồn tịa

trong các mối tương quan nhất định Ko gian có 3 chiều: cao, rộng, dài

- Thời gian: sự tồn tại của sự vật được thể

hiện ở quá trình biến đổi (nhanh hay

chậm).tgian có 1 chiều: từ quá khứ đến tương lai

- ko có vật chất tồn tại ngoài ko gian và thời gian và ngược lại

- ko gian và thời gian tồn tại khách quan, bị

vật chât quy định

C

âu 3: Quan niệm của triết học Mác – Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức, mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ này.

1. Nguồn gốc của ý thức : ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

a. Nguồn gốc tự nhiên: ( có 2 yếu tố cơ bản nhất)

• Bộ óc người:

- Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người

- Ý thức là chức năng của bộ óc

- Ý thức là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc

- Bộ óc càng hoàn thiện thì ý thức con người càng phong phú và sâu sắc → khi bộ óc bị tổn thương thì quá trình phát triển năng lực của nhận thức, tư duy ( quá trình tiến hóa của loài người) và đời sống tinh thần của con người bị rối loạn

• Mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo

- Là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện

- Thế giới khách quan đc phản ánh (thông qua hoạt động của các giác quan) đã tác động đến bộ óc người → ý thức được hình thành

- Phản ánh: + là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng

+ Là thuộc tính của tất cả cách dạng vật chất

Trang 4

+ p.á vật lý hóa học: hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh, đc thể hiện qua nhữn biến đổi kết cấu, vị trí, tính chất p.á này mang tính thụ động + p.á sinh học: đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh,đc thể hiện qua quá trình kích thích.

+ p.á tâm lý: pá của đvật có hệ thần kinh trung ương

+ p.á năng động sáng tạo: hthức p.ánh cao nhất,đc thực hiện ở bộ óc người, qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người, có tính chủ động ( có ý thức )

• Nguồn gốc xã hội của ý thức

- Lao động và ngôn ngữ là yếu tố cơ bản và trực tiếp của nguồn gốc xã hội của ý thức

- Lao động: (mang tính xã hội)

+ quá trình con người tác động vào thế giới tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình

+ quá trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể người , làm giới tự nhiên bộc lộ thuộc tính, kết cấu, quy luật vận động

- Ngôn ngữ:

+ hệ thống tín hiệu vất chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Ko có ngôn ngữ thì ý thức ko thể tồn tại và phát triển+ nhờ ngôn ngữ mà con người còn khái quát, tổng kết,đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, tư tưởng từ thế hệ này qua thế hệ khác

- Ngôn ngữ gắn liền với lao động

- Mối quan hệ giữa các thành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi -> ngôn ngữ ra đời và phát triển ngay trong quá trình lao động

→ nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất của ý thức là lao động, sau và đồng thời với lao động là ngôn ngữ

2. Bản chất của ý thức

Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

- Tính năng động, sáng tạo:

+ thể hiện ở khả năng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, lưu giữ và xử lý thông tin và trên cơ sở thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin đc tiếp nhận (nguyên lý tảng băng)

+ Thể hiện ở quá trình con người tạo ra những giả thuyết, ý tưởng trong đời sống tinh thần của mình hay khái quất bản chất quy luật, xây dựng các mô hình tư tưởng trong các hoạt dộng của con người

- Hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan:

+ Ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan, bị thế giới khách quan quy định về nội dung và hình thức biểu hiện, nhưng bị cải biến qua lăng kính chủ quan của con người

+ C.Mác “ ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”

- Là hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội

+ Ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên,xã hôi, đc quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội

Trang 5

3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức :

Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý

thức, ý thức ko hoàn toàn thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

a, Vai trò của vật chất với ý thức

- Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao (bộ óc người)

- Con người là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất và là sản phẩm của thế giới vật chất

- Nguồn gốc tự nhiên, xã hội của ý thức là yếu tố chứng minh cho “ vật chất có trước ý thức"

- Nội dung của ý thức đc quyết định bởi vật chất vì ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất

- Sự vận động và phát triển của ý thức bị các yếu tố thuộc lĩnh vực vật chất như quy luật

sinh học, xã hội quyết định → vật chất ko chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức

b, Vai trò của ý thức đối với vật chất

- Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

- Bằng việc định hướng cho hoạt động của con người thì ý thức có thể quyết định hành động của con người

c, Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan

- Xuất phát từ thẹc tế khách quan, tôn trọgn khách quan: xuất phát từ tính khách quan của vật chất,có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật

- Phát huy tính năng động chủ quan: phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động sáng tạo ấy

Câu 4: Trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.

Nguyên lý mối liên hệ phổ biến Nguyên lý về sự phát triểnKhái niệm - mối liên hệ: chỉ sự quy định, sự

tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới

- mối liên hệ phổ biến: chỉ tính phổ

biến của các mối liên hệ của các sự

vật, hiện tượng, chỉ các mối liên hệ

tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng

- quan điểm siêu hình: phát triển là sự tăng, giảm thuần túy về số

lượng,xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, ko trải qua những bước quanh co phức tạp

- quan điểm theo phép biện chứng: chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng kèm theo khuynh hướng

đi lên từ trình độ thấp đến cao, kém

Trang 6

- giữa các sự vật, hiện tượng của thế

giới vừa tồn tại những mối liên hệ

đặc thù, vừa có những mới liên hệ

phổ biến ở những phạm vi nhất định

hoàn thiện đến hoàn thiện hơn ( ko đồng nhất với khái niệm “vận động”) , là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, htg mới

Tính chất - tính khách quan: sự quy định, tác

động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng là cái vốn có của nó, tồn tại khách quan, con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn

- tính khách quan: biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển, là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật,hiện tượng,là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó → phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan

- tính phổ biến: ko có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập,cũng như ko có bất cứ sự vật, hiện tượng nào ko phải là

một cấu trúc hệ thống → bất cứ sự

tồn tại nào xũng là một hệ thống

- tính phổ biến: thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong mọi sự vật, hiện tượng, quá trình Trong quá trình biến đổi có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan

- tính đa dạng, phong phú: các sự

vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ

thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò

khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó nhưng cùng một mối liên hệ nhất định trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì

cũng có những tính chất và vai trò

khác nhau

- tính đa dạng, phong phú: phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng nhưng lại có quá trình phát triển ko hoàn toàn giống nhau, tồn tại ở những không gian và thời gian khác nhau nên sự vật, hiện tượng phát triển khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình thì sự vật, hiện tượng còn chịu nhiều sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác và sự tác động này có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển hoặc thụt lùi tạm thời

Trang 7

Ý nghĩa

phương pháp

luận

- từ tính khách quan và phổ biến thì

cần có quan điểm toàn diện: đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự

vật, hiện tượng trong mối quan hệ

biện chứng qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, các mặt của sự vật, hiện tượng và sự tác động qua lại giữa sự

vật, hiện tượng khác Trên cơ sở đó

có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn

- từ tính đa dạng phong phú thì cần kết hợp với quan điểm lịch sử – cụ

thể: trong việc nhận thức và xử lý

các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết trong thực tiễn, tránh và khắc phục những quan điểm phiến diện, siêu hình,quan điểm chiết trung,ngụy biện

- là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, trong nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển

- quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, đình trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển

- để nhận thức và giải quyết vấn đề, cần phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó, cần phải có quan điểm lịch sử – cụ thể trong nhận thức và giải quyêts vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó

- phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức và thực tiễn

Câu 5: Trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại

- Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và

ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Phương thức chung của các quá trình

đó là những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng và ngược lại, những sự thay đổi về lượng chất lại tao ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

1. Khái niệm chất, lượng

• Chất:

- Là một phạm trù của triết học, tồn tại khách quan

- Chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng

Trang 8

- Là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác

- Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng

- Chất của sự vật, hiện tượng đc xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành, bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng thông qua các mối liên hệ cụ thể

- Mỗi sự vật hiện tượng có nhiều chất

• Lượng

- Là một phạm trù của triết học, tồn tại khách quan

- Chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng, các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ,nhịp điệu của các quá trình vận động,phát triển của sự vật, hiện tượng

- Một sự vật, hiện tượng có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật, hiện tượng đó

2. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng, chúng tắc động lẫn nhau một cách biện chứng

- Sự thay đôi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất nhưng ko phải hoàn toàn

• Độ:

- Là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng

- Là một phạm trù triết học

- Chỉ tính quy định,mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng

• Điểm nút

- Là một phạm trù triết học

- Là giới hạn mà khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ dẫn đến những sự thay đổi về chất

• Bước nhảy

- Là một phạm trù triết học

- Là sự chuyển hóa tất yếu trong quấ trình phát triển của sự vật, hiện tượng

- Là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng

→ Ph.Angghen: “những thay đổi đơn thuần về lượng đến mức độ nhất định sẽ

chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”

- Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy, chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng

3. Ý nghĩa phương pháp luận

- Cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật, hiện tượng

Trang 9

- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất, đồng thời có thể phát duy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng.

- Trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh( hành động bất chấp quy luật,chủ quản, ko tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng trong thực hiện những bước nhảy liên tục về chất ), tư tưởng bảo thủ hữu khuynh(sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ko dám thực hiện bước nhảy mặc dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển đơn thuần là sự tiến hóa về lượng)

- Phải có sự vận dụng linh hoạt trong các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể; nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất

Câu 6: Trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật cơ bản và quan trọng nhất- hạt nhân của phép biện chứng duy vật Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận đông, phát triển.

a. Nội dung của quy luật

- Tất cả các sự vật hiện tượng đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau, tức những mặt đối lập trong sự tồn tại của nó Các mặt đối lập của sự vật vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: mặt đối lập, mâu thuẫn biện chứng, sự thống nhất của các mặt đối lập, đấu tranh của các mặt đối lập để diễn đạt mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật-tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của sự vật

- Mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:

 Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy mâu thuẫn biện chứng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển

 Sự phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với quá trình hình thành, phát triển và giải quyết mâu thuẫn Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập quy định sự thay đổi vào các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới, sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế

b. ý nghĩa phương pháp luận

- Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển của sự vật và là khách quan trong bản thân sự vật nên cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật bằng cách phân tích sự vật tìm ra các mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng

Trang 10

- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, biết phân loại mâu thuẫn và tìm ra cách giải quyết cụ thể đối với từng mâu thuẫn

- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn-phù hợp với từng loại mâu thuẫn, trình

độ phát triển mâu thuẫn Không được điều hòa mâu thuẫn Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi

Câu 7: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này.

a. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng

- Trong thế giới hiện tượng, vật chất các sự vật luôn luôn biến chuyển thay đổi, sinh ra, tồn tại và mất đi Sự vật cũ mất đi được thay bằng những sự vật, hiện tượng mới, sự thay thế

đó được gọi là sự phủ định Sự phủ định sự vật này là một quy trình tất yếu trong quá trình vận động và phát triển sự vật mà không phải phủ định là xoá bỏ hoàn toàn cái cũ như các nhà siêu hình học nhìn nhận

- Theo triết Mác, phủ định phải là phủ định biện chứng, tức là sự phủ định tạo tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, từ cái cũ thành cái mới, hoàn thiện, phức tạp và cao cấp hơn cái cũ Tuy nhiên, phủ định biện chứng là sự phủ định tự thân, từ sự phát triển tự thân nên phủ định biện chứng mang những đặc trưng cơ bản sau:

• Tính Khách Quan: các sự vật luôn luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển do sự đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn bên trong của các sự vật Từ đấu tranh các mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển không ngừng, do vậy, phủ định biện chứng luôn mang tính khách quan trong quá trình vận động và phát triển

• Tính Kế Thừa Phủ định là phát triển tự thân của sự vật nên nó không phải thủ tiêu cái cũ

mà là gạt bỏ những cái xấu, không tốt, lạc hậu để tiếp thu, chọn lọc những cái hay, cái đẹp khi hình thành cái mới Do vậy, cái mới đó được hình thành từ cơ sở chọn lọc của cái

cũ Cái mới là mới từ cái cũ và cái cũ là cũ của cái mới Giữa cái cũ và cái mới có mối liên hệ và khắng khít với nhau Đó chính là tính kế thừa của phép phủ định biện chứng

- Trong quá trình phủ định biện chứng, phủ định đồng thời cũng là khẳng định, phủ định mặt xấu, tiêu cực còn khẳng định những mặt tích cực, tốt đẹp Do vậy, cái mới có mặt là một phần tất yếu, xuất phát từ cái cũ nhưng khác chất cái cũ Và tất nhiên, quy trình phủ định biện chứng cần phải đảm bảo được ba điều kiện sau:1) Tính thời đại 2) Tính dân tộc 3) Tính mỹ thuật

b. Nội dung của quy luật phủ định của phủ định

- Trong quá trình vận động và phát triển, sự vật mới được ra đời trên cơ sở khẳng định và phủ định sự vật cũ Khi hai mặt mâu thuẫn đấu tranh với nhau mà vượt qua giới hạn độ thì sự vật mới ra đời, phủ định biện chứng có mặt Thế nhưng sự vật không dừng lại ở đó

mà nó lại tiếp tục đấu tranh giữa các mặt mâu thuẫn mới và một lần nữa cái mới đó bị cái mới hơn phủ định Quá trình phủ định hai lần đó được gọi là Phủ định của phủ định và từ đây “sự vật mới hoàn thành một chu kỳ phát triển”.[1]

Trang 11

- Quá trình phủ định cái phủ định của sự vật đó làm xuất hiện những sự vật mới là kết quả tổng hợp tất cả các yếu tố tích cực mới được bổ sung và từ những lần khẳng định và phủ định trước đó Quy luật phát triển liên tục, điểm kết thúc của chu kỳ này lại là điểm bắt đầu của một chu kỳ mới Do vậy, kết quả phủ định cái phủ định luôn luôn bao giờ cũng

có hình thức mới hơn, có nội dung toàn diện và phong phú hơn những cái ban đầu

- Tuy nhiên, sự tiến lên của sự vật không theo con đường thẳng tắp mà được diễn ra theo hình “xoắn ốc” Bởi “sự phát triển theo đường “xoắn ốc” là biểu thị sự rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên”.[2]

- Khi nghiên cứu về Quy luật phủ định của phủ định chúng ta không nên máy móc trong nhận thức Nghĩa là chúng ta không nên khăng khăng cho rằng sự vật, hiện tượng phải đủ hai lần phủ định mới hoàn thành một chu kỳ phát triển Thực ra, có nhiều sự phát triển còn cần nhiều hơn cả con số hai lần phủ định như thế, hai lần là con số tối thiểu, chẳng hạn quá trình biến đổi trứng thành con tằm Do vậy, trong vấn đề nhận thức quy luật này, chúng ta cần phải linh hoạt, không được máy móc Không nên lấy cái cố định để ràng buộc cái bất định, nếu làm như thế là đi sai với quy luật và đó là một sai lầm

c. Ý nghĩa phương pháp luận

Từ việc nghiên cứu quy luật phủ định của phủ định trên, chúng ta rút ra được một số ý nghĩa phương pháp luận sau:

- Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian

- Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi

đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó

- Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

Câu 8: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ này

a. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

Trong lịch sử triết học đã có 2 quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cái chung

và cái riêng:

- Phái duy vật cho rằng, “cái riêng” chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng mà còn sinh ra cái riêng Theo Platon, cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính tạm thời

Trang 12

- Phái duy tâm cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng, do tư tưởng con người bịa đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm

- Cả quan niệm của phái duy vật và phái duy tâm đều sai ở chỗ họ đã tách rời cái chung khỏi cái riêng, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng

- Phép biện chứng duy vật cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ:

 Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình Nghĩa là không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng

 Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Nghĩa là không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung

 Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, còn cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn vì cái chung phản ánh

những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại

Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng

 Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật Sở dĩ như vậy vì trong hiện thực cái mới bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ trở thành cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau nữa, khi không phù hợp với điều kiện mới mà bị dần mất đi và trở thành cái đơn nhất Như vậy sự chuyển hóa cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sư chuyển hóa cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định

b. Ý nghĩa phương pháp luận

- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng

- Cái chung là cái sâu sắc, bản chất chi phối cái riêng nên nhận thức nhằm nhìn ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để tạo ra cái riêng Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung(không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng Mặt khác, cái chung là biểu hiện thông qua cái riêng, nên khi áp dụng cái chung phải tùy theo cái riêng cụ thể để vận dụng cho thích hợp

- Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất’, nên trong hoạt động thực tiễn và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi thành “cái đơn nhất”

Trang 13

Câu 9: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ này.

a. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân phải có trước kết quả

- Một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định và mọi kết quả nhất định bao giờ cũng được sinh ra bởi nguyên nhân xác định, nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả do chúng gây ra càng khác nhau bấy nhiêu

- Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ phức tạp

 Thứ nhất: Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể

 Thứ hai: Cùng một kết quả có thể được gây ra bên những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng một lúc lên sự vật thì hiệu quả tác động của từng nguyên nhân với sự hình thành kết quả sẽ khác nhau tùy vào hướng tác động của nó

- Nếu nguyên nhân tác động lên sự vật cùng môi trường thì chúng sẽ gây lên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả Ngược lại nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên các sự vật theo hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí tiêu diệt hoàn toàn tác dụng của nhau

- Tác động trở lại của kết quả với nguyên nhân, kết quả có thể tạo được nguyên nhân Mối quan hệ nhân quả là một chuỗi sự nối tiếp giữa nguyên nhân và kết quả Không có

nguyên nhân đầu tiên và không có kết quả cuối cùng

- Trong những điều kiện nhất định nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau, trong mối quan hệ này là nguyên nhân và trong mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại

b. Ý nghĩa phương pháp luận

- Tính nhân quả là tính khách quan và là quy luật con người có thể nhận thức, vận dụng nó

để đạt được mục đích của mình, tạo điều kiện cho nguyên nhân đi đến kết quả và ngược lại, đồng thời hạn chế hoặc tiêu diệt những nguyên nhân, những điều kiện sinh ra hiện tượng xấu

- Cải tạo sự vật hay xóa bỏ sự vật chính là cải tạo hay xóa bỏ nguyên nhân sinh ra nó

- Mỗi sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có

vị trí rất khác nhau trong việc hình thành kết quả Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng

ta cần phải phân loại, xác định vai trò,vị trí của từng loại nguyên nhân để có những biện pháp giải quyết đúng đắn

- Tìm nguyên nhân xuất hiện cùa một hiện tượng nào đó, phải tìm trong chính hiện tượng

đó và phải tìm những sự tác động của các mặt, các mối liên hệ trước đó

Câu 10: Trình bày quan niệm của triết học Mác – Lê nin về bản chất của nhận thức,

về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Ý nghĩa phương pháp luận

về vấn đề này.

a. Quan điểm của triết học Mác - Lê nin về bản chất của nhận thức:

Trang 14

Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sang tạo thế giới khách quan

vào bộ óc của con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sang tạo ra những tri thức về thế giới khách quan Quan điểm về nhận thức của duy vật biện chúng được xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản:

- Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập, khách quan với ý thức của con người

- Thừa nhận khả năng nhận thức của con người là vô hạn

- Nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo

- Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp của nhận thức

Nhận thức là một quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác, sáng tạo thế giới

khách quan vào đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn

b. Thực tiễn:

Chân lý là những tri thức đúng đắn phù hợp với hiện tượng khách quan và được thực tiễn kiểm định Thực tiễn là cơ sở, muc đích của chân lý, là tiêu chuẩn của chân lý

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con

người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội

Thực tiễn biểu diễn dưới nhiều hình thức song có thể quy về 3 hình thức cơ bản:

- Hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở của tất cả các hình thức khác Đây là hoat động con

người sử dụng công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất

- Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động cộng đồng người, các tổ chức khác nhằm cải

biến những quan hệ chính trị - xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển

- Hoạt động quan sát và thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động

thực tiễn

Trong 3 hình thức hoạt động thì hđ SXVC là hđ cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại

và phát triển của xã hội loài người trong mọi thời kỳ lịch sử, nó có vai trò quyết định đối với các hđ khác song giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau HĐ CT –

XH & thực nghiệm KH có tác dụng kìm hãm hoặc thúc đẩy hđ sản xuất vật chất phát

triển

c. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

- Thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức

+ Nhờ có hoạt động thực tiễn mà các sự vật, hiện tượng mới bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ đem lại tài liệu về hiện tượng khách quan cho nhận thức Cho nên thực tiễn là cơ sở của nhận thức

+ Thực tiễn là điểm xuất phát của nhận thức, chính những đòi hỏi của thực tiễn đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ, cách thức, phương hướng của nhận thức

- Thực tiễn làm cơ quan cảm giác con người ngày càng hoàn thiện, năng lực tư duy lô gic không ngừng được củng cố và phát triển

- Thực tiễn tạo ra phương tiện làm cho nhận thức ngày càng mở rộng,hiện đại,có tác dụng

“nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới

- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức Thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt trong nhận thức Nhận thức phải trải qua nhận thức mới xét được quan niêm đúng hay sai

Ngày đăng: 09/10/2016, 08:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w