1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU LẬP PHÂN TÍCH DỰ ÁN (CHƯƠNG 345)

23 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 310,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.4.1 Mục đích, vai trò và yêu cầu của phân tích tài chính a. Mục đích của phân tích tài chính trong dự án môi trường Phân tích tài chính là một nội dung kinh tế quan trọng trong quá trình soạn thảo dự án. Phân tích tài chính nhằm đánh giá tính khả thi của dự án về mặt tài chính thông qua việc: Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu quả dự án đầu tư (xác định quy mô đầu tư, cơ cấu các loại vốn, các nguồn tài trợ cho dự án). Dự tính các khoản chi phí, lợi ích và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ hạch toán kinh tế của đơn vị thực hiện dự án. Có nghĩa là xem xét những chi phí sẽ phải thực hiện kể từ khi soạn thảo cho đến khi kết thúc dự án, xem xét những lợi ích mà đơn vị thực hiện dự án sẽ thu được do thực hiện dự án. Trên cơ sở đó xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án. Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đầu tư: điều này được thể hiện: + An toàn về nguồn vốn huy động + An toàn về khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn và khả năng trả nợ + An toàn cho các kết quả tính toán hay nói một cách khác là xem xét tính chắc chắn của các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án khi các yếu tố khách quan tác động theo hướng không có lợi. b. Vai trò của phân tích tài chính trong dự án môi trường Phân tích tài chính có vai trò quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư mà còn đối với các cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư của Nhà nước, các cơ quan tài trợ vốn cho dự án. + Đối với chủ đầu tư Phân tích tài chính cung cấp các thông tin cần thiết để chủ đầu tư đưa ra quyết định có nên đầu tư không vì mục tiêu của các tổ chức và các cá nhân đầu tư là việc lựa chọn đầu tư vào đâu để đem lại lợi nhuận thích đáng nhất. Ngay cả đối với các tổ chức kinh doanh phi lợi nhuận, phân tích tài chính cũng là một trong những nội dung được quan tâm. Các tổ chức này cũng muốn chọn những giải pháp thuận lợi dựa trên cơ sở chi phí tài chính rẻ nhất nhằm đạt được mục tiêu cơ bản của mình. + Đối với các cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư của Nhà nước Phân tích tài chính là một trong những căn cứ để các cơ quan này xem xét cho phép đầu tư đối với các dự án sử dụng nguồn vốn của nhà nước. + Đối với các cơ quan tài trợ vốn cho dự án Phân tích tài chính là căn cứ quan trọng để quyết định tài trợ vốn cho dự án. Dự án chỉ có khả năng trả nợ khi dự án đó phải được đánh giá là khả thi về mặt tài chính. Có nghĩa là dự án đó phải đạt được hiệu quả tài chính và có độ an toàn cao về mặt tài chính. + Phân tích tài chính còn là cơ sở để tiến hành phân tích khía cạnh kinh tế xã hội Cả hai nội dung phân tích trên đều phải dựa trên việc so sánh các lợi ích thu được và các khoản chi phí phải bỏ ra. Song phân tích tài chính chỉ tính đến những chi phí và lợi ích sát thực đối với các cá nhân và tổ chức đầu tư. Còn phân tích kinh tế xã hội, các khoản chi phí à lợi ích được xem xét trên giác độ nền kinh tế, xã hội. Do đó dựa trên những chi phí và lợi ích trong phân tích tài chính tiến hành điều chỉnh để phản ánh những chi phí cúng như những lợi ích mà nền kinh tế và xã hội phải bỏ ra hay thu được. c. Yêu cầu của phân tích tài chính Để thực hiện được mục đích và phát huy được vai trò của phân tích tài chính, yêu cầu đặt ra trong phân tích tài chính là: Nguồn số liệu phải đầy đủ và đảm bảo độ tin cậy cao Phải sử dụng phương pháp phân tích phù hợp và hệ thống các chỉ tiêu phải phản ánh đầy đủ các khía cạnh tài chính của dự án. Phải đưa ra được nhiều phương án và từ đó chọn ra một phương án tối ưu. Kết quả của quá trình phân tích này là căn cứ để chủ đầu tư quyết định có nên đầu tư hay không? Ngoài ra phân tích tài chính còn là căn cứ để phân tích các chỉ tiêu kinh tế xã hội. 3.5 Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư 3.5.1 Khái niệm và các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư a. Khái niệm Phân tích khía cạnh kinh tế xã hội của dự án đầu tư là việc so sánh, đánh giá một cách có hệ thống giữa những chi phí và các lợi ích của dự án trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế và toàn bộ xã hội. Phân tích kinh tế xã hội của dự án nhằm xác định sự đóng góp của dự án vào các mục tiêu phát triển cơ bản của nền kinh tế và phúc lợi của đất nước. Để nói lên hiệu quả của lợi ích kinh tế xã hội mà dự án mang lại, cần phải tiến hành so sánh giữa lợi ích mà nền kinh tế và toàn bộ xã hội thu được với những chi phí xã hội đã bỏ ra hay là sự đóng góp của xã hội khi thực hiện dự án. Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đối với việc thực hiện các mục tiêu chung của nền kinh tế và của xã hội. Những sự đáp ứng này có thể được xem xét mang tính chất định tính như đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phục vụ thực hiện các chủ trương chính sách của nhà nước, góp phần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môi sinh… hoặc đo lường bằng các tính toán định lượng như mức tăng thu cho ngân sách, mức gia tăng số người có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ hay giá trị sản phẩm gia tăng thuần túy. Chi phí mà xã hội phải gánh chịu khi một công cuộc đầu tư được thực hiện bao gồm toàn bộ các tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động mà xã hội dành cho đầu tư thay vì sử dụng vào các công việc khác trong tương lai không xa. Như vậy lợi ích kinh tế xã hội của dự án đầu tư chính là kết quả so sánh ( có mục đích) giữa cái mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của minh cho dự án và lợi ích do dự án tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế (chứ không chỉ riêng cho một cơ sở sản xuất kinh doanh). Sự cần thiết phải xem xét khía cạnh kinh tế xã hội của dự án đầu tư Phân tích kinh tế xã hội của dự án đầu tư là một trong những nội dung trong quá trình lập và thẩm định dự án đầu tư. Việc phân tích này có tác dụng không chỉ đối với nhà đầu tư mà còn có ý nghĩa đối với cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, đối với các định chế tài chính. Đối với các nhà đầu tư: phân tích khía cạnh kinh tế xã hội là căn cứ chủ yếu để nhà đầu tư thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục các định chế tài chính ( ngân hàng, các cơ quan viện trợ song phương và đa phương) tài trợ vốn. Đối với nhà nước: đây là một căn cứ quan trọng để quyết định cho phép đầu tư. Đối với các nhà đầu tư, mục tiêu chủ yếu của họ là lợi nhuận. Khả năng sinh lợi cho một dự án nào đó mang lại chính là thước đo chủ yếu và là động lực thúc đẩy bỏ vốn của nhà đầu tư. Song đối với nhà nước, trên phương diện của một quốc gia thi lợi ích kinh tế xã hội mà dự án mang lại chính là căn cứ để xem xét và cho phép đầu tư. Một dự án sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn nếu nó thực sự có đóng góp cho nền kinh tế và xã hội cũng như nó đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đối với các định chế tài chính : phân tích khía cạnh kinh tế xã hội của dự án cũng là căn cứ chủ yếu để họ quyết định có tài trợ vốn hay không. Bất kỳ dự án đầu tư phát triển nào muốn tìm đến sự tài trợ của các định chế tài chính quốc gia cũng như các định chế tài chính quốc tế (như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á…) thì đòi hỏi đầu tiên là phải chứng minh được một cách chắc chắn dự án sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế và xã hội. Nếu không chứng minh đươc các lợi ích kinh tế xã hội thì họ sẽ không tài trợ b. Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án Các chỉ tiêu về lợi ích, hiệu quả kinh tế xã hội thể hiện và cụ thể hóa các ý đồ và mục tiêu phát triển hoặc định hướng phát triển nền kinh tế của đất nước. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội có tính lịch sử. Tùy thuộc vào mục tiêu và các định hướng chiến lược mà các tiêu chuẩn đánh giá có thể khác nhau giữa các thời kỳ. Về cơ bản, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội phải đảm bảo rằng khi một công cuộc đầu tư chứng minh được rằng sẽ đem lại cho xã hội một lợi ích lớn hơn cái giá mà xã hội phải trả đồng thời đáp ứng được những mục tiêu cơ bản trong giai đoạn phát triển nhất định thì dự án mới xứng đáng được hưởng những ưu đãi mà nền kinh tế dành cho nó. Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tăng trưởng kinh tế và tối đa hóa phúc lợi. Vì vậy, một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội thường được xác định thông qua việc đánh giá khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêu này. Hầu hết các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội đều được xác định thông qua các mục tiêu cụ thể biểu hiện trong các chủ trương chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Các kế hoạch dài hạn đề ra phương hướng chỉ đạo mục tiêu phải đạt được trong thời gian 10 năm trở lên. Các kế hoạch trung gian nêu lên những bước đi tương đối cụ thể trong thời gian từ 5 – 10 năm. Các kế hoạch hay chương trình kinh tế ngắn hạn 2 – 3 năm nhằm điều chỉnh kịp thời các sai lệch cũng như bổ sung những khiếm khuyết phát hiện trong quá trình thực hiện kế hoạch. Tại Việt Nam, căn cứ vào mục tiêu có tính chiến lược trong giai đoạn hiện nay là nhằm phấn đấu đạt được “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, tiêu chuẩn đánh giá lợi ích về mặt kinh tế xã hội của dự án đầu tư phải được thể hiện qua: + Mức độ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của dân cư được thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích lũy vốn, tốc độ phát triển. + Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của công cuộc đầu tư vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư. + Gia tăng số lao động có việc làm. Đây là một trong những mục tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội các nước thừa lao động, thiếu việc làm. + Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ. Những nước đang phát triển thường không chỉ nghèo mà còn là các nước nhập siêu. Do đó đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu là những mục tiêu quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân của những nước này. + Các tiêu chuẩn đánh giá khác có thể là: Tăng thu cho ngân sách Tận dụng hay khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới phát hiện Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác. Phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương nghèo, các vùng xa xôi, dân cư thưa thớt nhưng có nhiều triển vọng về tài nguyên để phát triển kinh tế.

Trang 1

LẬP PHÂN TÍCH DỰ ÁN (CHƯƠNG 345)

3.4 Phân tích tài chính dự án môi trường

3.4.1 Mục đích, vai trò và yêu cầu của phân tích tài chính

a Mục đích của phân tích tài chính trong dự án môi trường

Phân tích tài chính là một nội dung kinh tế quan trọng trong quá trình soạn thảo dự án Phântích tài chính nhằm đánh giá tính khả thi của dự án về mặt tài chính thông qua việc:

- Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu quả dự

án đầu tư (xác định quy mô đầu tư, cơ cấu các loại vốn, các nguồn tài trợ cho dự án)

- Dự tính các khoản chi phí, lợi ích và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ hạch toánkinh tế của đơn vị thực hiện dự án Có nghĩa là xem xét những chi phí sẽ phải thực hiện kể

từ khi soạn thảo cho đến khi kết thúc dự án, xem xét những lợi ích mà đơn vị thực hiện dự

án sẽ thu được do thực hiện dự án Trên cơ sở đó xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tàichính của dự án

- Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đầu tư: điều này được thể hiện:

+ An toàn về nguồn vốn huy động

+ An toàn về khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn và khả năng trả nợ

+ An toàn cho các kết quả tính toán hay nói một cách khác là xem xét tính chắc chắn củacác chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án khi các yếu tố khách quan tác động theo hướng không

có lợi

b Vai trò của phân tích tài chính trong dự án môi trường

Phân tích tài chính có vai trò quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư mà còn đối với các cơquan có thẩm quyền quyết định đầu tư của Nhà nước, các cơ quan tài trợ vốn cho dự án.+ Đối với chủ đầu tư

Phân tích tài chính cung cấp các thông tin cần thiết để chủ đầu tư đưa ra quyết định có nênđầu tư không vì mục tiêu của các tổ chức và các cá nhân đầu tư là việc lựa chọn đầu tư vàođâu để đem lại lợi nhuận thích đáng nhất Ngay cả đối với các tổ chức kinh doanh phi lợinhuận, phân tích tài chính cũng là một trong những nội dung được quan tâm Các tổ chứcnày cũng muốn chọn những giải pháp thuận lợi dựa trên cơ sở chi phí tài chính rẻ nhất nhằmđạt được mục tiêu cơ bản của mình

+ Đối với các cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư của Nhà nước

Phân tích tài chính là một trong những căn cứ để các cơ quan này xem xét cho phép đầu tưđối với các dự án sử dụng nguồn vốn của nhà nước

+ Đối với các cơ quan tài trợ vốn cho dự án

Phân tích tài chính là căn cứ quan trọng để quyết định tài trợ vốn cho dự án Dự án chỉ cókhả năng trả nợ khi dự án đó phải được đánh giá là khả thi về mặt tài chính Có nghĩa là dự

án đó phải đạt được hiệu quả tài chính và có độ an toàn cao về mặt tài chính

+ Phân tích tài chính còn là cơ sở để tiến hành phân tích khía cạnh kinh tế - xã hội

Cả hai nội dung phân tích trên đều phải dựa trên việc so sánh các lợi ích thu được và cáckhoản chi phí phải bỏ ra Song phân tích tài chính chỉ tính đến những chi phí và lợi ích sátthực đối với các cá nhân và tổ chức đầu tư Còn phân tích kinh tế xã hội, các khoản chi phí àlợi ích được xem xét trên giác độ nền kinh tế, xã hội Do đó dựa trên những chi phí và lợiích trong phân tích tài chính tiến hành điều chỉnh để phản ánh những chi phí cúng nhưnhững lợi ích mà nền kinh tế và xã hội phải bỏ ra hay thu được

c Yêu cầu của phân tích tài chính

Để thực hiện được mục đích và phát huy được vai trò của phân tích tài chính, yêu cầu

Trang 2

- Phải sử dụng phương pháp phân tích phù hợp và hệ thống các chỉ tiêu phải phản ánhđầy đủ các khía cạnh tài chính của dự án

- Phải đưa ra được nhiều phương án và từ đó chọn ra một phương án tối ưu

Kết quả của quá trình phân tích này là căn cứ để chủ đầu tư quyết định có nên đầu tưhay không? Ngoài ra phân tích tài chính còn là căn cứ để phân tích các chỉ tiêu kinh tế xãhội

3.5 Phân tích hiệu quả kinh tế xã - hội của dự án đầu tư

3.5.1 Khái niệm và các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư

a Khái niệm

Phân tích khía cạnh kinh tế xã hội của dự án đầu tư là việc so sánh, đánh giá một cách có hệthống giữa những chi phí và các lợi ích của dự án trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế vàtoàn bộ xã hội

Phân tích kinh tế - xã hội của dự án nhằm xác định sự đóng góp của dự án vào các mục tiêuphát triển cơ bản của nền kinh tế và phúc lợi của đất nước Để nói lên hiệu quả của lợi íchkinh tế xã hội mà dự án mang lại, cần phải tiến hành so sánh giữa lợi ích mà nền kinh tế vàtoàn bộ xã hội thu được với những chi phí xã hội đã bỏ ra hay là sự đóng góp của xã hội khithực hiện dự án

Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đối với việc thực hiện cácmục tiêu chung của nền kinh tế và của xã hội Những sự đáp ứng này có thể được xem xétmang tính chất định tính như đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phục vụ thực hiện cácchủ trương chính sách của nhà nước, góp phần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môisinh… hoặc đo lường bằng các tính toán định lượng như mức tăng thu cho ngân sách, mứcgia tăng số người có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ hay giá trị sản phẩm gia tăng thuần túy.Chi phí mà xã hội phải gánh chịu khi một công cuộc đầu tư được thực hiện bao gồm toàn bộcác tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động mà xã hội dành cho đầu tư thay vì

sử dụng vào các công việc khác trong tương lai không xa

Như vậy lợi ích kinh tế xã hội của dự án đầu tư chính là kết quả so sánh ( có mục đích) giữacái mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của minh cho dự án và lợi ích

do dự án tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế (chứ không chỉ riêng cho một cơ sở sản xuất kinhdoanh)

Sự cần thiết phải xem xét khía cạnh kinh tế xã hội của dự án đầu tư

Phân tích kinh tế - xã hội của dự án đầu tư là một trong những nội dung trong quá trình lập

và thẩm định dự án đầu tư Việc phân tích này có tác dụng không chỉ đối với nhà đầu tư màcòn có ý nghĩa đối với cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, đối với các định chế tài chính Đối với các nhà đầu tư: phân tích khía cạnh kinh tế xã hội là căn cứ chủ yếu để nhà đầu tưthuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục các định chế tàichính ( ngân hàng, các cơ quan viện trợ song phương và đa phương) tài trợ vốn

Đối với nhà nước: đây là một căn cứ quan trọng để quyết định cho phép đầu tư Đối với cácnhà đầu tư, mục tiêu chủ yếu của họ là lợi nhuận Khả năng sinh lợi cho một dự án nào đómang lại chính là thước đo chủ yếu và là động lực thúc đẩy bỏ vốn của nhà đầu tư Song đốivới nhà nước, trên phương diện của một quốc gia thi lợi ích kinh tế xã hội mà dự án manglại chính là căn cứ để xem xét và cho phép đầu tư Một dự án sẽ dễ dàng được chấp nhậnhơn nếu nó thực sự có đóng góp cho nền kinh tế và xã hội cũng như nó đáp ứng được cácyêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Đối với các định chế tài chính : phân tích khía cạnh kinh tế - xã hội của dự án cũng là căn

cứ chủ yếu để họ quyết định có tài trợ vốn hay không Bất kỳ dự án đầu tư phát triển nàomuốn tìm đến sự tài trợ của các định chế tài chính quốc gia cũng như các định chế tài chínhquốc tế (như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á…) thì đòi hỏi đầu tiên là

Trang 3

phải chứng minh được một cách chắc chắn dự án sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế và xãhội Nếu không chứng minh đươc các lợi ích kinh tế xã hội thì họ sẽ không tài trợ

b Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án

Các chỉ tiêu về lợi ích, hiệu quả kinh tế xã hội thể hiện và cụ thể hóa các ý đồ và mụctiêu phát triển hoặc định hướng phát triển nền kinh tế của đất nước Tiêu chuẩn đánh giáhiệu quả kinh tế xã hội có tính lịch sử Tùy thuộc vào mục tiêu và các định hướng chiếnlược mà các tiêu chuẩn đánh giá có thể khác nhau giữa các thời kỳ Về cơ bản, tiêu chuẩnđánh giá hiệu quả kinh tế xã hội phải đảm bảo rằng khi một công cuộc đầu tư chứng minhđược rằng sẽ đem lại cho xã hội một lợi ích lớn hơn cái giá mà xã hội phải trả đồng thời đápứng được những mục tiêu cơ bản trong giai đoạn phát triển nhất định thì dự án mới xứngđáng được hưởng những ưu đãi mà nền kinh tế dành cho nó

Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tăng trưởng kinh tế và tối

đa hóa phúc lợi Vì vậy, một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá hiệu quả kinh tế xãhội thường được xác định thông qua việc đánh giá khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêunày

Hầu hết các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội đều được xác định thông qua cácmục tiêu cụ thể biểu hiện trong các chủ trương chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế xãhội của đất nước Các kế hoạch dài hạn đề ra phương hướng chỉ đạo mục tiêu phải đạt đượctrong thời gian 10 năm trở lên Các kế hoạch trung gian nêu lên những bước đi tương đối cụthể trong thời gian từ 5 – 10 năm Các kế hoạch hay chương trình kinh tế ngắn hạn 2 – 3năm nhằm điều chỉnh kịp thời các sai lệch cũng như bổ sung những khiếm khuyết phát hiệntrong quá trình thực hiện kế hoạch

Tại Việt Nam, căn cứ vào mục tiêu có tính chiến lược trong giai đoạn hiện nay là nhằmphấn đấu đạt được “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, tiêu chuẩn đánh giálợi ích về mặt kinh tế xã hội của dự án đầu tư phải được thể hiện qua:

+ Mức độ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của dân cư được thể hiệngián tiếp qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích lũyvốn, tốc độ phát triển

+ Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của công cuộc đầu tư vào việc phát triểncác vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư

+ Gia tăng số lao động có việc làm Đây là một trong những mục tiêu chủ yếu của chiếnlược phát triển kinh tế xã hội các nước thừa lao động, thiếu việc làm

+ Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ Những nước đang phát triển thường không chỉ nghèo màcòn là các nước nhập siêu Do đó đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu là những mụctiêu quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân của những nước này

+ Các tiêu chuẩn đánh giá khác có thể là:

- Tăng thu cho ngân sách

- Tận dụng hay khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới phát hiện

- Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng dây chuyền thúc đẩyphát triển các ngành nghề khác

- Phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương nghèo, các vùng xa xôi, dân cư thưa thớt nhưng

có nhiều triển vọng về tài nguyên để phát triển kinh tế

Trang 4

CHƯƠNG 4 THẨM ĐỊNH VÀ PHÊ DUYỆT DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG

4.1 Khái niệm và mục đích của thẩm định và phê duyệt dự án

4.1.1 Khái niệm

Thẩm định dự án là việc tổ chức xem xét một cách khách quan có khoa học và toàn diện cácnội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án Từ đó có quyết định đầu tư

và cho phép đầu tư

Đây là một quá trình kiểm tra đánh giá nội dung dự án một cách độc lập cách biệt với quátrình soạn thảo dự án Thẩm định dự án tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệuquả Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền củanhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư

Sự cần thiết phải thẩm định dự án:

- Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư bắt đầu từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đốivới các hoạt động đầu tư Nhà nước với chức năng công quyền của mình sẽ can thiệp vàoquá trình lựa chọn dự án đầu tư Tất cả các dự án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn, mọi thànhphần kinh tế đều phải đóng góp vào lợi ích kinh tế chung của đất nước Bởi vậy, trước khi raquyết định đầu tư hay cho phép đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cần biếtxem dự án có góp phần đạt được mục tiêu của quốc gia hay không? Nếu có thì băng cáchnào và đến mức độ nào? Việc xem xét này được coi là thẩm định dự án

- Một dự án dù được tiến hành soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng mang tính chủ quan củangười soạn thảo Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan của dự án, cần thiết phải thẩm định.Người soạn thảo thường đứng trên góc độ hẹp để nhìn nhận các vấn đề của dự án Các nhàthẩm định thường có cách nhìn rộng hơn trong việc đánh giá dự án Họ xuất phát từ lợi íchchung của toàn xã hội, của cả cộng đồng để xem xét các lợi ích kinh tế xã hội mà dự án đemlại

- Mặt khác, khi soạn thảo dự án có thể có những sai sót, các ý kiến có thể mâu thuẫn, khônglôgic, thậm chí có những câu văn, những chữ dùng sơ hở gây ra những tranh chấp giữa cácđối tác tham gia đầu tư Thẩm định dự án sẽ phát hiện và sửa chữa được những sai sót đó

4.1.2 Mục đích của thẩm định và phê duyệt dự án

- Đánh giá tính hợp lý của dự án: tính hợp lý của dự án được biểu hiện một cách tổng hợp(trong tính hiệu quả và tính khả thi) và được biểu hiện ở từng nội dung và cách thức tínhtoán của dự án

- Đánh giá tính hiệu quả của dự án: tính hiệu quả của dự án được xem xét trên 2 phươngdiện : hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án

- Đánh giá tính khả thi của dự án: đây là mục đích hết sức quan trọng trong thẩm định dự

án Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi Tất nhiên hợp lý và hiệu quả làhai điều kiện quan trọng để dự án có tính khả thi Nhưng tính khả thi còn phải xem xét vớinội dung và phạm vi rộng hơn của dự án ( xem xét các kế hoạch tổ chức thực hiện, môitrường pháp lý của dự án…)

Ba mục đích trên đồng thời cũng là những yêu cầu chung đối với mọi dự án đầu tư Một dự

án muốn được đầu tư hoặc được tài trợ vốn thì dự án đó phải đảm bảo được các yêu cầutrên Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của việc thẩm định dự án còn tùy thuộc vào chủ thểthậm định dự án

- Các chủ đầu tư trong và ngoài nước thẩm định dự án khả thi để đưa ra quyết định đầutư

- Các định chế tài chính (ngân hàng, tổng cục đầu tư và phát triển.v.v ) thẩm định dự ánkhả thi để tài trợ hoặc cho vay vốn

Trang 5

- Các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước (Bộ kế hoạch và đầu tư, bộ và các cơ quanngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố…) thẩm định dự án khả thi để ra quyết định chophép đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư.

- Với các thành phần kinh tế khác: giấy phép hoạt động, cơ quan cấp giấy phép hoạtđộng, người đại diện chính thức, chức vụ người đại diện chính thức, vốn pháp định, giấychứng nhận về khả năng tài chính do ngân hàng mở tài khoản cấp và địa chỉ, điện thoại

- Với công ty nước ngoài: giấy phép hoạt động, cơ quan cấp giấy phép hoạt động, ngườiđại diện chính thức, chức vụ người đại diện chính thức, vốn pháp định, giấy chứng nhận vềkhả năng tài chính do ngân hàng mở tài khoản cấp và địa chỉ, điện thoại, sở trường kinhdoanh…

Ngoài ra cũng cần thẩm định các văn bản pháp lý khác nhau như các văn bản liên quan đếnđịa điểm; lien quan đến phần vốn góp của các bên và các văn bản nêu ý kiến của các cấpchính quyền, ngành chủ quản đối với dự án đầu tư

4.2.2 Thẩm định về mục tiêu của dự án

- Mục tiêu của dự án có phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế chung haytừng vùng không?

- Có thuộc những ngành nghề Nhà nước cho phép hay không?

- Có thuộc diện ưu tiên hay không?

- Đối với các sản phẩm thông thường thứ tự ưu tiên: sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm thay thếnhập khẩu, sản phẩm để tiêu dùng trong nước

- Kiểm tra các phép tính toán

- Xem xét kỹ những phần liên quan đến nhập khẩu, như công nghệ thiết bị vật tư, kể cảnhân lực Những yếu tố nhập khẩu do lượng thông tin không đầy đủ hoặc thiếu kinhnghiệm các nhà soạn thảo thường dễ bị sơ hở, nhất là giá cả, do đó cần kiểm tra kỹ

- Tỷ lệ vật liệu trong nước càng cao càng tốt Không được nhập 100% Nếu cần thì tổ chứcsản xuất, gia công trong nước

- Thẩm tra địa điểm từ các văn bản pháp lý đến địa điểm cụ thể Đặc biệt quan tâm đến ảnhhưởng đối với môi trường và trước hết không được mâu thuẫn đối với quy hoạch

- Tính phủ hợp của công nghệ, thiết bị đối với dự án, đối với điều kiện nước ta, khả năngphát triển trong tương lai, tỉ lệ phụ tùng thay thế, điều kiện vận hành, bảo trì

- Việc thẩm định kỹ thuật công nghệ phải có ý kiến của chuyên ngành kỹ thuật trên nhữngvấn đề phức tạp từ những vấn đề về kỹ thuật như quy trình quy phạm đến các vấn đề kỹthuật cụ thể, kể cả thẩm định các khoản chi phí, dự toán, đối chiếu với các công trình tương

Trang 6

Nếu có chuyển giao công nghệ thì phải đối chiếu với Pháp lệnh chuyển giao công nghệ vàcác văn bản liên quan.

4.2.4 Thẩm định về tài chính

- Kiểm tra các phép tính toán

- Kiểm tra tổng vốn, cơ cấu các loại vốn

- Kiểm tra độ an toàn về tài chính Dự án đầu tư được xem là an toàn về mặt tài chính nếuthỏa mãn các điều kiện:

* Tỷ lệ vốn riêng/ vốn đầu tư > 0,5, tức là tỷ lệ vốn riêng/ vốn vay dài hạn > 50/50 Một sốnước, với những chủ đầu tư đã có uy tín, tỷ lệ này có thể thấp hơn, bằng 33/67 hoặc thậmchí 25/75 Đối với nước ta hiện nay, để thận trọng về mặt tài chính, tỷ lệ này lấy không nhỏhơn 50/50

* Khả năng trả nợ vay dài hạn không được thấp hơn 1,4 – 3 Thông thường, khả năng trả nợngày càng tăng vì trong nhiều dự án thu nhập ngày càng tăng, trong khi đó hàng năm đều cóhoàn trả làm cho nghĩa vụ hoàn trả ngày càng giảm

* Điểm hòa vốn trả nợ < 60 – 70%

- Kiểm tra các chỉ tiêu hiệu quả:

* Thời gian hoàn vốn T: đối với các dự án dịch vụ, đầu tư theo chiều sâu lấy T ≤ 5 năm; vớicác công trình hạ tầng T ≤ 10 – 15 năm, cá biệt có thể lớn hơn

* Tỷ suất lợi nhuận không được thấp hơn lãi suất vay Thông thường không nhỏ hơn 15%

và tất nhiên càng lớn càng tốt

* Vòng quay vốn lưu động không được thấp hơn 2 – 3 lần trong 1 năm, bình thường 4 – 5lần và có dự án lên đến 10 lần

* Mức hoạt động hòa vốn vào khoảng 40 – 50% là hợp lý, không nên lớn hơn

* Giá trị hiện tại ròng (NPV) càng lớn càng tốt, nhưng nhất thiết phải lớn hơn 0 Chỉ tiêuNPV thường dùng để loại bỏ vòng 1

* Suất thu hồi nội bộ (IRR) phải lớn hơn lãi suất vay và càng lớn càng tốt Chỉ tiêu nàythường dùng để loại bỏ vòng 2, thường phải lớn hơn 15%

* Tỷ lệ lợi ích trên chi phí (B/C) phải lớn hơn 1 và càng lớn càng tốt

4.2.5 Thẩm định về kinh tế - xã hội

Ngoài việc xác định tính phù hợp của mục tiêu dự án đầu tư đối với phương hướng pháttriển kinh tế quốc dân, thứ tự ưu tiên, tác dụng của dự án đối với phát triển các ngành khác,còn phải thẩm tra, đối chiếu với các chỉ tiêu kinh tế xã hội Những chỉ tiêu này gồm:

- Giá trị gia tăng thu nhập quốc dân Giá trị này càng lớn càng tốt

- Tỷ lệ giá trị gia tăng/ vốn đầu tư tính bằng % nói chung phải đạt hai con số

4.2.6 Thẩm định về môi trường sinh thái

Đây là một nội dung quan trọng cần thẩm định kỹ Việc thẩm định phải xem xét một cáchtoàn diện những ảnh hưởng đối với môi trường, nhất là những ảnh hưởng xấu Cụ thể:

- Những ảnh hưởng làm thay đổi môi trường sinh thái

- Gây ô nhiễm môi trường, mức độ ô nhiễm

- Biện pháp xử lý

- Kết quả sau xử lý

Các tiêu chuẩn về môi trường đã được Nhà nước quy định cụ thể bằng các văn bản pháp lý,

kể cả phương pháp, thiết bị, đo đạc Việc thẩm định tiến hành bằng cách so sánh các chỉ tiêu

Trang 7

thực tế của dự án đầu tư về tiếng ồn, độ rung, nhiệt độ, độ bẩn trong không khí, trongnước… với các tiêu chuẩn của nhà nước Nếu vi phạm tiêu chuẩn thì dự án phải có biệnpháp khắc phục Trong trường hợp cần thiết có thể tham khảo thêm tiêu chuẩn tương tự củacác nước.

4.3 Phê duyệt dự án

4.3.1 Thẩm quyền phê duyệt dự án môi trường

Sau khi thẩm định các nội dung về:

- Cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học và thực tiễn, mức độ tin cậy của các thông tin dữ liệu đểlập dự án chuyên môn

- Sự phù hợp với chiến lược phát triển ngành hoặc lĩnh vực, quy hoạch, kế hoạch 5 năm của

Bộ, chương trình công tác của Quốc hội, Chính phủ và các văn bản chỉ đạo khác

- Sự phù hợp của thiết kế kỹ thuật, giải pháp công nghệ đề xuất với quy trình, quy phạm,quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật theo từng ngành, lĩnh vực được cấp có thẩmquyền ban hành

- Sự phù hợp của nội dung nhiệm vụ, khối lượng công việc với tiến độ thực hiện và khảnăng đáp ứng về trang thiết bị kỹ thuật, nguồn nhân lực của đơn vị chủ trì và tham gia thựchiện dự án chuyên môn; hoặc sự cần thiết phải mua sắm máy móc - thiết bị và hợp tác quốc

tế (đoàn ra, đoàn vào) (nếu có)

- Sự phù hợp của cơ sở lập dự toán, đơn giá sản phẩm sử dụng để tính dự toán kinh phí thựchiện dự án chuyên môn so với quy định của chế độ tài chính hiện hành; tính hợp lý của tổngmức dự toán dự án chuyên môn, phân kỳ kinh phí thực hiện

Thì các đơn vị chức năng sau sẽ có thẩm quyền phê duyệt dự án:

• Thẩm quyền phê duyệt dự án chuyên môn

- Thủ tướng Chính phủ

- Bộ phê duyệt

- Các đơn vị phê duyệt

• Thẩm quyền phê duyệt dự án chuyên môn hoàn thành

- Đối với dự án chuyên môn do Thủ tướng Chính phủ và Bộ phê duyệt, Vụ Kế hoạch chủ trìphối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thẩm định và tổng hợp trình Lãnh đạo Bộ phêduyệt dự án chuyên môn hoàn thành

Chậm nhất sau 05 ngày làm việc (kể từ khi dự án chuyên môn hoàn thành được phê duyệt)

Vụ Kế hoạch phải gửi Quyết định phê duyệt và tài liệu dự án hoàn thành đã được đóng dấuchính thức cho Vụ Tài chính và các đơn vị liên quan

- Đối với những dự án chuyên môn đã được Bộ phân cấp, Thủ trưởng đơn vị được Bộtrưởng ủy quyền phê duyệt dự án chuyên môn mở mới, đồng thời có trách nhiệm phê duyệt

dự án chuyên môn hoàn thành

Chậm nhất sau 05 ngày làm việc (kể từ ngày phê duyệt dự án chuyên môn hoàn thành) đơn

vị phải gửi Quyết định phê duyệt kèm theo Báo cáo thẩm định về các nội dung liên quan vàtài liệu dự án hoàn thành đã được đóng dấu chính thức về Bộ (qua Vụ Kế hoạch và Vụ Tàichính) để theo dõi và quản lý

4.3.2 Quy trình phê duyệt dự án môi trường

• Đối với các dự án chuyên môn do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt:

- Đơn vị được giao chủ trì tiến hành xây dựng dự án chuyên môn gửi các cơ quan quản lýnhà nước chuyên ngành thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có liên quan đến nội dung dự ánxin ý kiến thẩm định về mục tiêu, nhiệm vụ, thiết kế kỹ thuật - giải pháp công nghệ, nộidung khối lượng công việc, dự toán, tiến độ thực hiện và sản phẩm của dự án chuyên môn

Trang 8

- Trước khi gửi dự án chuyên môn về Bộ để thẩm định, đơn vị phải tiến hành thẩm định ởcấp cơ sở và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về chất lượng nội dung dự án; quy trình thẩmđịnh cấp cơ sở do Thủ trưởng đơn vị quyết định;

- Sau khi nhận Hồ sơ dự án chuyên môn do đơn vị trình (gồm Tờ trình, Giải trình chi tiết ýkiến tiếp thu của các đơn vị thẩm định, kết luận của Hội đồng cấp cơ sở và 05 bộ tài liệu dựán), Vụ Kế hoạch trình Bộ trưởng đề xuất thành lập Hội đồng thẩm định dự án chuyên môn.Thời gian thẩm định không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;

- Sau khi có ý kiến thẩm định của các cơ quan, đơn vị và kết luận của Hội đồng thẩm định(nếu có), Vụ Kế hoạch tổng hợp và thông báo kết quả thẩm định cho đơn vị chủ trì dự án đểtiếp thu chỉnh sửa Thời gian chỉnh sửa không quá 05 ngày làm việc;

- Căn cứ kết luận của Hội đồng thẩm định, Vụ Kế hoạch tổng hợp và thông báo kết quảthẩm định cho đơn vị chủ trì dự án Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc, đơn vịchủ trì xây dựng dự án tiếp thu, chỉnh sửa dự án và gửi 03 bộ tài liệu dự án kèm theo Tờtrình (trong đó nêu rõ những nội dung đã tiếp thu chỉnh sửa theo các ý kiến thẩm định vàgiải trình cụ thể những nội dung bảo lưu không chỉnh sửa) về Bộ (qua Vụ Kế hoạch) Vụ

Kế hoạch có trách nhiệm kiểm tra và dự thảo văn bản trình Thứ trưởng phụ trách lĩnh vực

ký, ban hành;

- Sau khi nhận được ý kiến thẩm định của các Bộ, ngành có liên quan, Vụ Kế hoạch thôngbáo cho đơn vị chủ trì dự án tiếp thu, hoàn thiện dự án Trong thời gian không quá 05 ngàylàm việc, đơn vị chủ trì xây dựng dự án tiếp thu, hoàn thiện dự án, gửi 03 bộ tài liệu dự ánkèm theo Báo cáo (trong đó nêu rõ những nội dung đã tiếp thu, chỉnh sửa theo các ý kiếnthẩm định của các Bộ, ngành và giải trình cụ thể những nội dung bảo lưu không chỉnh sửa)

về Bộ (qua Vụ Kế hoạch) Vụ Kế hoạch có trách nhiệm kiểm tra, dự thảo Tờ trình và báocáo Lãnh đạo Bộ ký trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án;

- Chậm nhất sau 05 ngày làm việc (kể từ khi dự án được phê duyệt) Vụ Kế hoạch phải gửiQuyết định phê duyệt kèm tài liệu dự án đã được đóng dấu chính thức về Vụ Tài chính vàcác cơ quan, đơn vị có liên quan để theo dõi và quản lý Riêng bộ hồ sơ lưu giữ tại Vụ Kếhoạch và đơn vị xây dựng dự án còn bao gồm: hồ sơ trình duyệt dự án, toàn bộ các ý kiếnnhận xét, thẩm định của các cơ quan, đơn vị liên quan

• Đối với các dự án chuyên môn do Bộ phê duyệt:

- Trình tự thẩm định cấp cơ sở các dự án chuyên môn vận dụng theo trình tự trên

- Sau khi nhận Hồ sơ dự án chuyên môn do đơn vị trình (gồm Tờ trình, giải trình chi tiết ýkiến tiếp thu của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan, ý kiến thẩmđịnh cấp cơ sở và 05 bộ tài liệu dự án); Vụ Kế hoạch gửi tài liệu dự án đến các Vụ chứcnăng, Tổng cục, Cục trực thuộc Bộ và các đơn vị có liên quan xin ý kiến thẩm định Trườnghợp ý kiến thẩm định của các đơn vị có sự khác biệt quá lớn, Vụ Kế hoạch báo cáo Thứtrưởng phụ trách lĩnh vực thành lập Hội đồng thẩm định dự án chuyên môn Thời gian thẩmđịnh không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;

- Căn cứ ý kiến thẩm định của các cơ quan, đơn vị hoặc kết luận của Hội đồng thẩm định,

Vụ Kế hoạch tổng hợp và thông báo kết quả thẩm định cho đơn vị chủ trì dự án Trongthời gian không quá 05 ngày làm việc, đơn vị chủ trì xây dựng dự án tiếp thu, chỉnh sửa

dự án và gửi 03 bộ tài liệu dự án kèm theo Tờ trình (trong đó nêu rõ những nội dung đãtiếp thu chỉnh sửa theo các ý kiến thẩm định và giải trình cụ thể những nội dung bảo lưukhông chỉnh sửa) về Bộ (qua Vụ Kế hoạch);

- Sau khi nhận được Hồ sơ dự án chuyên môn đã chỉnh sửa theo các ý kiến thẩm định củacác cơ quan, đơn vị có liên quan hoặc kết luận của Hội đồng thẩm định cấp Bộ; trong thờihạn không quá 05 ngày làm việc, Vụ Kế hoạch kiểm tra và lập Báo cáo kết quả thẩm địnhnội dung dự án chuyên môn và gửi Vụ tài chính hồ sơ dự án, toàn bộ các ý kiến nhận xét,

Trang 9

thẩm định của các cơ quan, đơn vị liên quan cùng với Báo cáo kết quả thẩm định nội dung

dự án chuyên môn để thẩm định về dự toán kinh phí và trình phê duyệt dự án;

- Căn cứ kết quả thẩm định nội dung chuyên môn của Vụ Kế hoạch, Vụ Tài chính xem xét

và lập Báo cáo kết quả thẩm định dự toán kinh phí thực hiện dự án theo mẫu tại Phụ lục số

06 và tổng hợp chung, dự thảo Quyết định phê duyệt nội dung và dự toán dự án theo mẫu,trình Thứ trưởng phụ trách lĩnh vực xem xét, phê duyệt Thời gian thẩm định và tổng hợp,trình phê duyệt không quá 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được ý kiến thẩm định của Vụ

Kế hoạch;

- Chậm nhất sau 05 ngày làm việc (kể từ khi dự án được phê duyệt) Vụ Tài chính phải gửiQuyết định phê duyệt và tài liệu dự án đã được đóng dấu chính thức về Vụ Kế hoạch và cácđơn vị có liên quan để theo dõi và quản lý Riêng bộ hồ sơ lưu giữ tại Vụ Tài chính và đơn

vị xây dựng dự án còn bao gồm: hồ sơ trình duyệt dự án, toàn bộ các ý kiến nhận xét, thẩmđịnh của các cơ quan, đơn vị có liên quan

• Đối với các dự án Bộ phân cấp cho các đơn vị phê duyệt:

- Trình tự, thời gian thẩm định và thể thức văn bản phê duyệt do Thủ trưởng đơn vị tự quyếtđịnh và chịu trách nhiệm về nội dung phê duyệt của mình;

- Chậm nhất sau 05 ngày làm việc (kể từ khi dự án được phê duyệt) đơn vị phải gửi Quyếtđịnh phê duyệt kèm theo Báo cáo thẩm định về nội dung chuyên môn, dự toán kinh phí vàtài liệu dự án đã được đóng dấu chính thức về Bộ (qua Vụ Kế hoạch và Vụ Tài chính) đểtheo dõi và quản lý Riêng bộ hồ sơ lưu giữ tại đơn vị phê duyệt dự án và đơn vị xây dựng

dự án còn bao gồm: hồ sơ trình duyệt dự án, toàn bộ các ý kiến nhận xét, thẩm định của các

cơ quan, đơn vị liên quan

Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Vụ Kế hoạch và Vụ Tài chính có trách nhiệm kiểmtra, giám sát việc thẩm định và phê duyệt dự án được Bộ phân cấp bảo đảm tuân thủ đúngcác quy định hiện hành

Trang 10

CHƯƠNG 5.QUẢN LÝ DỰ ÁN MÔI TRƯỜNG KHI ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG

5.1 Khái niệm, vai trò của quản lý dự án môi trường

5.1.1 Khái niệm

Theo Hướng dẫn về những kiến thức cốt lõi trong Quản lý dự án (PMBOK Guide) của

Viện Quản lý Dự án (PMI): Quản lý dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ

và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Quản lý dự án là việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòngđời của dự án để dự án đạt được những mục tiêu đề ra

Quản lý dự án bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thựchiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện giám sátcác côngviệc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định

Lập kế hoạch Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính

nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành độngthống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo cácphương pháp lập kế hoạch truyền thống

Điều phối thực hiện dự án Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn,

lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạnnày chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án ( khi nào bắtđầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp

Giám sát là quá trình theo dõi, kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực

hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trìnhthực hiện Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũngđược thực hiện nhằm tổng kết kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án

Sơ đồ 5.1: Chu trình quản lý dự án

Lập kế hoạch

Thiết lập mục tiêu

Dự tính nguồn lựcXây dựng kế hoạch

Giám sát

Đo lường kết quả

So sánh mục tiêuBáo cáo

Giải quyết các vấn đề

Điều phối thực hiện

Bố trí tiến độ thời gianPhân phối nguồn lựcPhân phối các hoạt độngKhuyến khích động viên

Trang 11

Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việclập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch

dự án như trình bày trong sơ đồ 1.1

5.1.2 Vai trò của quản lý dự án môi trường

+ Liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa các nhóm quản trị vớikhách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án

+ Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên thamgia dự án

+ Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn bướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thờitrước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán trước được Tạo điều kiện cho việc đàmphán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng

+ Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn

5.2 Một số nội dung cơ bản của quản lý dự án môi trường

5.2.2 Quản trị chất lượng dự án môi trường

a Khái niệm quản trị chất lượng dự án

Quản trị chất lượng dự án là tập hợp các hoạt động của chức năng quản lý, là một quátrình nhằm đảm bảo cho dự án thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu và mục tiêu đề ra Quản trịchất lượng dự án bao gồm việc xác định các chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm

và thực hiện chúng thông qua các hoạt động : lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát và bảođảm chất lượng trong hệ thống

Ba nội dung lập kế hoạch, đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng có mối quan

hệ chặt chẽ, tương tác nhau Mỗi nội dung xuất hiện ít nhất một lần trong mỗi pha của chu

kì dự án, mỗi nội dung đều là kết quả do nội dung kia đem lại, đồng thời, cũng là nguyênnhân ảnh hưởng đến kết quả thực hiện hai nội dung kia

Một số điểm cần chú ý trong quá trình quản trị chất lượng dự án là :

- Quản trị chất lượng dự án được thực hiện thông qua một hệ thống các biện phápkinh tế, công nghệ, tổ chức, hành chính và giáo dục, thông qua một cơ chế nhất định và hệthống các tiêu chuẩn định mức, hệ thống kiểm soát, các chính sách khuyến khích…

- Quản trị chất lượng dự án phải được thực hiện trong suốt chu kỳ dự án từ giaiđoạn hình thành cho đến khi kết thúc chuyển sang giai đoạn vận hành, thực hiện trong mọiquá trình, mọi khâu công việc

- Quản trị chất lượng dự án là quá trình liên tục, gắn bó giữa yếu tố bên trong và bênngoài Để thực hiện dự án cần có máy móc thiết bị, con người, yếu tố tổ chức…Sự hoạtđộng, vận hành của các yếu tố này không thể thoát ly môi trường luật pháp, cạnh tranh,khách hàng…Sự tác động qua lại giữa các yếu tố hình thành môi trường, nội dung, yêu cầu

và các biện pháp quản lý chất lượng dự án

- Quản trị chất lượng dự án là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên, mọi cấptrong đơn vị, đồng thời cũng là trách nhiệm chung của các cơ quan có liên quan đến dự ánbao gồm chủ đầu tư, nhà thầu, các nhà tư vấn, những người hưởng lợi…

b Nội dung chủ yếu của quản trị chất lượng dự án đầu tư

- Lập kế hoạch chất lượng dự án

Lập kế hoạch chất lượng dự án là việc xác định các tiêu chuẩn chất lượng cho dự án

và xác định phương thức để đạt các tiêu chuẩn đó Lập kế hoạch chất lượng dự án là một bộphận quan trọng của quá trình lập kế hoạch, sẽ được thực hiện thường xuyên và song hànhvới nhiều loại kế hoạch khác Lập kế hoạch chất lượng cho phép định hướng phát triển chất

Ngày đăng: 08/10/2016, 11:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.2: Chu trình các khâu công việc quản trị rủi ro - TÀI LIỆU LẬP PHÂN TÍCH DỰ ÁN (CHƯƠNG 345)
Hình 5.2 Chu trình các khâu công việc quản trị rủi ro (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w