Tuy nhiên trong hai kiểu bài này nghị luận văn học được chú trọng nhiều,còn nghị luận xã hội ít được chú ý đến.Bản thân các em học sinh cũng có tâm lí e ngại ,không mấy hứng thú với kiểu
Trang 1Cách làm bài văn nghị luận xã hội
A.phần mở đầu.
I Lí do chọn đề tài.
Trong trương trình ngữ văn bậc thpt hiện nay gồm có 3 phân môn : Tiếng việt,đọc văn và làm văn.Mỗi phân môn đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau Trong đó làm văn là phân môn mang tính thực hành.Mỗi bài làm văn của học sinh thể hiện khá rõ những nhận thức,kĩ năng,tình cảm của học sinh,là cơ hội để học sinh bộc lộ rõ nhất vốn hiểu biết cũng như năng lực của mình
Trong làm văn, thể văn nghị luận giữ vị trí quan trọng Gồm : nghị luận văn học ( Bàn bạc những vấn đề thuộc lĩnh vực văn học) và nghị luận xã hội( Bàn bạc những vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội)
Tuy nhiên trong hai kiểu bài này nghị luận văn học được chú trọng nhiều,còn nghị luận xã hội ít được chú ý đến.Bản thân các em học sinh cũng có tâm lí e ngại ,không mấy hứng thú với kiểu bài này.Dẫn đến kĩ năng làm bài còn yếu
Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội,nghị luận xã hội ngày càng có vai trò thiết thực trong đời sống.Cấu trúc đề thi môn ngữ văn trong các
đề thi ( Học kì,Tốt nghiệp,Đại học,Cao đẳng) có một câu 3 điểm dành cho một bài nghị luận ngắn
Ưu điểm của văn nghị luận, trước hết là học sinh không nhất thiết phải thuộc làu
một khối lượng lớn tri thức đọc hiểu Người viết có thể tự do trình bày suy nghĩ, quan điểm của mình một cách khách quan mà không bị một giới hạn, quy định nào ràng buộc Mặt khác, ta có thể thể hiện sự hiểu biết phong phú của mình cho bài viết sinh động hơn Dạng văn nghị luận xã hội thực chất là một dạng đề "mở" vì thế nó rất phù hợp cho mọi đối tượng học sinh, đặc biệt là các bạn học khối khoa học tự nhiên vốn “sợ" học thuộc văn
Tuy vậy viết một bài nghị luận xã hội không phải là "thích viết gì thì viết" hay áp đặt ý kiến chủ quan của cá nhân Bài viết vẫn phải đảm bảo tính khách quan khoa học
và hướng về vấn đề cần bàn luận Người viết phải là người có vốn sống phong phú, tầm hiểu biết rộng và có óc tư duy sắc sảo Đây là "thách thức" lớn cho học sinh vốn
xưa nay chỉ quen cách làm bài thụ động
Nghị luận xã hội là một yêu cầu cần thiết trong đời sống Viết văn nghị luận xã
hội là một yêu cầu cần thiết cho học sinh Qua đó, có thể kiểm tra chính xác năng lực
tư duy, óc sáng tạo, sự hiểu biết của học sinh; bồi dưỡng kĩ năng sống đồng thới còn tránh tình trạng "đạo văn" hay lệ thuộc nhiều vào sách vở của hoc sinh hiện nay
Xuất phát từ những lớ do cơ bản trên, tôi viết bài : “Cách làm bài nghị luậnxã
hội ” nhằm đưa ra một quy trình cụ thể cho việc giải quyết dạng bài này Tôi đã thực
hiện và thu được một số kết quả đáng kể Dưới đây là một vài kinh nghiệm nhỏ, tôi muốn cùng trao đổi cùng các thày,các cô Rất mong nhận được sự đồng tình,góp ý của các thày,các cô
Trang 2II.Mục đích nghiên cứu
-giúp các em học sinh có một định hướng cụ thể,rõ ràng về cách làm một bài văn nghị luận xã hội,xoá bỏ tâm lí e ngại,tạo hứng thú cho các em khi tiếp xúc với kiểu bài này
- Góp phần củng cố,rèn luyện,nâng cao kĩ năng làm một bài văn nghị luận cho học sinh
-Rèn luyện tư duy nhạy bén,linh hoạt,bồi dưỡng kĩ năng sống cho các em học sinh
III.Đối tượng và phạm vi áp dụng.
1.Đối tượng sử dụng đề tài.
- Giáo viên bậc THPT tham khảo để hướng dẫn học sinh làm các dạng bài về nghị luận xã hội
- Học sinh lớp 11 luyện tập để làm tốt các bài kiểm tra, các bài thi môn ngữ văn -Học sinh lớp12 luyện tập để làm tốt các bài thi học kì,tốt nghiệp THPT,Đại học,Cao đẳng
2.Phạm vi áp dụng
-Các bài học về nghị luận xã hội trong sách giáo khoa chương trình cơ bản và nâng cao lớp 11 và lớp 12
- Các tiết luyện tập về kĩ năng nghị luận trong chương trình
IV.Phương pháp nghiên cứu
- Xác định đối tượng học sinh để áp dụng đề tài
- Tổng hợp những hướng dẫn về kĩ năng làm bài trong sách giáo khoa một cách có
hệ thống theo từng kiểu bài
-Bổ sung kĩ năng làm bài,đưa ra cách làm bài cụ thể cho từng dạng
- kiểm tra sự tiếp thu của học sinh bằng các đề ôn luyện
B.Phần nội dung.
I.Cơ sở lí luận.
1.Giải thích khái niệm nghị luận xã hội
2 Các yêu cầu chung về kĩ năng
II.Cở sở thực tiễn
III.Cách làm bài nghị luận xã hội
2.1 kĩ năng tìm hiểu đề:
Gồm các bước sau:
* Đọc kĩ đề bài: Đọc, chú ý từng từ, khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ ngữ,
câu, đoạn Chia vế, ngăn đoạn, tìm hiểu mối tương quan giữa các vế, gạch chân những
từ ngữ quan trọng
* Nhận diện cấu tạo của đề bài: Đề văn có nhiều dạng thức khác nhau tuy nhiên căn
cứ vào nội dung và hình thức cấu tạo ta nhận thấy có những dạng đề sau:
Trang 3- Đề trực tiếp (đề nổi): Có kết cấu rạch ròi, đầy đủ, rõ ràng, tường minh Dạng đề này
thường có cấu tạo như sau:
+ Phần nêu yêu cầu nội dung
+ Phần nêu yêu cầu cách thức nghị luận
+ Phần yêu cầu về tư liệu
- Đề gián tiếp (đề chìm): Là những đề bài không có quy định một cách cụ thể, chặt
chẽ các yêu cầu về nội dung và hình thức cũng như phương hướng cách thức, mức độ phạm vi giải quyết Đề gián tiếp không nêu trực tiếp yêu cầu nội dung và cách thức nghị luận, mà chỉ nêu vấn đề cần nghị luận Tất cả tùy thuộc vào vốn hiểu biết và trình
độ nhận thức của người làm bài
* Xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận: Phải trả lời được các câu
hỏi: Vấn đề cần nghị luận là gì? Có bao nhiêu ý cần triển khai? Mối quan hệ giữa các
ý như thế nào? Sử dụng những thao tác lập luận gì ? thao tác lập luận gì là chính?
* Xác định phạm vi và mức độ nghị luận: Vùng tư liệu được sử dụng cho bài viết:
tác giả, trào lưu, giai đoạn, thời kỳ văn học; trong nước hay thế giới…
*Ví dụ minh họa
Đề trực tiếp (đề nổi): Hãy viết một bài văn ngắn( không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ
của anh ( chị) về bệnh vô cảm trong đời sống xã hội hiện nay ?
- Nhận diện đề: dạng trực tiếp (đề nổi)
- Cấu tạo của đề như sau:
+ Phần nêu yêu cầu nội dung: Bệnh vô cảm trong đời sống xã hội hiện nay
+ Phần nêu yêu cầu cách thức nghị luận: Dùng thao tác giải thích để trình bày khái niệm bệnh vô cảm.; dùng thao tác phân tích, bình luận để trình bày ý kiến của mình
+ Phần yêu cầu về tư liệu : Vận dụng những hiểu biết xã hội của bản thân
Đề gián tiếp ( đề chìm ):
“Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con mà phải làm cho chỗ
dựa ấy trở nên không cân thiết”
Trình bày suy nghĩ của anh( chị) về câu nói trên
+ Yêu cầu về nội dung nghị luận: Trách nhiệm lớn lao của cha mẹ là giáo dục con cái biết sống tự lập
Trang 4+ Yêu cầu về cách thức bàn luận: lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề; phân tích, chứng minh, bình luận
+ Yêu cầu về phạm vi nghị luận: Vận dụng những hiểu biết về xã hội
2.2 kĩ năng lập dàn ý
*Kĩ năng lập dàn ý
Lập dàn ý là lựa chọn, sắp xếp ý đã tìm được ở bước tìm ý theo trật tự hợp lí và xác định mức độ trình bày sao cho vấn đề nghị luận được rõ ràng Dàn ý chính là bộ khung của một bài văn.Việc lập dàn ý sẽ giúp người viết có thể bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ cần triển khai, nhờ lập dàn ý người viết cũng xác định đúng mức độ và phạm vi nghị luận vấn đề Mặt khác, lập dàn ý trước khi viết sẽ giúp người viết có thể điều chỉnh hệ thống luận điểm, lược bớt các ý thừa, hoặc bổ sung để khắc phục các ý còn thiếu Làm dàn ý còn giúp cho người viết chủ động phân phối thời gian cho từng ý trong bài một cách hợp lí Một bài văn không được lập dàn ý trước khi viết thường mắc phải các lỗi như thiếu ý, thừa ý, ý lộn xộn, dung lượng viết cho các ý không phù hợp với yêu cầu của đề bài
Kết cấu chung của một dàn ý đều có 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài Mỗi phần có một nhiệm vụ riêng:
- Mở bài: có nhiệm vụ giới thiệu và dẫn dắt vấn đề Mở bài phải vừa đảm bảo
đúng hướng, vừa hấp dẫn để thu hút sự chú ý của người đọc
- Thân bài: có nhiệm vụ triển khai vấn đề đã được giới thiệu ở mở bài bằng các
luận điểm, luận cứ Các luận điểm, luận cứ ở thân bài phải được sắp xếp theo một trật tự hợp lí để cùng tập trung làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
- Kết bài: có nhiệm vụ kết thúc vấn đề đã được triển khai ở thân bài Kết bài phải
vừa đảm bảo tính tổng kết, vừa có ý nghĩa đánh giá vấn đề vừa nghị luận
* Ví dụ minh họa
Đề bài: Truyện ngắn“Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu đề cập
đến một vấn đề có tính chất nhức nhối trong xã hội hiện nay: nạn bạo hành gia đình
Em có hiểu biết gì về tệ nạn trên? Theo em, ta cần làm gì để góp phần chấm dứt tệ nạn đó?
Mở bài: - Giới thiệu về xuất xứ của vấn đề.
- Dẫn dắt vào vấn đề nghị luận: nạn bạo hành gia đình
Thân bài:
- Nạn bạo hành gia đình trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Trang 5+ Tại gia đình hàng chài: đông con, cuộc sống khó khăn cơ cực
+ Biểu hiện: người chồng thường xuyên đánh vợ; người vợ câm lặng cam chịu còn xin chồng “lên bờ mà đánh”
- Hiểu biết của bản thân về tệ nạn trên:
+ Đó là một tệ nạn vẫn còn tồn tại trong xã hội ngày nay
+ Nguyên nhân:
> Do cuộc sống lao động quá cơ cực, thiếu thốn
>Do trình độ văn hóa thấp, sự cam chịu câm lặng của nạn nhân
>Do dấu ấn của quan niệm phong kiến còn nặng nề
> Do coi thường pháp luật của nhà nước; bản chất độc ác, dã man
+ Hậu quả:
>Gây ra bao cuộc đời đau khổ, bất hạnh
>Làm tổn thương tâm hồn con cái
>Làm cho nền văn minh xã hội trở nên chậm tiến
- Suy nghĩ và hành động của mỗi người:
+ Suy nghĩ: Cần có nhận thức sâu sắc và đầy đủ về vấn đề này
+ Hành động:
>Cần góp sức với cộng đồng để ngăn chặn tệ nạn trên
>Cần nỗ lực học tập để nâng cao trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật đẩy lùi đói nghèo, góp phần giảm thiểu tệ nạn đó
>Tu dưỡng đạo đức nhân cách, luyện cách sống nhân ái yêu thương con người
Kết bài: - Đánh giá ý nghĩa của việc bàn bạc vấn đề này.
- Bài học cho bản thân
1.3 Các kĩ năng diễn đạt.
*Kĩ năng viết mở bài
Đối với học sinh, một trong những phần các em thường bối rối khi viết văn nghị luận là phần mở bài Tuy đây không phải là phần trọng tâm của bài văn nhưng nó là
Trang 6phần không thể thiếu, góp phần làm nổi bật vấn đề
Phần mở bài trong văn nghị luận là phần đặt vấn đề, thông thường có hai cách:
- Trực tiếp: Là cách đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận Nghĩa là sau khi đã tìm hiểu
đề và tìm được vấn đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó ra bằng một luận điểm rõ ràng Tuy nhiên khi mở bài trực tiếp, ta cũng phải trình bày cho đủ ý, không nói thiếu nhưng cũng không nên nói hết nội dung, phải đáp ứng đủ các yêu cầu của một phần mở bài đúng mực trong nhà trường Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm, nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, tuy nhiên thường khô khan, cứng nhắc, thiếu hấp dẫn cho bài viết
- Gián tiếp: Với cách này người viết phải dẫn dắt vào đề bằng cách nêu lên những ý
có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận) để gây sự chú ý cho người đọc sau đó mới bắt sang luận đề.Mở bài theo cách này tạo được sự uyển chuyển, linh hoạt cho bài viết, hấp dẫn người đọc, tuy nhiên kiểu mở bài này dễ dẫn đến sự lan man, lạc đề cho bài viết
* Ví dụ minh họa
Đề bài :
Bàn về quan niệm sống
- Mở bài trực tiếp:
Trong cuộc sống mỗi người đều có quan niệm sống riêng Có người chỉ sống vì tiền tài danh vọng mà quên đi giá trị đích thực của cuộc sống.Quan niệm sống tốt là sự hài hòa giữa danh vọng ,tiền bạc với các mối quan hệ và giá trị của con người với thiên nhiên,không bị chi phối bởi vật chất, sống hết mình, làm việc hết mình ( (Bài viết của học sinh)
-Mở bài gián tiếp:
Nhà văn Pháp Đ.Đi-đơ-rô từng quan niệm “ Nếu không có mục đích ,anh không làm được gì cả.Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu như mục đích bình thường.Đây là quan niệm đúng và rất phù hợp với chúng ta.Trong cuộc sống mỗi người đều có một lí tưởng sống riêng để tự vươn tới,tự hoàn thiện và phát triển bản thân Bất kì ai cũng cần tự tạo cho mình một lí tưởng và có lòng quyết tâm theo lí tưởng ấy ”
(Bài viết của học sinh)
* Kĩ năng viết thân bài
Thân bài là phần trọng tâm của bài văn Nhiệm vụ của phần thân bài là triển khai đầy đủ, chi tiết hệ thống luận điểm, luận cứ để làm sáng tỏ luận đề Khi viết phần này cần chia thành các đoạn, mỗi đoạn văn là sự triển khai hoàn chỉnh một luận điểm
đã được xác định khi lập dàn ý, ngoài ra người viết còn cần phải biết cách viết câu, cách chuyển ý, chuyển đoạn, cách dùng từ, hành văn Phần thân bài là phần phải dành
Trang 7nhiều thời gian thực hiện nhất trong ba phần Học sinh nên chú ý phân phối thời gian cho hợp lí khi bố cục phần thân bài
*Ví dụ minh họa.
Đề bài: Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có viết:
“Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời”
(Mặt đường khát vọng)
Ở đó tác giả muốn đưa ra một thông điệp gì cho tuổi trẻ? Hãy viết một bài văn nghị luận để trình bày suy nghĩ của mình về vấn trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nước hiện nay
Thân bài:
-Thông điệp mà Nguyễn Khoa Điềm muốn đưa ra với tuổi trẻ qua 4 câu thơ:
+ Cần có một nhận thức đúng đắn về đất nước: “đất nước là máu xương của mình”
+ Cần có trách nhiệm với đất nước: “gắn bó và san sẻ” “hóa thân cho dáng hình xứ sở” …biết hi sinh, cống hiến cho đất nước
- Suy nghĩ của bản thân:
+ Bản thân cần biết nhận thức đúng về đất nước: đất nước gần gũi, thân thuộc , ở quanh ta,ở trong ta, là một phần trong mỗi chúng ta
+ Bản thân phải có trách nhiệm chung sức gánh vác nhiệm vụ chung trong công cuộc xây dựng đất nước; sẵn sàng cống hiến trí tuệ, tài năng để đưa đất nước đi lên
- Bàn bạc, mở rộng vấn đề:
+ Thông điệp của tác giả Nguyễn Khoa Điềm vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại đất nước không còn giặc ngoại xâm, thời đại xây dựng nhận thức đúng đắn của thế hệ thanh niên về đất nước, về vai trò và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước
+ Làm thế nào để phát huy được tinh thần trách nhiệm đối với đất nước: học tập tốt, rèn luyện tốt để cống hiến trí tuệ và sức lực; có lối sống lành mạnh luôn sẵn
sàng san sẻ mọi khó khăn khi Tổ quốc cần.
Trang 8Khi viết phần thân bài cho đề bài này cần chia tối thiểu 3 đoạn, mỗi đoạn ứng
với 3 luận điểm (Thông điệp mà Nguyễn Khoa Điềm muốn đưa ra với tuổi trẻ qua 4
câu thơ/ Suy nghĩ của bản thân / Bàn bạc, mở rộng vấn đề) Người viết cần phải vận
dụng cách viết câu, cách chuyển ý, chuyển đoạn, cách dùng từ, hành văn để triển khai đày đủ các ý đã định ra ở dàn ý trên
* Kĩ năng viết kết bài
Phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá vấn đề đặt ra ở mở bài và đã giải quyết ở thân bài Phần này góp phần tạo tính hoàn chỉnh, trọn vẹn cho bài văn Tùy mục đích nghị luận, người viết có thể sử dụng một trong các cách kết bài sau đây:
- Kết bài bằng cách tóm lược: Là kiểu kết bài mà ở đó người viết tóm tắt quan điểm,
tổng hợp những ý chính đã nêu ở thân bài Cách kết bài này dễ viết hơn và thường được sử dụng nhiều hơn
- Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: Là kiểu kết bài trên cơ sở quan
điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở rộng nâng cao vấn đề
Trên đây là một số kiểu kết bài cần hình thành cho học sinh, tùy vào đối tượng và mục đích nghị luận, người viết có thể chọn một cách kết bài phù hợp Kĩ năng mở bài
và kết bài cũng đã được cụ thể hóa trong một tiết học trong chương trình Ngữ văn 12
*Ví dụ minh họa.
Đề bài: Từ cuộc đời của các nhân vật phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim
Lân) và “Vợ chồng APhủ” (Tô Hoài), anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về số
phận người phụ nữ xưa và nay
- Kết bài bằng cách tóm lược: “Như vậy, các nhân vật nữ trong hai tác
phẩm “Vợ nhặt” và “Vợ chồng APhủ” có nhiều điểm chung Họ đều là những người phụ nữ có số phận bất hạnh, cơ cực nhưng trong tâm hồn họ đều tiềm tàng một sức sống
và ý thức vươn lên Người phụ nữ ngày nay có nhiều khác biệt, họ đã biết khẳng định vị trí của mình trong xã hội và càng ngày càng vươn tới những đỉnh cao mới.”
(Bài viết của học sinh)
- Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: “Làm thế nào để một
nửa thế giới luôn được sống hạnh phúc và ngày càng được hạnh phúc hơn? Làm thế nào để tất cả phụ nữ Việt Nam luôn ngập tràn trong tiếng cười? Đó là những câu hỏi không dành riêng cho bất cứ ai, không dành riêng cho phái nam mà chính những người phụ nữ cũng phải trả lời chúng”
(Bài viết của học sinh) Viết văn nghị luận là thể hiện sự hiểu biết, nhận thức, khám phá của mình về đối tượng nghị luận giúp người khác cùng hiểu và tin vào vấn đề Đồng thời người viết
Trang 9cũng thể hiện chính kiến, thái độ, sự đánh giá vấn đề, không ngừng đưa ra những điều chỉnh tích cực Do đó ngoài những kĩ năng cơ bản trên người viết phải sử dụng kết hợp các thao tác lập luận như phân tích, giải thích, bình luận, chứng minh, bác bỏ… Các thao tác lập luận đã được cụ thể hóa trong các bài học trong sách giáo khoa theo cấu trúc đồng tâm Các em đã được học các thao tác lập luận từ cấp 2, học sinh cần chú ý xác định thao tác chính và thao tác phụ để sử dụng cho hợp lí giúp bài văn nghị luận đạt được kết quả cao nhất
3.Các kiểu bài nghị luận xã hội
Kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
3.1.Nhận biết.
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một tư tưởng đạo lí, bên cạnh những nét khác biệt còn rất nhiều điểm tương đồng Vì vậy học sinh cần nhận diện rõ đề thuộc kiểu bài nào để có cách làm bài phù hợp
- Kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống thường đề cập đến những hiện tượng nổi bật, tạo được sự chú ý và có tác động đến đời sống xã hội như:
+ Ô nhiễm môi trường, sự nóng lên của trái đất, nạn phá rừng, thiên tai lũ lụt… + Bạo hành gia đình, Bạo lực học đường, tai nạn giao thông…
+ Tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục, hiện tượng chảy máu chất xám…
+ Phong trào tiếp sức mùa thi, giúp đỡ đồng bào lũ lụt, tấm gương người tốt, việc tốt, nếp sống đẹp…
3.2.Một vài lưu ý.
- Yêu cầu của kiểu bài này là học sinh cần làm rõ hiện tượng đời sống ( qua việc miêu tả, phân tích nguyên nhân, các khía cạnh của hiện tượng…) từ đó thể hiện thái độ đánh giá của bản thân cũng như đề xuất ý kiến, giải pháp trước hiện tượng đời sống
- Cần có cách viết linh hoạt theo yêu cầu của đề bài, tránh làm bài máy móc hoặc chung chung
Ví dụ: Cùng bàn về vấn đề internet nhưng nếu đề yêu cầu rình bày suy nghĩ về vai trò của internet thì cần nhấn mạnh về vai trò, tác dụng Còn nếu đề yêu cầu trình bày ý kiến trước hiện tượng “nghiện” internet trong thanh niên hiện nay thì cần chú
ý nhiều hơn đến mặt hạn chế và tác động tiêu cực của nó
- Ngoài việc trang bị cho mình những kỹ năng làm bài, học sinh cần tích lũy những vốn hiểu biết thực tế về đời sống xã hội
-3.3.Các bước làm bài.
Bước 1: Miêu tả hiện tượng được đề cập đến trong bài
Trang 10+ Giải thích ( nếu trong đề bài có khái niệm, thuật ngữ hoặc các ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…)cần làm rõ để đưa ra vấn đề bàn luận
+ Chỉ ra thực trạng ( biểu hiện của thực trạng)
Bước 2: Phân tích các mặt đúng – sai, lợi – hại của vấn đề
- Phân tích tác dụng của vấn đề nếu là hiện tượng tích cực
- Phân tích tác hại của vấn đề nếu là hiện tượng tiêu cực
- Phân tích cả hai mặt tích cực và hạn chế nếu đề có cả hai mặt
Bước 3: Chỉ ra nguyên nhân
Bước 4: Bày tỏ thái độ, ý kiến đánh giá của người viết về hiện tượng
3.4.Vận dụng.
* Gợi ý với dạng bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tiêu cực.
Đề bài:
Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày ý kiến của anh ( chị) về nạn bạo hành trong xã hội hiện nay
Gợi ý:
Bước 1: Miêu tả hiện tượng
- Nạn bạo hành- sự hành hạ xúc phạm người khác một cách thô bạo, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếnsức khỏe, tinh thần của người khác
- Nạn bạo hành thể hiện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện của đời sống xã hội: không chỉ là sự hành hạ thể xác người khác bằng bạo lực mà còn hành hạ về tinh thần
- Nạn bạo hành diễn ra trong gia đình, trường học, xã hội; phụ nữ, trẻ em thường
là nạn nhân của bạo hành
Bước 2: Nêu nguyên nhân của hiện tượng
- Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người
- Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo lực
- Do áp lực cuộc sống
- Do sự thiếu kiên quyết trong cách xử lí nạn bạo hành
Bước 3: Tác hại to lớn của hiện tượng
- Làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của con người
- Làm ảnh hưởng tới tâm lí, sự phát triển nhân cách, đặc biệt là cử chỉ
Bước 4: Ý kiến, thái độ của bản thân, đề xuất giải pháp
- Cần lên án đối với nạn bạo hành
- Cần xử lí nghiêm khắc với những người trực tiếp thực hiện hành vi bạo hành